--- o0o ---
MỪNG NGÀY PHẬT ÐẢN
Hằng năm, vào tháng 4 là
con lại hân hoan náo nức chờ ngày kỹ niệm Phật giáng thế. Con mong chóng
đến ngày Phật đản để tưởng niệm Đức Thế Tôn–vị Thầy của tất cả chúng
sinh biết mến mùi Đạo pháp–vị cha lành của tất cả chúng sanh còn đắm
chìm trong sinh tử.
Con phải quán về ngày Phật
đản như thế nào, để hiểu đại nhân duyên nhập thế của Ðức Phật Thích Ca.
Trước khi Ðức Thích Ca thị hiện có giả thân Thái tử Sĩ Ðạt Đa, chân lý
vẫn có, vẫn sáng tỏ, nhưng thiếu duyên lành, nên số chúng sanh tầm Phật
Đạo, không bao nhiêu người đến được bến giác ngộ.
Vì thế, Như Lai tạm mượn
giả thân, cùng chúng sanh đồng sự, để chỉ bày con đường giải thoát từ
chính nơi con đang ở, đang đứng, chớ không phải một giải pháp viễn vông,
một con đường bắt đầu từ nơi khác.
Ðó là duyên lành lớn nhất
của chúng sanh được thấy vũng bùn mình đang ở và hoa sen mà mình có thể
thành. Nương theo duyên lành ấy là quy y Tam Bảo. Quy y Tam Bảo là tâm
quy chứ không phải tướng. Tâm đã quy y Tam Bảo thì hành tướng quy y sẽ
đến. Bằng giả danh bảo rằng: Tâm đã quy y thì không cần tướng quy y.
Những kẻ ấy chấp tướng là thật có nên chỉ thiên hướng về tâm, cũng là
một tướng khác của Ngã. Còn những người chỉ có hành tướng quy y mà tâm
thì không biết Phật, con hãy khoan bàn luận Phật pháp với họ.
Con tưởng nhớ Đức Thích Ca
Như Lai như tưởng nhớ một người đã mất, thật là một sai lầm không sao
nói hết. Thân Phật vẫn có đây, trong mỗi lời Ngài dạy, trong mỗi chiếc y
mà con thấy, trong tâm của mỗi hành giả chân thành. Thân Phật không đâu
khác ngoài tâm của con, tâm xa Phật thì chỉ có y là có Phật, Người đắp y
thì ở rất xa. Tâm xa Phật thì chỉ có lời nói, chỉ có văn tự, chỉ có Phật
pháp là có Phật, còn người nói thì ở rất xa. Tâm xa Phật thì dù ở gần
vẫn không thấy Phật, với những kẻ ấy Như Lai là người đã khuất nên không
còn Chánh pháp, không có ai phân định chánh tà, không có nhân quả, báo
ứng.
Phật không có sinh rồi
diệt, Phật đã thị hiện cho mắt trần nhìn thấy để chúng sanh biết rằng
những chân lý mà nhục nhãn không thể thấy mới là bất diệt.
Hiện tại Thích Ca Như Lai
vẫn đang thuyết pháp, sao mắt con không nhìn thấy? Sao tâm con không cảm
được? Cho nên ngày Phật đản là ngày kỹ niệm dành cho chúng sanh chứ
không phải dâng Phật, con hãy hiểu như thế này mới thật là biết mừng
ngày Phật đản.
Con mừng ngày Phật đản là
ngày Phật có trong tâm con–Ngày con phát tâm theo Đức Phật vượt bể khổ
trần gian. Ðó mới chính thật là ngày Phật đản.
Ngày Phật đản là ngày Chư
Thỉên, Hộ pháp chư Phật, Bồ Tát 10 phương thế giới lớn tiếng ngợi khen
sự không thể nghĩ bàn của đức Thích Ca Văn Phật–thị hiện vào đường sanh
tử để độ chúng sanh ở thế giới Ta Bà đi đến quả Phật vị.
Chư Địa Thần cũng phát tâm
hộ trợ cho chúng sanh nào quyết tu Phật Đạo. Cho nên đó cũng là ngày
trời đất giao hòa, chúng sanh chịu quả báo trong Ðịa ngục cũng được hào
quang thánh đức của Như Lai soi tới, nên phát tâm Bồ Ðề đông không kể
xiết: gọi là ngày Ðịa ngục mở cửa. Cũng vì thế, Ðịa ngục đã hết đối với
các chúng sanh ấy.
Trong bầu không khí của
ngày hội đó, con hãy lập ngày hội của con, con hãy cho mình một ngày
hoàn toàn là của mình gạt bỏ tất cả quá khứ, ngày hôm qua, gạt bỏ ngày
mai và toan tính về tương lai khỏi tâm trí, chỉ có hiện tại chỉ có ngày
hôm nay, chỉ có Như Lai và con trong suốt ngày Phật đản thì mới thật nếm
được pháp vị của ngày Phật đản.
Thời gian chỉ là chướng
ngại khi tâm con còn chướng ngại–Tâm không chướng ngại thì quá khứ không
có nghĩa đã mất, vị lai không có nghĩa chưa đến. Nên ngày lễ kỹ niệm Đức
Thích Ca hôm nay không mảy may kém 2610 năm về trước về mặt thực tế cũng
như về nghĩa vui mừng. Và tương lai cũng không vì thời gian xa hơn mà
thánh lễ càng xa Đức Phật, như mẹ tán thán công đức vô lượng vô biên của
Như Lai, từ bi vô lượng vô biên của Như Lai. Trong ngày Khánh đản, Chư
Phật 10 phương cũng đồng ngợi khen như thế. Nên con có đón ngày ấy với
tâm trạng nào thì ngày ấy vẫn là ngày vui, là ngày vĩnh viễn đã tự tách
rời khỏi quá khứ đi mãi trong thời gian, hiện hữu mãi trong thời gian.
Khi con đến chùa, cùng chư
Phật tử đãnh lễ Như Lai, thì phải thấy con đã lập đạo tràng nơi tâm, đã
thờ Phật nơi tâm, đã xây ngôi chùa bất hoạt bằng tam quy, ngũ giới nơi
tâm để phụng thờ Ðức Phật. Và con đến chùa để thỉnh Phật lên đài tôn
nghiêm tại thế, chứ không phải đến chùa rồi mới tìm Phật.
Nếu con và tất cả Phật tử
đồng thỉnh Phật trụ thế rồi đồng tâm ấy làm nên một vị Phật duy nhất
không có tướng phân biệt. Sự đồng tâm ấy là thế giới đại đồng là Phật
tánh và sự đồng tâm ấy chính là Phật vậy.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Như
Lai Phật.
Ðệ tử ngày hôm nay ngồi
dưới Phật đài, chiêm ngưỡng tôn dung vô tướng hiện thân, lễ này con
nguyện không trụ quá khứ, hiện tại, vị lai, mừng đại nhân duyên Phật
chuyển pháp luân.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Như
Lai Phật.
Đệ tử ngày hôm nay ngồi
dưới Phật đài, chiêm ngưỡng tôn dung vô tướng hiện thân, lễ này con
nguyện đồng tâm với vô lượng chúng sanh trong quá khứ, hiện tại, vị lai,
tán thán công đức không thể nghĩ bàn của Như Lai vì chúng con đã chuyển
Pháp luân.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Như
Lai Phật.
Đệ tử ngày hôm nay ngồi
dướỉ Phật đài, chiêm ngưỡng tôn dung vô tướng hiện thân, lễ này con
nguyện không trụ quá khứ, hiện tại, vị lai, báo đáp thâm ân Ngài đã chỉ
con đường diệt khổ.
Lễ Phật phải lễ bằng tướng
và bằng tâm như thế mới thật là kính lễ. Con hãy vui mừng làm theo để
trọn hưởng được khí lành ngày Phật đản.
LUẬN VỀ TIỀN
Cũng như mọi người không tu
kia, con thường bị tiền bạc chi phối tâm tưởng. Nên chẳng phải khi phát
tâm tu là đã sạch mọi nghiệp, đó chỉ mới là giai đoạn bắt đầu, nhìn thấy
tội của mình, bắt đầu hành trình về cõi vô sanh.
Tiền bạc đồng nghĩa với
địa vị, danh vọng và mọi thứ làm nên cuộc đời. Còn thấy cần tiền là còn
thích mọi thứ ấy. Với tâm vọng động như thế, dù con có bố thí tiền cho
kẻ khác, cũng chẳng có lợi thật cho họ, cũng chẳng ích gì cho con. Con
đi ngoài phố, chợt thấy một người hành khất bên vệ đường. Ðộng lòng trắc
ẩn, con cúi xuống đặt một số tiền vào bàn tay chìa ra ấy, rồi bước đi
lòng thật nhẹ. Nhưng con có biết đâu, con đã là nguyên nhân của bao
nhiêu ray rứt đổ thêm xuống người hành khất đó.
Con thường chỉ nhìn kẻ
hành khất như những kẻ đã mất hết tình cảm của con người, chỉ có mối
quan hệ xin–nhận của bố thí với phần còn lại của nhân loại, trong đó có
con. Nhưng có thật là con đã “cho” một cái gì đó cho người xin chưa? Khi
con đến với họ là mang theo tất cả ưu đãi của số phận để chỉ cho có một
ít tiền. Họ khổ biết dường nào khi nhìn thấy con lành mạnh, áo quần sạch
sẽ, tự do đi lại mọi nơi mà không ai xua đuổi, trái lại, và còn có chốn
để trở về trong buổi tối. Con không muốn thấy sự thật này, vì điều đó
khiến con bất nhẫn, không thể an nhiên thụ hưởng. Rồi viện lẽ: “mình
cũng khổ, ai cũng khổ, dù ở trong hoàn cảnh xã hội nào”. Và lấy nỗi khổ
của con làm tấm khiên. Con đã có vũ khí tự vệ, chống lại sự thông cảm
với những hoàn cảnh cũng khổ ấy. Vì sao? Vì con sợ. Con không muốn nhớ
sự bấp bênh của vật chất, không dám nghĩ: “Có thể một ngày nào...” Vì
làm sao có thể thấu rõ nghiệp quả của mình? Bố thí mà không có tâm Xã
thì không phải là bố thí. Có tâm Xã dù không có gì để thí, vẫn hiện hạnh
bố thí. Tiền bạc ở ngoài thì thành tướng phân chia đẳng cấp, ở trong con
thì là gì? Là tâm chấp, thủ, là ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả tướng.
Chấp huyễn là thật là của mình. Chấp có người khác ta, chấp có cuộc đời,
có tướng xấu tốt, hay dỡ, chấp sự biến dịch của đất, nước, gió, lửa có
thật tánh.
Phật dạy: “Chúng sanh giai
hữu Phật tánh”. Phật cũng dồng nhất thể bình đẳng với chúng sanh.
Phật tánh không có số
lượng, cao thấp, không có phân chia, nên không phải có kẻ có người
không, kẻ nhiều người ít và bất cứ chúng sanh nào tu cũng quyết định sẽ
thành Phật, tức Chân tánh hiển lộ khắp Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới. Con
không thấy Chân tánh của mình không có thọ mạng ngắn ngủi, xoay vần theo
có không của vật chất, hoại diệt từng thời, chuyên nắm bắt ảo giác mà
tưởng lầm thật thể. Làm sao thật được khi tiền bạc quyết định sự vui
thích của con, chỉ tùy thuộc phúc lành đã tạo được, phúc hết thì tiền
tài cũng hết. Và song song với việc lành đã tạo được cũng có quả báo của
việc làm không hay, chưa gây dựng được, nên khi thọ hưởng tiền tài cũng
không hoàn toàn hạnh phúc. Ðuổi theo ảo giác này là hy sinh thiên thu
cho những tờ giấy vô nghĩa, cho một giấc mộng. Chấp thọ giả nên tưởng
đến kiếp sống này, cố vun bón cho tròn đầy theo nghĩa ngũ dục, rồi bỏ
thân. Kiếp sau lại cũng thế, chẳng lúc nào được ngơi nghỉ, bình an. Và
chẳng thể nào thoát được vòng lẩn quẩn của luân hồi quả báo.
Con tưởng rằng, những vật
chất, tiện nghi mà con thấy là có thật sao? Ðó chỉ là những hạt bụi kết
hợp thành vật thể theo tâm của con: Tâm chấp ngã, nhân, thành tánh ganh
đua, hiện tướng xe cộ, đẹp xấu, tốc độ nhanh, chậm..., cũng là Ðịa ngục
mà không biết. Chết chóc, đau khổ, vì những miếng mồi này, của vô minh
không phải là ít, hiện tượng áo quần đẹp xấu, đắt giá... cũng gây đau
khổ như Ðịa ngục; đồ dùng vặt vãnh, cho chí đến quyền lực cao nhất cũng
chỉ có được những hạt bụi, chứ không có gì khác. Sự trọng vọng do đồng
tiền mang đến không dành cho Bản ngã một người nào, mà dành cho tất cả
mọi bản ngã nói chung. Bất cứ chúng sanh nào, với những điều kiện vật
chất như thế, đều được ưu đãi như thế: đó là Nghiệp. Con đã thấy có
những người, chỉ vừa thoát kiếp súc sanh, nhân dạng chưa thuần, bản tánh
lục súc hãy còn, do nghiệp báo được giàu sang thì Danh mà vật chất mang
đến có bền không? Có thật sẵn dành cho kẻ ấy không? Nếu thật có một giá
trị nào đó, tại sao tiền bạc ấy không trang trí cho bãn ngã ấy một tính
tình, ngôn ngữ, tư cách, sắc thái dễ coi dễ mến như bạc tiền của họ? Lại
còn những cách tiêu xài sang trọng, đài các, hay những đồ vật làm đẹp
người có nó, thực chất là gì? Nếu có những tướng ấy, vẻ đẹp đẽ, đài các
mới xuất hiện thì vẻ đẹp là của đồ vật, chứ đâu ở chúng sanh, đâu ở con
người. Nhưng không có lẽ vật vô thức lại làm sinh động loài hữu tình?
Còn nếu vẻ thù thắng đã có sẵn trong tâm thì đâu cần nhờ vật bên ngoài
mới hiển lộ. Như Lai còn không cần có tướng Phật để làm Phật, tại sao
con cứ cần giả tướng?
Còn
cần tiền vì tiện nghi do tiền mang đến thì ít, mà chính ra vì muốn hơn
kẻ khác thì nhiều. Ðó là ngã. Có ngã vì sợ cô đơn. Sợ kẻ đồng loại đẩy
mình ra khỏi vòng quay của họ. Sợ bị khinh thường cũng chính là tướng
Ngã. Thực chất
của tiền cũng chính là Ngã. Thực chất của Ngã là vô minh. Thực
chất của vô minh là sợ hãi. Sự sợ hãi sinh điên đảo vọng tưởng. Chính sợ
hãi đưa con người tìm cảm thông nơi kẻ khác bằng phương tiện này hay
phương tiện nọ mà phương tiện dễ nhất thường là tiền tài. Ðó cũng là yếu
đuối nằm trong tánh chúng sanh. Khắc phục được sự yếu đuối này chính
là tinh tấn. Tinh tấn tu thì sợ hãi tiêu tan, sự cô đơn không còn nghĩa
cô đơn mà trở thành tự tại. Thì chính thân này là kho báu nương
phương tiện đó mà tu, còn cần gì đến những huyễn tướng sinh ra từ huyễn
hoặc là tiền tài sinh ra từ giả thân có thọ mạng ngắn ngủi? Cho nên nghĩ
như con vẫn thường nghĩ, không phải là Tâm Bố Thí “muốn có tiền để làm
phương tiện Bố Thí”. Tâm đã chẳng không có gì không là của mình mà gọi
là thí? Thí tiền cho người nghèo–theo kiểu của con–là phân biệt Bố Thí.
Có gì là giải thoát? có gì là không? Phải nghĩ đến thí tài cho người
giàu hơn con nữa kìa, mới gọi là Bình đẳng Bố thí. Mới thật không chấp
vào tiền mà Bố Thí, không chấp Bố Thí mà hành Bố Thí, đó mới là không
còn Ngã mà hành Bố Thí, đó chính thật Bố Thí.
Hiểu như thế, thì thấy
giàu nghèo, chẳng qua do sự phân biệt của từng người, không do một tiêu
chuẩn bất di bất dịch. Thế thì trí phân biệt của chúng sanh về giàu
nghèo cũng không thoát khỏi kiến chấp của mình. Nên tất cả kho báu mà
con có thể tưởng tượng được ở thế gian, thù thắng nhất ở thế gian, tuyệt
đối với mắt nhìn của con, cũng không thể nào sánh với các cõi trời,
huống chi các cõi Phật là nơi không có tướng nên sự hạn lượng không có.
A Di Ðà Phật quốc là nơi phước báu của Ðức A Di Ðà Như Lai hiển lộ thành
tướng. Không phải vàng là vàng của thế gian uế tạp vì là nhân, vì là kết
quả của bao mối tương tranh, mà là tánh của Vàng, tức sự tinh khiết, sự
tuyệt đối viên mãn làm đẹp mắt người nhìn, vẫn không khiến Tham Si nổi
dậy, trái lại càng sinh kính mến công đức tu hành. Tánh thật của Vàng,
Ngọc hiện thành cung điện. Có một thứ Vàng Ngọc nào không khiến Tham Si
nổi dậy. Ðó cũng chính là Vàng Ngọc của Phật.
Con đã thấy có ai dùng
tiền xóa bỏ được địa ngục chưa? Địa ngục cũng chính là các nỗi khổ tâm
của chính người đó. Như con chẳng hạn, có đồng tiền nào cột mãi tuổi 30
lại với con, không già theo năm tháng? Tất cả những xảo thuật hiện có và
sẽ phát minh cũng không thể nào thay đổi được thời gian, không thể nào
mua được thời gian.
Con vẫn thường nghĩ: “Nếu
có tiền nhiều thì việc đã khác”, mỗi khi có việc chẳng thuận lòng. Nghĩ
như thế, vì cho rằng tiền có thể giải quyết mọi việc. Con đừng nên nghĩ
thế. Việc gì xảy đến cho con cũng đều do nghiệp của các tiền kiếp,
xấu tốt hãy khoan luận bàn trên tướng.
Như một người bệnh ngặt
nghèo, không tiền thang thuốc. Họ không thấy khổ đau của mình là kết quả
của các việc làm đời trước. Từ khổ nạn ấy mà tu càng chóng tiêu tan
nghiệp quả, lại than trách cái nghèo của mình, cho rằng bệnh còn vì
không có tiền, thì thật là sai lầm. Nếu người ấy giàu có, nghiệp bệnh
vẫn theo bằng cách biểu hiện thành một bệnh nan y mà tiền nào cũng không
mua được thuốc. Ðừng qui cho tiền bạc một trách nhiệm cũng như một lợi
ích nào, vì bản thân nó chẳng có, muôn sự là do Tâm.
Rốt lại tiền cũng chỉ là
Ngũ uẩn, cũng là Căn, cũng là đắm theo cảm giác của thân. Ðể trị các mê
đắm của Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý ấy là THIỀN ÐỊNH. Không một cảm
giác nào có thể sánh với trạng thái tọa Thiền Nhập Ðịnh. Tiền bạc chỉ có
thể mang đến sự vui thích hạn chế theo khả năng cạn cợt của các căn, còn
Thiền Ðịnh là một sự bùng vỡ, tuôn trào của hạnh phúc khôn nguôi, của An
Lạc.
Thiền Ðịnh mở từ khớp
xương, từ sớ thịt, từ lỗ chân sớ lông, từ tạng phủ trong người, từ nơi
bí mật nhất của não bộ, tóm lại từ tất cả những gì gọi là thân của con,
những cửa ngõ đưa con vào bể Cực Tịnh, Cực lạc, thân tâm không còn
tướng.
Thương những người nghèo
khó, không trụ tướng nghèo mà thương. Bố thí tiền cho kẻ khác, không trụ
tướng Bố Thí, cũng không trụ vào tiền. Nhìn những người nghèo sinh
thương xót, là dụng tâm bất bình đẳng đối với chúng sinh. Con thương
người nghèo, sẽ sinh ghét người giàu có. Và từ tâm mình bất bình đẳng,
thấy mọi sự đều là bất công. Không ít kẻ trách Trời Ðất Thánh Thần cho
đến ta, cũng vì thế. Con phải quán sát đúng như thật thì mới có giải
pháp hợp lý nhất mà giúp đở. Tất cả chúng sanh đều khổ. Không nhìn tướng
giàu nghèo, chỉ nhìn thấy nỗi khổ chung của chúng sanh mà bình đẳng
thương cảm.
Cho nên thí tiền cho người
nghèo vì họ cho đó là khổ, và con cảm thương tâm trạng khổ ấy, chứ không
vì cảnh nghèo là đáng thương. Ðó là sự thương hại, mà thương hại là một
tình cảm rất giả dối, hạ phẩm giá của người ấy như là một sinh vật thấp
hơn con. Con nên biết 49 năm Thế Tôn tại thế thuyết pháp là 49 năm
không nhà, không vật thực độ thân tiên liệu cho ngày mai. Tướng ấy
thực có hay không thực có? Nếu thực có sao gọi Như Lai là thân Phước
Điền của chúng sanh?
Vã lại khi Bố Thí cũng
không nơi đâu có thể trụ tâm, trụ tướng được mà tự cho “mình Bố thí cho
kẻ khác”. Tiền ấy khi ở trên tay con thì còn là của con, khi ở trên tay
người kia, là của họ. Có gì còn là của con mà gọi là thí? Nếu nói: “Ðã
là, đã cho” thì nói về quá khứ, thế thì tiền ấy cũng có quá khứ không
phải của con. Ngay khi cho cũng không nói là cho được. Vì thời gian đâu
có Ngừng. Ðang: chỉ có một nghĩa tương đối. Như Phật thuyết: “Này Tỳ
Kheo, ngay chính ông bây giờ cũng đang sinh, đang già, đang chết” chỉ rõ
sự hoại diệt không dừng của tướng. Thì làm sao con lại dám nói “Có bố
thí” cho ai? Ở nơi không Trụ mà hành Bố Thí thì mới là Chân Bố Thí.
Việc kẻ khinh người trọng
mà con hay qui tội cho Tiền là suy nghĩ sai lầm. Gặp kẻ khinh thường vì
chấp tiền thì con giận kẻ ấy, giận số phận, giận cả Mẹ vì cầu mãi mà
chưa cho Tiền, nhưng khi bị cướp chú ý, bị mất trộm, bị gạt tiền thì con
chỉ giận trộm cướp không giận Tiền của mình biến con thành mồi của họ;
không có thì đòi hỏi, khi có và bị nguy hiểm vì tiền cũng không nhận
thấy bản tánh của Tiền không tốt, không xấu là còn chấp trước. Bản tánh
của tiền bạc cũng như vạn vật là Không.
Có một đời sống không tiền
bạc, vàng ngọc, châu báu nào giúp con đến được là đời sống vĩnh cữu của
chân không thường trụ, không ở trong thân, không ở nơi đâu nhất định, mà
vẫn có thể phương tiện hiện trong thân, hiện thành tướng. Một đòi sống
bao trùm cả vũ trụ, đưa con dạo chơi trong không gian, thời gian, cho
con đủ các hình tướng, ở ngoài tất cả mọi suy lường của con.
Con có mơ bay giữa đám mây
bay, bay đến các vì sao con vẫn thấy hằng đêm trên bầu trời, bằng thân
mà con đang tạm có? Với thân này, dù có dùng thần lực của Mẹ mang con
đặt giữa các đám mây, con cũng chỉ có cảm giác buốt lạnh và không nhìn
thấy gì, vì mắt sẽ bị lóa thì làm sao còn thích thú? Với thân này ta
mang con đến các vì sao con cũng chẳng thấy thích thú nào khác ngoài cảm
giáe nóng lạnh, ngộp hay khó thở, hoặc có khắc phục được cũng không mang
lại cho con thích thú, vì cảm quan của con không giống với các thế giới
ấy. Một đôi mắt có thể cho con thấy tất cả mọi sự diễn ra trên mặt đất,
cùng lúc cho con thấy sự di chuyển của các vì sao, một thân có thể đến
với mọi loài, cảm theo cảm quan của loài nào cũng được, giúp con đi từ
mặt đất đến nơi xa, một thân thật to lớn để con có thể nhìn mỗi ngôi sao
là một quả cầu xinh xắn, có thể bước trên các vì sao như đi trên gạch
lát đường, một thân vô bệnh, trường thọ... thân như thế mới đem lại
thích thú khi thực hiện những giấc mơ. Và thân ấy là thân Vô Tướng. Đời
Sống thật ấy cho con một thân Vô Tướng, biến hoá không ngăn ngại, hành
sự không ngăn ngại, gọi là PHÁP THÂN.
Tiền không thể làm gì
được, con hãy để nó sang một bên. Hãy mong cầu thân Vô Tướng. Mong cầu
nơi đâu? Trở lại BẢN TÂM dứt bặt mong cầu thì sẽ thấy.
Con hãy làm theo.
HỘI HỌA
Con được Mẹ họa tâm, quên
được cái Ta của con thì vào được Tâm mẹ họa, tức Tâm mẹ truyền cho.
Hội họa là tướng của cái
mỹ, quan sát cái mỹ như thế nào thì bức họa tả như thế ấy. Nếu con không
quan sát mỹ, mà để cái đẹp thân hóa hiện thành họa phẩm, thì con sẽ thấy
tất cả vũ trụ này là cái Đẹp toàn diện, vì tất cả vũ trụ tuân theo một
qui luật hài hòa, cân đối tuyệt vời. Con biết chăng? Từng hạt bụi, cũng
có chỗ đứng của nó, cũng có số phận, cũng có bắt đầu và chấm dứt hay nói
khác đi cũng không có bắt dầu hiện diện và không cả diệt vong. Thế thì
con vẽ gì đây? Vẽ các sự vật thật có hay không thật có?.
Nếu thật có, thời nhận
định của mọi người về một vật đều giống nhau, nếu không thật có thì lẽ
ra không một ai có nhận biết. Vậy khi con vẽ thế giới là con họa tâm của
mình đó, mà Tâm ấy thì huyễn vô cùng. Như thế, phải lấy gì để nhìn thế
giới? Lấy Tánh không, mà nhìn. Và Tánh không chẳng cần phải luyện tập
mới có, đó là Bản Tánh của muôn vật.
Một con ong không nhìn
thấy vẻ đẹp của Bướm, bướm không nhìn thấy vẻ đẹp của hoa như con vẫn
tưởng với thành kiến của loài người, hoa chỉ là thức ăn... Và chính con,
con đâu nhìn thấy vẻ đẹp của côn trùng... Con mang ảo tưởng về thân
người của mình, tận đáy lòng vẫn chưa chấp nhận sự thật, là không có gì
khác nhau giữa con và một con kiến, con mèo, cây cỏ... chỉ có sự khác
biệt về nghiệp quả, mà nghiệp quả thì không thường hằng. Chưa chấp
nhận–đó là Ngã đấy. Mà Ngã là bất bình đẳng. Con có cái nhìn buộc tội
mọi người, đó là bất bình đẳng. Con có ưa thích riêng–đó là bất bình
đẳng. Thế thì làm sao thấy được vẻ đẹp thật mà họa?
Bất bình đẳng là căn bệnh
tàn phá vũ trụ. Ta thương vi sinh vật “đục khoét” những cơ thể lành mạnh
đồng với một người nói pháp.
Vi sinh vật ấy không
“nghiến răng gậm nhấm sức khỏe con người”. Ðó là những chúng sanh nghiệp
cảm quá nặng hoá sanh trong loài ấy, phải sống trong môi trường ấy, hoàn
toàn vô tội về nơi ở của mình, chúng không có ý chọn nôi. Nếu chúng cảm
được cái khốn cùng của kiếp sống ấy, chúng sẽ tu. Và chính Phật, cùng
chư Đại Bồ Tát dùng Viên âm độ chúng, nên gọi là y vương.
Cũng vì thế, trị lành bệnh
muôn loài. Cả chấy, rận... cũng thế, khi phát tâm tu, nghiệp dứt, chúng
không còn bị đọa trong kiếp ấy, được hóa sanh vào một thân tướng khác,
không còn phải sống bằng máu.
Ðiều ấy con phải hiểu,
giải thích cho con vì sao có người phát tâm tu thì gặp hiểm nạn. Phát
tâm là một việc rất kinh khủng–đó là sức mạnh thu nhiếp thời gian. Sức
mạnh vượt qua sinh tử–thu bao nhiêu kiếp vào làm một–sức mạnh của người
lội ngược dòng–sức mạnh của người chiến đấu vơi chính mình–sức mạnh của
thiên nhiên. Ðó là cái năng lực phi thường biến chúng sanh thành Phật.
Cho nên, vẽ là phương pháp
hữu vi, tả chỉ, lột được sự thật ấy cái bản chất, cái hình dáng thật ấy
của mọi vật, thay vì uốn nắn giả tưởng thêm theo ý mình.
Con có thấy: “Tình yêu làm
người ta rạng rỡ” như con người vẫn tả không? Đó là vì khi thương yêu ai
thật sự, con người quên mình, chỉ nghĩ đến làm điều tốt đẹp cho nhau.
Tóm lại, đó là biến tướng của Từ bi, hỉ, xã, qua cửa ngõ ái dục. Ðiều đó
cho con rõ cái đẹp không nằm ở kích thước.
Trong cách nhìn người
khác, con thường chỉ nhìn với nhục nhãn, chỉ thấy họ tiếp cận với mình
trên một mặt phẳng; tâm trạng của người ta lúc ấy, rồi sinh buồn vui, lo
sợ... đó là chấp huyễn. Hãy nghĩ vô lượng kiép về trước, người kia trong
hoàn cảnh này, sẽ xử trí với con ra sao? Và còn vô lượng kiếp về sau?
Cả con cũng thế, vô lượng
kiếp về trước hay vô lượng kiếp về sau thì con phản ứng như thế nào với
hoàn cảnh trên?
Mọi vật biến hiện vô
chừng, tâm chúng sanh trôi nổi theo nghiệp duyên không thể nào quyết
định thật tướng nơi cảnh ấy. Khi con nhìn một sự vật, chẳng phải chỉ là
mắt con nhìn thấy, mà là thức, là sở tri là ngã kiến đã huân tập từ hằng
vô số kiếp nhìn sự vật ấy. Từ vô số kiếp đã tích tụ vô số kiến chấp, hóa
nên tất cả những phân biệt: đây tốt kia xấu, đây đen đó trắng, giàu
nghèo, thọ yểu, khinh trọng... Bỏ hết những kiến chấp này đi ngược lại
vô thuỷ về trước, con tất thấy chỉ có ánh sáng vô cùng, không ngằn mé:
con người đã bỏ chiếc bóng của mình.
Con ngườì là nguồn sáng
rực rỡ mà không tự thấy, đi tìm ánh sáng bên ngoài để nhìn mình chỉ
chồng chất những màn đêm làm mờ đi ánh quang minh của tự thân–màu mà con
vẫn gọi là đen đó, chẳng phải màu đen. Ðó là một tập hợp ánh sáng màu
cầu vòng, nổi bật riêng sấc đen trên các màu khác. Con đường mà con vẫn
đi qua, đó chẳng phải con đường. Ðó là chiếc cầu vòng mà con vì chấp vào
thân tứ đại chỉ thấy là đất đá màu đen. Và người xấu con chỉ thấy họ
trong hiện kiếp, kiếp quá khứ là kẻ bị ức hiếp, và kiếp vị lai bị nghiệp
quả, thì tướng xấu ở đây là đâu? Quan sát như thế mới nên vẽ. Quan sát
như thế mới nên quan sát.
Thế nào là Quán Tự Tại? Là
ở nơi không hai lập cái thấy. Thế nào là không hai? Không có ta và vật,
không đây và đó, không khoảng cách, không phân biệt, không chướng ngại,
hoàn toàn tự do, nên không gì là không biết, không gì là không thấy,
không đâu là không đến được và không thấy biết tất cả những cái không
trên, đó là Tự Tại.
Bố cục bức tranh: Tâm điểm
ở 2/3 hoặc 1/3 khổ giấy, khổ vải màu sắc: chọn màu gần thiên nhiên, hoặc
màu mà con thấy bức thiết như một nhu cầu. Ðừng dùng lý luận bẻ méo sự
vật, đảo lộn màu sắc, rồi theo đó mà vẽ: như thế gọi là giả dối.
Các bức họa Phật và Bồ
Tát, Chư Thiên đừng vẽ bóng: Dùng màu nước pha nhạt hoặc vẽ nét. Ánh
sáng ở tự thân chiếu ra. Trong cõi ánh sáng không cùng, màu sắc phản
chiếu ánh sáng, ánh sáng phản chiếu ánh sáng không thể có bóng. Hội họa
là phản chiếu ánh sáng của các sự vật chúng sanh... Hội họa là dùng màu
sắc thuyết pháp, là đưa thế giới bên Trên về gần. Con hãy dùng Hội họa
mà cúng dường chư Phật.
BỒ TÁT GIỚI
Tại sao con lại sợ chữ Bồ
Tát giới? Ðó là sợ Bồ Tát hay sợ Giới? nếu sợ Bồ Tát thì con sợ Từ, Bi,
Hỉ, Xã, sợ mở cửa lòng mình, cố giữ lấy cái Tôi mà không thấy điều vô lý
của người giữ gìn một tài sản đã mất hết tự bao giờ. Bồ tát là hạ mình,
con sợ hạ mình sao? Bồ Tát là làm tôi của mọi chúng sanh mà tâm thật
bình an. Bồ tát là thường vui đừng từ chối niềm vui ấy. Bồ Tát là đôi
mắt, đẫm lệ mà nụ cười trên môi. Bồ Tát là trái tim nức nở nhịp khổ trần
gian. Bồ Tát là đi qua cuộc đời mà không để lại vết tích của mình. Bồ
Tát là vui buồn, theo nỗi vui buồn của tất cả chúng sanh. Bồ Tát là ôm
tất cả vũ trụ vào lòng mà an ủi. Bồ Tát trông chúng sanh như người mẹ
trông con, ngày đêm không chợp mắt. Chớ sợ Bồ Tát. Con đang vui, hãy
tưởng đến Bồ Tát, Ngài sẽ khiến con thêm vui. Con đau khổ, hãy tưởng đến
Bồ Tát, Ngài sẽ mang gánh khổ đau thế cho con. Con sợ hãi, con cô đơn,
hãy cầu cứu các Ngài. Bồ Tát sẽ xua tan ngay ảo ảnh đó. Tại sao, khi
thương người này, con phải ghét người khác? Bồ Tát thương con và kẻ thù
của con đồng như nhau, không một kẻ nào đáng bị bỏ rơi.
Giới không phải để thọ.
Giới là phát ra không thể khác hơn thì thành Giới. Sự vô lượng thì giới
vô lượng. Giới là sức mạnh bên trong bẻ gãy mọi tướng để ra ngoài. Cho
nên chẳng phải chỉ có năm, mười, hai trăm, ba trăm... giới, mà là TÂM
ĐỊA GIỚI. Nơi Tâm là đất sinh trưởng giới như mặt đất là nơi cây trái
sinh trưởng. Giới không là buộc, Giới là hằng thể. Tội lỗi không nhân
thì Giới cũng không sanh. Tội lỗi không tướng, thì Giới cũng không
tướng. Và không có ý thức về tội thì chẳng nên sợ Giới.
Giới là chiếc cầu để qua
sông. Người đại lực giả sử không qua sông bằng cầu lại tự bơi qua mà vẫn
đến thì hành động ấy vẫn là Giới, vẫn là qua cầu. Ðại Bồ Tát thị hiện
phá giới để độ kẻ cang cường là thế.
Giới không thể đếm được vì
Giới là Tâm–Tâm an thì Giới nào là chẳng thuận? Tâm bất an thì Giới nào
lại chắng sợ? Bỏ cái chấp trước vào tướng Giới, thì mới có Giới.
Thọ Bồ Tát Giới là thọ vô
lượng ân đức của chúng sanh để trang nghiêm cõi Phật. Thọ Bồ Tát Giớì là
thọ lãnh pháp thân:Thể tánh bình đẳng biến khắp đại thiên thế giới. Bao
trùm tất cả chúng sanh. Thọ Bồ Tát giới là lãnh thọ chiếc chìa khoá mở
kho pháp bảo, tha hồ lựa chọn và tiếp nhận tùy thích.
Giới là định tâm. Khi con
còn sợ hãi, là sự phá giơi còn rình rập. Không còn sợ hãi thì Giới là
những giọt cam lồ rót trên đường đến giải thoát. Giá dụ, trước một hoàn
cảnh, một con người khiến con sợ hãi, con liền niệm Phật. Tại sao niệm
Phật lại được tiêu tan sợ hải? Khi con niệm Phật là con niệm giác Tánh
của con và của kẻ ấy, giác tánh, Phật tánh đó là viên dung, đâu có ta và
người, đâu có thời gian, đâu có không gian, đâu có phân cách, đâu có thù
hằn, đâu có thể xô ngã hay tận diệt. Chính trong lúc ấy, không có nhân
thì quả cũng không, sợ hãi không có thì nguy hiểm cũng không đến. Nên
chí thành niệm Phật được tiêu tan tai ách là thế.
Niệm danh một vị Phật
trong lúc nguy nan, được Phật phương tiện chỉ cho thấy tánh viên giác
ngay lúc ấy, nên gọi là thí vô úy. Thấy Phật tánh ấy thì muôn vạn sự thế
gian có tướng nên có hoại, chỉ là một trò đùa nghịch, chỉ đáng một nụ
cười nhẹ mà thôi. Như thế giữ gì lại là có Giới? Không giữ gì lại là phá
giới?
Như Lai dạo biển đại tịch
diệt là dạo chơi trong biển Giới. Không thọ Bồ Tát Giới thì Giới đó cũng
đã có sẵn trong con, dù con có muốn thấy hay không. Con có thể nào chưa
bao giờ nhỏ một giọt nước mắt trên thân phận mình? Chưa bao giờ khóc cho
nỗi khổ của người mình thương? Chưa bao giờ thấy kẻ mình ghét cũng không
hoàn toàn hạnh phúc? Đau khổ không có tướng nhất định, thiên hình vạn
trạng, đau khổ không phân biệt loài giống, tuổi tác, giới tính, đau khổ
đến với mọi chúng sanh, và nơi đâu có khổ đau thì nơi đó có Bồ Tất.
Không chấp trước vào tướng người thọ khổ, không qui định cho nỗi khổ một
chủ thể, thì Bi tâm tràn lan khắp mọi nơi có tiếng kêu than, đó là Bồ
Tát giới.
Chúng sanh chấp ngã thì Tứ
vô lượng Tâm: Từ - Bi - Hỉ - Xã có tướng ngã. Bồ Tát không có ngã thì Tứ
vô lượng tâm không bị ngăn che, tự tại nương theo chỗ sở cầu của vô
lượng chúng sanh trong quá khứ, hiện tại, vị lai mà hiện tướng.
Bồ Tát thị hiện vào nơi
bất tịnh để độ kẻ tham dục, thì Giới ở đâu? Giới chính là tâm Từ vậy.
Không nên chống lại đau
khổ khi nó đến, mà hãy tiếp nhận bình thường như tiếp một người thân.
Con chống lại đau khổ là chống lại sức mạnh của Nghiệp mà không ai chống
nỗi Nghiệp đâu! Chỉ có đối thoại với đau khổ mới hoá giải được nó. Đau
khổ là mình, nhưng mình không phải là đau khổ: thu nạp được đau khổ chỉ
có lòng Từ vô lượng.
Không nghĩ đến nỗi khổ của
mình, cảm nỗi khổ cũa kẻ khác: đó là Bi tâm.
Lập các phương tiện để biến
sự cảm thương thành lực nội tại là Giới. Không có lực này thì thương kẻ
khác chỉ là thương suông mà thôi, không thể có lợi ích cho ai.
Bấy nhiêu việc, thco sỡ
nguyện thành tựu, tự tánh phát điều thường vui là Hỉ.
Chẳng vì mình cầu lợi ích
cho chúng sanh, hành trình theo Phật không mòn mõi, không động mà vẫn
động theo nỗi khổ chúng sinh là Xã.
Có Giới thì mới có thể
Ðịnh Tâm, có Ðịnh thì mới có Huệ, tuy là ba nhưng thật tánh chính là
Không, tức là Một. Từ căn bản này sự tu tập các Pháp giải thoát không bị
chướng ngại, Nên con hãy xin thọ Giới. Con và người bạn đời của con dù
thương yêu nhau đến mấy, tình yêu đó cũng không che chở các con khỏi tất
cả những đau khổ của cuộc đời, mà chính tình yêu ấy cũng là đau khổ.
Biến ái dục ấy thành tình anh em mới là thương yêu nhau thật sự: giúp
người mình thương thoát khỏi luân hồi. Hy sinh cả cuộc đời cho nhau, hy
sinh mạng sống cho nhau, cũng không thay đổi được kiếp người là thọ khổ.
Tuyệt đỉnh của hạnh phúc là gặp nhau trong cõi sống không cùng, không
còn chia ly bởi sinh tử, không còn phải tìm nhau qua các kiếp.
Con hãy xin thọ Giới.
CÚNG DƯỜNG
Cúng dường! Biết bao cung
kính, biết bao thương mến, biết bao nỗi niềm trong mỗi sự cúng dường: Có
khi do một thôi thúc của thiện tánh, con mang lễ vật cúng dường Phật Tổ.
Cũng có lúc vì mong cầu một điều gì đó, con cúng dường; hoặc vì thói
quen, hoặc vì “ai cũng làm thế”, hoặc vì muốn đền đáp một “cái ân” mà
con cúng dường Phật. Trong tất cả các tâm ấy, ý nghĩa thật sự của cúng
dường nằm ở đâu?
Khi Phật bảo: “Hãy mang
hương hoa thanh tịnh đến lễ bái cúng dường các Ðức Phật” thì đó là Tâm
con thanh tịnh hay lễ vật thanh tịnh? Nếu tâm thật tịnh thì lễ vật thật
tịnh, nếu tâm không chuyên nhất, thì lễ vật cũng không thể là tịnh vật.
Khi Như Lai nói “Cúng dường” là bảo con “Hãy Xã”. Hãy quên đi những “Của
tôi”, “Thuộc về tôi”, “Cho tôi” để tự cởi dần trói buộc, vì gom về cho
mình là “Tâm Thủ”, mà Thủ là tự trói mình. Khi con nghĩ chọn những thức
thật tịnh để cúng dường là tâm con đang Ðịnh mà không tự biết: Không có
một niệm về Ngã, không có tạp niệm nào ngoài sự thật của lúc này. Con
đang chọn hoa tươi nhất, hương thơm nhất, quả ngon nhất để dâng Phật.
Con thấy hoa, thấy hương, thấy quả, mà không thấy cái thấy ấy, không
biết cái tâm đã khiến con hành động. Ðó chính là đang sống với vô biên
trong khoảnh khắc. Sống với vô biên là sống với chư Phật, vì thế mà Như
Lai mới dạy “Hãy cúng dường...”.
Con lễ bái và cúng dường
chư Phật có lợi lớn cho con. Vì sao? Vì điều đó làm tăng trưởng Tín căn,
đẩy lùi Ngã mạn. Khi con lễ, đó là dấu hiệu của khuất phục, không phải
Phật hay Bồ Tát đã khuất phục con, mà là kiêu căng, ngã mạn, kiến chấp
đã bị sự khiêm cung của con khuất phục. Cho nên, cúng dường Phật chính
là Đạo. Cúng dường thân mạng là bỏ tướng nhân, thọ–giả. Cúng dường tài
sản là diệt bỏ tâm tham–Còn cách cúng dường nào cho chư Phật quý hơn tất
cả các thứ trên, cúng dường thứ nào để được giải thoát? Ðó là cúng dường
thức nào có thể khiến con và tất cả chúng sinh thoát khổ, thoát sinh,
lão, bịnh, tử–thoát khỏi luân hồi? Thức cúng dường có thể đáp đền được
hồng ân của Phật, thức cúng dường chư Phật đúng sở nguyện của ngài là
mang lại vô tận đến cho người dân cúng. Ðó chính là Pháp cúng dường.
Pháp cúng dường là Tu Tâm Pháp, là hành Bồ Tát đạo, theo chân Phật làm
lợi ích cho mọi người, trong chỗ hành không còn tâm vọng, hồi hướng tất
cả công đức về chư Phật, đó chính là thật nghĩa của Pháp cúng dường.
Dâng chư Phật không phải những hiện vật kết thành bởi: đất, nước, gió,
lửa, nên có hoại diệt, nên không toàn thiện–mà là dâng Pháp là thứ không
thể hoại diệt, trường cữu, bất biến, tồn tại mãi với thời gian, là Ngọc
của chúng sinh, kết tinh bởi một cuộc đời tịnh hạnh. Khi con cúng dường
chư Phật tại thế, Ngài còn không thật có thọ các vật ấy, chỉ vì thương
chúng sinh mà có giả thân, nên nuôi dưỡng giả thân cũng vì lợi ích chúng
sinh, huống nữa là khi đã nhập niết Bàn. Nên cúng dường Phật là dâng tấm
lòng thành, chứ Phật đâu dụng những thức cúng dường ấy làm “vật sở hữu”
của Phật và có Tâm nào quý hơn Tâm của một người tu, tại sao không cúng
dường Tâm ấy cho Phật? Và tâm tu là pháp tướng.
Con thấy có gì quý hơn một
người có thể nói với mọi người rằng: “Thưa anh, chị... tôi đã nhận chân
được đau khổ. Tôi đã chiến đấu với kẻ thù trong một trận một mất một còn
và đã thắng. Chiến thắng đau khổ nên tôi không còn sợ sệt, vững chãi
bước đi trên con đường Vô Ngã, vĩnh viễn bỏ lại sau lưng bóng đêm của
chết chóc và tái sinh. Đau khổ không còn mang hình dáng của hận thù và
giận dữ, từng giây bóp nghẹn trái tim tôi, điều khiển tôi như con rối
trong chiến tranh của Ngã mà người chịu hậu quả cuối cùng vẫn là tôi.
Ðau khổ không còn mang hình dáng của Tài Sắc, dẫn tôi vào đấu trường của
Tham Lam và mê đắm. Đau khổ không còn mang hình dáng của Vô tư lự, để
độc ác có thể len vào khống chế tôi... Ðau khổ đã ngã gục dưới chân tôi.
Không còn bị xiềng xích bởi hận thù trói buộc nên tôi thương cả kẻ thù
tôi, không còn một xích xiềng nào của tánh chúng sanh trói buộc tôi được
nữa, nên tôi là một người Tự Do. Hãy nghe tôi, đau khổ sẽ không còn là
hình ảnh của nước mắt, vì mặt trái của Ðau khổ chính là Hạnh phúc. Ði
xuyên qua đau khổ như đi xuyên qua một trận bão, sẽ đến bến bình an một
cách không ngờ. Làm được như thế, và giúp mọi người làm được như
thế, kẻ ấy không trụ tâm vào việc đã làm mà dâng tất cả cho chư Phật,
gọi là hồi hướng hay cúng dường chư Phật. Thế đó, chính là cách cúng
dường cao quý nhất, tuyệt đối, gọi là Pháp cúng dường.
Con còn phải hiểu Pháp
cúng dường là lòng tri ân sâu xa, sự kính ngưỡng vô cùng đối với chư
Phật, thể hiện bằng hành động dâng cả cuộc đời cho Ngài: lòng tin không
chỗ trụ nên không điều kiện, không giới hạn vào Giáo pháp của Ngài và
dùng tất cả các kiếp sống bây giờ và mai sau để hành thâm Giáo pháp ấy.
Như thế mới là chân thật cúng dường.
Phát tâm cúng dường pháp
chính là Phát Bồ Ðề Tâm. Phát Bồ Ðề Tâm là đại nguyện không để Tam Bảo
có cơ hoại diệt, là tu giải thoát mà không lìa chúng sanh, là sinh trong
Phật pháp, là con Phật.
Khi con lập nguyện là đã
trở thành con Phật, nên quãng đời trước kia như một chiếc áo cũ được ném
trả lại cho cuộc đời. Con nhìn lại sẽ thấy xa lạ với con của ngày trước,
cái mà con vẫn tưởng là bản ngã thật của mình đã rơi xuống, những cá
tính làm nên “con người của con” trở thành thừa thãi và có phần nào kệch
cỡm cũng rơi xuống, để lộ một cái gì không tên, sáng chói, tinh khiết vô
cùng của nguyên sơ tạm gọi là Chân Ngã; đó chính là Thánh Thai. Nguyện
lực đầy dủ thì Chân Ngã hiển lộ, gọi là Phật tánh, nguyện lực chưa đầy
đủ thì Chân Ngã chỉ lóe sáng rồi bị che lấp. Tinh thần siêng năng hành
đạo là nuôi dưỡng Thánh thai. Ðến ngày công hạnh đầy đủ, pháp thân tức
Thánh thai xưa kia hiện đủ trong thân, thân nay trở thành Hóa thân. Vì
công hạnh viên mãn, quả báo viên mãn nên báo thân là thân Phật. Ba thân
hiện đủ tướng là giải thoát là quả vị vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
là Phật, Thế Tôn, Thiên nhân sư.
Cho nên Phát Bồ Ðề Tâm là
nguyện rất lớn. Nơi đâu có người phát Bồ Đề Tâm là nơi ấy có chấn
động–Thiên Long vì chúng sanh và vì vị Phật tương lai mà ủng hộ người
đó. Đừng sợ không đủ sức làm tròn lời nguyện, chỉ sợ tâm buông lung mà
không quyết chí đi đến nơi. Chính khi phát nguyện là đã nói lên một Thần
chú bí mật, một Ðại thần chú có công năng dẹp trừ tất cả ma oán, chuyển
bánh xe của Nghiệp quả thành bánh xe của Pháp, một Vô Thượng chú, biến
người nói trở thành người không đối thủ.
Như thế, cách cúng dường
cao quý nhất là Pháp cúng dường. Ðã phát nguyện thực hiện Pháp cúng
dường thì con hãy vui mừng, an nhiên hành đạo chớ khởi tâm thối lui.
THIỀN ÐỊNH
Con đường Ðức Phật đã đi
qua để đạt đến bờ giải thoát, chính là khế hợp Tâm - Trí - Thiền - làm
một. Nhưng con phải hiểu đúng đắn về điều này, để tránh sai lầm mà đa số
người học đạo thường mắc phải, là chia chẻ cuộc đời, giáo pháp của Thế
Tôn theo sở kiến, làm theo pháp mà mình thích và cho là hợp với mình,
lâu ngày sinh khinh thường các pháp hành khác, đó là tìm cách chia rẽ
hòa hợp của người tu.
Thật ra không có một pháp
môn nhất định nào để trở thành Phật cả. Vì sao? Vì chủng tánh sai biệt
của chúng sanh. Ðây là những người cõi Tiên hết phúc xuống làm người
trần, đó là loài Rồng xuống thế vì muốn tu để cởi lốt Rồng. Kia là Ngạ
Quỹ muốn tu nên được thân người làm phương tiện thoát lên cõi trên,...
chưa kể đến những chúng sanh không dùng thân người để tu Phật đạo... Căn
cơ, nghiệp quả khác nhau thì sự vào đạo cũng khác nhau. Mỗi hành giả tuy
không biết rõ căn cơ nghiệp quả của mình, nhưng tự nhiên sẽ sinh ưa
thích các pháp hợp với mình và tu tập theo pháp ấy. Pháp và người liền
nhau đi đến giải thoát dù là người nào, hành pháp nào, không nhất định
không khuôn phép đúc sẵn nên gọi tự tánh của các pháp là bình đẳng.
Người tu phải lấy tánh bình
đắng ấy mà học Ðạo. Không vì mình theo con đường này mà chê con đường
khác. Khi Phật, Bồ Tát phân biệt diễn nói pháp Đại Thừa, Tiểu Thừa là vì
từ bi muốn chỉ rõ sự khác biệt giữa các chúng sanh, muốn chỉ rõ lối tu
hành có từng bậc quả chứng như thế nào để dứt nghi cho con. Chứ không vì
chê bai kẻ căn cơ thấp, không vì riêng thích pháp nào. Con phải lấy Tâm
không tranh ấy mà tu Phật đạo.
Các pháp được Thế Tôn
thuyết ra, tuy có sai biệt, nhưng đều mang vị Giải thoát, thì pháp nào
cũng không ngoài ba điểm cốt tủy để hành là Tâm - Trí - Thiền.
Tâm
đây có nghĩa gì? Tâm là sự
phát tâm cầu Đạo. Nếu không có tâm đạo thì người ấy chỉ là ngoại đạo tu
thần thông. Có tâm đạo, tâm hướng Phật này thì không bao giờ sa vào cảnh
giới ngoại đạo - Ðã tự thấy mình quyết chí tu theo Phật là trụ tâm nơi
Phật.
Trí
là tư duy. Trí đây chưa là
Huệ, nhưng tạm mượn sự suy nghĩ này để phân biệt, giảng gìải, tìm hiểu
trong tâm thức lời Phật dạy, hay vấn đề liên quan mật thiết đến sự tu
học của mình.
Thiền!
Không có nghĩa tông phái hay cách Tĩnh tọa nào. Con hãy nghe kỹ đây để
giải nghi lầm và hành Thiền đúng nghĩa. Thiền là sự ly cách chuyển đổi
dần hay đột ngột của tất cả những gì là chúng sanh thành một cái gì khác
mà ta gọi là Phật tánh.
Có Tâm cầu Đạo, đã thấy vấn
đề phải giải quyết, con tìm cách trụ vào đó , gạt bỏ mọi sự việc khác
khỏi tâm trí, khỏi đường đi, chính là con đang hành Thiền đấy.
Thí dụ: một hành giả ao ước
được hóa sanh vào cõi nước của Đức A Di Ðà Phật. Người ấy trì niệm danh
Ngài. Trì niệm như thế nào? Phải đạt đến nhất tâm trì niệm thì mới gọi
là đúng Pháp. Khi niệm Phật, tâm chưa định nên bất cứ tạp niệm nào cũng
có thể cắt đứt dòng chánh niệm. Nên phương tiện ngồi một nơi để động của
thân không ảnh hưởng đến tâm, là Hữu tướng tọa thiền. Khi dẹp tan
được tạp niệm, không cảnh ngoài nào ảnh hưởng đến dòng niệm trong tâm,
nên dù làm gì, đi lại, nói chuyện, ăn uống, vẫn thấy dòng niệm trong
lòng không hề ngừng, không hề gián đoạn, là Vô tướng tọa Thiền.
Thiền đã là một với Tâm - Trí. Tâm đã gạn lọc hết bợn nhơ của Tham - Sân
- Si - Mạn, Nghi - Ác Kiến. Trí đã sạch chướng ngại, vô minh, đường đã
thông thì nơi đâu mà không đến được. Ðạo từ ý niệm đã trở thành chính
người đó, vì mọi nẽo ngăn che đã không còn.
Các phương pháp hàng phục
tâm xao động khi tọa Thiền ngoài cách trụ vào câu niệm, còn có thể trụ
vào hơi thở, hoặc để định lực sớm phát hơn, với người đại căn là lồng
câu niệm làm một cùng hơi thở mà trụ tâm.
Tùy theo công hạnh các tiền
kiếp, tùy theo bổn nguyện, hành giả được quả chứng mà không tự cầu. Ðó
là Định.
Như thế, thì Thiền Ðịnh đi
liền nhau. Có Thiền tức có Ðịnh.
Trong ngoài không có hai
tướng là Thiền Ðịnh. Không Thọ, không lìa là Thiền Ðịnh–Không khởi niệm
mà vẫn niệm là Thiền Ðịnh.
Khi định lực đã có, là hành
giả có thể trụ trong dòng Chánh Ðịnh bất cứ lúc nào và thấy biết sự thật
mà những kẻ khác không thấy biết. Như Ðức Thích Ca nhìn thấy xuyên suốt
mười phương thế giới, tất cả các cõi nước của các Ðức Phật khác–nhìn
thấy các Bồ Tát và đại chúng, quyến thuộc đến nghe pháp mỗi khi ngài
chuyển pháp luân; lắng nghe chỗ không tỏ hiểu của các Bồ Tát ấy mà giảng
bày cặn kẽ – Ðịnh lực của Ngài thù thắng đến độ có thể giây lát khai thị
cho những hàng sơ cơ trông thấy những sự thật ấy gọi là Phật thị hiện
thần thông, cho đại chúng nương theo oai thần mà vào cảnh giới bất khả
tư nghì giải thoát của Phật, Bồ Tát.
Cho nên con phải vững tâm,
không khởi tà niệm, một mực nương Phật Tổ là Thầy, khởi từ tâm thương
mình khổ vì kiếp người, thương người cùng thân phận khổ như mình. Hành
trì đúng pháp, ở thế gian mà lòng thường lìa thế gian, thì sự giải thoát
của con là sự giải thoát của bao người. Một người trụ được trong dòng
Chánh Định, mang lại lợi ích hữu vi, vô vi không kể xiết cho người khác–
Khi cứu mộl người thoát bệnh hiểm nghèo, là cứu được một mạng người.
Nhưng cứu họ thoát được sân si là cứu được bao mạng người và cứu được cả
kiếp sau của họ–Không trụ công đức thù thắng của pháp vô vi, không bỏ
công đức hiện tiền của pháp hữu vi, người đã trụ trong chánh định là chỗ
dựa cho muôn loài.
Con phải y pháp mà hành,
thường soát lại tâm mình, để không lìa Thiền Định. Tự biết không cầu
thần thông hay mong cầu danh vọng. Làm sao mà có thể cầu những điều ấy
nơi Phật được thì quả báo không cầu tự đến.
THỜI TRANG
Nhu cầu hàng đầu của con
người là Ăn-Mặc. Ở người tu thì nhu cầu ấy chuyển thành Luật Nghi và sự
hoằng hóa là y Bát. Con làm thế nào để có được sự chuyển đổi ấy?
Bao giờ con cũng bị cái mới
lạ thu hút. Đó là vì tâm chưa an trụ được vào chốn bình an, nên bất cứ
cái động nào bên ngoài cũng khiến con tự nhiên, đương nhiên bị cuốn
theo. Nếu không sớm định tâm rồi từ đó đi tới Đại Ðịnh, không còn thấy
tâm có Ðịnh con sẽ gia nhập số người kia, săn chờ mới lạ nên tâm trạng
lúc nào cũng bất an, dù đang vui vẫn khổ, một nỗi khổ mơ hồ đọng lại
trong tiềm thức và bùng lên khi cuộc vui đã tàn, vì điều mới lạ nhất vẫn
còn ở phía trước. Nổi khổ ấy trì kéo, chứ không mở một cánh cửa vào
không gian của nội quán, dẫn con đi lên.
Tìm vui để chạy trốn, để
quên nổi khắc khoải nhuốm màu tuyệt vọng của một sinh linh tìm kiếm
tuyệt đối, thường hằng trong nẽo vô thường, con người thay đổi, tham gia
mọi cái mới và một trong những giải khuây ấy là Thời Trang.
Con thích ở trong dám đông,
nên chú ý đến thời trang, đó cũng là một tướng của Ngã. Không ai vận y
phục “đẹp” vào mà không có cái thích thú dù chỉ nằm trong tiềm thức là
được kẻ khác chú ý. Chú ý đến tức có phê phán. Sợ sự phê phán nên càng
thuận theo sự phê phán, tức đã vướng vào Danh Sắc và đánh mất chính
mình.
Thời trang không có nghĩa
đơn thuần là y phục.
Ðó còn có nghĩa là sự ấu trĩ của tâm linh. Một người thật sự,
mang nổi hoài nghi về nguồn gốc, thân phận của mình sẽ không thể nào có
thời gian để tâm đến vấn đề nào khác ngoài vấn dề lớn nhất của con người
là sự hiện hữu của mình–Cái chết của vạn vật hữu thể và phía sau cái
chết.
Quyết định dành cuộc sống
hiện tại để giải quyết những vấn đề ấy bằng cách thực nghiệm lời của
Người đã tự giải thoát khỏi những hoài nghi này, là hành pháp Phật, là
mặc áo Tăng già. Như thế, cái y chính của cuộc đời là giải thoát. Nói
cách khác, đó là Giới, là Huệ và ngược lại, Thời trang hàm nghĩa vô
thường, phù du, nông nổi. Nên con thấy những người say mê thời trang là
những người chỉ biết tiêu chuẩn giá trị ở bộ trang phục, không còn biết
đến một giá trị nào khác. Họ là những cái mắc áo đúng nghĩa.
Mỹ không nằm trong dục lạc,
nên những y phục lấy dục làm kim chỉ nam không đạt dến nghệ thuật, không
phản ảnh được trí tuệ của một thời đại, một dân tộc mà chỉ là những mãnh
vụn của cả đại dương. Dục vọng bắt nguồn từ thuở có con người.
Như thế, những y phục phải
phép được Ðức Phật ngợi khen mang sắc thái nào? Ðó là những y phục
lấy công đức làm vải, lấy từ bi làm kiểu cách, lấy trí tuệ làm phương
tiện may thành. Hãy lấy những y phục ấy mà trang nghiêm thân tướng.
Chính thế, mặc y phục chẳng
vì xấu hỗ, chằng vì khoe khoang, chẳng vì thời tiết, mà chỉ vì trang
nghiêm thân tướng. Thân tướng đây chẳng phải xương thịt, máu mủ mà gọi
là thân tướng. Ðó là oai nghi, là vô dục, là vô ngã, là đồng thể tánh
với y phục.
Thân không lìa, không khác
y, y cũng không lìa, không khác thân. Ðó là chẳng phải thân tướng mà gọi
thân tướng. Chẳng phải y phục mà gọi y phục, chẳng nghĩa trang nghiêm mà
thật trang nghiêm.
Và như thế, chính là đắp y,
thọ giới. Và như thế là chân thật đắp y. Cho nên, chiếc y là pháp bảo,
là dấu vết của Đức Phật tại thế gian. Tôn trọng chiếc y chính là tôn
trọng Phật. Ðó không chỉ là vải vóc, đó là sự giải thoát hiện thành
tướng. Con đừng như những người kia, trụ vào quả báo lành của mình, sự
tu học của mình, phê phán những đệ tử đắp y trì bát của Phật – chẳng nên
nhìn lỗi người bằng đôi mắt của quan toà, huống nữa là phải tỏ thái độ
khiêm cung. Bất cứ một ai còn vướng mắc đều chịu một lực phản hồi. Nếu
con không tó thái độ, thì chẳng phải vì thế mà luật Nhân Quả không thấy
lỗi lầm của họ, nên vẫn cung kính chiếc y, vẫn phải cung kính các vị ấy.
Nếu con là Tỳ Kheo không
mang y bát, có thể vì lòng từ mà độ được vướng mắc của người phạm giới
kia, con hẵn độ – Nếu con không phải là vị Ðại Bồ Tát mà pháp âm cất
lên, xua được vô minh phiền não, bạt được nghiệp chướng sâu dày, đem
người phạm giới trỡ về nẽo chánh thì con đửng luận đến “tội” của họ. Nếu
vị hành đạo đó không thích hợp với con, con phải xa trong sự kính trọng.
Tại sao? Những người phá hoại chánh pháp là kẻ không tôn trọng chiếc y
mà họ đang đắp, con không thể vì họ không tự tôn trọng mà sanh bất kính
với Tăng già, tượng trưng bởi chiếc y ấy.
Hơn nữa y là giới, họ đã
phạm giới thì con đừng phạm giới theo, là hành động không tôn kính y
giới. Hành xử như thế mới đúng là Phật tử.
Những người đắp y trong
lòng, thân xác phàm phu mà thật hành Phật đạo – vì hiểu nghĩa muôn pháp
không tự tánh mà bỏ tướng đắp y để gần gũi chúng sanh, làm vạn điều lợi
ích, là Ðạo sư mà không trụ tướng Ðạo sư, là Bồ Tát mà không trụ tướng
Bồ Tát, thị hiện bệnh tật mà cứu khổ người khác, thị hiện xa hoa mà lòng
lìa tiền bạc, tâm trí không rời kẻ khó nghèo... những người vô tướng đắp
y như thế là những người thật hiểu nghĩa của y.
Chỉ có mỗì việc “nhỏ nhặt”
là việc "mặc" mà có thể phơi bày tất cả tâm tư trí tuệ, tình cảm của con
như thế, nên hãy cẩn thận trong việc mặc. Cẩn thận không có nghĩa chãi
chuốt, mà là con đang vận y phục với Tâm nào? Hay không có ý niệm nào
hết? Nếu được tâm không trụ thì thật đã bỏ qua được Tướng.
KINH ÐIỂN
Con đọc kinh điển trong tâm
tướng nào? Có bao giờ con tự hỏi mình như thế? Con không thể đọc kinh
điển như đọc sách, thích thú với những “đoạn hay”, tò mò với những “ý
tưởng lạ”. Ðọc như thế là tâm bất kính.
Con vì thế, vô tình đóng
cửa Chân Tâm, lòng không để tác động của Thần lực phát ra từ kinh điển
chuyển mình, nên cũng khó có thể hiểu được nghĩa kinh.
Kinh điển là sự kết tập lời
nói của Đức Phật Tổ. Lời nói ấy là văn sống động, giản dị, dễ hiểu, đại
chúng, Ở ngay trong đời sống tầm thường, bình dị của mỗi ngày. Chỉ bày
những chân lý thật như có thể nắm bắt được bằng thân thật như sự có mặt
vô hình đối với mắt thường của gió. Đọc kinh là học, là nghe kinh.
Khi mở quyển kinh, lòng của
con cũng phải sẵn sàng đón nhận những lời lẽ ấy với tất cả sự kính tín
của người muôn dặm thỉnh kinh. Hãy cẩn thận! Muôn dặm đường xưa nay nằm
trong Tâm con đấy!
Lời nói của Phật Tổ, một
bản ngã vô ngã, chính là pháp. Ðó không còn là lời nói, không còn là
ngôn ngữ, văn tự. Ðó là chân lý tuôn tràn, ẩn chứa trong đấy tất cả sức
mạnh của vũ trụ, của tánh không. Vì chúng sanh mà có tướng âm thanh, nên
có chúng sanh mới có pháp là thế.
Muốn biết chắc rằng con
hiểu đúng tinh thần quyển kinh mà con đọc, trước hết phải tận tường nhân
duyên thuyết kinh ấy, sau phảì nắm được mật chỉ trình bày xuyên suốt tất
cả lời lẽ của kinh. Dù Phật có thuyết bao nhiêu lời lẽ cũng đều để hiển
bày mật chỉ ấy. Mật chỉ ấy, mật mà không mật thường chính là Tựa của
kinh.
Những người nhân nghe một
câu kinh mà thấy Phật tánh, chính là hành giả đã hun đúc, nghiền ngẫm
vấn đề của mình từ rất lâu, tâm đã đạt chỗ tri hành hiệp nhất, lời nói
và việc làm là một, nên chỉ cần một cái gõ mạnh trợ duyên là bật sáng.
Ðó là người đã sẵn chứa tạng kinh trong tâm. Người khác cũng có mà cũng
không vì chưa tự thấy tự biết tạng kinh của mình.
Lời nói của Người có thể
khiến người khác bỏ những việc khó bỏ, làm những điều khó làm ắt hẵn
không chỉ là lời nói.
Dỡ một trang kinh, là nghe
tiếng nhạc Trời. Đọc một dòng chữ là thấy hào quang tỏa sáng, đón nhận
nghĩa lý, như là uống giọt cam lồ, con sẽ là người sống cùng thời được
nghe chính tiếng Phật thuyết giảng.
Không đọc kinh điển trong
tinh thần thu thập kiến thức–kiến đã là chướng ngại rồi–thì kinh điển
bao giờ cũng mang lại lợi ích nhất định cho con. Ðọc kinh trong trạng
thái tinh khôi, thì tâm hồn con là tờ giấy trắng được in đậm Chân lý
giải thoát của Chư Phật. Con hãy dọc kinh điển trong tinh thần thật lắng
ấy.
TẠI SAO
TU?
Tại sao phải đặt vấn đề tu,
khi điều đó chưa là cấp thiết đối với nhiều người. Có người vào Ðạo một
cách lự nhiên, dễ dàng nhờ căn lành đã trồng từ nhiều kiếp trước. Có
người trong đau khổ cùng cực chợt hiểu chỉ có Tu mới thoát khổ. Còn đại
đa số không thấy cuộc đời đáng buồn đến độ phải “bỏ nó”, hay cuộc đời
của mình suy đến cùng cũng “chẳng có gì đáng phàn nàn” thì tu để làm gì?
Thật ra ý niệm Tu làm nhiều
người sợ hãi. Tu là từ bỏ những gì mình đang yêu thích thì quả là khó
khăn và không hứa hẹn điều gì tươi sáng cả...
Thiện-Ác là hai mặt của
cuộc đời. Nhưng Thiện Ác cũng là hai mặt của mỗi con người và không thể
dễ dàng phân định ranh giới giữa hai khuôn mặt này, không thể dễ dàng
quyết định trắng đen.
Mỗi người sinh ra đời đều
mang sẵn liều lượng Thiện Ác trong mình–Thiện là Phật mà Ác là chúng
sanh. Nhưng thế nào là Thiện và vì sao gọi là Ác? Bất cứ một hành động
hay Tư duy nào không lấy Tôi làm nguyên nhân và đích đến thì đó là
Thiện. Ngược lại là Ác. Nhưng không có Tôi thì ai hiện hữu? Ai làm việc
Thiện ấy? Ðó là Phật của con hay Phật trong con. Có người sẽ gọi đó là
Thượng Ðế hàm nghĩa chân lý, điều toàn thiện. Nhưng Thượng Ðế là ban bố
dù không nhận lại vẫn mang tướng thi ân. Còn Phật thì ngay cả ý thức thi
ân cũng không có. Phật chính là sự tự tại của Thiện. Như thế thì ngoài
bản ngã của con ra, mà con nghĩ đích thật là mình, còn có một bản ngã
khác, là một đời sống tự do, không lìa con nhưng không lệ thuộc, sẵn
sàng hiện diện khi con không tìm cách nhấn mạnh sự có mặt của mình như
một thực thể chân lý. Bản ngã ấy là chân tánh của con, Chân tánh ấy là
Phật tánh.
Không tìm thấy bản ngã thật
ấy, con sẽ đau khổ, sẽ bất an, con không bao giờ bằng lòng với cái mình
đang có, hay bằng lòng với thế giới quanh con, vì không thể nào sống yên
ổn hòa bình với cái Ác được, dù đó là cái Ác của chính mình.
Tu là tự hoàn thiện mình.
Tu không có nghĩa mất cả ánh nắng của cuộc đời, chôn vùi một cái gì thân
thiết của con mà có nghĩa sống hoàn toàn, tròn đầy, như đập vỡ vỏ cứng
của một quả ngon để thưởng thức.
Không sợ chữ Tu thì con sẽ
hiểu tại sao phải tu. Ai cũng có 1 lần cảm thấy sự bất lực vô cùng của
mình khi đối diện với cuộc đời, dù là ai chăug nữa. Họ có thể thành công
trong những mặt nào đó và lấy hào quang của thành công này che lấp buồn
tủi của thất bại khác, nhưng sự đền bù này cũng chính là sự xác định mặt
khiếm khuyết kia. Cái nhân của đau khổ vẫn còn đó, dù được che giấu dưới
lớp tro than của quên lãng hay nhung gấm của hạnh phúc hiện tiền. Người
đời vẫn thường chấp nhận và bằng lòng với cái tương đối ấy. Nên xét lại
là hạnh phúc đối với họ giản dị quá–là cho qua đi những đau khổ và thụ
hưởng cái mà họ đang có. Ðó là làm quen với Ác và đi đến kếl luận có thể
dung hoà Thiện Ác. Vì Ác là gì nếu không là Ðau khổ?
Nhưng còn một lối thoát,
còn một con đường dẫn con đến nơi ý niệm về Ác cũng không có, huống là
sự hình thành của tội ác. Bóng dáng đau khổ vắng bặt nơi đây, chỉ thuần
một màu An lạc. Tại sao con không dấn thân vào con đường hạnh phúc viên
toàn ấy? Con dường ấy là đường Tu.
Cho nên, Tu là đến với
những gì vui hơn cái mà con đang hưởng. Những kỹ luật gặp trên đường Tu
là điều tất yếu để giải quyết chất Ác. Chính là sự hoại diệt của điều ác
để hiển bày điều Thiện. Sự hoại diệt này là Nhân là Quả – mà điều Ác
chất chứa trong nó nên phải lãnh chịu. Khi Ác đã không còn thì không có
Sống-Chết, không có đau khổ, không có ranh giới, không còn phải khép
mình vào căn phòng Thiện để đối kháng với Ác, Thiện là con, con là
thiện, thì điều gì con làm lại không là điều thiện? Nơi đâu trong con
lại không là không gian của Thiện.
Thì còn phải khép mình vào
một lề lối nhất định nào để hành Thiện? Ðó là giải thoát khỏi cái ác,
khỏi đau khổ, khỏi cả ý niệm về dau khổ, khỏi cả ý niệm về sự giải thoát
ấy. Ðó chính là giải thoát.
Vì thế, Tu không phải là từ
bỏ hạnh phúc cuộc đời để đến với hạnh phúc của Ðạo.
Tu là đi từ hạnh phúc mong
manh đến hạnh phúc vĩnh cữu. Tu là vẫn hít thở không khí ấy, vẫn nhìn
thấy vầng dương cũ rực nắng mỗi ban mai, vẫn bầu trời đầy sao của ngày
xưa choàng lên tâm tư mỗi khi đêm đến, vẫn những người con đã gặp bao
lần, vẫn hoàn cảnh mà cuộc đời đã đặt con trong đó... Nhưng con ơi! Nhận
thức của con không còn như xưa nữa! mặt trời thế gian, chỉ là hình ảnh
thô thiển của mặt trời đã sáng trong con. Những người con gặp gỡ là
những chiếc bóng của chính họ, mờ nhạt và yếu ớt trước cuộc đời, trước
sinh tử của mình và cuộc đời cùng những hoàn cảnh thuận-nghịch, buồn vui
xưa, nay chẳng còn chuyên chở được tình cảm của con. Con đã thoát con
nhỏ bé ngày xưa. Ngày xưa... phải, vì những tâm tánh nhãn quan cũ, cứ
lùi mãi vào vô tận, mang tính vô thực của một huyền thoại, nhưng thiếu
chất thơ, con bây giờ mới thật sự sống.
Hãy san bằng chướng ngại
ngăn cách con với Thường Hằng. Hãy làm người lữ khách mà mỗi bước chân
đến cõi không thời gian nở đóa sen vô ưu. Hãy là con mãnh sư uy dũng
giữa đám người đành chịu khuất phục trước nỗi khổ thầm - Tu là một quyết
định sáng suốt nhất trong đời người. Không chỉ là sự sáng suốt của tuổi
nào 10, 20, 70, 80 hay hơn nữa, mà đấy là sự sáng suốt của vô lượng
tuổi, vượt ngoài giới hạn của tuổi tác, là tiếng nói của Phật trong con,
vang gọi con vào cuộc Ðại hành hương. Hãy đi chớ sợ! Lấy lòng tin
thắp đuốc soi đường, mỗi nổ lực sẽ có vạn nghìn mắt Phật thương nhìn,
mỗi vấp ngã sẽ có vạn nghìn cánh tay Bồ Tát nâng lên. Con đi bằng sức
mình nhưng không bao giờ lẽ loi, không bao giờ cô độc hoàn toàn.
Hãy tiến tu!
DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH
Nghe Kinh Pháp Hoa và trì
tụng, con được an ổn thân tâm. Nhưng để hiểu và hành thì con chưa đạt
được điều ấy. Vấn đề phải tìm hiểu và quán, tu trong kinh là Tri Kiến
Phật.
Tri Kiến Phật, đó là sự
thấy biết của Phật đà. Đó là Trí huệ viên mãn tột cùng. Nói tất cả mọi
người, mọi vật đều có Phật tánh, là nói tất cả chúng sanh đều sẽ được
Tri Kiến Phật. Hay chúng sanh đều là Phật. Điều này con thật khó mà tin
được. Vì sao? Vì con chưa thấy, chưa được, chưa ngộ phật Tánh–Phật Tri
Kiến–nên không nhìn thực tế như nó vẫn thường hằng.
Như khi con buồn, tìm an
ủi, quân bình cho tâm hồn trong sự chiêm ngưỡng tượng Phật. Ðau khổ ngập
trong lòng nên trông tượng Ðức Di Lặc, con không “cảm” được từ tâm của
Ngài. Vì tượng Di Lạc Bồ Tát là biểu tượng của pháp Hỷ, sự an ổn vô song
về mặt tâm linh, điều cực kỳ xa cách với tâm trạng hiện tại của con. Con
trông tượng Ðức Phật Tổ thấy Ngài không gần gũi trần gian, con nhìn
tượng tạc vị Bồ Tát với nét thương cảm chúng sanh qua gương mặt đượm
buồn, và nhận rằng, đích thật đây là “Phật của con”. Con cảm thấy một
mối giao cảm đặc biệt với vị ấy và mở lòng cầu nguyện. Thật ra Chư Phật
vẫn đồng tâm thương xót chúng sanh chỉ vì kiến chấp của con mà Phật hóa
chẳng đồng.
Ở nơi không hai mà lập các
pháp là chư Phật tùy tâm địa của chúng sinh mà thuyết giảng. Với người
thích giáo pháp Thanh Văn, Phật vì đó nói pháp ấy là Thanh Văn. Với
người thích Ðại Thừa, Phật vì đó nói pháp ấy là Đại thừa. Nhưng đâu phải
vì danh tự Tiểu thừa, Ðại thừa mà giáo pháp không cùng xuất sanh từ Phật
tri kiến? Các pháp sai biệt ở văn tự, bản tánh vốn là sự giác ngộ của
Phật, không hề có khác nhau. Vì thế muôn pháp đều dẫn đến Giác Ngộ, dù
hàng thanh văn, không biết không hay Phật đã gieo Phật trí nơi mình.
Một người cư xử không phải
với con, ức hiếp con, con thở than, buồn bã hay giận dữ. Tại sao? Tại
sao? Con cần phải phản ứng lại sự việc trên như thế? Có phải vì trong
con những ý niệm về ức hiếp, bất công... vẫn còn đầy dẫy, nên con cảm
thấy sự bất công, tức là chính con cũng không khác người kia. Như thế,
con có thật sự “tốt” hơn người kia, con là “Thiện” và họ là “Ác” không?
Tuy con không hành Ác nghiệp, nhưng tâm không lìa ác, nên tất cả giai
đoạn nhân quả của điều ác, vẫn diễn biến đầy đủ trong con. Đó là sự thấy
biết chúng sanh.
Nếu trong cảnh tắng hội đó,
đau khổ của con chuyển thành thuận cảnh, con sung sướng biết bao. Thế
nghĩa là trong đau khổ có mầm hoan lạc. Hạnh phúc đến; sau khi vượt qua
đau khổ là hạnh phúc có sự dự phần của trí Huệ. Trí Huệ là giai đoạn mở
đầu Tri kiến Phật.
Trong một hoàn cảnh tuyệt
vọng, con vẫn còn niềm tin vào điều vượt ngoài phạm trù của lý trí, sẽ
xóa tướng tuyệt vọng mà con đang nhận biết rõ ràng. Niềm tin ấy khiến
con niệm Phật cầu thoát khổ–cầu điều “kỳ diệu”. Ðó chính là niềm tin vào
Bản tánh thiện vẫn chi phối vũ trụ. Sợ hãi là tin vào sự chiến thắng của
điều ác. Nếu có một sự tin tưởng tương đương vào điều thiện thì sợ hãi
tiêu tan. Phải chăng giây phút cầu nguyện ấy, con vượt qua tướng thời
gian nên vượt qua tướng sinh tử. Ðã nói vớì hiểm nguy, với tứ đại, với
giả duyên, với tam nghiệp, rằng bất chấp sự cản trở của các ngươi, bất
chấp sự trói buộc mà các ngươi đang giam giữ ta, ta vẫn tiến lên, tiến
mãi về phía trước, về cảnh giới có tri kiến tuyệt đối sẽ giải thoát cho
ta khỏi hoàn cảnh hiện tại. Ðó là vươn tới Phật và tri kiến Phật, như
một phép mầu. Sẽ đưa con vào nước trí. Sự mầu nhiệm mà con mong cầu phải
đến, vì bản thể của Phật vốn không hạn lượng, không tranh nên không gặp
cảnh tranh luôn là thuận cảnh. Ðề Bà Ðạt Ða là Phật vì đã chỉ cho chúng
sanh thấy Ðịnh lực cũa Phật Tổ. Đề Bà Đạt Ða là Phật vì đã phỉ báng
Phật: Ghét Phật vì Phật là Phật. Hình ảnh của Phật, là hình ảnh mà ông
chối bỏ–tức là ý niệm về Phật có trong ông. Người ta không thể phản đối
một hình tượng không hề hiện hữu. Nghiệp chướng, chúng sanh kiến, ngăn
trở Đề Bà Ðạt Ða cảm Phật, hoà nhập vào Phật, thấy Phật nơi mình. Nhưng
Phật trong ông vẫn hiển hiện. Tại sao con lại nghĩ rằng ông ta “ghét”
Phật mà không biết rằng ông chưa bao giờ không kính Phật? Ghét hay
thương, chỉ là hai cách nhìn một tiền đề sẵn có.
Cách này hay cách kia là
phương tiện diễn đạt, nên tướng ghét cũng như tướng thương kính mà thôi.
Ðề Bà Ðạt Ða là Phật thị hiện làm Bồ Tát độ oán tắng.
Phải biết rằng mọi sự con
vẫn cho là thuận nghịch từ chỗ đứng của con đều không đúng. Tâm con đem
vào những phán đoán mà tự thể các hiện tượng hay pháp đó không có. Thí
dụ: con vẫn cảm thấy mặt đất rất vững chắc. Tự bao kiếp vẫn cho rằng
vòng tay của Ðất đáng tin cậy vô cùng. Nhưng hãy thử tưởng tượng, nếu
mặt đất trở thành trong suốt thì bầu trời mênh mông, đáng sợ trên đầu,
vẫn lại có dưới chân, con không có nơi trú ẩn an tâm. Con sẽ thấy chân
lý Trời trên đầu, đất dưới chân trở thành nghịch lý. Nước chảy xuôi chỉ
là giả tướng, hãy tìm tướng xuôi ngược nơi tâm, và luôn nhớ không thể
tin vào con để quyết định chân tướng của sự vật.
Vì sao con phải lễ Phật? Vì
Phật ở ngoài, không đãnh lễ vì Phật ở trong ư? Như thế vẫn chưa thấy
Phật, đãnh lễ Phật mà không hướng vào đâu, không hướng về phía trước,
không hướng về phía sau, không trên, không dưới, không phía trong, chẳng
phải không phía trong. Lìa tướng quì, tướng đứng vào nơi vô biên, đó là
ngộ nhập Phật Trị kiến.
Hoa sen mọc từ bùn nhơ, có
mùi thơm ngào ngạt đó là nhờ mọc từ bùn mà có hương hay bản chất của sen
là thơm? Từ nơi muội manh lại nảy điều cao quý, chính vì tánh của bùn
vốn không nhơ, tướng bùn lầy là phương tiện cho hạt giống nảy mầm. Vì
muốn chỉ tánh của bùn và sen là một nên hoa phải chấp tướng hiện hữu.
Nếu không muốn chỉ tánh ấy,
thì vắng bặt tướng tịnh và bất tịnh, vắng bặt nói năng, tên gọi, không
có tướng Thiện ác, chúng sanh và Phật. Tánh không tên ấy khi động thì
hóa ra vũ trụ, không động thì vô hình, rắn hơn sắt đá tạm gọi là Tánh
Không.
Ngộ Tánh Không của vạn vật
là ngộ Phật tri kiến. Không ghét người xấu, không chuộng người lành,
không ngại đau khổ, không ưa niết Bàn, với sức kham nhẫn vô biên, thề
tận độ chúng sanh thành Chánh Gìác, tất cả chúng sanh chưa thành Phật
thì con nguyện chưa thành Phật đó là pháp môn tự tu dẫn đến Tri kiến
Phật. Có phát tâm như thế mới có thể hiểu kinh pháp Hoa, mới thật trì
kinh Pháp Hoa. Đó chính là thật hành Diệu pháp.
Con hãy phát tâm.
GIẢI CÔNG ÁN
“Yết đế, yết đế, ba la yết
đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha”.
Nghĩa: Trí huệ, hãy đi, hãy
đi, hãy đi đến bờ kia, hãy đến bờ kia. Ta bà ha.
Trí huệ:
Người độn lợi căn khác nhau nên nhận định sự việc khác nhau. Nhưng dù
trí hay ngu đều đi từ cái thấy của mình là ngu trí. Ngu tức là kết quả
của tâm mờ. Tâm mờ vì ngũ căn là của bất túc thu nhận không chính xác
các sự vật cực kỳ quang minh, đó gọi là bờ bên này của trí. Tên gọi bờ
bên này vì tâm còn bị buộc, trong đó ý phát triển mạnh mẽ là căn của Trí
nhưng Trí đây, vẫn là buộc, nên trí là ý mà thôi. Bặt dứt các thấy, nhận
hiểu này, lý giải vì không thể thấy, nghe, biết, nghĩ, cảm được mọi sự
một cách hoàn toàn là vứt bỏ vô minh.
Hãy đi:
suy xét không bao giờ có thể nghe một người xa vạn dặm nói bằng tai hoặc
tai điếc không thể nghe người đứng sát bên nói. Nhĩ căn là lừa dối, các
căn khác cũng thế, quán tiếp bằng suy nghĩ của ta là ta lặng đi.
Hãy đi dến bờ kia:
Như thế phải tìm sự vật bên ngoài, bên kia của ngã, sau mắt tai thăm
thẳm–phía sau là gì? - Không cùng.
Hãy đến bến bờ kia:
Các căn không có tội, ngã có tội. Ngã sinh ra từ đâu? từ căn ngã không
tội. Thế thì điên đảo vọng tưởng sinh từ đâu? Từ yêu cái ta, yêu cái ngã
mà sinh biết chúng sanh. Không yêu, không ghét cái ta ấy thì thấy bờ
kia–Ngã bình đẳng với niết bàn.
Ta bà ha:
phải thế, phải thế. Chư Phật trong vô lượng kiếp đều đắc quả do quán
nghĩa ngã, niết bàn là không. Chư đệ tử hãy tín đạo và phụng hành.
Bồ đề không xứ sở, tánh sân
cũng không xứ sở. Tự tánh của Bồ Ðề là bất lai, bất khứ, bất hoại,
thường trụ trong các pháp, pháp bất thiện không sanh vì không mầm móng,
pháp thiện không sanh vì thường tồn. Vũ trụ này chỉ có một nhịp đập đó
là Thiện, không ai đủ sức đi ngược mãi quy luật này nên mệt mõi vì đã đi
quá xa trong cuộc đời mình tạo, con người trở lại với chính mình đó là
Phật tánh.
TRÀ HOA
Cắm hoa là một phương pháp
viết kinh, lòng không tịnh sẽ sinh pháp bất tịnh. Cho nên không có đẹp
hay xấu theo nghĩa thường tình mà sự cảm nhận đại đạo theo từng bậc khác
nhau. Ðời sống của một kiếp hoa ngắn ngủi là thế, mà có thể chuyên chở
Phật pháp chứa nhóm từ lũy hiếp, hà huống một con người. Con hãy ngắm
họ như ngắm một bình hoa; người tham đục–con hãy im lặng cảm ơn người đã
dạy cho con biết đó là bất tịnh; người sân hận đến, con hãy im lặng cảm
ơn người đã dạy cho con biết đó là Ðịa ngục; người khinh hũy, con hãy im
lặng và cảm ơn người giúp con diệt ngã.
Cắm hoa là nói trong im
lặng, là tìm về nguồn cội, là đi hành hương về đất Phật nơi con. Chính
là thiền Ðịnh, thiền Ðịnh là trong lìa sợ hãi, ngoài lìa tướng.
Phật tánh là chân thiện mỹ
và từ bi. Khi con rung dộng trước cái đẹp thật, mở tầm nhìn vào thế giới
bất diệt rồi con không còn có thể rung cảm trước những điều xa lạ với
thế giới ấy. Học cắm hoa là học mở cửa nhìn vào hư vô, tại sao con không
định tâm được. Vì con chấp tâm và chấp tướng định.
Cho nên cắm hoa là hành
đạo. Con hãy trân trọng và chân thành để lòng lắng xuống không vội vã;
tràn ngập một tình cảm tri ân của người sắp nghe Phật thuyết, tràn ngập
niềm yêu mến loài vật, thiên nhiên mà học. Ðối diện mỗi bình hoa sắp
cắm, con hãy nhớ đến Tịnh Bình của mẹ.
Tìm dáng bình hoa sắp cắm
trong bó hoa đang có, không nên trước tạo khung rồi đặt hoa vào hoa sẽ
rất thô, cứng và mang nét giả tạo.
Không có lòng yêu ghét
riêng một loài hoa hay cỏ nào mới được tâm bình đẳng cảm nhận vẻ đẹp của
mỗi loại. Từ đó yêu mến cái phong phú của thiên nhiên.
Hoa có thể phối hợp với
những loại quả hay mọi vật có thể xa lạ với nó nhất, tùy chủ đề.
Trà hoa là gì, trà là lọc,
hoa là đi lên; trà hoa là lọc sạch Tâm để đi lên. Lại nữa trà là hư
không, hoa là đẹp? Trà hoa là trống không mà bao hàm muôn vẻ đẹp. Lại
nữa, trà là tĩnh lặng, hoa là tuyệt diệu. Trà hoa là thưởng thức cái
tĩnh lặng tuyệt diệu của các cõi.
Khi con uống trà con hãy
nghĩ con là ngụm trà ấy: Con sẽ thấy mọi vật dưới cái nhìn khác hẳn, tất
cả đều giản dị. Trong ấy hoa chứ không phải một hình thái sống nào khác
đưa con người đến gần đạo nhất.
Con sẽ biết quý từng ngọn
cỏ, từng cành khô. Chúng sẽ nói với con. Ðời sống thật ở ngoài tướng
sống chết; mỗi chiếc lá vàng là cả một mùa thu và hoa dại là những loài
hoa đẹp nhất vì đẹp chỉ một mình.
Phái: hư.
Con không nên chú ý đến qui luật của các phái cắm hoa, dù Nhật Bản hay
nước khác. Từ tâm mà sinh ra các qui luật thẩm mỹ. Cho nên ta đạt đến
Niết Bàn tối thượng thì qui luật cũng tương ứng, ngược lại theo những
qui luật do bậc giải thoát đề ra cũng dẫn đến nghệ thuật tối thượng nếu
không chấp pháp. Đây là một số qui luật đó con cứ y theo mà hành, sẽ dẫn
đến trà hoa. Bình cao: Hoa thiên cao – chiều cao bình + chiều rộng bình
+ 2 rộng là chiều cao bình thường. Phá thể là cao hơn, nếu thấp hơn thì
chiều cao sẽ nằm trong cành khác và ở ngoài bình (lượn xuống) hoặc ở
chiều ngang của thiên.
- Bình cao: hoa địa = 1/5
chiều cao thiên, hoa nhân=3/5 thiên.
- Bình thấp: hoa thiên =
chiều cao bình + rộng + 1 cao. Hoa khác như bình cao. Chỉ nên cắm hoa 2
lá–hoặc 2 hoa, 3 lá cho bình cao.
Nhưng con phải cắm cách
nào, chiếc lá ấy trở thành biểu tượng mang tất cả không khí của thiên
nhiên và đặc điểm của riêng nó. Tất cả hoa lá trong bình đều như trổ từ
một cành duy nhất, không có vẻ xa lạ với nhau dù là khác loại, hoa phải
có cái tươi mát của hoa, chứ không nên lấy số nhiều để tạo vẻ tươi thắm.
Chỉ riêng một cánh hoa cũng
đủ để tượng trưng cả loài hoa. Cắm hoa như người Tây phương không phải
cắm mà gọi là chưng hoa thì đúng hơn. Con có khuynh hướng nghiêng về lối
cắm ấy. Ðó là tâm hãy còn chuộng tướng không bỏ chấp.
Bình thấp cắm nhiều lá, hoa
hơn bình cao vẫn tôn trọng qui luật trên. Ở bình thấp chú ý đến hoa địa,
cành phụ, thấp và ở gần cành chính.
Ðừng sợ cô đơn. Sợ cô đơn
là còn khổ nên trong cách cắm sẽ thích cắm nhiều hoa lá và tính khí nóng
nảy. Nếu không có người hiểu con thì cũng là lẽ thường, không có
người giống con cũng là lẽ thường–Khổ cũng là lẽ thường–Nếu cô đơn là
đau khổ thì Ðức Phật là người khổ nhất trần gian.
Sự phù du của vẻ đẹp hoa
cắm trong bình cũng là sự cô đơn.
Con cắm hoa mà không thấy
mình là người cắm, không có hoa để cắm lòng không lay động cũng không
thấy mình không lay động, thì bình hoa ấy là bình hoa tự nở ra như thế
đó là hoa Đạo.
Cũng như đau khổ làm gì có
thật, nhưng phải mượn đó mà tỏ bày an lạc. Con không có khổ vì sự khổ
đau thật sự hiện diện, mà vì đó là pháp môn gần nhất và dễ nhất dẫn đến
nhận thức lạc. Nhận thức này chính là thiền định, là đại Ðịnh là giải
thoát.
ÂM
NHẠC
Âm nhạc là chuỗi tiếng động
sắp xếp theo tâm tư của từng người. Trong mỗi con người, trong mỗi chúng
sinh là một nguồn nhạc, ý tuôn tràn. Những giận hờn, những đau khổ,
những niềm vui tuôn ra từ đó.
Cho nên lắng nghe thế giới
với tất cả những âm thanh đa dạng là một niềm vui bất tận, vì đó là âm
nhạc. Những câu chưỡi rủa là nhạc của tâm hồn dao động đến cực điểm,
những bài hát là âm nhạc của thi nhân và tất cả là bài hát bất tận của
sinh, trụ, hoạt, diệt là âm thanh của sự sống tức là hình tướng của Ðạo.
Tiếng chân bước trên đường
vắng, tiếng lá khô rơi tụng, tiếng sương khuya trên mái, tiếng dế kêu,
tiếng đàn và cả những âm thanh mà con không nghe bằng nhĩ căn được như
tiếng mây trôi, tiếng hạt nước mưa chạm nhau trên không, tiếng thì thầm
của hoa cỏ, tiếng của người xa con là những âm thanh kỳ diệu của cuộc
đời.
Biết thưởng thức tất cả
những âm thanh của cuộc sống là sống trong âm nhạc. Con có hiểu âm thanh
là gì thì mới thật sự cảm được âm nhạc của đời.
Hãy nghe đây! Chỉ biết nghe
những âm thanh mà con thích thì con chưa thưởng thức được cái kỳ diệu
của âm thanh. Con rất ghét nghe những lời chê bai và thích nghe những
lời khen ngợi thì nhĩ căn chỉ làm việc một nửa. Ðó là khuyết tật, đó
là sự bất toàn của thân, đó là thân bất túc. Tất cả mọi âm thanh đều là
vui, tất cả mọi âm thanh đều là pháp. Những lời nói dữ là pháp thử
thách sự kiên định của Tâm. Là pháp rèn tâm, là pháp điều phục Tâm xao
động. Như thế nhửng lời nói dữ là giả tướng của lời Phật thuyết, là pháp.
Như thế những lời nói dữ tự bản tánh không dữ mà con chấp rằng đó là dữ,
vì con còn vướng mắc vào âm thanh, không nhận thấy thật tánh của ngôn
ngữ. Quan sát âm thanh đơn thuần là âm thanh thì hiểu được Ðạo. Mỗi âm
thanh đều có độ ngã của nó vì thế mà âm thanh là âm nhạc.
Những lời khen tự nó không
xấu nhưng chấp vào thì nó trở thành độc dược. Khen hay chê đều không
biến con thành kẻ khác, những người chỉ chuyên chê bai kẻ khác là Bồ
Tát hóa thân. Chính nơi những vị ấy con học được điều Phật dạy.
Nguyện lãnh lấy cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không. Khi con điềm nhiên
trước những âm thanh kia là con độ được tâm mình, độ được kẻ ấy và chính
là kẻ ấy độ con.
Nghèo, xấu: những âm thanh
đi thẳng vào tim làm con khổ sở, là vì con chỉ nghe một nửa. Chính điều
ấy mới là thân tướng xấu, chính điều ấy mới là sự nghèo nàn.
Ðây là thần chú trị bịnh
ấy, hãy dán chữ ấy trong tiếng trống, tiếng đàn, phổ trong một đoản khúc
cho đến khi con trân trọng âm thanh ấy thì đó là con đã thấy tự tánh
ngôn ngữ là không.
XUẤT GIA
Xuất gia là rời thế tục
trọn lòng hướng về Chánh pháp; như thế là Tâm hay là Thân ra đi? nếu là
thân thì quá ư sai lầm. Nơi nào là xứ Phật trên cõi đất này? Nơi nào mà
mọi người sống hoàn toàn hòa thuận và ra khỏi cảnh sanh, già, bệnh,
chết? Không đâu cả! Như vậy xuất gia chính là Tâm lìa thế tục. Tâm lìa
thế tục là sống với cảnh tục, mà thấy chân tướng của Tục. Chân tướng của
Tục là chẳng tục đó là xuất gia chân thật. Sao gọi chân tướng của Tục là
chẳng Tục? Nhận thấy mọi sự ở đời mà tâm chẳng bị cuốn theo đó là tục mà
chẳng tục; đó là Ly; đó là xuất.
Không phải ra đi bằng thân
tướng vào cửa chùa mà gọi là Xuất Gia được. Cũng không phải Tọa thiền đi
vào thế giới khác bằng tướng mà gọi xuất thế gian. Con đã và đang vướng
vào hai chấp ấy.
Nếu thế gian này là đau khổ
thì hãy làm ngược lại để tìm thấy hạnh phúc. Không giận những điều đáng
giận, không buồn những chuyện đáng buồn, không chấp những việc đáng
chấp. Suy ra thì những điều bất thuận kia thật sự ở nơi ngoại cảnh hay
do tâm con? Nếu gặp điều đáng giận con không giận thì sự kiện ấy thật
tướng có mang tánh giận hay chẳng giận chăng?
Khi giận ai tức nói rằng
con đúng và người sai. Ðó là khẳng định mình và người, đúng và sai, đạo
và đời, thiện và ác Chia hai nên khổ vì pháp tướng không có hai, chia
hai là lìa pháp, đó gọi là thế gian, đó gọi là tục. Con thường cắt đứt
những tình cảm quan hệ ở đời cho rằng đó là đoạn ái kiến. Thật ra đó là
chấp xã nên không xã, lại sa vào diệt. Những quan hệ nào có tướng buộc
mà con phải mở! chỉ vì con tự buộc nên tìm cách mở, rồi nhận lầm tướng
chính là chân.
Hãy vui với những quan hệ
tốt đẹp và phải làm cho tốt đẹp hơn, đừng chấp tướng không mà rơi vào
ngoan không, những quan hệ tốt là đất sinh trưởng pháp lành.
Con chấp tướng Thiện và Ác
nên có cảnh tịnh và bất tịnh, có kẻ tốt và người xấu, có phân biệt trong
cư xử từ vướng mắc của Tâm.
Đừng chấp người không Ðạo
mà xử không tốt với họ, khi con hành động như thế là con lìa đạo rồi vì
con chấp. Vả lại ai là người sống ngoài pháp giới? Ai là người không
được phật dộ, dù họ muốn hay không muốn, dù họ biết hay không biết? Ai
là người sẽ không bao giờ thành Phật? Tình thương của Chư Phật trãi đến
mọi chúng sanh nên không ai là không có Đạo. Con hãy từ bỏ thái độ ngạo
mạn đối với người mà con gọi là người đời. Chính những kẻ ấy mới cần
thấy ánh sáng Phật pháp từ những người đệ tử Phật làm duyên cho các kiếp
mai sau.
Cẩn trọng trong cư xử với
người thế, đó là pháp cúng dường. Ðó là khiến người phát tâm sanh trong
Phật pháp. Đó là thành Đạo, đó là Tu.
ÁI
DỤC
Con thường nghĩ ái dục là
vấn đề đơn giản, là tình cảm giữa trai gái. Ở người lập gia đình thì ái
dục chính là ngoại tình, chỉ nghĩ đến người hôn phối và con cái thì đó
không là ái dục. Nghĩ như thế thật quá ư sai lầm.
Dục ái chính là vấn đề lớn
nhất của sinh tử luân hồi, tức là giải thoát là giải quyết triệt để vấn
đề ái dục, như thế Ái dục mang hình tướng nào và thực chất chính là gì?
Dục là gì?
Thân là Dục. Ngã sinh Ái.
Khi con nghĩ rằng: “Mình là người Nữ” đó là Dục. Dục chính là sự phân
biệt ra hai một cái gì đồng thể, không cứ phải nghĩ đến hành dâm mới gọi
rằng dục. Vã lại Dục là phân hai tức nảy sinh ra một cái khác nguyên
bản, nên trong bất cứ hành xử + tư tưởng nào có ý phân biệt Ngã, nhân
thì đó là Dục. Khi có ngã, nhân đây đó thì Ái liền sanh và luân hồi
chuyển bánh.
Như thế mọi Dục sinh mọi
Độc–Dục là nghiệp lớn sinh ra muôn nhân quả kết thành nghiệp mới. Dục
tức là động của thức. Dục chính là động của Tâm. Dục là thể của ái, ái
là Tướng của Dục. Từ Ái nảy sinh yêu ghét thuận nghịch, mọi cảnh khổ thế
gian, từ Dục hình thành Ngã hay nhân cách của một người. Yêu thích mình
và tính cách của mình là lẽ tự nhiên vì Ái đâu tách rời khỏi Dục nên từ
nơi có yêu là có ghét. Thích màu này, màu này hợp với tôi... Đó chính là
tiếng nói sâu thẳm của Ái dục vọng lên trong từng niệm khởi. Yêu người
cũng là Dục, yêu chính bản thân cũng là Dục. Yêu điều thiện ghét ngã
cũng còn vướng vào Ái dục. Trong cảnh yêu ghét với hai tướng chấp nhận
và không chấp nhận mầm mống đấu tranh còn thì con còn đau khổ.
Tại sao con có thể yêu
thích người này, không thích người khác ngay lần gặp gỡ đầu tiên?
Có thể nói rằng vì nhân quả
tiền kiếp, nhưng tự nguyên thuỷ nhân ban đầu sinh mọi nghiệp luân hồi
chính là Ái Dục.
Có thân, có ngã, bất cứ
điều gì hợp với ngã thì được giữ lại thành sở thích, thành thiên hướng
mà ngã thì có thể thay đổi yêu thích. Thích hành thiện cũng chưa là
Thiện.
Sở thích của con khi còn bé
và ngày nay rất khác nhau. Như thế ngoại vật có thể thay đổi mà ái Dục
thì không.
Hễ còn một hơi thở ra vào
là còn thở hơi Ái Dục. Ái Dục không chỉ đơn thuần tồn đọng trong quan hệ
lứa đôi hay nam nữ mà cả trong những tình cảm tưởng chừng như thiêng
liêng nhất. Con có thể thấy Ái Dục trong những phóng tâm vô tình nhất,
trong những ràng buộc nhặt nhiệm nhất với cuộc đời.
Ái là phóng Ngã hướng về
một đích dến. Có mục đích là có định hướng, có hệ lụy, có trông chờ, có
phản hồi. Như thế thì Ái là nguyên nhân đau khổ vì Ái tự khởi thủy. Ðã
có mầm mống bất toàn. Nói cách khác Ái mang bản chất bất toàn.
Thân lìa Ái dục phải quan
sát tánh của Dục. Dục là Ðộng, nếu không động thì đồng lúc với giả duyên
chấm dứt.
Tánh Dục hiện tiền: đó
chính là Chân Như hay Như Lai tánh. Và từ nơi không động là Như Lai tánh
hiện động thì động ấy chính thật là Từ Bi.
Con hãy thật hành ly Dục.
KHỔ
ĐẾ
Ðau khổ không phải là điều
xa lạ đối với mọi người và với riêng con. Ðau khổ đã là bạn đồng hành từ
lâu lắm. Như thế thì có gì phải ngỡ ngàng? Đau khổ đến từ người này hay
người khác, từ hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác điều đó có nghĩa gì đâu.
Vì lẽ đơn giản là nó phải đến. Nếu mang hình tướng nào để gây hại cho sự
bình tâm của con, đau khổ sẽ mang hình tướng ấy. Cho nên đừng oán trách
người làm con đau khổ vì họ chỉ là công cụ của một sức mạnh ở ngoài
chính họ, đó là sự đau khổ vẫn hiện hữu nơi thế gian.
Ðau khổ vò xé tâm can tức
một tướng của địa ngục rồi! Thế thì Ðau khổ chính là địa ngục. Ðã ở
trong Ðịa ngục là tận cùng thì còn tự tử để đi đến cõi chết nào khác
nữa? Vã lại Ðau khổ là nghiệp đeo đẳng há phải do người nào mang đến mà
có nơi trốn tránh khỏi mắt nhìn! Chết là không chịu sự tác động của loài
người và cảnh thế gian, nhưng chưa thoát khỏi nghiệp báo. Ðau khổ sẽ
mang hình tướng khác để theo đuổi con, và ở nơi không có thân để chịu
quả báo, những cảnh khổ sẽ nhân lên hằng bao lần để tâm thức phải động
và đau đớn như “một đau đớn cảm được trên thân xác” là những cảnh của
Ðịa ngục. Cho nên phải biết: tự tử để thoát nỗi khổ đang gánh chịu chỉ
dẫn đến Địa Ngục cõi khác mà thôi.
Khi chưa là Phật thì chưa
thể nói được đã thoát khỏi Ðịa ngục. Khi chưa thể nói đã thoát khỏi Ðịa
ngục thì đừng mong không còn đau khổ. Vậy thì đau khổ sẽ theo con cho
đến ngày giải thoát. Cứ mặc nó đến, quan sát nó ở chân tướng chứ không ở
giả tướng. Chân tướng của Ðau khổ khi đến với con là nghiệp. Giả
tướng là người hay hoàn cảnh chẳng thuận lòng con. Ðể hóa giải Ác
nghiệp chính là Thiện nghiệp. Hãy gây lấy thiện nghiệp để thoát khỏi bể
khổ trần gian.
Và điều thiện bậc nhất là
ngay trong lúc này, bây giờ khi con đang khổ sở, hãy niệm Phật.
Niệm Phật thì sẽ tỉnh táo
để thấy được chân tướng của Đau khổ; Ðau khổ tự đến thì tự nó sẽ đi.
Không phải vì con “xua đuổi” mà đau khổ xa lánh con. Bình tâm trước
nghịch cảnh sẽ không cảm thấy đau khổ sâu xa như chính mình đang chịu
khổ. Quán rằng khổ này không cũ nhưng không mới, không tự tánh thì không
tha tánh, không hoàn toàn của con, vì nếu không có ngoại vật tha nhân
thì con không khổ, nhưng không lìa con, vì con cảm thấy nỗi khổ đau rõ
ràng nơi con. Vậy nó ở đâu khi không ở nơi con, không ở nơi người?
Do đó Ðau khổ là Duyên hiệp
thành, theo nghiệp mà đến. Nói nghiệp là nói chính mình, đâu ai có thể
trốn khỏi chính mình? Cho nên đừng tự làm khổ mình. Nghiệp đến cứ
đến, đi cứ đi, được như thế thì đó là tâm không trụ. Tâm không trụ thì
an ổn. An ổn nơi oán hội là thấy Niết Bàn tại thế.
Ðể có đủ lực đạt đến Niết
Bàn; con phải niệm trong đau khổ và Quán trong cảnh nghịch. Tha lực và
tự lực là sức mạnh mãnh liệt đến từ bên ngoài, phát ra từ bên trong khi
hiệp nhất sẽ phá tan xích xiềng của Ðịa Ngục khổ đau.
Ðó chính là giải thoát.
Ðau khổ là nhân đưa đến giải thoát, nên đừng sợ nó, đừng ghét nó, đừng
là kẻ vong ân. Hãy cám ơn Ðau khổ.
Như thế những người mang
Ðau khổ đến cho con chính thật là những vị Bồ tát phát tâm hành nghịch
độ để cho con được quả thiện tròn đầy. Ðó là những Bồ tát trãi thân làm
cầu đường cho chúng sanh đi đến giải thoát.
Và luôn nhớ Chư Bồ Tát không phải chỉ mang Tướng Thiện để độ sanh. Hãy
cầu nguyện cho các vị ấy sớm đắc quả vị Phật, mới trả được ân.
Phải tri ân những người
mang đau khổ đến cho con, hành như thế mới là người trí Huệ; hành như
thế mới là người sống đúng, hành như thế mới là con Phật.
Ðau khổ hay nghiệp chướng
là nhân Bồ Ðề nên con không được khinh, không được hổ thẹn vì nó. Và
cũng chính vì Niết Bàn có nhân ban đầu là phiền não nên con không được
sanh tâm mong cầu tha thiết. Chẳng trụ Ðau khổ, chẳng trụ Niết bàn là
chân thật Niết Bàn, là giải thoát.
Con hãy y theo để tìm thấy
hạnh phúc ngay trong đời, ngay từ giây phút này. Hạnh phúc tìm thấy nơi
không có hạnh phúc, nơi không cho phép hạnh phúc tồn tại, nơi cõi trần
này là hạnh phúc vĩnh cữu vì đã kinh qua đau khổ.
Con hãy cứu mình.
Con,
Mẹ muốn con đi nghe giảng
pháp để tự hiểu rõ mình thêm. Con có thấy là vấn đề của con chỉ có ta là
thấu rõ nhất? Con chưa tìm thấy chính mình, con cũng chưa hiểu lời Mẹ
dạy, nên hoài công đi tìm bên ngoài. Mà Niết Bàn nơi đâu mà con tìm? Con
đường Ðạo là con đường độc hành không thể chia xẻ cùng ai, cứ tìm người
đồng hành là điều vô lý. Chỉ có thể gặp gỡ khi không còn hành. Còn bây
giờ con càng đi xa chỉ càng thêm rối. Hãy tin chỉ những vấn đề của chính
con mới đem giải thoát cho con. Tìm hiểu pháp chỉ làm nặng thêm chướng
ngại. Ðang đi trên con đường chênh vênh lại đèo thêm gánh nặng của ai
khác thì bao giờ mới đến nơi?
Các pháp được thuyết ra là
tùy thuận căn tánh sai biệt của chúng sanh. Bây giờ con lại tìm học
những pháp không dành cho mình, có phải là mất thời gian và chấp pháp
không, pháp Huyễn. Vì thế con nên nhớ rốt ráo Như Lai không có nói gì.
Phải thường xuyên quán
những lời mẹ dạy, không hiểu, quán đến khi nào hiểu, xoay quanh đó mà
phá cái vô minh của mình. Phải tu triệt đễ, phải để cả cuộc đời mình vào
vấn đề muốn hiểu. Dù trái đất có nổ tung, dù mặt trời có tắt lửa, dù
thân này có ra tro bụi, cũng không lay chuyển, như thế mới gọi là thành
tâm cầu Đạo. Còn con rất hời hợt. Học Phật tức cầu Mở, riêng con thì đi
tìm trói buộc.
Thật tâm muốn hiểu thì
trước hết ghi nhớ, sau suy nghĩ mãi về điều ấy. Suy nghĩ mãi tất có thắc
mắc, có vấn đề. Con chưa có đại nghi này, thắc mắc đây không phải nghi
pháp mà là tư duy sâu. Những nghi vấn này đi hỏi các hành giả đi trước,
tìm câu giải đáp rồi y theo đó mà Tu. Tránh những luận bàn vô bổ với
người chẳng phải chân tu chỉ là hý luận.
Phải tự cảnh giác, thức
không rời Mẹ, trong cảnh quán thế gian như huyễn mà an trụ nơi phật,
pháp, Tăng. Tinh thần kiên cố quyết đi đến nơi vui vì nghe pháp, vui vì
tu pháp, vui gặp thiện tri thức. Không nhìn lỗi người, lỗi mình lo sửa
thì được mẹ khen và được vui an rốt ráo sẽ định tâm.
ĐỘNG TỊNH
Xúc động trước vẻ đẹp của
một áng mây trôi, hay một chiều vàng rực nắng; xúc động trước một vẻ
kiều diễm của một con người, có gì khác nhau không? Và có phải là Ðộng
tâm? Nếu là động thì làm sao sống giữa đời mà không động?
Ðang khi phiền muộn, con có
bao giờ thấy cảm hết vẻ tươi tắn của một đóa hoa vừa nở, lắm khi lại
thấy hoa lạc lỏng nở chẳng hợp thời. Và lúc vui, thì hình như gió cũng
biết hát, không trung nở hoa. Thế thì tâm động có cảnh, chẳng phải ngoại
vật khiến con sinh tâm, tức Ðộng, mà tâm đã có tướng Ðộng tự bao giờ.
Ngoại vật theo tâm mà góp
phần làm mờ Tri Kiến.
Vậy phải chăng lúc không
vui, không buồn? là lúc Tâm không động? Chẳng phải đâu con. Nhân của
động đã ngự nơi Tâm từ bao kiếp và hiện mang tướng giả không động. Người
học Ðạo nên e sợ trạng thái này của Tâm. Tưởng chừng như yên ả, nhưng
chỉ cần ngoại vật đủ lực là châm ngòi cho sự bùng nố của Tâm chúng sanh.
Vì đã tạm lắng một thời gian, nên con dễ lầm lẫn sự dộng tâm này là ứng
tâm, theo sự vật mà hiển lộ và đổ lỗi hoàn toàn cho ngoại vật. Thật nguy
hiểm vô cùng.
Như thế thì sự kềm chế Thân
tâm không đưa đến giải thoát và chưa là Phật thì sẽ mãi động tâm ư?
Vạn vật theo tướng Tâm mà
hình thành, Tâm lành, thấy cảnh lành, Tâm ác thấy cảnh ác, Tâm tịch liêu
thấy cảnh bôn ba, Tâm tham đắm thấy cuộc đời đáng sống và muôn vàn tướng
khác của Tâm tạo nên muôn vàn sai biệt của cuộc đời. Hoá hiện vô cùng,
Tâm bao trùm vạn vật. Vậy thật tướng của Tâm là gì? Thật tướng của Tâm
là không tướng. Cho nên (sự ham thích) thế gian, theo cảm thọ của mắt,
hay tai, hay mũi, hay xúc, ... chuyển tướng không của Tâm thành có.
Nghiệp theo đấy mà thành.
Ðể ngăn ngừa sự biến động
này, giới được hình thành. Nhưng con chớ nghĩ giới là kiềm chế Thân,
Tâm; giới là cấm ngăn. Thật ra giới chính là luật tồn tại của Tâm vô
tướng. Giới là điều con lẽ ra đã hành mà con chưa hành. Giải thoát không
có tướng, nên giới không có tướng nhất định.
Tâm không có tướng, nên Bồ
Tát dùng Đại Bi tâm mà tu tại thế gian. Nói thế gian, thật ra cũng chẳng
phải thế gian. Mọi sự vật cứ theo duyên hình thành và hoạt diệt, chẳng
có thật tướng, Tâm Ðại bi thì hiện thế giới từ bi. Chỉ có Tâm Bồ Tát và
Tâm Phật mới có thể vào viên tịch, thật chứng tánh không của Tâm nên Ðại
Bi Tâm là Tịnh Tâm.
Trong Tịnh tâm, đối cảnh có
vui, buồn, yêu, ghét, cũng chỉ là động giả mà thôi. Ðộng trong cảnh tịnh
thật ra chẳng phải động nếu không nghe thấy các cảnh động này thì đâu có
Quán Thế Âm Bồ Tát.
Này con, cầu vòng ngũ sắc
có tội gì mà con không được thấy đó là cảnh đẹp của Trời Ðất, vì e sợ
động tâm? Thấy vẻ đẹp của một người và tán thán phước báo của họ, mong
cầu họ hành thiện để được thêm hạnh phúc trong đời này và đời sau thì có
phải động tâm đâu? Cảm mến một hành động đẹp trong đời, trân trọng một
tâm hồn hướng thiện, đó không phải động tâm hay bất bình đẳng, tâm hồn
ấy được quả lành của thiện nghiệp.
Mở Tâm Ðại bi, gây lấy đạo
nghịệp, con sẽ thấy mở ra một thế giới huyền diệu, an lành, vĩnh viễn xa
lìa dau khổ, vì đã xa lìa ích kỷ, bản ngã, hờn ghen. Nắng sẽ thật sự là
nắng, ngày cứ đến, đêm cứ đi, trăng sao cứ xoay vần hiện diện, vạn vật
cứ tự nhiên biến chuyển và con; con sẽ hạnh phúc tự nhiên.
KHẨU NGHIỆP
Lời nói không thể thấy,
không thể cầm nắm được, hình như không có tướng, thế mà tự xưa nay đã
gây nên biết bao nụ cười và nước mắt. Có phản ứng tức có tác nhân. Nói
đến nhân là nói tướng. Vậy tướng của lời nói là gì?
Người nóng nảy thì hay nói
lời xúc xiễm, người dối trá thì lời nói trơn tuột, chẳng thể bắt bẽ họ,
nhưng cũng không thể hiểu tâm họ ra sao? Người thâm hiễm thì nói xúc
phạm đến kẻ khác bằng giọng nói như hiền từ, ... tất cả ngôn ngữ này đều
phát sinh từ một gốc, đó là Tâm, và do đó tướng của ngôn ngữ là Tâm. Tâm
Phật thì lời nói là pháp thiện, Tâm chúng sanh thì lời nói thành ác
nghiệp.
Tâm chúng sanh có muôn ngàn
tướng thì lời nói cũng gây muôn ngàn nghiệp báo.
Nên quan sát ngôn ngữ của
một người là quan sát tâm người ấy. Cách biểu lộ Tâm ở mỗi người mỗi
khác, cho nên gọi mỗi người có một ngôn ngữ riêng cũng đúng. Con hãy
hiểu họ theo Tâm, đừng chỉ nghe hời hợt bằng tai. Ðó là quan sát âm
thanh.
Khi con “không thích lắm”
một điều gì, con thường nói “rất ghét” điều ấy. Ở một người chính chắn
hơn, họ sẽ nói “không chú ý lắm”. Nếu chỉ hiểu theo cái nghe của tai thì
hai lời nói này là 2 sở thích khác nhau. Từ đó gây biết bao điều ngộ
nhận.
Ðể quan sát được âm thanh
như thật, con không thể dùng cái nghe của tai. Con hãy nghe bằng Tâm.
Dùng Tâm mà hiểu tâm, mà tâm nào có thể hiểu tất cả các thứ tâm của
chúng sanh? Ðó là tâm Phật.
Con không thể thấy tất cả
các tâm của người đối thoại, chắc chắn con không thể hiểu hết lời nói
của họ. Cho nên chớ vội phản ứng theo cái nghe của riêng mình.
Lời nói là Tâm, cho nên Tâm
ác sinh lời nói ác. Dù được ẩn giấu, dù người không phát hiện, hay không
phản ứng thì điều ác đã sinh, vẫn đem lại quả báo Ác cho con.
Câu nói dân gian “Khẩu xà
tâm Phật” là sai hoàn toàn, Phật chẳng bao giờ nói lời độc ác, hại
người, là tính cách các con dùng để tả Rắn. Ở mỗi người có cách nói
thương khác nhau, có cách biểu hiện Từ Bi khác nhau. Như hạnh sai biệt
của các Bồ Tát, thị hiện là Phán quan cũng xét xữ công minh, khó có thể
gọi là Ác tướng.
Như câu chuyện Lưu
Bình–Dương Lễ, lời nói Ác xuất phát từ tâm lành đem lợi cho người nghe.
Chẳng thể nói là Ác khẩu được. Ðó chính là lời của Bồ Tát. Đó là nghịch
độ .
Chư Tổ mắng chửi đệ tử từ
tâm không, để giáo hóa nhẫn hạnh hay khai ngộ Chân tánh, chẳng thể gọi
là Ác khẩu. Nhưng người tự cho mình có Tâm lành, nên buông lời không kềm
chế, mỗi lời nói gây hại cho kẻ khác không kể xiết, lại ngụy biện bằng
câu “Khẩu xà Tâm Phật” thì khẩu nghiệp ấy thật khôn lường. Từ Tâm Phật
thì lời ấy dù thế nào cũng mang lợi cho người nghe. Ngược lại, chỉ gây
hại đó gọi là Ác khẩu. Và Tâm Ác sinh tướng Ác, sinh khẩu Ác, sinh
nghiệp Ác, sinh Ác báo.
Con hãy cẩn thận lời nói.
Lời nói là hơi thở từ miệng. Mà sống chết theo từng hơi thở ra vào, cho
nên sống chết cũng theo từng lời nói mà đến đi.
NHẬP THẾ
Con thường hỏi làm sao ứng
dụng pháp vào đời sống hằng ngày, để hài hòa với mọi người mà không mất
Ðạo Tâm. Con hãy nghe kỹ và cố gắng hành theo đây thì được an vui.
Cuộc đời là nơi tranh danh,
đoạt lợi, nếu con thuận theo chiều quay đó thì trái Ðạo, là đau khổ, mà
quay ngược lại thì không được chấp nhận trong đời và va chạm lắm khi còn
mạnh hơn khi cùng người tranh đoạt, cũng Ðau khổ vô cùng, như thế, tu
tại thế là không thể được ư?
Chẳng phải không được, đó
chỉ vì con không tu phương tiện, Với người thế con dùng Tâm không tranh
mà ứng thế. Con làm việc, buôn bán,... để sinh sống. Ðó là Chánh Nghiệp.
Những nghề nghiệp ấy không đòi hỏi nơi con sự nối dối hay độc ác có chủ
ý với đồng nghiệp mới phát đạt, không tranh, con làm hết khả năng bằng
Tinh Tấn, không phải Tâm muốn trội hơn người, mà Tâm hướng đến sự Toàn
thiện, thì quả lành phải đến, đó là Tự tại giữa đời. Tâm không tranh,
con không có ý muốn trội hơn người khác về học vấn, về đạo đức, về nhan
sắc, ... con bình thường tu Trí huệ, tu Trì giới, tu Thiền Ðịnh, nghi
dung tề chỉnh thì dù được báo lành hơn người, cũng chẳng bị người ghét.
Tâm không tranh, con không
tìm mọi cách chứng minh người sai và con đúng, thì không có oán đối.
Người cầu Ðạo mong mõi được nghe khuyết điểm của mình, nên Chư Sư mới
thuyết. Nhưng với người chưa sẵn sàng, lại khơi đến Ngã của họ thì khác
gì đem ngọc ném xuống bùn, chỉ làm họ sinh thêm tà kiến. Ðó là thuyết
pháp trái thời. Là vô minh. Chính mình vô minh, làm sao đem ánh sáng đến
cho người khác!
Tâm không tranh, có gặp kẻ
Ác cũng chẳng khác gặp người lành. Con có mãy may tranh cãi với họ đâu?
Với kẻ quá đối nghịch, còn càng vững tâm, tin tưởng vào lời Phật thuyết
là có nghiệp báo trước sau; thì sự không tranh ấy có nội lực của thế
giới không tranh, là Phật lực chuyển đổi hiện tượng hay bản chất của mầm
mống bất thiện kia.
Không tranh thì gia đình
hoà thuận, không có ý nghĩ về thiệt thòi, về hơn kém, siêng năng làm
theo bổn phận là tu tinh tấn, là tu Nhẫn nhục, là tu Từ giới, là tu Trí
huệ.
Tóm lại, để vào đời, con
dùng tâm không tranh làm phương tiện. Con sẽ thắng thế gian. Con sẽ là
người mạnh mẽ vượt lên trên cuộc đời và điều khiển cuộc đời theo tâm của
mình mà không rời Định, Huệ.
NGHI
Bao nhiêu là ngộ nhận, bao
nhiêu là ác nghiệp, bao nhiêu là địa ngục trong một chữ Nghi? Chẳng phải
vì thế mà Nghi là một trong các thứ độc cần loại bỏ khỏi Tâm đó ư?
Nhưng, với con...
Nghi, đó có phải bức tường
thành bảo vệ tình cảm của con khỏi những thương tổn và mất mát? Ðó có
phải là trí khôn tránh cho con những sai lầm và thất bại trong đời? Nghi
có phải là người bạn đồng hành đáng tin cậy hơn bất cứ ai?
Con thường cho rằng ngày
xưa, vì không nghi ngờ mà con đã gặp một sự phản bội gây nên bệnh trạng
tinh thần trong suốt thời hoa niên. Nếu con nghi thì nỗi thất vọng sẽ
không lớn.
Không đâu–Dù không bất ngờ,
con cũng sẽ không bao giờ đương nỗi sự việc kia. Chỉ có Trí huệ và
sức kham nhẫn mới giúp con qua được Nghiệp báo. Phải–Đó là gì? Nếu
không là Nghiệp báo? Ðột nhiên tình ruột thịt hóa ra thù hận. Lẽ ra con
phải nghĩ: “Ðây là điều hết sức bình thường. Vì đây là dư báo đời trước,
vì điều này không xảy ra cho người khác, mà xãy đến cho mình, chắc hẵn
mình có dự phần gieo nhân ở một thời gian quá khứ, tiền kiếp chẳng hạn.
Bây giờ, ẩn nhẫn cho điều báo ác kia qua, vì nhân đã gieo có thời gian
mới đến, thì khi đủ thời hạn cũng sẽ đi”. Nếu con đã Nghi ngờ, con còn
khổ hơn, vì suốt lúc quả bất thiện chưa kịp đến, chính con đã nghiền
ngẫm nó rồi.
Tâm có Nghi, nên con tưởng
rằng Nghi sẽ hóa giải Ác nghiệp cho con. Từ một vài lần bị mất niềm tin
do vô minh, con không hoàn toàn tin vào bất cứ ai.
Này con, nhưng trong suốt
thời gian sống không tin tưởng, con có bao giờ thực sự hạnh phúc, hay
thanh thản nhờ áo giáp Nghi tình?
Không, chưa bao giờ con
thấy lòng an ổn. Như thế thì Nghi đâu giúp gì được cho con. Nếu nghi là
đã được phòng ngừa thì luật nhân quả chẳng tác động đến người đa nghi ư?
Vì Nghi nên con nhìn mọi sự
qua Nghi kiến, làm lớn thêm vô minh và Ác nghiệp.
Ðức Phật có nói đừng tin
lời Phật vì lý do “đó là Phật thuyết” chẳng phải bảo rằng hãy Nghi ngờ
lời Phật nói, nếu phải Nghi thì tất cả lời nói bảo đừng tin, con cũng
nên nghi nốt.
Ngài muốn phá chấp cho con,
muốn con thật chứng những chân lý kia mà nói thế. Con hãy tin và tự tìm
hiểu vì sao mà Ngài thuyết như đã thuyết. Phật đã vượt qua sanh tử để
thấy những điều Ngài đã thấy, để nói những điều Ngài đã nói, phần con,
con chưa có khởi hành và đến đích, con nên tin vào lời Người đã qua bờ
kia; không phải như những giáo điều, mà là những kinh nghiệm sống. Nếu
không, đó là tự con đã bằng Phật, vậy hãy chứng tỏ điều đó qua Đạo
nghiệp của mình.
Thế thì, điều đầu tiên
làm hành trang để đến giải thoát là Tin.
Ðừng sợ bị thất vọng vì tin
người. Có nhân quả, có Nghiệp báo trước sau vô cùng công bằng và chính
xác. Hơn nữa,
Tin đã là hạnh phúc, đã là yên ổn. Nếu sự vật diễn ra không như con muốn
con vẫn cứ tin. Tất cả chúng sanh sẽ thành Phật, đừng vì giây phút này
mà phạm lỗi lầm không tin vào vô biên.
Cõi này là Dục giới, nên
tất nhiên người cõi đời này đều mang sẵn tánh dục theo mình tự thuở lọt
lòng. Nhưng Ðức Thích Ca cũng thành Phật ngay tại cõi này nên đây cũng
chính là Phật quốc.
Người có trí huệ thì vượt
lên tánh dục, lòng ham muốn của mình điều khiển nó, thay vì để nó ngự
trị và điều khiển họ. Tại sao phải vượt lên Tánh Dục? Vì nô lệ bất cứ
một thú vui nào là bất an và cứ phải tìm kiếm nó. Đó là xa lìa giải
thoát. Gìải thoát chẳng phải là điều ràng buộc mới, bắt con xa lìa dục
vọng, mà là sự an ổn tự nhiên đến, khi con không tìm cầu thú vui.
Cho nên, là người, ai cũng
có dục, nhưng người cầu Ðạo thì hẵn là ít dục hơn và ít bị tác dộng bởi
dục vọng của người khác vì tâm không bỏ ngõ. Con đừng vì vài trường hợp
ngoại lệ mà không tin vào Ðạo. Đó là Nghi. Vì sao trong trăm nghìn người
Tinh Tấn, con chỉ thấy kẻ thụt lùi! Vì sao trong trăm nghìn đệ tử Phật,
con chỉ muốn nghĩ đến Đề Bà Ðạt Đa?
Nghi là chướng Thánh Ðạo,
nên người Nghi là kẻ tiểu nhân, là tự khinh mình và khinh thường người.
Có những điều mà con chỉ có
thể hiểu bằng Tâm nếu không nghi, vì ngũ quan không đủ tinh tế để giúp
con thâu nhận.
Con có bao giờ nghĩ rằng
mắt con chưa hề cho con một hình ảnh thật của bất cứ sự vật nào? Con
không thấy lưng của người đối diện cùng lúc với mặt bằng mắt trần, không
thể thấy trọn vẹn dáng vẻ cái bát ăn cơm vì nhìn từ mỗi phía đều khác.
Nhưng tổng hợp những cái thấy đó lại, con cảm được hình dáng sự vật. Với
tâm Nghi, đoan chắc cái nhìn này là đúng hoặc là sai, con sẽ chẳng bao
giờ biết được cái bát tròn hay không tròn.
Vì thế, mà cái con thấy
bằng mắt, nghe bằng tai, thật ra là cái cảm bằng Tâm.
Tâm nghi là vạn vật đáng
ngờ.
Tâm không Nghi, vạn vật
hiện tướng như nó đang là. Ðó gọi là Linh Cảm.
Nước chảy xuôi từ cao xuống
thấp là điều thường thấy, nhưng nếu thấy điều ngược lại, con chớ vội cho
điều tin trước là sai, hoặc điều thấy sau là sai. Cả hai thái độ đều là
Nghi tình, đều không đúng. Con thấy sự việc như nó xảy ra và tìm hiểu,
đó là Trí huệ. Phàm sự vật gì có tướng đều có hoại, có tướng chảy xuôi
tất có tướng không chảy xuôi. Biết điều này trước ngũ quan, trước khi
mắt thấy, tai nghe, đó là Linh Cảm. Cho nên Bồ Tát Linh cảm cái vui của
chúng sanh trước khi chúng sanh vui, linh cảm tiếng khổ của chúng sanh
trước khi chúng sanh khổ.
Thần lực của Tín tâm không
thể nghĩ bàn, con hãy thôi nghi.
TUYỆT ĐỐI
Đi tìm tuyệt đối... Ðôi khi
như thoáng bắt gặp rồi thất vọng, con hoài nghi sự hiện hữu của Thiện
tánh và từ đó mất Tín tâm, con hãy thử theo Mẹ tìm xem tuyệt đối ở đâu.
Một tình cảm tuyệt đối đến
chết không phai, có phải là một tình yêu tuyệt đối? Ở người này như thế
là trọn vẹn, nhưng với người khác, kiếp này ngắn ngủi, họ muốn cùng nhau
đi đến thiên thu, hoặc kẻ kia, chỉ mong sống trong hiện tại, duy nhất
với nhau là đủ, là tuyệt đối. Ở trong tình yêu nam nữ, tuyệt đối đã có
nhiều tướng khác nhau, trong những tình cảm khác, như tình mẫu tử, hiếu
đễ, tình bạn hữu, tình đồng bào, tướng của tuyệt đối càng nhân lên thiên
hình vạn trạng–Và một người muốn đi tìm tuyệt đối trong tất cả các mối
liên hệ nhân duyên ở đời, càng khó thực hiện ước mơ tuyệt đối của mình.
Trọn vẹn cho tình yêu nam nữ tất khó có thể tuyệt đối trong tình mẫu tử,
hay hiếu để vì thời gian và không gian, vì thân tướng mà con mang không
cho phép con vừa xã thân cho người này lại vừa có mặt nơi khác với người
kia.. và người đi tìm tuyệt đối bổng trở thành người phiêu lưu nhất.
Có những người đi tìm Tuyệt
đối bằng phương pháp loại trừ. Tình yêu không phải là điều tuyệt đối,
tình mẫu tử cũng được phân tích và loại trừ... cùng nhiều điều khác nữa.
Có người bi quan hơn cho rằng điều Ác là tuyệt đối, vì điều Ác ngự trị
thế gian. Ðiều thiện thì ở đâu đó ngoài trái đất.
Thế thì tuyệt đối ra sao?
Có tướng nào hay không hiện hữu?
Con đang đứng trên mặt đất.
Bầu trời trên đầu bên phải, bên trái, cũng là phải trái của mọi người
trên trái đất, dù ở xứ nào. Cá sống trong nước, phía trên có lẽ được tả
khác hơn và loài có cánh hình dung mặt đất và bầu trời khác con nhiều.
Tất cả những cái nhìn nhận này đều lấy Tâm trái đất làm chuẩn, giả dụ
không lấy tâm trái đất làm chuẩn con sẽ có cái nhìn khác hẵn. Ðứng phía
này quả đất có thể là đứng “dưới quả đất”, không phải trong lòng đất
hoặc ở cánh phải hay trái quả đất, nếu lấy một nơi nào đó trên quả đất
làm chuẩn mực.
Như thế, ngay cả những điều
tưởng như tuyệt đối cũng chỉ đúng theo tầm nhìn của loài người, hay của
loài sống ngay trên mặt đất. Ðó là Bản Ngã của mỗi loài. Ở trong mỗi
người, ngã càng biến tướng tuyệt đối theo bản sắc của mình đến vô cùng.
Vậy muốn thấy tuyệt đối,
chỉ có cách duy nhất là thoát khỏi Bản Ngã. Trong vô ngã sẽ thấy điều
chân thực. Vì thế mà Tuyệt đối thật sự hiện diện, không phải chỉ là một
ước mơ, nhưng để ngộ chân lý muôn đời bất diệt, con phải quên mình. Khi
tất cả đã im lắng, khi những xôn xao của Tâm đã tan biến trong bình an,
khi con đã xã sự tìm kiếm tuyệt đối, khi con không còn gì, là lúc con
Ngộ hình tướng thật của tuyệt đối.
Tuyệt đối, hay vĩnh cữu hay
chân lý, ... dù con gọi bằng ngôn từ nào, vẫn chỉ là một và tồn tại
ngoài thấy-nghe của Ngã.
Phật đã chứng minh Ngài
không có bản ngã mà đại thể ở trong Ngài, nên con có thể tin lời Phật là
tuyệt đối.
Thí dụ Luật nhân quả thô
thiển hay vi tế, con có thể nghiệm thấy bằng kinh nghiệm của mình, rằng
Nhân quả hay luân hồi quả báo là có thật. Vậy nhân quả báo ứng là chân
lý, là tuyệt đối không bao giờ sai chạy.
Từ bi, tâm bình đẳng thương
kẻ oán người thân như nhau là thứ tình cảm tuyệt đối mà hành theo sẽ
chẳng bao giờ làm con khổ như tình yêu nam nữ. Tâm Hỉ Xã là con đường mà
càng đi, con càng hạnh phúc. Bây giờ, con hãy đi tìm tuyệt đối.
NHÂN ÐẠO
Con thường nghe “nhân đạo”,
khi nói đến một người có hành động giúp đở kẻ hoạn nạn. Giúp người đau
khố, đó là đạo làm người hay là Ðạo của con người.
Con người phải nghĩ đến
nhau, đến cộng đồng loài người, tức là tự con người đã có Ðạo. Và sống
hợp với Ðạo của chính mình đã là điều chưa mấy ai thực hiện được. Tôn
giáo chỉ là sự tìm kiếm bên ngoài, trở lại với chính mình và tìm những
qưi luật để đạo tồn tại được nơi mình, là chân chánh tu hành Phật đạo.
Phải, vì điều Thiện, Từ bi là gì, nếu không phải là nhân đạo? Cho nên
chẳng tìm Ðạo mà thấy Ðạo, hay nói Phật ngự nơi tâm chẳng cần tìm đâu xa
cũng đúng.
Con đừng nên nghĩ chỉ mến
người lành và ghét kẻ ác. Mến người lành là kẻ trí, nhưng thương kẻ
chắng lành, không bỏ mặc họ với nhân quả đớn đau, đó là người có lòng
nhân đạo. Con chưa thương được người đã gây ác nhân và đang thọ ác báo
hay người đang tạo tác ác nghiệp cho bản thân, con chưa là người nhân
đạo, đừng nghĩ đến tâm lượng từ bi của Bồ Tát. Chưa nhân đạo, chưa
làm người, thì chưa thể tu Tứ vô lượng tâm của Bồ Tát. Từ - Bi - Hỉ - Xã
lúc này chỉ là ngôn từ, hiệu đính cho một bản ngã hẹp hòi.
Nhân đạo nghĩa là làm điều
tốt nhất cho một người, mà không hại đến người khác, ở mỗi người, tùy
hoàn cảnh, đòi hỏi một tướng biểu lộ lòng nhân khác nhau, nên Tâm quyết
định tướng của lòng nhân đạo. Vì thế, mà ở người này đòn roi làm tỉnh
ngộ, ở người kia là sự cảm thông... hay một cộng đồng với bao nhiêu sinh
mạng phải được xem trọng hơn chỉ một người, như câu chuyện Ðức Phật một
thuở nọ trên sông.
Để thực hiện lòng nhân nơi
mình, trước tiên con khoan hoặc chẳng bao giờ phê phán. Làm phán quan
khi chính con chưa hết Ngã, là uốn sự việc theo ý mình, nên tướng công
bằng giai đoạn sẽ là nhân bất thiện trong trường đoạn luân hồi
và con nên nhớ quả báo
ác là điều tốt nhất làm người si tỉnh ngộ, không nên hình dung đó là sự
trừng phạt của Thượng Ðế hay của một đấng chí tôn nào.
Vì con người tự có Ðạo nơi
mình, nên luật nhân quả nhân đạo hơn cả những luật lệ con thấy ở cộng
đồng loài người, do loài người đặt ra. Tại sao? Luật pháp chỉ có quyền
và chỉ xét xử trên tướng, mà luật Nhân quả lại xét từ Tâm. Từng mỗi ý
nghĩ cũng có quả báo, nên chính xác vô cùng. Vì thế, mà con đừng
ghét người làm con đau khổ. Họ sẽ có quả báo của hành động ấy dù không
đến từ con. Vã lại, nếu họ làm con buồn mà vui lòng người khác thì chưa
hẵn không tốt với con đã là bất nhân!
Cũng chính vì dây chuyền
nhân quả không dứt, khó phân này, mà con đừng bao giờ nghĩ rằng mình
đang làm điều tốt. Con chỉ nên nghĩ “Tôi cố gắng làm điều mà theo cái
nhìn bây giờ tôi cho là nhân đạo nhất, ý thức rất rõ rằng việc làm và ý
tưởng này chưa hoàn toàn”.
Như thế là đi trên con
đường vô ngã mà không hay. Con hãy cố gắng trở thành người Nhân đạo.
DỤC GIỚI
Ta Bà thế giới là Dục giới.
Dục thường được hiểu là, ham muốn của thể xác, nhưng thật ra đó chỉ là
một phần nhỏ của tánh Dục ẩn tàng trong mỗi người. Vậy Dục là gì?
Một người yêu tranh vẽ quên
cả thời gian mà sống trong tác phẩm yêu thích của mình đó là một tướng
của Dục tánh đấy! Qua mắt mà những màu sắc và tư tưởng chuyên chở trong
một họa phẩm đến với người xem, tạo nên một cảm giác thõa mãn tâm linh.
Cũng thế, qua (xúc, vị thanh, hương) các giác quan khác như tai, lưỡi,
mũi, thân, hoặc chỉ do ý tưởng mà yêu thích một thứ gì đó đều là Dục
tánh: chính Dục tánh này, đậm nhạt ở mỗi căn trần khác nhau. Tạo nên
nghiệp sát: yêu thích giết chóc; nghiệp đạo: thích thú trong hành động
chiếm đoạt của cải người khác công khai hay thầm lén; nghiệp dâm: sự ham
muốn của xúc giác hay nói cách khác, một sự thoả mãn nào đó về phần
mình, qua trung gian của ngoại vật hay con người ngoài nào, chính là sự
thoả mãn của Ngã. Như thế, thì Dục chẳng gì khác hơn Bản Ngã.
Thế nên vấn đề phải truy
xét và hoá giải, chẳng phải là một hình bóng nào, một tài sản nào, nói
chung sự kiện bên ngoài mà từng động niệm của Tâm khi đối cảnh là tướng
của Ngã hay Dục.
Vì thế, thấy người dâm dục,
tức là mình có dục cảm; thấy người sân hận là con còn nhân sân hận; thấy
người ngu si là con chưa trí huệ.
Con sinh ra trên mãnh đất
này hay trên một nơi nào khác trên trái đất, cũng nằm trong Dục giới.
Con còn đau khổ vì còn Ngã hay Dục, thì mọi người đều đau khổ như con vì
còn Ngã. Thấy mình khổ mà chẳng hay người cùng khổ là sự khuếch đại Bản
Ngã. Tức là mình Dục. Và khi đấy con là người khổ nhất loài người, chưa
tùng có ai khổ như con là lúc thấy mình vĩ đại nhất, trên hết trong loài
người, thật là Ngã mạn...
Cho nên có Ngã thì thấy mọi
người đều Ngã, vô Ngã thì thấy pháp giới thường trụ.
Và Dục giới không còn dấu vết, gọi là Tịnh Ðộ.
Thoát khỏi Dục giới, mênh
mông bao trùm Trời Ðất, chẳng phải bằng cái chết, chẳng phải bằng cách
ẩn náu nơi thâm sơn cùng cốc tuyệt bóng người, chẳng phải bằng biến đổi,
tẩy sạch mọi người mọi vật khỏi Dục của họ, mà chính là thay đổi cái
nhìn của mình.
Là người khai sáng một thế
giới mới, với cái nhìn tinh khôi chưa từng bị đục nhiễm, thuần nhất một
màu thanh tịnh; Dục vọng chung quanh dù có bốc cao như lửa đỏ hay gầm
thét như thác ghềnh, cũng không thể nào lay chuyển được một quốc độ. Ðó
là Tịnh độ nơi Tâm. Ðó thật sự là Tịnh độ.
Cho nên Tịnh độ là thế giới cực lạc cách trần bằng tâm tưởng mà Tâm thì
không hạn lượng, có thể ly Dục giới nên đến Tịnh độ chẳng phải chờ qua
một kiếp người.
Nhưng yêu thích Niết Bàn,
hay Tịnh cảnh vẫn là Dục, vì còn yêu ghét phân chia. Chẳng yêu Niết Bàn
mà thiệt trụ Niết Bàn, không hay biết mình thật trụ Niết Bàn mà thật
biết mình không còn đau khổ, không còn đau khổ nên Dục giới hiện tướng
đồng Tịnh Ðộ là thật chứng Niết Bàn.
Vẫn người và cảnh ấy xưa
kia gây đau khổ, mà nay người và cảnh ấy chẳng buộc Tâm con, chỉ là hình
ảnh mà không còn tác động, thì tâm đã tách dần Dục giới rồi.
Tình yêu trai gái bao giờ
cũng đi liền với thể xác và sự gần gũi thân mật nhất, vì đó là cách biểu
hiện chiếm hữu gần đạt đến sự chiếm hữu của tâm linh. Nếu có cách biểu
hiện nào khác hơn, tỏ rõ hơn sự chiếm hữu tức thủ, Hữu ấy; thì dục tánh
sẽ biểu lộ qua tướng đó.
Thế nên, Dục giới thật sự
nằm nơi Tâm mỗi người, Tâm đắm nhiễm càng bao la, thì Dục giới càng rộng
lớn vô bờ và chẳng có hành động nào thật sự là Dục hay chẳng Dục, tướng
dục nằm nơi Tâm kẻ ấy. Yêu một người thì đến cả ánh mắt cũng có Dục,
không yêu thì cả cái nắm tay cũng không Dục tánh.
Ðó là Dục của Ái. Còn dục
của Dục thì càng biến tướng không lường. Vì vậy mà con đừng nên phán
đoán theo hình tướng, đừng cho rằng người dục hay không dục, mà hãy nhìn
lại xem mình có dục hay không. Nếu con muốn nhìn thấy chính mình dục hay
không dục, hãy tìm con đường duy nhất là ly Ngã. Chính khi thực hiện ly
Ngã là con đã xa lìa Dục giới. Con hãy thật hành.
HẠNH PHÚC
Hạnh phúc phải chăng là
những nụ cười, niềm vui không tắt? Hạnh phúc có phải là một sự đánh đổi
hay nằm trong tay một ai đó mà mỗí phán quyết là định nghiệp của đời
con? Hạnh phúc thật ra là gì?
Con một lần nhìn lại đờì
mình, tự hỏi mình có hay không hạnh phúc? Và để nước mắt rơi thương mình
bất hạnh. Và để nói rằng hạnh phúc thật mong manh. Phải chăng con đã tìm
thấy hạnh phúc, bằng xương thịt hoá thân là những người con thương yêu,
mà nay thay đổi khiến con không còn nhận ra bóng hình của hạnh phúc?
Nếu đó là hạnh phúc đích
thực, thì dù mang tướng nào bản chất vẫn không hề thay đổi. Có nghĩa là
vĩnh viễn mang lại niềm vui trọn vẹn cho con. Nếu hạnh phúc ấy, còn có
thể không là hạnh phúc, người hay cảnh hạnh phúc ấy chưa thuộc về con,
thì chưa là chân hạnh phúc. Nói cách khác, hạnh phúc đến từ bên ngoài,
dù thọ lượng bao nhiêu cũng có ngày không còn tướng đến. Vì có đến tất
có đi, có tướng là có hoại. Hạnh phúc nào từ chính mình phát ra nuôi
dưỡng mình, làm ánh sáng cho mình, hoàn toàn thuộc về mình, không có
ngày bị một hoàn cảnh nào một con người nào mang đi, là hạnh phúc vĩnh
viễn vượt thời gian.
Vậy thì, hạnh phúc có phải
là sự ích kỷ, thương yêu chính cái tôi của con? Không đâu con, chính sự
chia hai này, Tôi và ý thức về tôi, làm mất đi hạnh phúc. Tôi, Ngã của
con được chia hai, mang hai bộ mặt và bộ mặt này được che dấu hay không
đem đến sự thoả mãn cho bộ mặt kia, thay thế cho Hạnh phúc đến từ người
khác. Nhưng đâu chỉ là dối gạt chồng lên dối gạt, tự tâm mình chứng kiến
từng giờ sự vô vị của thứ Hạnh phúc bình an giả tạm này. Hạnh phúc là
một trạng thái cho nên không thể chỉ dùng lý trí mà đến được trong hạnh
phúc. Một trạng thái thì tùy duyên mà có sắc thái.
Nếu hạnh phúc không là Tôi
chia chẽ, không là người hay hoàn cảnh nào thì Hạnh phúc ở đâu?
Trước hết, tạm tìm xem
trạng thái hạnh phúc có thể mang tướng biểu lộ nào. Ðó là trạng thái vui
vẻ, tràn đầy và không bao giờ mất hay giản đoạn. Như vậy, hạnh phúc phải
mang một tướng tuyệt đối nào đó rồi. Và chính vì lý trí không là hiện
thân của hạnh phúc nên trạng thái biết mình hạnh phúc trong hạnh phúc là
Tỉnh thức trong hạnh phúc. Hay Tỉnh thức (của Chân Hạnh phúc).
Sự Tỉnh thức trong một niềm
vui bất tận hay an lạc, không hề bị bất cứ điều gì chi phối, niềm vui
hoàn toàn thuộc về mình, dù chính con không hề có ý thức sở hữu chính là
thấy pháp thân của mỗi người và sống trong hạnh phúc, chính là sống với
pháp thân mình. Sống với pháp thân là sống với Phật tánh. Bất cứ một
người nào còn đau khổ, đều muốn đến với hạnh phúc, dù mình họ chưa rõ
chân dung, muốn hạnh phúc là muốn đến với pháp thân của mình và trong vô
tận thời gian, có tướng đi tất có tướng đến, mỗi người sẽ đến với Phật
tánh của mình.
Sau bao nhiêu cuộc bôn ba
giữa những đỉnh non hay vực thẳm của Tâm mình, con hãy tìm bóng mát bình
yên của hạnh phúc chân như là Pháp thân bất diệt, bằng con đường bao
hành giả đã đi qua, sau khi đã trên khổ đau và hạnh phúc như con bây
giờ. Hãy đi đến đích. Hạnh phúc bất tận (hiện hữu từ kiếp sống chết này
sang kiếp sống chết khác), phải chăng là pháp thân Như Lai bất diệt đó
ư?
Vậy thì Phật quốc chẳng ở
đâu xa, con đã đến với cả một thế giới hạnh phúc, bình yên. Làm sao để
sống được với Pháp thân? Thường hạ Tâm mình, thường kính trọng người.
Hành trì một thời gian con sẽ ly dần tánh chúng sanh, là nguyên nhân của
mọi đau khổ. Khi ấy, ánh sáng của pháp thân sẽ từng bước theo nhịp tâm
mà soi đường hạnh phúc. Con sẽ là nguồn sáng chan hoà cùng muôn ánh sáng
của hằng hà sa số Phật tâm mang chân hạnh phúc lan tỏa từ tâm mình xoa
dịu bao nỗi đau tràn thế.
Con hãy tin và tìm hạnh
phúc bằng mọi nổ lực của con.
HOA
Hoa! chính là vị Bồ Tát hoá
thân làm đẹp mắt mọi người, dẫn những ai chuộng sắc trần vào đạo.
Vẻ đẹp của Hoa không có gì
tục tằn của xác thịt, vẻ đẹp của Hoa không có mùi quyến rũ của tội lỗi.
Vẻ đẹp của Hoa là hiện thân của vô thực, sự huyền diệu của ánh nắng kết
tinh thành màu sắc.
Hoa là Từ bi, một đời tặng
hết dịu dàng và an ủi cho chúng sinh.
Hoa là Hỉ xã, sau khi đem
giọt nước mát của chân mỹ đến đã đi ngay, không bận tâm đến kiép sống vô
thường.
Hoa là Bồ Tát dạy con tâm
vô trụ, mỗi giây phút của cuộc đời rất quý, đừng để những giây phút ấy
trôi qua đau khổ, địa ngục của giận hờn và lo toan.
Mỗi giây phút này là sự bừng nở của ngàn vạn đóa hoa khiêm cung bên lề
đường không một người để mất, rực rỡ trong những khu vườn cùng muôn chăm
sóc của con người, hay lẻ loi đơn côi nơi đồng hoang vắng.
Hoa vẫn bình đẳng trãi rộng
từ bi, không phân biệt đắn đo về lẽ thâm tình của mình sẽ đến với ai và
được tiếp nhận hay không?
Con hãy sống trong vô trụ,
trãi rộng từ bi đến mọi người, không phân biệt tình cảm của người đối
với con ra sao. Không luận thời gian, không gian. Không cần được đền
đáp. Không cần được hiểu và thông cảm. Hãy để đóa hoa tâm được nở, đừng
để Ngã của con làm khô cằn mãnh đất, vốn đã được gieo giống Phật, thì
mọi sự phân định phải trái chính là bản Ngã.
Con có quyền tu, thì kẻ
khác cũng có quyền không tu. Con không được tự cho rằng mình Tu nên đúng
hoàn toàn. Thêm vào đó, người Tu mà không chuyển đổi Tâm kẻ khác theo
đường Ðạo thì phải tự trách mình. Vã lại, nếu con thật sự hết lòng
cầu giải thoát hãy tự giải thoát mình khỏi cảnh khổ hiện tại, đừng qui
lỗi cho kẻ khác về nỗi khổ của mình.
Tu là tìm giải thoát.
Giải thoát là gì? Là sự
bình an của con trước mọi điều thuận nghịch của hoàn cảnh mà con đang
sống thay vì đi tìm giải thoát. Bình an nơi sự thay đổi hoàn cảnh.
Hãy nhìn thực tại của Tâm
mình và giải quyết.
Hãy nhìn xuống!
Hãy hạ Tâm mình!
Hoàn toàn được mọi người
khen tặng là điều không thể có. Nhưng hoàn toàn bị chê bai cũng là điều
không thật.
Nghĩ rằng mình bị mọi người
chú ý để chê bai cũng chính là Ngã đấy. Muốn thấy ánh sáng chân lý đưa
con ra khỏi vô minh, phiền não, con hãy học hạnh Từ - Bi - Hỉ - Xã của
Hoa.
Hoa phải là Tâm con. Chư
Phật mười phương đều nói đến giải thoát hoá sanh nơi hoa sen trong ao
báu, chẳng phải là không nguyên do.
Cho nên, Hoa mang tướng vô
thường mà sống đời vĩnh cửu của đại từ, giây phút đi qua trần thế bên
giọt nắng cõi Trời soi vào mắt con, khai thị điều thiện mà con chưa tự
chứng. Như hoa có thể tàn mà vẻ đẹp và mùi hương không biến mất khỏi tâm
con.
Ðiều thiện có thể mang
tướng đến và đi mà trong tâm thức của con, con không bao giờ quên điều
thiện có thật, hiện hữu rõ ràng khi con đối diện với khổ đau.
ĐỊA NGỤC
Ðịa ngục!
Chúng là hình bóng của đau
khổ và Địa ngục đã đương nhiên trở thành một đối tượng cẩn mật trong
trái tim trí tuệ của Ðịa Tạng Vượng Bồ Tát với thệ nguyện vang lừng 3
cõi:
“Ðịa
ngục vị không – thệ bất thành Phật
Chúng sanh độ tận – phương
chứng Bồ Ðề”
Ðịa ngục! Hôm nay, ta sẽ
giảng cho con nghe thế nào là Ðịa ngục?
Khi một chúng sanh trong
một phút giây nào đó chợt thấy mình có mặt giữa cuộc đời chợt nhìn lại
mình trên hành trình sinh tử, và bắt đầu băn khoăn về thân phận thì cũng
từ lúc ấy Ðịa ngục là hình ảnh rõ ràng dần trong ý thức. Ðó là những ý
niệm mơ hồ đậm nhạt về nỗi đau khổ xen lẫn trong chập chùng niệm tưởng
trong biết bao ước mơ về danh lợi, hạnh phúc.
Phải chăng ý thức con người
tạo nên Ðịa ngục hay tôi khổ chỉ vì tôi cho rằng đời là bể khổ. Xa hơn
nữa, có phải chăng ở thế giới bên kia các thảm cảnh dầu sôi, lửa bỏng
chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng phóng đại? và tại sao ở các cõi trời
phi tưởng, Địa ngục vẫn theo đuổi chúng sanh như hình với bóng? Vậy thì
địa ngục khởi đầu và kết thúc nơi đâu? Thật có hay không thật có hoặc do
phủ nhận, xác nhận mà địa ngục tồn tại hay diệt vong? Con ơi! Dù cho con
chưa một lần nghĩ đến, Ðịa ngục đã sừng sững nơi tâm tư bao giờ, âm ỉ
trong những nổi buồn không tên, thiêu đốt tâm hồn trong dục vọng, vang
động không nguôi trong biết bao điều dang dở của cơn mộng đời. Và không
chỉ thế, còn vây hãm lấy con ngay cả trong niềm vui tưởng chừng như bất
tận. Con đã từng nghe về các cõi Trời, thọ mạng chúng sanh nơi ấy dài
không kể xiết, hoan lạc chẳng lúc nào vơi. Nhưng là gì, nếu không là Ðịa
ngục khi nỗi lo âu về tương lai bất ổn của niềm hoan lạc ấy vẫn thường
trực ẩn núp trong lòng. Vì có thọ mạng dài nào mà không kết thúc. Như
vậy, địa ngục là biểu tượng của đau khổ. Nhưng con hiểu Ðịa ngục theo
nghĩa nào?
Nước mắt ta không ngừng
tuôn rơi, dù chỉ còn một sinh linh phải đọa đày. Không có Địa ngục nào
được xem là nhẹ, không có khổ đau nào không đáng kể, không một chúng
sanh nào ở nơi bất kỳ cảnh giới nào mà không hít thở bầu không khí bất
an, vô thường.
Vô lượng chúng sanh không
thể chỉ hiểu là vô lượng sinh mệnh, mà còn phải hiểu là vô lượng sinh tử
xảy ra trong một kiếp sống. Thế nên khi nói một chúng sanh được thành
Phật, vô lượng chúng sanh được giải thoát chính là nói về thật nghĩa
bình đẳng.
Địa ngục ở đâu? Ở nơi nào
mà con trụ tâm, dù con trụ vào Niết Bàn tối thượng. Khi tâm con-dòng
sinh hóa thường hằng ngưng đọng lại, tâm ấy đã xa lìa tự tánh của muôn
pháp, tâm ấy hóa thành chủ khách, mở đầu cho một chuỗi niệm tưởng hư
vọng đăng đẳng liền nhau muôn kiếp sống. Trụ tâm là Ngã, vừa là nguyên
nhân, vừa là hậu quả của Ngã. Chủ thể mà con tưởng lầm là mình, chỉ là
màn sương khói vô minh che phủ chân tánh. Khách thể mà con tưởng lầm là
khác mình thật ra chỉ là muôn vàn ảo ảnh biến hiện trong màn vô minh ấy.
Chủ thể và khách thể đoạn diệt, thăng trầm theo nghiệp quả. Từ đó cái mà
người ta gọi là định mệnh của con chính là định mệnh của Nghiệp và
Nghiệp là sản phẩm của trụ tâm, của tâm bất định, tâm phân biệt. Nghiệp
là Ngã đấy.
Trong vòng lẫn quẫn mê lầm
đó, Ðịa ngục hiện diện trong mỗi thân phận chúng sanh dù khắt khe nhưng
rất công bằng. Cho nên, hiểu Ðịnh mệnh như người đời thường hiểu là sai
lầm vô cùng lớn. Từ đó, nãy sinh 2 thái độ, hoặc đối kháng, đấu tranh để
vượt qua số phận bằng tất cả sức lực bình sinh mà thắng hay bại đều đắp
đổi bằng mất mát của mình hay của kẻ khác. Ðó là Ác, được ngụy trang
bằng ngôn từ hoa mỹ, được bào chữa bởi mọi điều nhân danh. Không ai mà
không thích cuộc đời, đã cướp đoạt của mình sự trong sáng ban sơ. Nhưng
dòng đời tự nó vẫn luôn luôn tuôn chảy theo quy luật tự nhiên của vũ trụ
mà vũ trụ là chí thiện. Đấu tranh, đối kháng như thế, không phải là sinh
tồn mà là tự hũy. Ðó là chấp Đoạn. Hoặc xuôi tay theo định mệnh, như thể
định mệnh là một thành lũy nặng nề, kiên cố, vây chặt thân phận tối tăm,
bé nhỏ của mình. Tôi sinh ra đời như thế, lìa đời cũng sẽ như thế, chẳng
có gì đáng vui hay đáng buồn. Tôi và Ðau khổ chấp nhận nhau như là một
đôi bạn song hành?
Nhưng có thật đó là sự an
ổn hay không? Ðó là an ổn thua vì không thể thắng. Ðó là chấp nhận một
kiếp sống lê thê, lưu đày, chấp nhận chết vĩnh viễn–Trong khi chết là
điều không thể có, cũng là Ác vì kẻ ấy đã phủ nhận sự hiện diện thiêng
liêng của mình, đồng thời phủ nhận cả thế giới chung quanh. Ðó là chấp
thường.
Khác với thái độ của một
người thức tỉnh, không chấp nhận sự phi lý muôn thuở của thân phận mình
trong luân hồi, nghiệp quả. Dành tất cả nổ lực cho một hành trình về
phía mặt trời, dưới giông tố tơi bời của Nghiệp, dành đời mình cho bao
cuộc hoá sinh, để đi đến cuộc hoá sinh vĩ đại cuối cùng là giải thoát.
Hai thái độ trên, do đó đều
không ổn thoả, đều là vong thân, đều là nền tảng của bao nền triết học
hiện thời, không có định mệnh, chỉ có định nghiệp, Ðịnh nghiệp là Ngã,
Ngã là huyễn mộng. Hiểu như thế, thay vì phải gian truân vô ích vì nhân
thế, con sẽ định hướng cuộc đời, xứng đáng với sự có mặt của mình. Không
ai có thể chạy trốn Ðịnh nghiệp, làm sao có thể chạy trốn chính mình,
cũng không ai có thể phán xữ, hay đặt để cho ai một Ðịa ngục, nếu tâm
người đó không sẵn sàng bước vào. Lại càng không một ai có thể cứu thoát
cho ai. Cuối cùng, Địa ngục cũng không là nơi giam giữ chúng sanh đời
đời như nhiều người thường thấy nghĩ. Hình ảnh ma vương, quỷ vương canh
giữ tội nhân, cùng những khổ hình nơi 12 cửa ngục, chính là sự phóng
rọi, biến hiện và trói buộc của Nghiệp cảm. Mỗi người đều có một ngài
Diêm chúa nơi tâm mà không tự biết, đó là sự lên tiếng mãnh liệt của
Chân tánh, sự phán xét sau cùng của Chí thiện.
Như xưa kia, miếng cơm tự
tay Bồ Tát Mục Kiền Liên đến miệng Thanh Đề hoá thành viên sắt lửa,
nhưng vào giây phút này đây, một Thanh Ðề nào đó đang phải chịu khổ hình
nặng hơn, miếng cơm sẽ thành quả cầu gai lửa, không thể nhã ra mà phải
nuốt vào, nuốt đến đâu, cái nóng bén nhọn chạy đến đó, quả cầu gai lửa
lại hoá thành vô số quả cầu gai lửa khác cào xé và thiêu đốt toàn thân.
Khi cơn nóng ấy tạm ngưng, cơn đói khủng khiếp lại dâng lên khiến tội
nhân lại đòi ăn cơm, để chịu khổ hình tiếp tục. Nhưng cơm từ đâu mà có?
Cũng như các khổ hình kia, cơm từ vọng thức, từ tham lam độc ác hoá
thành. Ðiều đó cho con thấy, Nghiệp cảm của chúng sanh trong thời mạt
thế sâu dầy biết bao.
Sao gọi là Ðịa ngục vô
gián? Vì Ngã vô gián hay niệm tưởng mê vọng vô gián. Khi Ðức Thế Tôn
thuyết về Ðịa ngục Ngài phương tiện phân biệt các cảnh giới mê ấy cùng
các tội hình nặng nhẹ cốt để chúng sanh biết ghê sợ tội lỗi nơi mình mà
từng bước hành thiện. Mục đích tối hậu của Ngài khi thị hiện nơi thế
gian này là khai thị nghĩa rốt ráo của Địa ngục, khai thị tri kiến giải
thoát giải quyết tận gốc rễ biển sợ hãi trong tâm tưởng chúng sanh.
Ðịa ngục là huyễn mộng vì
Ngã huyễn mộng, thật tánh địa ngục là không, liễu ngộ thật nghĩa Ðịa
ngục là liễu ngộ Niết Bàn. Thâm quán Ðịa ngục là bắt đầu hành trình về
cõi Phật, là hành thâm Bát nhã Ba la mật, chính là nội quán.
Niết Bàn vô tướng, nên Ðịa
ngục vô tướng. Niết Bàn không xứ sở, nên Ðịa ngục không xứ sở. Lại nữa,
vì sao khi con niệm Ðịa ngục, Ðịa ngục hiện tiền. Khi con niệm Niết Bàn,
Niết bàn lại không hiện hữu? vì niệm chính là Ngã. Vô niệm là nơi niệm
mà không trụ cũng không lìa là vô ngã. Diệt Ngã là diệt mọi ý niệm về
Ngã, phi Ngã, diệt cả ý niệm diệt. Ngã diệt tận, địa ngục liền diệt tận.
Ðó là đại định. Không phải
tâm phân biệt thiện ác mà là tâm vượt qua, là tâm chí thiện nơi con, thể
nhập vào đại dương mênh mông đồng nhất thể, bình đẳng với chư Phật, cũng
là chư Phật tận độ chúng sanh. Khi ấy, dù con sống nơi Ðịa ngục, tâm
thường lìa Ðịa ngục. Hiện tướng hoà cùng muôn khổ lụy của chúng sanh.
Tâm thường lìa phiền não, vì con không còn có ý lựa chọn cho mình một
định nghiệp, nên không một định nghiệp nào trói buộc được con.
Tâm thường lìa Địa ngục,
không trụ Niết bàn, tâm vô trụ là Ðại Bát Niết Bàn.
Con hãy thâm quán Ðịa
ngục–Quán đến bao giờ không còn thấy Địa ngục, không còn người quán,
không còn thấy quán và không quán, khi ấy Địa ngục trong con hoá hiện
Niết bàn, khi ấy khổ đau không bến bờ hạn lượng của chúng sanh nơi con
hoá thành công đức vô lượng vô biên, được chư Phật 10 phương đồng khen
ngợi.
Chính là đại nguyện của ta
đã thành tựu vậy.
Tâm không vạn sự đều không
Tâm chơn vạn Pháp cũng đồng
qui chơn!
(Pháp Bảo Ðàn Kinh)
BỆNH KHỔ
Con luôn luôn bị dằn vật vì
thân bệnh. Từ lâu mang theo người hành trang đau khổ của bệnh tật và
trông chờ vô cùng ngày được giải thoát khỏi căn bệnh của mình: Con chờ
đợi gì? Phép lạ chăng? Một môn thần dược được tình cờ mách bảo hay một
thầy thuốc thượng thặng mà tài ba sẽ thay đổi mệnh đời con?
Không! Mẹ có thể nói ngay
rằng, sự mong chờ ấy chính là môi trường tạo bệnh, không thể mang lại sự
lành mạnh mà con cầu. Con mong chờ ngày được thoát bệnh sẽ làm việc này,
việc nọ, sẽ hạnh phúc, sẽ vui. Nếu ngày ấy không đến thì con sẽ không
bao giờ được vui trọn vẹn. Nếu ngày ấy đến, thì đau khổ đã qua của con,
có phải đã trở thành thừa thãi? Ðâu có lẽ do con đã khổ đau vì bệnh mà
bệnh hết? Cho nên, người có lý trí không hành xử như thế.
Lại nữa, có gì đảm bảo được
rằng khỏi chứng bệnh này, con sẽ không vướng chứng bệnh khác? Như thế
thì, niềm vui được khỏi bệnh, không hoàn toàn trọn vẹn.
Phiền muộn, ưu tư thì con
không buồn thở, biếng ăn, từ suy nhược tinh thần, bệnh đã có môi tlường
để sinh trưởng. Thái quá trong 1 sinh hoạt nào đó cũng sinh bệnh. Có
những thói quen gây nên bệnh tật cũng như có những môi trường sống tạo
mầm cho bệnh: Ðó là thân nghiệp, đó là ý nghiệp, khiến con phải vương
vào. Mà nghiệp là do tâm hỗn loạn tạo thành. Như thế thì bệnh là do
tâm, do hành tưóng của tâm huân tập từ bao kiếp, con mang thân bệnh ngày
nay.
Cho nên bệnh là do con, mà
hết bệnh cũng là do con, không vì thuốc hay là thầy thuốc. Có những
người thác vì một căn bệnh nhẹ, lại có người được chữa lành khỏi căn
bệnh hiễm nghèo. Ðấy không phải là do Tâm ư? Nếu bệnh chỉ thuần ở thân
tướng, thì theo qui luật của vật chất, bệnh nhẹ không thể gây tử vong và
bệnh nặng ắt khó lành.
Bấy nhiêu điều đã nói rằng
thân bệnh là do tâm bệnh hiện hành. Tâm bệnh gì? Ðó là trong cuộc đời
huyễn mộng lai thấy mình có thật. Vì thấy mình có thật, nên con có giận,
ghét, buồn, thương. Tâm hỗn loạn như thế, làm sao khí huyết điều hòa?
Không điều hoà ắt có bệnh.
Vậy thì ở nơi giải thoát
không thể có tật bệnh. Nhưng tại sao Ðức Phật lại thị hiện có thân bệnh?
Phật thị hiện có thân bệnh không khác Phật thị hiện nhập Niết Bàn. Vì
thị hiện có tướng nên thị hiện hoại tướng. Ở nơi có tướng hay hoại
tướng, tâm Như Lai đồng bất động. Nên ở con bệnh là khổ, nơi Đức Phật
bệnh nào có khiến Ngài rời chánh định, sinh khổ trí như con! Cho nên nói
Như Lai ở nơi vô thường mà thoát sinh, bệnh, lão, tử là sự giải thoát
ngay trong đời.
Con phải hiểu rõ căn bệnh
để trị dứt gốc bệnh. Gốc bệnh ở đâu? nơi tâm con.
Con có thấy bầu trời những
ngày không mây và nắng dịu bao la xanh ngát một màu. Tâm con không vẩn
đục bởí tham, sân, si cũng trong sáng bao la như thế.
Bệnh là dị tướng làm hỏng
sự thuần khiết của tâm như mây đen làm hỏng bầu trời quang đảng. Nhưng
ngoài bầu trời tươi đẹp ấy còn có một bầu trời tươi đẹp mãi, bất diệt.
Đó là bầu trời cõi không có thời gian.
Niết bàn vượt ngoài tâm
tưởng và ý thức hành thiện. Nơi ấy không đau khổ nào đến được và nơi ấy
không phải cao hơn, không phải thấp hơn đau khổ, nơi ấy không có tướng,
chỉ nơi ấy là không có bệnh khổ.
Con hãy an tâm về bệnh
trạng của mình. Chưa được giải thoát tức còn nghiệp chướng. Chưa giải
thoát tức có bệnh. Ðó là lẽ tự nhiên, thì trong bệnh khổ lại chồng thêm
nỗi khổ tâm về bệnh làm gì? Muốn mau khỏi bệnh phải tự quán tu tâm là
điều mà con thường nghĩ chẳng liên quan đến bệnh tật của con. Chính sự
điều phục tâm mình, tấn tu là cách chữa bệnh hay nhất. Tấn tu trong khi
bệnh thì nghiệp bệnh mau được hóa giải. Con hãy điều phục tâm mình khi
có bệnh, đó mới thật là niệm Ðức Phật Dược Sư.