---o0o---
Cây rau khúc

Rau khúc còn có tên
gọi là rau khúc vàng, thử khúc thảo... Đây là cây cỏ sống hằng năm, cao
40-50 cm. Thân đứng, có lông như bông. Lá nguyên, mọc so le, thuôn hình
dải, tù và có mũi cứng ở đỉnh, thon hẹp dài lại ở gốc, hơi men theo
cuống, dài 4-7 cm, rộng 5-15 mm, có lông mềm. Đầu hoa màu vang ánh, tập
hợp thành ngũ, với nhiều lá bắc có lông như bông ở mặt lưng. Quả bế
thuôn hình trứng, có mào lông gồm những tơ sợi tóc.
Rau khúc nhân bổ ở vùng
Viễn Đông, từ Ấn Độ tới Trung Quốc, Nhật bản sang Philippin. Ở nước ta
rau khúc rất phổ biến ở những nơi đất trống các ruộng bỏ hoang, nhiều
nhất là các tỉnh phía Bắc. Còn có một lòai khác là rau khúc tẻ hay rau
khúc Ấn Độ
Một số bài thuốc Nam có
rau khúc thường dùng:
- Chữa cảm sốt: Rau
khúc 30 g, gừng tươi 5 lát, hành 2 củ. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa ho, viêm họng:
Rau khúc 30 g, củ rẻ quạt 5 g, diếp cá 50 g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa hen suyễn: Rau
khúc 30 g, lá bồng bồng 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang,
chia 2-3 lần.
- Chữa tăng huyết áp:
Rau khúc 30 g, lá dâu 20 g. Nấu canh ăn hằng ngày.
- Chữa chấn thương đụng
dập: Rau khúc lượng vừa đủ, giã nát, băng đắp nơi sưng đau.
- Chữa rắn cắn: Lá rau
khúc tươi giã nát, đắp rịt vào chỗ rắn cắn.
Cây
nghệ

Phụ nữ có thai bị ra
máu, đau bụng (dọa sẩy) có thể lấy nghệ vàng, đương quy, thục địa, ngải
cứu, lộc giác giao (sừng hươu) mỗi vị 1 lạng, sao khô vàng, tán nhỏ, mỗi
lần uống 4 đồng cân (khoảng 40 g). Dùng gừng tươi 3 lát, táo 3 quả, sắc
với nước, uống trước bữa ăn khi thuốc còn ấm.
Củ nghệ vàng còn có các
tên gọi như khương hoàng, vị cay đắng, tính bình, có tác dụng hành khí,
hoạt huyết, làm tan máu, tan ứ và giảm đau. Uất kim (củ con của cây nghệ)
vị cay ngọt, tính mát, làm mát máu, an thần, tan máu ứ, giảm đau.
Sách Đông y bảo giám
cho rằng khương hoàng có tác dụng phá huyết, hành khí, thông kinh, chỉ
thống (giảm đau), chủ trị bụng chướng đầy, cánh tay đau, bế kinh, sau đẻ
đau bụng do ứ trệ, vấp ngã, chấn thương, ung thũng... Nhật hoa tử bản
thảo cho khương hoàng có tác dụng trị huyết cục, nhọt, sưng, thông kinh
nguyệt, vấp ngã máu ứ, tiêu sưng độc, tiêu cơm...
Một số phương thuốc
dùng nghệ trong Nam dược thần hiệu :
- Phòng và chữa các
bệnh sau đẻ: Dùng 1 củ nghệ nướng, nhai ăn, uống với rượu hay đồng tiện
(nước tiểu trẻ em khỏe mạnh).
- Chữa lên cơn hen, đờm
kéo lên tắc nghẹt cổ, khó thở: Dùng nghệ 1 lạng, giã nát, hòa với đồng
tiện, vắt lấy nước cốt uống.
- Chữa trẻ em đái ra
máu hay bệnh lậu đái rắt: Dùng nghệ và hành sắc uống.
- Trị chứng điên cuồng,
tức bực lo sợ: Nghệ khô 250 g, phèn chua 100 g, tán nhỏ, viên với hồ
bằng hạt đậu, uống mỗi lần 50 viên với nước chín (có thể uống mỗi lần
4-8 g), ngày uống 2 lần.
- Chữa đau trong lỗ
tai: Mài nghệ rỏ vào.
- Chữa trị lở, lòi dom:
Mài nghệ bôi vào.
BS Quang Minh,
Sức Khoẻ & Đời Sống
Củ riềng làm thuốc

Để chữa đầy bụng, nôn
mửa, lấy riềng củ, gừng khô, củ gấu phơi khô lượng bằng nhau đem tán nhỏ,
rây lấy bột mịn. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 4-6 g.
Củ riềng (còn có tên là
cao lương khương) và quả hột riềng đều vị cay, tính ấm, làm ấm bụng,
chống khí lạnh, thường được dùng để chữa đau bụng, nôn mửa, nấc. Liều
dùng 3-10 g đối với củ, hoặc 2-6 g đối với quả.
Một số bài thuốc Nam
được dùng trong dân gian:
- Chữa đau bụng lạnh,
nôn mửa, tiêu chảy: Riềng, củ gấu, gừng khô liều lượng bằng nhau, tán
nhỏ, uống mỗi lần 6 g, ngày uống 3 lần.
- Chữa sốt rét cơn, ăn
không tiêu, buồn nôn hoặc đau bụng thổ tả: Hạt riềng tán nhỏ, uống 6-10
g.
- Chữa hắc lào: Củ
riềng già 100 g, giã nhỏ, ngâm với 200 ml rượu hoặc cồn 70 độ. Chiết ra
dùng dần, khi dùng, bôi dung dịch cồn nói trên vào chỗ tổn thương, ngày
bôi vài lần.
- Chữa ho, viêm họng,
tiêu hóa kém: Riềng củ thái lát mỏng, đem muối chua, khi dùng có thể
ngậm với vài hạt muối hoặc nhai nuốt dần.
BS Quang Minh,
Sức Khoẻ & Đời Sống
Chữa
bệnh của nước cà rốt

Cà rốt 250 g cạo vỏ,
thái miếng; dâu tây 250 g bỏ cuống, dùng máy ép hai thứ lấy nước cốt,
hòa với 5 ml nước ép chanh và 2-3 miếng đường phèn, chia uống vài lần
trong ngày. Dùng cho những người bị cao huyết áp, viêm thận, tiểu đường,
táo bón mạn tính, phụ nữ da thô và khô...
Cà rốt là một trong
những thực phẩm rất giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin. Sách Bản
thảo cương mục viết: "Cà rốt có tác dụng hạ khí bổ trung, làm lợi cho cơ
hoành và tràng vị, làm yên ngũ tạng và giúp ăn khỏe". Sách Y lâm cải yếu
cho rằng cà rốt có khả năng "nhu nhuận tạng thận, làm khỏe dương khí, ấm
hạ bộ, trừ hàn thấp". Sách Nhật dụng bản thảo xem cà rốt là thứ thuốc "có
thể chữa chứng quáng gà, suy dinh dưỡng, trẻ em còi xương, không muốn ăn,
khô tròng mắt".
Các nghiên cứu hiện
đại cho thấy, cà rốt rất giàu dinh dưỡng, ngoài protid, lipid, glucid và
chất xơ còn có nhiều nguyên tố vi lượng và các vitamin, nhất là
carotene. Về tác dụng dược lý, cà rốt có khả năng điều tiết cơ năng sinh
lý của cơ thể, tăng cường thể chất, nâng cao năng lực miễn dịch, kháng
khuẩn, giải độc, làm hạ đường máu, dự phòng tích cực các bệnh lý do
thiếu vitamin A, cao huyết áp, xơ vữa động mạch, đau thắt ngực và nhồi
máu cơ tim. Gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh cà rốt
còn có tác dụng chống lão hóa và dự phòng tích cực bệnh lý ung thư.
Từ cà rốt, có thể tạo
ra các loại đồ uống thơm ngon vừa có tác dụng giải khát bổ dưỡng vừa
giúp phòng chống bệnh tật. Sau đây là một số công thức:
- Cà rốt 150 g, mật ong
50 g, nước chín để nguội vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ, thái thành
miếng nhỏ rồi dùng máy ép lấy nước (nếu không có máy ép thì giã thật nát
rồi dùng vải bọc lại, vắt lấy nước cốt), cho mật ong và chế thêm nước
vừa đủ, quấy đều rồi uống. Dịch thể thu được có màu quất chín rất hấp
dẫn, mùi vị thơm ngon tự nhiên. Nước có công dụng bổ dưỡng, nâng cao
năng lực miễn dịch của cơ thể, giúp phòng chống bệnh cao huyết áp.
- Cà rốt 150 g, táo tây
(loại táo quả to nhập từ Trung Quốc hoặc châu Âu) 150 g, nước ép chanh
15 ml, mật ong 10 ml. Cà rốt và táo rửa sạch, thái miếng rồi dùng máy ép
lấy nước (với táo nên ép ngay vì để lâu sẽ bị biến màu, nếu cần thì ngâm
trong dung dịch nước muối 2-3%), cho mật ong và nước chanh vào quấy thật
kỹ và uống hàng ngày. Đây là loại thức uống giàu chất dinh dưỡng, có tác
dụng nâng cao sức đề kháng và giúp phục hồi sức khỏe rất tốt.
- Cà rốt 500 g, lê tươi
500 g, nước chín để nguội 1.000 ml, mật ong 20 ml. Lê rửa sạch để ráo
nước, ngâm với nước muối 3% trong 15 phút, sau đó thái miếng, dùng máy
ép lấy nước; cà rốt rửa sạch, cạo vỏ thái miếng, dùng máy ép lấy nước.
Hòa hai thứ nước ép với nhau, chế thêm mật ong, quấy đều rồi chia uống
vài lần trong ngày. Đây cũng là một loại đồ uống rất giàu chất dinh
dưỡng, có tác dụng cường thân kiện lực, bồi bổ sức khỏe, làm đẹp da và
râu tóc, phòng chống tích cực bệnh lý ung thư, đặc biệt thích hợp với
những người ở tuổi trung và lão niên.
- Cà rốt 100 g, mía 500
g, chanh quả 80 g, nước chín để nguội vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ,
thái miếng, đem hầm thật nhừ, đánh nhuyễn rồi dùng vải lọc lấy nước; mía
róc vỏ, chẻ nhỏ, dùng máy ép lấy nước. Hòa nước cà rốt và nước mía với
nhau, vắt chanh, quấy đều rồi chia uống vài lần trong ngày. Dịch thể thu
được có màu hồng vàng, mùi thơm, vị ngọt, dùng làm nước giải khát và bổ
dưỡng khá tốt. Theo các nhà dinh dưỡng học Trung Quốc, loại đồ uống này
có tác dụng phòng chống ung thư.
- Cà rốt 250 g, quất
100 g, chuối tiêu chín 150 g, đường phèn vài miếng. Cà rốt rửa sạch, cạo
vỏ, thái miếng, dùng máy ép lấy nước; quất vắt lấy nước cốt. Chuối tiêu
bóc vỏ, đánh nhuyễn rồi đổ nước cà rốt và nước quất vào, quấy thật đều,
chế thêm đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Loại nước này có mùi
thơm khá đặc biệt, dễ uống và giá trị bổ dưỡng rất cao, đặc biệt thích
hợp cho những người bị cao huyết áp và chán ăn.
- Cà rốt 1.000 g, trám
tươi 250 g, đường trắng vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, thái chỉ; trám bỏ hạt,
thái lát mỏng. Hai thứ đem ép lấy nước rồi đun sôi lên, chế thêm đường
trắng, chia uống vài lần trong ngày. Đây là loại nước giải khát và bổ
dưỡng rất hữu ích, đặc biệt thích hợp cho những người bị viêm họng, viêm
phế quản, viêm amiđan, viêm gan...
ThS Hoàng Khánh Toàn,
Sức Khoẻ & Đời Sống
Đan sâm trong điều trị
bệnh tim mạch

Đan sâm có tác dụng
chữa trị sự rối loạn tuần hoàn tim và não. Loại thảo dược này còn hiệu
nghiệm trong điều trị chứng hồi hộp, đau nhói và thắt ngực, mất ngủ,
vàng da và có tác dụng an thai.
Công dụng của đan sâm:
- Giảm rối loạn tuần
hoàn vi mạch, làm giãn các động mạch và tĩnh mạch nhỏ, mao mạch, tăng
tuần hoàn vi mạch.
- Giảm mức độ nhồi máu
cơ tim. Khi tiêm dẫn chất tanshinon II natri sulfonat, trong đó
tanshinon II là một hoạt chất của đan sâm, vào động mạch vành sẽ làm
giảm nhồi máu cơ tim cấp tính. Kích thước vùng thiếu máu mất đi hoặc
giảm đáng kể.
- Ổn định màng hồng cầu,
làm tăng sức kháng của hồng cầu nhờ dẫn chất tanshinon II natri sulfonat.
Hồng cầu ủ với cao đan sâm có thể tăng khả năng kéo giãn và phục hồi
hình dạng nhanh hơn so với hồng cầu không ủ với thuốc.
- Ức chế sự kết hợp
tiểu cầu, chống huyết khối nhờ các hoạt chất miltiron và salvinon của
đan sâm.
- Bảo vệ cơ tim, chống
lại những rối loạn về chức năng và chuyển hóa gây ra bởi thiếu hụt oxy.
- Chống oxy hóa, loại
bỏ các gốc tự do có hại cho cơ thể.
Một số bài thuốc với
đan sâm:
1. Chữa đau tức ngực,
đau nhói vùng tim:
- Đan sâm 32 g, xuyên
khung, trầm hương, uất kim, mỗi vị 20 g. Hồng hoa 16 g, xích thược,
hương phụ chế, hẹ, qua lâu, mỗi vị 12 g. Đương quy vĩ 10 g. Sắc uống
ngày một thang.
- Đan sâm 32 g, xích
thược, xuyên khung, hoàng kỳ, hồng hoa, uất kim, mỗi vị 20 g. Đảng sâm,
toàn đương quy, trầm hương, mỗi vị 16g. Mạch môn, hương phụ, mỗi vị 12
g. Sắc uống ngày một thang.
2. Chữa suy tim:- Đan
sâm 16 g, đảng sâm 20 g, bạch truật, ý dĩ, xuyên khung, ngưu tất, trạch
tả, mã đề, mộc thông, mỗi vị 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Đan sâm, bạch truật,
bạch thược, mỗi vị 16 g. Thục linh, đương quy, mã đề, mỗi vị 12 g. Cam
thảo, can khương, nhục quế, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
3. Chữa tim hồi hộp,
chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai: đan sâm, sa sâm, thiên môn, mạch
môn, thục địa, long nhãn, đảng sâm, mỗi vị 12 g. Toan táo nhân, viễn chí,
bá tử nhân, mỗi vị 8 g. Ngũ vị tử 6 g. Sắc uống ngày một thang.
4. Chữa viêm tắc động
mạch chi:
- Đan sâm, hoàng kỳ,
mỗi vị 20 g. Đương quy vĩ 16 g, xích thược, quế chi, bạch chỉ, nghệ, nhũ
hương, một dược, hồng hoa, đào nhân, tô mộc, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày
một thang.
- Đan sâm, huyền sâm,
kim ngân hoa, bồ công anh, mỗi vị 20 g, sinh địa, đương quy, hoàng kỳ,
mỗi vị 16 g. Hồng hoa, diên hồ sách, mỗi vị 12 g. Nhũ hương, một dược,
mỗi vị 8 g. Cam thảo 4 g. Sắc uống ngày một thang.
5. Chữa thần kinh suy
nhược, nhức đầu, mất ngủ:
- Đan sâm, bạch thược,
đại táo, hạt muồng sao, mạch môn, ngưu tất, huyền sâm, mỗi vị 16 g. Dành
dành, toan táo nhân, mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.
- Đan sâm, liên tâm,
táo nhân sao, quả trắc bá, mỗi vị 8 g, viễn chí 4 g. Sắc uống ngày một
thang.
6. Chữa viêm khớp cấp
kèm theo tổn thương ở tim:
- Đan sâm, kim ngân hoa,
mỗi vị 20 g, đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, mỗi vị 16 g. Đương quy,
long nhãn, liên kiều, hoàng cầm, hoàng bá, mỗi vị 12 g. Táo nhân, phục
linh, mỗi vị 8 g. Mộc hương, viễn chí, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một
thang.
- Khi có loạn nhịp:
Đan sâm 16 g, sinh địa, kim ngân, mỗi vị 20 g. Đảng sâm 16 g, chích cam
thảo, a giao, mạch môn, hạt vừng, đại táo, liên kiều, mỗi vị 12 g. Quế
chi 6 g, gừng sống 4 g. Sắc uống ngày một thang.
Giáo sư Đoàn Thị
Nhu, Sức Khỏe & Đời Sống
Chế độ ăn cho người bị
gan nhiễm mỡ

Ngô, rau cần, nấm hương
có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tế bào gan. Ngoài ra còn có một
số loại trà giúp giải độc, hạ mỡ máu và giảm béo. Những thực phẩm này
đặc biệt thích hợp cho bệnh nhân gan nhiễm mỡ.
Một số món ăn:
Ngô: chứa nhiều các
acid béo không no, có khả năng thúc đẩy quá trình chuyển hóa của chất
béo nói chung và cholesterol nói riêng. Theo dinh dưỡng học cổ truyền,
ngô có vị ngọt tính bình, công dụng điều trung kiện vị lợi niệu, thường
được dùng cho những trường hợp tì vị hư yếu, chán ăn, thủy thấp đình trệ,
tiểu tiện bất lợi, phù thũng, rối loạn lipid máu, thiểu năng mạch vành.
Nhộng tằm: vị ngọt mặn,
tính bình, giúp ích tì bổ hư, trừ phiền giải phát. Nhộng còn có tác dụng
làm giảm cholesterol huyết thanh và cải thiện chức năng gan. Nhộng
thường dùng dưới dạng các món ăn hoặc tán thành bột để uống.
Kỷ tử: có tác dụng ức
chế quá trình tích tụ chất mỡ trong tế bào gan, thúc đẩy sự tăng sinh tế
bào gan và cải thiện chu trình chuyển hóa chất béo.
Nấm hương: chứa những
chất có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu và tế bào gan. Thường
dùng dưới dạng thực phẩm để chế biến các món ăn.
Lá trà: có khả năng
giảm trừ các chất bổ béo. Trà có khả năng làm tăng tính đàn hồi thành
mạch, giảm cholesterol máu và phòng chống sự tích tụ mỡ trong gan.
Lá sen: giảm mỡ máu,
giảm béo và phòng chống sự tích tụ mỡ trong tế bào gan. Lá sen được dùng
dưới dạng hãm với nước sôi uống thay trà hoặc nấu cháo lá sen.
Rau cần: chứa nhiều
vitamin, tác dụng mát gan, hạ cholesterol trong máu, thúc đẩy quá trình
bài tiết các chất phế thải và làm sạch huyết dịch. Ngoài ra, người bệnh
gan nhiễm mỡ nên bổ sung các loại rau tươi như cải xanh, cải cúc, rau
muống... có công dụng giải nhiệt làm mát gan. Cà chua, cà rốt, măng bí
đao, mướp, dưa gang, dưa chuột... thanh nhiệt, thông phủ, hành khí, lợi
tiểu. Các loại dầu thực vật như dầu lạc, dầu vừng, dầu đậu tương... chứa
nhiều acid béo không no có tác dụng làm giảm cholesterol máu; các loại
thịt, cá ít mỡ và các thức ăn chế biến từ đậu tương, đậu xanh, đậu đen...
Một số loại trà tốt cho bệnh nhân gan nhiễm mỡ:
- Trà khô 3 g, trạch tả
15 g. Hai vị hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì được. Trà
này có công dụng bảo vệ gan, tiêu mỡ, lợi niệu, giảm béo. Trạch tả có
tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu, làm hạ cholesterol, triglycered
và lipoprotein có tỷ trọng thấp, góp phần phòng chống tình trạng xơ vữa
động mạch.
- Trà khô 2 g, uất kim
10 g (có thể thay bằng nghệ vàng), cam thảo sao vàng 5 g, mật ong 25 g.
Tất cả thái vụn, hãm với nước sôi, uống trong ngày... Thức uống này có
công dụng làm cho gan thư thái, tiêu trừ tích trệ và lợi niệu. Đặc biệt
uất kim có tác dụng điều chỉnh hội chứng rối loạn lipid máu khá tốt.
- Trà khô 3 g, cát căn
(sắn dây thái phiến) 10 g, lá sen 20 g. Tất cả thái vụn hãm uống thay
trà có công dụng giải độc, hạ mỡ máu, giảm béo. Cần dùng lá sen tươi
hoặc khô thái vụn hãm uống thay trà hàng ngày.
- Rễ cây trà 30 g,
trạch tả 60 g, thảo quyết minh 12 g. Tất cả thái vụn hãm uống hàng ngày.
Những vị này có công dụng làm giảm mỡ máu và phòng chống béo phì. Loại
trà này rất thích hợp với những người bị nhiễm mỡ gan kèm theo tình
trạng rối loạn lipid máu, bệnh lý mạch vành.
- Trà 30 g, sinh sơn
tra 10-15 g. Hai vị hãm nước sôi uống hằng ngày, giúp tiêu mỡ giảm béo.
Sơn trà có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu rất tốt và góp phần
thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất đường và chất béo trong gan.
- Hoa trà 2 g, trần bì
2 g, bạch linh 5 g. Ba thứ thái vụn hãm với nước trong bình kín, sau 20
phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Trà có công dụng kiện tì
hóa thấp, lợi niệu trừ đàm.
Bệnh nhân gan nhiễm mỡ
cần kiêng kị những thực phẩm và đồ ăn quá béo bổ như mỡ động vật, lòng
đỏ trứng, não và gan gia súc, bơ... Các thứ quá cay và nóng như gừng,
tỏi, ớt, hạt tiêu, rượu, cà phê, trà đặc...
Bắp ngô bài thuốc nam chữa suy nhược cơ thể/Cây, củ, rau trị bệnh

Suy nhược cơ thể là
trạng thái mệt mỏi, làm việc kém hiệu quả... Bệnh thường gặp ở người bị
căng thẳng thần kinh kéo dài, người mắc bệnh mạn tính, phụ nữ sau sinh
mất nhiều máu... Dưới đây là một số bài thuốc nam và món ăn chữa bệnh
hiệu quả.
Bài 1: Chữa suy nhược
cơ thể sau viêm đại tràng, loét dạ dày - tá tràng, rối loạn tiêu hóa kéo
dài. Bài thuốc gồm: bố chính sâm 16 g, bạch truật 12 g, củ mài 12 g,
biển đậu 12 g, ý dĩ 12 g, vỏ quýt 6 g, hạt sen 12 g, hạt cau 10 g, nam
mộc hương 6 g. Ngày 1 thang, sắc uống làm 2 lần.
Bài 2: Chữa suy nhược
cơ thể sau viêm phế quản mạn, lao phổi. Cần thục địa 12 g, mạch môn 12
g, thiên môn 12 g, vỏ rễ dâu 12 g, củ mài 16 g, quy bản 10 g, mạch nha
10 g, vỏ quýt 6 g, bán hạ chế 8 g. Ngày 1 thang, sắc uống làm 2 lần.
Bài 3: Trị suy nhược cơ
thể ở người già. Dùng thục địa 12 g, hà thủ ô 12 g, củ mài 12 g, củ súng
12 g, nam đỗ trọng 20 g, ba kích 12 g, cao quy bản 10 g, cao ban long 10
g, phụ tử chế 8 g, nhục quế 4 g.
Ngày 1 thang, sắc uống
làm 2 lần. Riêng cao ban long và cao quy bản, sau khi sắc thuốc chắt ra
mới cho vào, hoặc tán bột, làm viên hoàn, uống ngày 20-30 g với nước sôi
nguội hoặc nước muối loãng.
Bài 4: Dùng cho phụ nữ
sau sinh, thiếu máu hoặc người mắc một số bệnh về máu gây thiếu máu. Bài
thuốc gồm: quả dâu chín 16 g, hà thủ ô 12 g, long nhãn 12 g, hạt sen 12
g, đỗ đen sao 12 g, lá vông 12 g. Ngày 1 thang, sắc uống làm 2 lần.
Bài 5: Chữa suy nhược
cơ thể sau một số bệnh truyền nhiễm gây sốt cao, viêm khớp dạng thấp,
tăng huyết áp. Cần rau thai nhi 1 cái, đảng sâm (hoặc bố chính sâm) 16
g, thục địa 16 g, đỗ trọng 12 g, ngưu tất 16 g, hoàng bá 8 g, thiên môn
12 g, mạch môn 12 g, bạch linh 12 g, quy bản 12 g. Tán bột, nhào với mật
ong làm viên, uống 20g mỗi ngày, chia làm 2 lần.
Các món ăn chữa suy
nhược cơ thể:
Bài 1: Chữa suy nhược
do tăng huyết áp. Cần râu ngô hoặc bắp ngô non 30 g, móng giò 1 cái,
gừng 5 g, hành và gia vị vừa đủ. Tất cả ninh nhừ. Cách ngày ăn 1 lần, ăn
trong 3 tuần liền.
Bài 2: Chữa suy nhược
cơ thể ở người gầy yếu và phụ nữ sau sinh. Dùng gà trống non (7-8 lạng):
1 con, quy thân 10 g, đảng sâm 15 g, thục địa 15 g, kỷ tử 10 g, hạt sen
20 g, ngải cứu 20 g, gừng, hành, gia vị vừa đủ. Tất cả hầm nhừ, 1 tuần
ăn 2 lần, ăn trong 4 tuần liền.
Bài 3: Chữa viêm suy
nhược do phế quản mạn, hen phế quản. Cần chim cút 1 con, cát cánh 15 g,
mạch môn 12 g, sa sâm 12 g, đại táo 7 quả, gừng, hành, rượu, gia vị vừa
đủ. Tất cả hầm nhừ, cách ngày ăn 1 lần, trong 4 tuần liền.
Bác sĩ Thuỳ Hương,
Sức Khỏe & Đời Sống
Chữa bệnh
bằng hạt bí ngô/Cây, củ, rau trị bệnh

Ngoài một hàm lượng lớn các khoáng chất và dinh dưỡng cần thiết cho cơ
thể, hạt bí ngô còn chứa delta 7-phytosterol, một hoạt chất sterol đặc
hiệu giúp phòng ngừa và điều trị chứng rối loạn lipid máu, đồng thời làm
chậm tiến triển bệnh xơ vữa động mạch...
Hạt bí ngô có đủ các protein và khoáng chất như sắt, Mg, Ca, Zn, Selen...,
chất xơ; các axit béo không no như omega-3 và omega-6; vitamin E; beta
caroten; tiền chất prostaglandin; và một số axit amin khác như axit
glutamic, arginine...
Đặc biệt, chất delta7-phytosterol chỉ được tìm thấy trong hạt bí ngô mà
không có ở bất kỳ loại dầu thực vật nào khác. Chính delta7-phytosterol
quyết định khả năng phòng ngừa và điều trị bệnh của hạt bí ngô, song hàm
lượng của nó lại phụ thuộc phần lớn vào điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và
thời vụ gặt hái...
Tác dụng của hạt bí ngô:
- Giảm các triệu chứng của bệnh phì đại tiền liệt tuyến như hạn chế số
lần tiểu tiện ban đêm, giảm thể tích nước tiểu tồn dư, cải thiện chứng
khó tiểu, đi tiểu buốt và nhiều lần.
- Làm dịu tình trạng hoạt động quá mức của bàng quang - nguyên nhân gây
tiểu són, tiểu rát và đái dầm thường gặp ở người già hai giới.
- Phòng ngừa và điều trị chứng rối loạn lipid máu, làm chậm tiến triển
chứng xơ vữa động mạch.
Hiện nay, thành phần delta7-phytosterol đặc hiệu với hàm lượng cao của
hạt bí ngô có thể được điều chế dưới dạng viên nang mềm Peponen. Người
dân châu Âu, Mỹ đang sử dụng phổ biến dung dịch này như một dạng bổ sung
dinh dưỡng quan trọng.
Bác sĩ Nguyễn Khoa Diệu Hằng, Thuốc & Sức Khỏe
Trâm bầu - vị thuốc hay
tẩy giun đũa

Loại cây này còn có tên
là chưng bầu, chân bầu, tim bầu, tên khoa học là Combretum quadrangulare
Kuz. Hạt, chất nhầy ở vỏ và cành non trâm bầu có tác dụng tẩy giun.
Ngoài ra, nó còn có thể chữa đau bụng và tiêu chảy (hay dùng phối hợp
với lá mơ tam thể).
Trâm bầu là loại cây
nhỡ, có thể cao 12 m. Cành non có 4 cạnh, lá mọc đối, hình trứng dài,
chóp tù hay nhọn. Hai mặt lá đều có lông, mặt dưới lông nhiều hơn. Chiều
dài của lá 3-7,5 cm, rộng 1,5-4 cm. Cụm hoa gồm một bông mọc ở kẽ lá và
nhiều hoa nhỏ ở đầu cành, màu vàng nhạt. Quả dài 18-20 mm, rộng 7-8 mm,
có 4 cành mỏng. Hạt hình thoi, rộng 4 mm, có rìa. Các bộ phận dùng làm
thuốc là hạt (thu hái vào tháng 1-2), quả, vỏ cây.
Trâm bầu thường mọc
hoang ở miền kênh rạch Đông Nam Bộ, sống ở đất phèn, trũng, có độ ẩm cao.
Nhiều người trồng trâm bầu để nuôi kiến cánh đỏ.
Hạt cây trâm bầu có
nhiều tinh dầu (12%), tanan, axit axalic, canxi và các axit béo palmitic,
linoleic. Vỏ lá chứa nhiều tanan, flavonoit.
Để điều trị giun, mỗi
ngày ăn 10-15 hạt trâm bầu bỏ vỏ (trẻ em dùng 5-10 hạt, tùy theo độ tuổi).
Có thể nướng qua hạt cho thơm, kẹp vào quả chuối chín để dễ ăn. Điều trị
trong 3 ngày.
Ngoài việc chữa giun,
nhân dân một số nơi còn hái lá trâm bầu phơi khô, phối hợp với lá nhân
trần để làm trà nhuận gan.
BS Trang Xuân Chi, Sức Khỏe & Đời Sống
Vỏ cam quýt giảm cholesterol

Nhai vỏ cam có thể
khiến bạn nhăn mặt, song thực chất nó rất tốt cho sức khỏe. Theo một
nghiên cứu mới đây của Mỹ, chiết xuất từ vỏ cam, quít có khả năng hạn
chế gan xuất tiết loại cholesterol độc hại LDL - thủ phạm gây ra các
bệnh tim mạch.
Hợp chất từ vỏ cam quít
có tên khoa học là polymethoxylated flavones (PMF) - thực chất là những
yếu tố chống oxy hóa tích cực thuộc nhóm flavonoid, tiến sĩ Elzbieta
Kurowska làm việc cho một công ty dược của Canada tại Mỹ có tên là KGK
Synergize, cho biết. Nhóm flavonoid tập trung trong các loại rau quả, lá
chè và rượu vang đỏ.
Trong phần thịt của hoa
quả chua cũng chứa các chất PMF, song chỉ ở một lượng rất nhỏ do hợp
chất này không hòa tan trong nước. Trong khi đó, vỏ của chúng lại tập
trung PMF nhiều gấp 20 lần. Cơ thể con người rất dễ hấp thu và chuyển
hóa các chất này.
Trong nghiên cứu,
Kurowska và cộng sự đã vỗ béo cho những con chuột đồng bằng một chế độ
dinh dưỡng giàu cholesterol, rồi cho chúng hấp thu hợp chất PMF từ vỏ
cam, quít. Kết quả cho thấy, chỉ 1% PMF trong khẩu phần ăn hằng ngày
cũng làm giảm tới 40% lượng cholesterol LDL ở số chuột trên.
Nhóm nghiên cứu cũng
thử nghiệm hai chất flavonoid đặc trưng khác là hesperetin và naringenin
trên một số con chuột có cholesterol cao, và tác dụng hạ cholesterol LDL
cũng được ghi nhận. Tuy nhiên, hai chất này phải cần tới một lượng lớn
gấp 3 lần hợp chất PMF từ vỏ cam, quít mới cho hiệu quả tương tự.
Theo Kurowska, PMF có
thể đã khống chế khả năng phân tiết cholesterol LDL của gan. Nhóm đang
tính đến việc tăng cường hiệu quả chống loại cholesterol độc hại này
bằng việc kết hợp PMF với vitamin E. Tuy nhiên, để giảm cholesterol,
người ta không thể trông cậy hoàn toàn vào vỏ cam quít. Lời khuyên đáng
tin cậy nhất vẫn là năng vận động cơ thể, ăn nhiều rau quả và hạn chế
tối đa chất béo no
Tác dụng chữa bệnh của tỏi

Sức mạnh của gia vị này
đã được biết từ mấy nghìn năm trước. Những người xây Kim tự tháp đã ăn
tỏi để lấy sức mạnh. Các chiến binh La Mã ăn tỏi để chữa bệnh cúm. Các
vận động viên Olympic Hy Lạp cổ đại cũng dùng nó để cải thiện sức bền.
Còn trong Thế chiến 1, nhiều người lính sử dụng tỏi như thuốc kháng sinh.
Các nhà nghiên cứu cho
rằng, tỏi giúp phục hồi allicin, một hợp chất tự nhiên trong cơ thể, có
tác dụng chống ung thư, giảm cholesterol và giảm huyết áp.
Trong vòng 20 năm qua,
có hơn 700 nghiên cứu về tác dụng của tỏi. Viện Ung thư (Mỹ) phát hiện
thấy tỏi giúp làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày. Nhiều nghiên cứu khác kết
luận tỏi hạn chế nguy cơ tắc động mạch vành và giảm nồng độ cholesterol
có hại. Một công trình của Đại học Ohio (Mỹ) cho thấy, phụ nữ và đàn ông
ở độ tuổi 50-80 nếu ăn khoảng 300 mg tỏi mỗi ngày trong 2 năm sẽ giảm
15% nguy cơ tắc động mạch chủ so với những người không ăn. Theo một
nghiên cứu khác, tỏi có thể giết hoặc làm chậm sự phát triển của 60 loại
nấm và 20 loại vi khuẩn. Nó cũng có ích với phụ nữ mãn kinh vì rất giàu
oestrogen thực vật, giúp giảm nguy cơ ung thư và hạn chế những tác động
của hội chứng mãn kinh.
Các chuyên gia cho rằng,
ở bất kỳ dạng nào, tỏi cũng đều an toàn. Khoảng 1 hoặc 2 nhánh tỏi (hoặc
600-900 mg) mỗi ngày là liều lượng phổ biến và rất tốt cho sức khỏe. Bạn
có thể thêm tỏi tươi hay tỏi bột vào các món súp, thịt, rau hay salad,
thậm chí ăn sống cũng tốt.
Nếu tỏi tươi làm bạn
khó chịu, bạn có thể chọn tỏi chín, tỏi bột hay dầu tỏi. Tỏi bột thực tế
là tỏi sấy khô nghiền ở nhiệt độ cao, giảm mùi hắc những vẫn duy trì
được tác dụng. Nếu bạn khó chịu bởi mùi tỏi, hãy chọn loại già ngày; sử
dụng những chất khử mùi như kẹo cao su, hoa quả chua.
Một số bài thuốc từ tỏi

Để trị cảm, viêm họng,
sổ mũi, nên dùng cồn tỏi nhỏ mũi hoặc giã tỏi cho ngửi. Cũng có thể giã
tỏi, đổ cồn 70 độ, đốt cháy rồi trùm chăn xông cho ra mồ hôi.
Theo Đông y, tỏi vị
cay, tính ôn, hơi độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng,
chữa khí hư, tiểu tiện khó, bụng đầy chướng, tiêu nhọt, đờm và hạch ở
phổi, tẩy uế.
Lưu ý: Tỏi kỵ mật (mật
ong, mật mía).
Một số bài thuốc có vị
tỏi:
- Trị cảm lạnh, ho gà,
hen phế quản: Giã nát tỏi, xoa ngực cho nóng lên. Ngày làm 2-3 lần.
- Ho gà: Tỏi 5 củ, bóc
vỏ, giã nát, đổ vào 150 ml nước sôi để nguội, ngâm trong 6 tiếng, chắt
lấy nước, cho một ít đường trắng (hoặc đường phèn) uống 2 lần trong ngày.
- Say nắng hôn mê: Giã
nát tỏi, vắt lấy nước nhỏ vào mũi, kích thích niêm mạc mũi cho hắt hơi,
sẽ tỉnh.
- Tăng huyết áp: Lấy
500 g tỏi, bóc vỏ, cho 50 g muối để muối dưa. Sau 3 ngày đem ra hong khô,
cho vào lọ thủy tinh ngâm với giấm ăn, cho tí đường, ngâm 2-3 ngày là
dùng được. Sáng sớm và tối trước khi đi ngủ ăn 1-2 tép tỏi và uống một
tí nước giấm ngâm tỏi. Ăn 15 ngày, nghỉ 3 ngày lại ăn tiếp. Huyết áp sẽ
hạ xuống một cách ổn định. Thuốc này cũng chữa viêm khí quản mạn tính và
ho lâu ngày.
- Viêm xoang, viêm mũi
dị ứng: Giã tỏi lấy nước cốt trộn với dầu vừng, nửa nọ nửa kia. Rửa mũi
bằng nước muối, lau sạch, lấy bông tẩm thuốc nhét vào.
- Viêm, đau khớp: Tỏi
và lá lốt đun sôi để xông, sau đó ngâm khớp tay chân đau. Nếu đau lưng,
đầu gối thì lấy khăn nhúng nước thuốc nóng mà chườm. Ngày làm 2 lần sáng,
tối, sẽ khỏi.
- Lỵ, tiêu chảy: Lấy 5
củ tỏi lớn bóc vỏ, sắc cùng 2 lạng củ cải, lấy nước uống hằng ngày.
- Chảy máu cam: Giã vài
tép tỏi đắp gan bàn chân (từ gốc ngón giữa đo xuống bằng 3 đốt ngón tay
giữa của bệnh nhân). Nếu chảy lỗ mũi phải, đắp gan bàn chân trái và
ngược lại. Nếu chảy máu cả 2 lỗ mũi thì đắp cả 2 gan bàn chân. Hết chảy
máu, bỏ tỏi, rửa chân sạch.
- Sưng vú: Dùng 50-100
g tỏi giã nhỏ, trộn với bột mì, đường đỏ, dùng nước ấm trộn đều đắp nơi
sưng, chỉ 1 ngày sẽ giảm.
- Giun đũa, giun kim:
Giã nhỏ tỏi, trước khi đi ngủ xát vào hậu môn. Hoặc sắc 25 g tỏi với 1
lít nước, đun sôi 10 phút, ngày uống 30 ml. Cũng có thể dùng 2 củ tỏi
giã nhỏ, hòa với nước sôi, gạn lấy nước, thụt vào hậu môn ngay lúc giun
kim đang chòi ra, rất có hiệu quả.
Có thể trị các chứng
đau sưng khớp, các bệnh đái tháo đường, trĩ, béo phì, bệnh ở tim mạch,
phế quản, hệ tiêu hóa... bằng cách dùng rượu tỏi. Cách làm: Tỏi khô bóc
vỏ 40 g, thái nhỏ, bỏ lọ, đổ vào 100 ml rượu trắng 45 độ. Sau 10 ngày
dùng được. Sáng uống 40 giọt trước khi ăn, tối uống 40 giọt trước khi đi
ngủ (hòa thêm nước nguội mà uống). Ngâm uống liên tục.
Lương y Minh Chánh,
Sức Khoẻ & Đời Sống
Cây trâu
cổ chữa bệnh

Loại cây này còn có tên
là xộp, vảy ốc, bị lệ, tên khoa học Ficus pumila L. Nó mọc hoang ở nhiều
nơi và được một số gia đình trồng làm cảnh. Trâu cổ chữa được nhiều bệnh
như liệt dương, đau lưng, kinh nguyệt không đều, ung nhọt...
Trâu cổ là loại dây leo,
mọc bò, rễ bám lên đá, bờ tường hay cây cổ thụ. Toàn thân có nhựa mủ
trắng. Ở các cành có rễ bám thì lá nhỏ, không cuống, gốc lá hình tim,
nhỏ như vảy ốc nên có tên là cây vảy ốc. Lá ở các cành nhánh không rễ
bám, mọc tự do thì lớn hơn, có cuống dài, mặt lá ráp. Chỉ ở các cành này
mới có hoa và quả. Cây trâu cổ thường được trồng cho bám lên tường hay
cây to để làm cảnh và che mát
Bộ phận dùng làm thuốc
là quả (gọi là bị lệ thực, lương phấn quả, vương bất lưu hành), cành
mang lá, quả non phơi khô (bị lệ lạc thạch đằng).
Quả vị ngọt, tính mát,
có tác dụng tráng dương, cố tinh, thông sữa; dùng làm thuốc bổ chữa di
tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày, kinh nguyệt không đều, viêm
tinh hoàn, phong thấp, ung thũng, thoát giang (lòi dom), tắc tia sữa.
Thân và rễ vị hơi đắng,
tính bình, có tác dụng hoạt huyết, giải độc; dùng chữa phong thấp tê mỏi,
sang độc ung nhọt và kinh nguyệt không đều. Lá vị hơi chua chát, tính
mát, có tác dụng tiêu thũng, giải độc. Dùng chữa viêm khớp xương, nhức
mỏi chân tay, ngã, tổn thương, mụn nhọt, ngứa lở...
Cách dùng:
- Chữa tắc tia sữa,
sưng vú, ít sữa: Quả trâu cổ 40 g, bồ công anh 15 g, lá mua 15 g sắc
uống; dùng lá bồ công anh giã nhỏ, cho ít giấm, chưng nóng chườm hay đắp
ngoài.
- Chữa đau xương, đau
mình ở người già, làm thuốc bổ, điều kinh, giúp tiêu hóa: Quả trâu cổ
chín thái nhỏ, nấu với nước, lọc bỏ bã, cô thành cao. Ngày uống 5-10 g.
- Chữa di tinh, liệt
dương: Cành và lá, quả trâu cổ non phơi khô 100 g, đậu đen 50 g. Xay thô
2 thứ và ngâm trong 250 ml rượu trắng, ngâm 10 ngày, ngày uống 10-30 ml.
TS
Đức Quang, Sức Khỏe & Đời Sống
Chữa bệnh bằng cây rau dền

Rau dền có 2 loại:
trắng và đỏ. Ngoài tác dụng làm món ăn, cả 2 loại rau này đều là những
vị thuốc hay. Rau dền vị ngọt, tính lạnh, không độc, giúp dễ sinh, trị
lở môi, lở loét do sơn ăn và sát trùng, khử độc nọc ong, rắn.
Trong Đông y, rau dền
có thể dùng trong các trường hợp sau:
- Trị chứng máu nóng
sinh kiết lỵ, lở loét: Bệnh này xuất hiện do bên trong quá nóng mà sinh
ra bị kiết lỵ, lở loét hoặc bị cả 2 bệnh trong cùng một thời gian. Dùng
rau dền đỏ luộc chín tới, ăn cả nước lẫn cái. Mỗi ngày ăn khoảng 15-20
g, ăn trong vài ngày là khỏi. Nếu mắc chứng ho lâu ngày, dai dẳng không
khỏi thì bài thuốc này cũng trị được.
- Trị rắn cắn: Lấy rau
dền đỏ giã nát, vắt lấy khoảng 1 bát nước cho uống, còn bã đắp lên vết
thương. Khi bị rắn cắn, phải lập tức băng chặt (bằng dây chun hoặc dây
vải) phía trên vết cắn (phía gần với tim hơn) rồi mới dùng thuốc. Sau đó,
phải đưa ngay đến bệnh viện gần nhất.
- Chữa vết ong đốt: Nếu
bị ong đốt (nhất là giống ong to có độc) thì lấy rau dền vò nát, xát cả
vào vết đốt là khỏi.
Lưu ý: Không nên ăn
thịt ba ba cùng với rau dền vì theo Đông y, việc 2 thứ này kết hợp với
nhau có thể gây độc. Gặp trường hợp này, cần uống nước rau muống giã
hoặc ăn rau muống sống để giải độc.
BS Ngọc Khôi, Sức Khỏe & Đời Sống
Cây cỏ ngọt - bạn
của bệnh nhân tiểu đường

Trong thiên nhiên có
nhiều loại cây chứa đường năng lượng thấp, với độ ngọt cao gấp hàng trăm
lần đường mía. Chúng được dùng làm chất thay thế đường cho những người
phải kiêng loại thực phẩm này. Cỏ ngọt (còn gọi là cỏ mật, cỏ đường, cúc
ngọt, trạch lan) là một loại cây như thế.
Cỏ ngọt được biết đến
từ năm 1908. Hai nhà khoa học Reseback và Dieterich đã chiết xuất được
glucozit từ lá cỏ ngọt. Đến năm 1931, Bridel và Lavieille mới xác định
được glucozit đó chính là steviozit, chất cơ bản tạo nên độ ngọt ở loại
cây này. Steviozit sau khi thủy phân sẽ cho 3 phân tử steviol và
isosteviol. Chất steviol ngọt gấp 300 lần đường saccaroza, ít năng lượng,
không lên men, không bị phân hủy mà hương vị thơm ngon, có thể dùng để
thay thế đường trong chế độ ăn kiêng.
Đặc tính quan trọng của
các glucozit này là có thể làm ngọt các loại thức ăn và đồ uống mà không
gây độc hại cho người, không đòi hỏi kỹ thuật sản xuất phức tạp, năng
suất cao, công nghệ thu hái chế biến đơn giản. Khối lượng thân, lá và
chất lượng cỏ ngọt đạt cao nhất ở thời kỳ trước khi nở hoa, nghĩa là nên
thu hoạch ở giai đoạn hình thành nụ.
Cỏ ngọt có nguồn gốc
tự nhiên ở vùng Amambay và Iquacu thuộc biên giới Brazil và Paraguay.
Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã phát triển việc dùng loại cây này
trong đời sống. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, người dân Paraguay
đã biết sử dụng cỏ ngọt như một loại nước giải khát. Đến những năm 70,
cỏ ngọt đã bắt đầu được dùng rộng rãi ở Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan,
Hàn Quốc và nhiều nước Đông Nam Á. Tại Việt Nam, từ năm 1988, cỏ ngọt đã
được nhập và trồng ở nhiều vùng như Hà Giang, Cao Bằng, Hà Tây, Lâm Đồng...
Chất ngọt chiết xuất từ
lá cỏ ngọt khô được Công ty RSIT ở Canada gọi là “chất ngọt hoàng gia”
bởi giá trị tuyệt vời của nó. Đây cũng là một công ty có bản quyền về
chế tạo “chất ngọt hoàng gia” mà không gây ô nhiễm môi trường, không sử
dụng hóa chất, sử dụng chất trao đổi ion để phân lập, chiết xuất và tinh
chế các thành phần glucozit tự nhiên của cây.
Cỏ ngọt cũng được dùng
như một loại trà dành cho những người bị bệnh tiểu đường, béo phì hoặc
cao huyết áp. Một thí nghiệm được tiến hành trên 40 bệnh nhân cao huyết
áp độ tuổi 50, cho thấy, loại trà này có tác dụng lợi tiểu, người bệnh
thấy dễ chịu, ít đau đầu, huyết áp tương đối ổn định.
Trong công nghiệp thực
phẩm, cỏ ngọt được dùng để pha chế làm tăng độ ngọt mà không làm tăng
năng lượng của thực phẩm. Ngoài ra, loại cây này còn được dùng trong chế
biến mỹ phẩm, chẳng hạn sữa làm mượt tóc, kem làm mềm da. Nó vừa có tác
dụng nuôi dưỡng tất cả các mô, tái tạo làn da mới vừa chống nhiễm khuẩn,
trừ nấm.
BS Phạm Thị Thục, Sức Khỏe & Đời Sống
Cây bồ công anh làm thuốc

Loại cây này còn có tên
là rau bồ cóc, diếp dại, mũi mác, rau bao; thường mọc hoang ở nhiều nơi.
Theo y học cổ truyền, bồ công anh vị đắng ngọt, tính lạnh, có tác dụng
thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chữa các bệnh mụn nhọt, lở loét, viêm
dạ dày - tá tràng, viêm gan, viêm họng..
Một số bài thuốc nam
thường dùng trong dân gian:
- Mắt đau sưng đỏ: Bồ
công anh 40 g, dành dành 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm tuyến vú, tắc
tia sữa: Bồ công anh 30-50 g tươi, giã nát vắt lấy nước cốt uống, bã đắp
lên vú.
- Mụn nhọt: Bồ công anh
40 g, bèo cái 50 g, sài đất 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm họng: Bồ công
anh 40 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm loét dạ dày, tá
tràng: Bồ công anh 40 g, lá khôi, nghệ vàng 20 g, mai mực 10 g, cam thảo
5 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm phổi, phế quản:
Bồ công anh 40 g, vỏ rễ dâu 20 g, hạt tía tô 10 g, kim ngân hoa 20 g,
cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm gan virus: Bồ
công anh 30 g, nhân trần 20 g, chó đẻ răng cưa (kiềm vườn) 20 g, rau má
30 g, cam thảo nam 20g. Sắc uống ngày một thang.
BS Anh Minh, Sức
Khỏe & Đời Sống
Vị thuốc từ cây mía

Để chữa nứt nẻ chân,
lấy ngọn mía và bèo cái mỗi thứ khoảng 100 g, giã nát, thêm vào một bát
nước tiểu (trẻ em càng tốt), nấu sôi. Để nước ấm rồi ngâm chỗ nứt nẻ
khoảng 30 phút.
Nước mía vị ngọt mát,
tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, giải độc, tiêu đờm, chống
nôn mửa, chữa sốt, tiểu tiện nước đỏ và rất bổ dưỡng. Một số bài thuốc
cụ thể:
- Chữa chín mé: Lấy lõi
trắng ở ngọn cây mía giã nát, trộn với lòng trắng trứng gà rồi đắp và
băng lại.
- Chữa ngộ độc: Thân
mía 80 g, thục địa, ý dĩ, cam thảo bắc mỗi thứ 30 g, lá tre, kim ngân,
rễ cỏ tranh, rễ ngưu tất mỗi thứ 20 g. Cho vào 1 lít nước, nấu sôi rồi
đun lửa nhỏ 15-20 phút, uống nóng hoặc để nguội tùy theo sở thích mỗi
người. Cũng có thể chữa ngộ độc bằng cách lấy thân cây mía giã nát cùng
với rễ cỏ tranh, ép lấy nước đun sôi trộn với nước dừa mà uống.
- Chữa khí hư: Lá cây
mía tím 30 g, lá huyết dụ 30 g, hoa mò đỏ 20 g, rễ mò trắng 80 g. Tất cả
các vị trên thái nhỏ, sao vàng rồi sắc lên uống hàng ngày.
- Làm thuốc an thai:
Mầm mía 30 g, củ gai 30 g, ích mẫu 20 g, củ gấu 80 g, sa nhân 2 g. Tất
cả các vị thái nhỏ, phơi khô sắc với 400 ml nước, còn 100 ml uống trong
ngày, chia làm 2 lần.
Lưu ý: Trong bữa ăn có
cua thì không nên ăn mật mía, dễ sinh độc.
BS Nguyễn Bích, Sức
Khỏe & Đời Sống
Rau họ cải chống ung thư
ruột kết

Chỉ cần ăn 2-3 bữa các
loại rau cải mỗi tuần, bạn có thể an tâm tránh xa căn bệnh ung thư ruột
kết. Nguyên nhân là vì trong quá trình chế biến, những loại rau này sản
sinh một chất đặc biệt gọi tắt là AITC, có khả năng tiêu diệt tế bào ung
thư.
AITC thực chất là một
sản phẩm của quá trình phá vỡ hợp chất sinigrin trong các loại rau họ
cải như mù tạc, bắp cải, súp lơ, củ cải Thuỵ Điển, cải xoăn, wassabi...
AITC xuất hiện khi cắt, chế biến và tiêu hóa rau. Theo các chuyên gia
đến từ Viện nghiên cứu Thực phẩm Anh, ngoài khả năng tiêu diệt các tế
bào ung thư ruột kết, AITC còn có thể ngăn chặn sự xâm lấn của khối u.
Kết quả nghiên cứu được
tuyên bố đúng vào thời điểm Quỹ Ung thư Thế giới (WCRF) thông báo kế
hoạch triển khai một nghiên cứu quy mô nhất từ trước tới nay về chế độ
dinh dưỡng và căn bệnh ung thư. Trong đó, các nhà khoa học trên toàn cầu
sẽ được giao nhiệm vụ tìm hiểu hơn 10.000 công trình liên quan, nhằm
thiết lập một hướng dẫn tổng hợp, cụ thể và đáng tin cậy về loại thực
phẩm nào con người cần ăn để chống ung thư. Nghiên cứu dự kiến sẽ được
công bố vào năm 2006.
Cho đến thời điểm này,
nội dung nghiên cứu đã được phân bổ về một số viện nghiên cứu và đại học,
trong đó các đại học ở Leeds và Bristol (Anh) sẽ chịu trách nhiệm đối
chiếu thông tin về các loại ung thư tuyến tuỵ, dạ dày, bàng quang, tuyến
tiền liệt và thận. Ở Mỹ, Đại học bang Pennsylvania sẽ tìm hiểu sâu về
ung thư miệng và vòm họng, Đại học Johns Hopkins sẽ tập trung nghiên cứu
về ung thư phổi và họng trên, Trường Kaiser Permanente sẽ nhận đề tài về
ung thư tử cung. Tại Hà Lan sẽ là ung thư ruột kết, trực tràng, gan và
túi mật; còn Viện Ung thư Italy sẽ tìm hiểu ung thư vú, buồng trứng và
cổ tử cung.
Giáo sư Martin Wiseman,
giám đốc dự án và cố vấn khoa học - y tế của WCRF, cho biết: "Bất cứ khi
nào xuất hiện một nghiên cứu mới liên quan đến dinh dưỡng và ung thư,
chúng sẽ hoặc là đối lập, hoặc là phức tạp hóa các kết quả trước đó. Hậu
quả là người dân rất dễ bị rối, nhầm lẫn, thậm chí hoảng loạn. Đó là lý
do vì sao cần phải tiến hành một công trình nghiên cứu tổng hợp, nhằm
cung cấp những lời khuyên đáng tin cậy nhất dựa trên cơ sở khoa học. Nó
sẽ làm sáng tỏ những quan niệm sai lầm và giải toả mọi nghi ngờ về dinh
dưỡng và căn bệnh ung thư từ trước tới nay".
Chuối sẽ
giảm stress?

Bạn không gầy và ốm đau,
song đầu hay bị choáng váng, người luôn mỏi mệt, uể oải và bồn chồn. Đó
là những biểu hiện thông thường nhất của chứng bệnh stress trong cuộc
sống hiện đại.
Thần kinh căng thẳng
cần được chăm sóc và tăng cường bồi bổ. Có rất nhiều loại thực phẩm hỗ
trợ cho thần kinh nhưng không gây béo. Vì vậy, việc lựa chọn đúng loại
và đúng liều lượng là bí quyết giúp tinh thần luôn sảng khoái.
Thực đơn hoàn thiện
Ăn đủ bữa và đủ chất là
yếu tố đầu tiên cần lưu ý. Trong bữa ăn cần có đủ rau, ngũ cốc và hoa
quả. Nhóm vitamin B và carbohydrate trong ngũ cốc sẽ giúp cơ thể sản
xuất đủ lượng đường glucose, đảm bảo cho cơ thể không bị hạ đường huyết
- nguyên nhân số một gây bồn chồn và cáu gắt.
Đối với thần kinh yếu...
Bột mỳ là dưỡng chất an
toàn nhất. Người có thần kinh yếu ăn thêm bánh mỳ hoặc các loại bánh quy
trong ngày. Nên lưu ý đến những loại rau quả chứa nhiều vitamin và kẽm
có tác dụng bồi bổ não như quả bơ, hồng đỏ và xoài, chuối ... Thói quen
uống đều đặn chè hà thủ ô cũng giúp tăng cường sức khỏe thần kinh.
Uống nhiều nước
Uống nước lọc vào bất
cứ lúc nào có thể. Cố gắng tiếp nhận 2-3 lít nước một ngày. Cần loại bỏ
thói quen uống các chất độc hại như cà phê, rượu, chè đen.
Làm nóng cầu chì năng
lượng...
Bằng những thực đơn sau:
- Nấu cháo gạo tẻ với
sữa 2 lần/tuần.
- Salát hoa quả gồm
chuối, dứa.
- Bữa phụ nên ăn lạc
rang, hạt điều, hạt dẻ.
Nước sinh tố: 1 quả
chuối, 1 thìa nước cốt chanh tươi, 1 thìa lạc rang bóc vỏ, 1 thìa mật
ong, 150 mg sữa tươi. Tất cả cho vào xay nhuyễn, uống không hoặc kèm với
đá bào. Trong nước sinh tố này, vitamin B6 từ chuối và mật ong sẽ tăng
cường năng lượng, sữa giàu canxi và lạc mang lại lecithin. Tất cả đều
rất có lợi cho hoạt động của não bộ.
Cây sắn
dây chữa bệnh

Củ sắn dây (Đông y gọi
là cát căn) vị ngọt cay, tính bình, có tác dụng giải độc, thải nhiệt. Nó
được dùng chữa sốt, nhiệt ở miệng, nhức đầu do sốt, khát nước, đi lỵ ra
máu. Ngày dùng 8-20 g dưới dạng thuốc sắc.
Một số đơn thuốc có củ
sắn dây:
- Chữa cảm mạo sốt cao:
Củ sắn dây 8 g, ma hoàng 5 g, quế chi 4 g, đại táo 5 g, thược dược 4 g,
sinh khương 5 g, cam thảo 4 g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia 3 lần
uống trong ngày.
- Bột rắc những nơi mồ
hôi ẩm ngứa: Bột sắn dây 5 g, thiên hoa phấn 5 g, hòa thạch 20 g, trộn
đều, tán nhỏ, rắc những nơi ẩm ngứa.
- Chữa trẻ sốt: Củ sắn
dây 20 g, thêm 200 ml nước sắc còn 100 ml, cho trẻ uống trong ngày.
- Chữa rắn cắn: Khi bị
rắn độc cắn, lấy lá sắn dây tươi giã vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết
rắn cắn.
BS Ngô Trường
Giang, Sức Khoẻ & Đời Sống
Tác dụng chữa bệnh của rau
muống

Rau muống có thể thải
trừ cholesterol máu và chống tăng huyết áp. Vì vậy, những người bị chứng
huyết áp cao, cholesterol máu cao, cơ thể gầy khô nên ăn nhiều loại rau
này.
Theo Đông y, rau muống
vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng giải độc, thông đại tiểu tiện, chữa
táo bón, đái rắt. Dân gian dùng rau muống để phòng và chữa một số chứng
bệnh thường gặp:
- Làm mất tác dụng của
những thuốc đã uống, giải độc: Rau muống rửa sạch giã nát, vắt lấy nước
uống.
- Chữa vết thương, vết
mổ sâu rộng: Ăn rau muống hằng ngày kích thích sinh da chóng đầy miệng (những
trường hợp có cơ địa sẹo lồi không nên dùng trong thời gian chưa liền
sẹo).
- Giảm đường máu: Bệnh
nhân tiểu đường nên dùng rau muống thường xuyên.
- Chữa dị ứng bội nhiễm
ngoài da: Rau muống tươi một nắm rửa sạch, đun sôi kỹ, để vừa ấm, rửa
chỗ thương tổn. Hoặc: Rau muống 30 g, râu ngô 15 g, mã thầy (củ năn) 10
củ. Sắc uống hằng ngày đến khi khỏi.
BS Lưu Mạnh Hùng,
Sức Khoẻ & Đời Sống
Hành ta, hành tây -
thuốc quý của mọi nhà

Để rút kim, gai nằm
trong vết thương, lấy hành ta 5 phần, muối 1 phần giã nát, đắp vào vết
thương rồi dán băng dính, để qua đêm; gai, kim sẽ ra. Còn để đuổi muỗi,
nên cắt đôi vài củ hành tây đặt vào giường, muỗi sẽ không dám bén mảng
đến.
Các nhà dược học cho
biết, hành chứa chất kháng sinh alixin, có khả năng diệt khuẩn rất mạnh.
Trong hành tây còn có chất phytonxit là loại kháng sinh mạnh. Theo Đông
y, hành ta vị cay, tính bình, không độc, có khả năng giải cảm, hoạt
huyết, dùng làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, sốt
cảm, nhức đầu, mặt phù thũng, làm an thai, sáng mắt, lợi ngũ tạng. Hành
còn kích thích thần kinh, làm tăng bài tiết dịch tiêu hóa, phòng ngừa ký
sinh trùng đường ruột, trị tê thấp. Dùng ngoài chữa mưng mủ. Nước hành
nhỏ mũi giúp chữa ngạt mũi cấp tính, mạn tính, viêm niêm mạc mũi.
Hành tây còn dùng chữa
ho, trừ đờm, kích thích tiết mồ hôi, lợi tiểu, chống phù thũng, trị bệnh
cổ chướng, tiểu đường, giúp ngủ ngon, làm tiêu nhanh các chất bột, trừ
giun đũa, trừ ho, chống béo phì, xơ cứng động mạch, kích dục, chống muỗi,
dĩn. Dùng ngoài trị áp xe, chín mé, mụn nhọt, chân nứt nẻ, mụn cóc, đau
nửa đầu, đau dây thần kinh ngoại biên. Hành sống có tác dụng mạnh hơn.
Các bài thuốc có
hành:
- Cảm cúm, nhức đầu:
Lấy hành ta 6-8 củ, gừng sống 10 g, xắt mỏng, đổ vào 1 cốc nước sôi,
xông miệng mũi mỗi ngày 2-3 lần. Đồng thời, nên sắc nước gừng và hành để
uống (1 ly giữa bữa ăn và 1 ly trước khi đi ngủ).
- Động thai: Hành ta
tươi 60 g, sắc uống dần đến khi yên thai thì thôi.
- Nhau thai không ra:
Dùng 4-5 củ hành ta, nhai nuốt.
- Tăng huyết áp: Hành
tây 2-3 củ xắt lát, trộn đường ăn, hoặc nấu nước uống thường xuyên. Uống
4-5 lần, huyết áp sẽ hạ.
- Trị phong thấp: 3 củ
hành tây xắt lát, đổ 1 lít nước, đun 10-15 phút. Ngày uống 2 ly vào sáng
và tối lúc bụng đói.
- Tiêu chảy: Vỏ lụa
hành tây 1 nắm. Đun nước uống trong ngày.
- Tắc ruột do giun đũa:
Lá hành tươi 30 g giã nát, trộn với 30 g dầu vừng (dầu mè). Uống ngày
2-3 lần.
Lương y Minh
Chánh, Sức Khoẻ & Đời Sống
Các
bài thuốc từ cây ổi

Các bệnh nhân tiểu
đường có thể lấy quả ổi 250 g rửa sạch, thái miếng, dùng máy ép lấy nước,
chia uống 2 lần trong ngày; hoặc dùng lá ổi khô 15-30 g sắc uống mỗi
ngày.
Ổi có tên khoa học là
Psidium guajava L., dân gian còn gọi là phan thạch lựu, thu quả, phan
nhẫm, bạt tử, lãm bạt, phan quỷ tử... Các nghiên cứu dược lý cho thấy,
dịch chiết từ các bộ phận của cây ổi đều có khả năng kháng khuẩn, làm
săn se niêm mạc và cầm đi lỏng.
Theo dược học cổ truyền,
lá ổi vị đắng, tính ấm, có công dụng tiêu thũng, giải độc, chỉ huyết.
Quả ổi vị ngọt hơi chua, tính ấm, có công dụng kiện vị, cố tràng. Các bộ
phận của cây ổi thường được dùng để chữa những bệnh như tiết tả (đi lỏng),
cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm dạ dày ruột cấp và mạn tính, sang thương xuất
huyết, tiêu khát (tiểu đường), băng huyết...
Một số bài thuốc cụ thể:
1. Viêm dạ dày - ruột
cấp và mạn tính:
- Lá ổi non sấy khô,
tán bột, uống mỗi lần 6 g, mỗi ngày 2 lần.
- Lá ổi 1 nắm, gừng
tươi 6-9 g, muối ăn một ít, tất cả vò nát, sao chín rồi sắc uống.
- Quả ổi, xích địa lợi
và quỷ châm thảo, mỗi thứ từ 9-15 g, sắc uống.
2. Lỵ mạn tính:
- Quả ổi khô 2-3 quả,
thái phiến, sắc uống.
- Lá ổi tươi 30-60 g
sắc uống.
3. Trẻ em tiêu hóa
không tốt:
- Lá ổi 30 g, hồng căn
thảo (tây thảo) 30 g, hồng trà 10-12 g, gạo tẻ sao thơm 15-30 g, sắc với
1.000 ml nước, cô lại còn 500 ml, cho thêm một chút đường trắng và muối
ăn, uống mỗi ngày. Trẻ 1-6 tháng tuổi chỉ uống mỗi ngày 250 ml.
4. Tiêu chảy:
- Búp ổi hoặc vỏ dộp ổi
20 g, búp vối 12 g, búp hoặc nụ sim 12 g, búp chè 12 g, gừng tươi 12 g,
rốn chuối tiêu 20 g, hạt cau già 12 g, sắc đặc uống.
- Búp ổi 12 g, vỏ dộp
ổi 8 g, gừng tươi 2 g, tô mộc 8 g, sắc với 200 ml nước, cô còn 100 ml.
Trẻ 2-5 tuổi mỗi lần uống 5-10 ml, cách 2 giờ uống 1 lần. Người lớn mỗi
lần uống 20-30 ml, mỗi ngày 2-3 lần.
- Với tiêu chảy do lạnh,
dùng búp ổi sao 12 g, gừng tươi 8 g nướng cháy vỏ, hai thứ sắc cùng 500
ml nước, cô còn 200 ml, chia uống 2 lần trong ngày. Hoặc: Búp ổi hay lá
ổi non 20 g, vỏ quýt khô 10 g, gừng tươi 10 g nướng chín, sắc với 1 bát
nước, cô còn nửa bát, uống nóng. Cũng có thể lấy búp ổi 60 g, nụ sim 8
g, riềng 20 g, ba thứ sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 g
với nước ấm.
- Với tiêu chảy do nóng
(thấp nhiệt), dùng vỏ dộp ổi 20 g sao vàng, lá chè tươi 15 g sao vàng,
nụ sim 10 g, trần bì 10 g, củ sắn dây 10 g sao vàng, tất cả tán bột,
người lớn mỗi lần uống 10 g, trẻ em uống bằng nửa liều người lớn. Hoặc:
Vỏ dộp ổi sao vàng 20 g, vỏ duối sao vàng 20 g, vỏ quýt sao vàng 20 g,
bông mã đề sao vàng 20 g, sắc đặc uống nóng. Cũng có thể lấy bột vỏ dộp
ổi 8 phần, bột gạch non 2 phần, trộn đều, luyện thành viên, mỗi lần uống
10 g, mỗi ngày 2 lần.
- Với tiêu chảy do công
năng tỳ vị hư yếu, dùng lá hoặc búp ổi non 20 g, gừng tươi nướng cháy 10
g, ngải cứu khô 40 g, sắc cùng 3 bát nước, cô còn 1 bát, chia uống vài
lần trong ngày.
- Với trẻ em đi lỏng,
dùng lá ổi tươi 30 g, rau diếp cá 30 g, xa tiền thảo 30 g, sắc kỹ lấy 60
ml, trẻ dưới 1 tuổi uống mỗi lần 10-15 ml, trẻ 1-2 tuổi uống 15-20 ml,
mỗi ngày 3 lần.
5. Băng huyết: Quả ổi
khô sao cháy tồn tính, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 9 g pha với
nước ấm.
6. Đau răng: Vỏ rễ cây
ổi sắc với dấm chua, ngậm nhiều lần trong ngày.
7. Thoát giang (sa trực
tràng): Lá ổi tươi lượng vừa đủ, sắc kỹ lấy nước ngâm rửa hậu môn. Có
thể kết hợp dùng quả ổi khô sắc uống.
8. Mụn nhọt mới phát:
Lá ổi non và lá đào lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát rồi đắp lên vùng tổn
thương.
Lưu ý: Không dùng ổi
cho những người đang bị táo bón.
ThS Hoàng Khánh
Toàn, Sức Khoẻ & Đời Sống
Cây hướng dương - vị thuốc
quý

Để chữa cao huyết áp,
có thể dùng lá hướng dương khô 30 g (hoặc 60 g lá tươi), thổ ngưu tất 30
g, sắc nước uống thay trà trong ngày. Còn với chứng ù tai, mỗi ngày nên
dùng vỏ hạt hướng dương 15 g, sắc lấy nước uống.
Hướng dương còn được
gọi là hướng dương quỳ tử, thiên quỳ tử, quỳ tử, quỳ hoa tử; tên khoa
học Helianthus annuus L. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy, chất
phosphatide trong hạt hướng dương có tác dụng dự phòng các chứng cao mỡ
máu cấp và tăng cholesterol máu mạn tính. Chất axit Linolenic trong hạt
hướng dương có tác dụng chống hình thành huyết khối đối với chuột thí
nghiệm.
Theo Đông y, toàn bộ
cây hướng dương đều có thể dùng làm thuốc:
- Hạt: Vị ngọt, tính
bình, không độc, dùng chữa tinh thần uất ức, thần kinh suy nhược, chán
ăn, đau đầu do suy nhược, đi lỵ ra máu, sởi không mọc được.
- Vỏ hạt: Chữa tai ù.
- Hoa: Có tác dụng trừ
phong, sáng mắt, dùng chữa đầu choáng váng, mặt sưng phù, thúc sinh cho
phụ nữ.
- Khay hạt: Chữa đau
đầu, mắt hoa, đau răng, đau dạ dày và bụng, phụ nữ thống kinh, sưng đau
lở loét.
- Lá: Tăng cường tiêu
hóa và chữa cao huyết áp.
- Lõi thân cành: Chữa
tiểu tiện xuất huyết, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện khó.
- Rễ: Chữa đau tức ngực,
sườn và vùng thượng vị, thông đại tiểu tiện, mụn nhọt lở loét chảy nước
vàng.
Một số bài thuốc:
- Ho gà: Dùng lõi thân
và cành cây hướng dương 15-30 g, giã nát, hãm nước sôi, thêm đường trắng
và uống trong ngày.
- Thượng vị đau tức do
ăn không tiêu: Dùng rễ cây hoa hướng dương, hạt mùi, tiểu hồi hương mỗi
vị 6-10 g, sắc nước uống.
- Kiết lỵ đại tiện xuất
huyết: Dùng hạt hướng dương (đã bóc vỏ) 30 g, hãm với nước sôi trong 1
tiếng, pha thêm chút đường phèn uống trong ngày.
- Đại tiện không thông:
Dùng rễ cây hoa hướng dương giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm chút mật
ong uống. Mỗi lần uống 15-30 g, ngày uống 2-3 lần.
- Chữa tiểu nhỏ giọt,
dương vật đau buốt: Dùng rễ cây hoa hướng dương tươi 30 g sắc với nước
uống (chỉ đun sôi một vài phút, không nấu quá lâu sẽ mất tác dụng). Hoặc
dùng lõi thân và cành cây hướng dương 15 g, sắc nước uống mỗi ngày 1
thang, dùng liên tục trong nhiều ngày.
- Tinh hoàn sưng đau:
Dùng rễ cây hoa hướng dương 30 g, sắc với đường đỏ uống.
- Sỏi thận, sỏi đường
tiết niệu: Dùng lõi thân cành cây hướng dương một đoạn dài 1 mét, cắt
ngắn, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong một tuần.
- Đau bụng kinh: Dùng
khay hạt hướng dương 30-60 g, sắc lấy nước, hòa thêm đường đỏ uống trong
ngày.
- Viêm tuyến vú: Dùng
khay hạt hướng dương bỏ hết hạt, thái nhỏ, sao vàng, tán thành bột mịn.
Ngày uống 3 lần, mỗi lần 9-15 g, hòa với rượu hoặc nước sôi, sau khi
uống lần thứ nhất nếu ra mồ hôi thì mới có kết quả (Trung dược đại từ
điển).
- Ung nhọt sưng tấy, lở
loét: Dùng khay hạt thiêu tồn tính, nghiền thành bột mịn, hòa với dầu
vừng bôi vào chỗ bị bệnh.
- Ngoại thương xuất
huyết: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương giã nát, đắp vào chỗ chảy
máu.
- Đau răng: Hoa hướng
dương phơi hoặc sấy khô, nhồi vào tẩu thuốc lá hoặc nõ điếu cày, hút như
thuốc lá hoặc thuốc lào. Hoặc: Dùng khay hạt hướng dương, rễ câu kỷ tử
mỗi thứ 10-15 g, luộc với trứng gà, ăn trứng gà và uống nước thuốc.
Lương y Huyên
Thảo, Sức Khoẻ & Đời Sống
---o0o---
Source:
http://www.caycanhvietnam.com/
Sưu tầm: Diệu Mỹ;
Trình bày: Jacinta & Anna