Tấm lòng rộng mở
THUẦN
HÓA TÂM HỒN
Nguyên tác:
Taming the Monkey Mind
Tác giả:
Thupten Chodron
Dịch giả:
Thích Minh Thành
---o0o---
Lời nói đầu
^
Tác phẩm "Thuần Hoá Tâm Hồn" hay "Cẩm Nang Ðạo Ðức Hằng Ngày của Người
Phật Tử" do Tỷ-kheo-ni Thupten Chodron biên soạn mang tựa đề "Taming the
Monkey Mind" đã được đánh giá là quyển sách dành cho tất cả mọi người muốn
hiểu sâu sắc tâm hồn của mình. Tất cả các sự vật có mặt trên trần gian này
đều do tâm thức của chúng ta tạo tác ra. Tâm thức của chúng ta là vô tận,
vô biên và vô lượng. Trở về nguồn cội uyên nguyên của tâm thức có nghĩa là
nhận ra được bản chất của chân như tánh.
Xuất phát từ một nhận thức có tính thuyết phục về đạo Phật, quyển "Thuần
Hoá Tâm Hồn" được viết với một văn phong hiện đại, trong sáng và tinh tế;
nghiêm trang nhưng vẫn đan xen đôi nét hóm hỉnh. Cách lập ngôn của tác giả
có tính cách gợi ý và sinh động, đã dành cho người đọc một khoảng trời tự
do rộng rãi để tự mình chiêm nghiệm, tự mình nhận định, chọn lọc và hành
động theo cách riêng của mình.
Thông thường những quyển sách giảng giải về giáo lý đều không thể tránh
khỏi một vài nhược điểm, như chỉ trình bày giáo nghĩa của một tông phái
nào đó mà bỏ qua giáo nghĩa của những tông phái khác. Trong tác phẩm
"Thuần Hoá Tâm Hồn" chúng ta có thể thấy những điểm như vậy không nhiều và
cũng không đụng chạm đến những tư tưởng có tính chủ đạo. Tác giả trình bày
khá cân đối về tất cả những pháp môn hay những tông phái chính. Dẫu sao
thì tác giả cũng phải chọn một truyền thống hay một pháp môn cụ thể nào đó
để tự hành trì tu tập và dùng kinh nghiệm thâm hậu đó làm nền tảng kiến
thức để trình bày cho chúng ta.
Hơn nữa, ưu điểm của quyển sách này là đã diễn giải được những ý tưởng cốt
lõi của đạo Phật về tâm thức và về đời sống của con người, đồng thời nêu
ra phương pháp vận dụng những ý tưởng đó vào việc tu tập bản thân, vào
những mối quan hệ cụ thể trong xã hội, với bạn bè, với gia đình và đồng
nghiệp. Như vậy quyển sách đã đề cập đến những vấn đề rất thiết thực trong
cuộc sống hiện đại, trong một thế giới mà mật độ dân cư càng lúc càng dầy
đặc; giá trị hiện thực của quyển sách hiển lộ rõ ràng ở đây.
Có
hai chương sách bàn về những vấn đề rất nhạy cảm, rất tế nhị, đặc biệt là
đối với nền văn hóa Ðông phương đó là vấn đề tình yêu, tính dục và hôn
nhân theo quan điểm của đạo Phật. Thông thường thì người dịch nên tránh né
đi cho "an toàn" nhưng vì muốn cung cấp thêm kiến giải cho những người
Phật tử còn trẻ tuổi, còn sống giữa "trần đời" nên người dịch bạo dạn giữ
lại hai chương này.
Mật Tông Phật giáo là một dòng truyền thừa đặc biệt của Phật giáo đã có
mặt ở Việt Nam từ rất lâu nhưng không phổ biến, vì vậy mà quần chúng dễ
dàng có cái nhìn phiến diện, sai lầm về tông phái này. Quyển "Thuần Hoá
Tâm Hồn" góp phần làm sáng tỏ một số nét thể hiện căn bản cũng như nền
tảng triết lý của Mật Tông. Ðiều thú vị là tác giả đã nêu được mối liên hệ
gắn bó giữa hình thức hành trì và nội dung tông chỉ của Mật Tông, trái
ngược với sự hiểu biết chung chung và thô thiển rằng Mật Tông chú trọng
đến thần quyền, chú thuật và những mật pháp bí ẩn...
Tác giả đã bàn thảo những vấn đề của thời đại với một cách nhìn khoáng
đạt, nhẹ nhàng, chính nhờ đó mà quyển "Thuần Hoá Tâm Hồn" không chỉ phù
hợp với hầu hết những người Phật tử dù thuộc về sơn môn nào, mà còn dành
cho tất cả mọi người, mọi giới.
Nơi đây, người dịch xin được trân trọng những lời khích lệ và sự quan tâm
giúp đỡ của nhiều vị ân nhân. Cũng xin được ghi nhận công sức đóng góp của
cư sĩ Tiểu Thanh Thiên trong việc ủng hộ tài chánh; cư sĩ Phan Cát Tâm và
cư sĩ Tâm Thủy trong việc tỉ mỉ đọc lại bản thảo.
Trong quá trình chuyển ngữ, người dịch cố gắng trung thành với những ý
tưởng trong nguyên tác nhưng vẫn hướng đến việc tạo nên một dịch phẩm
tiếng Việt dễ hiểu và hấp dẫn. Tuy nhiên, ở một số đoạn người dịch vẫn
chưa đạt được như ý muốn. Rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý độc
giả.
Người dịch
cẩn bút
Thích Minh Thành
Phần Một
NHỮNG MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG TA
I. CHA MẸ
ĐỐI VỚI CON CÁI
^
Gần gũi và rộng lượng
Mối quan hệ giữa cha mẹ và con
cái là mối quan hệ thiêng liêng nhất, quý giá nhất vì chính nhờ vào tình
thương của cha mẹ mà con cái được sinh ra và
lớn khôn. Ðây là một trong những mối quan hệ có nhiều biến chuyển, nhiều
thay đổi nhất vì mối quan hệ này trải
qua một thời gian rất dài, trong khoảng thời gian
đó, người cha, người mẹ và những người
con đã sống qua nhiều giai
đoạn khác nhau của một đời người. Vì
vậy cả hai phía đều phải nhạy bén đối với
những biến chuyển đang xảy ra trong người thân của mình
để chấp nhận và ủng hộ.
Hiện nay hạn chế sinh
đẻ là chuyện dễ dàng vì vậy mà những
cặp vợ chồng có thể kế hoạch hóa gia đình.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng hãy chờ đợi cho
đến khi khả năng tài chánh của gia đình
vững vàng thì mới nên có con. Tuy nhiên trong trường hợp bất ngờ người vợ
có thai ngoài dự tính thì hãy đón mừng đứa hài
nhi, mong rằng đứa con sẽ có một đời sống
hạnh phúc của một con người.
Ðức Phật dạy cư sĩ Thiện Sanh:
Có 5 điều mà cha mẹ nên thực hiện
đối với con cái:
- Can ngăn
con cái không cho làm những việc quấy ác.
- Tập cho con cái làm những việc thiện lành.
- Trang bị cho con cái nghề nghiệp và học thức.
- Cưới gả con cái một cách thích đáng.
- Khi đúng thời thì trao cho con cái của thừa tự.
Cha mẹ hãy can ngăn
con cái, đừng để cho chúng làm những việc có hại cho nó hay có hại
cho người khác. Cha mẹ nên khích lệ con cái san sẻ những gì mà chúng có
với những người khác và đối xử tốt với mọi
người. Nếu con cái được nuôi dạy theo hướng đạo đức thiện lành thì
chúng sẽ trở thành những người trưởng thành có nhiều hạnh phúc và có mối
quan hệ thân thiện với mọi người. Nếu con cái không
được nuôi dạy để trở nên người có
đạo đức và biết sống hạnh phúc, thì dù
có thành đạt đi chăng nữa, đời sống của chúng
cũng gặp nhiều khó khăn, đau khổ.
Cha mẹ phải là những tấm gương
cho con cái. Câu sáo ngữ: "Hãy làm theo những
điều tôi nói, đừng làm theo những gì
tôi làm" thường được dùng
để bào chữa cho những người cha hay
những người mẹ làm những điều mà họ
đã cấm cản con cái của họ làm. Thật ra
những hành động của con cái là bản sao
những hành động của cha mẹ. Vì vậy nếu
cha mẹ gian dối hay đạo đức giả thì có
nghĩa là cha mẹ dạy cho con cái của mình hãy sống gian dối và
đạo đức giả. Muốn giúp cho con cái trở thành
người tốt thì cha mẹ phải sống đời đạo đức và
đối xử tốt với mọi người.
Ðể giúp cho trẻ con phát triển
được những tính tốt, cha mẹ cần phải vui sống
với chúng. Mặc dầu cả cha lẫn mẹ cần phải làm việc
để mưu sinh nhưng không nên trở thành
những người quá ‘tham công tiếc việc’. Làm việc ngoài giờ
để kiếm thêm thu nhập thì có vẻ hấp
dẫn, nhưng nếu số tiền đó phải dùng
để trả cho những chuyên viên tư vấn về
khủng hoảng tâm lý cho trẻ con, và căn gốc
của sự khủng hoảng là vì chúng cảm thấy không
được cha mẹ thương yêu, thì số tiền
kiếm thêm ấy có nghĩa lý gì? Tương tự như vậy, nếu cha mẹ làm việc quá sức
và chính bản thân cha mẹ cảm thấy bị căng
thẳng về tâm lý, suy giảm sức khỏe và số tiền kiếm
được kia còn phải dùng
để mua thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc giảm
đau, hoặc là để trả cho việc trị bệnh
ung bướu hay bệnh tim mạch, thì số tiền kiếm thêm ấy có nghĩa lý
gì? Tương tự như vậy, nếu cha mẹ phải dùng số tiền kiếm thêm kia
để đi nghỉ mát mà không mang con trẻ
đi theo vì sợ chúng quấy nhiễu thì còn
đâu không khí đầm ấm và hạnh phúc của
gia đình. Làm việc quá sức là tự
đánh gục mình và sẽ ngã quỵ trên con
đường xây dựng hạnh phúc.
Hơn nữa, những
đứa trẻ ngày nay thiếu mất tình thương
và sự trìu mến từ cha mẹ. Ngay cả khi cha mẹ trả hết mọi phí khoản cho con
trẻ học nhạc, học nghệ thuật, tham gia những hoạt
động thể thao mà nếu
đứa trẻ không cảm thấy được thương yêu
thì tất cả những thứ đó đều không thể làm
cho chúng trở nên những người trưởng thành có hạnh phúc. Xã hội Tây phương
đang phải chứng kiến trước mắt sự gia tăng
đáng sợ của tội ác, nghiện ngập, ly dị và trẻ con phạm pháp. Không
ít nguyên nhân của sự gia tăng đáng sợ trên
là do cấu trúc của gia đình bị
đổ vỡ và cha mẹ
đã không dành
đủ thời giờ vui sống với con trẻ. Hy vọng là
những xã hội Á châu đang hiện đại hóa ngày
nay học được những bài học sai lầm của
Tây Âu để có thể khỏi phải đến phiên
mình phải mục kích trước mắt những hậu quả
đáng tiếc trên. Kiếm được tiền với giá
là gia đình không
đầm ấm thì quả là một vấn
đề phải suy nghĩ.
Cha mẹ nên tận lực lo cho con
ăn học nhưng tất cả phải phù hợp với
khả năng và sở thích của nó. Nếu một
đứa trẻ không có khả năng và
đam mê âm nhạc thì tại sao cha mẹ lại
bắt buộc chúng phải học những gì mà chúng không yêu thích. Ngược lại, nếu
một đứa trẻ có thiên phú và ham thích
địa chất học thì cha mẹ nên khích lệ
nó theo ngành địa chất.
Trong xã hội hiện
đại, ngay từ tuổi ấu thơ trẻ con đã
phải chịu áp lực của việc học hành, chúng phải học thật nhiều và cố gắng
tối đa để trở thành học sinh giỏi
nhất, đạt thành tích tốt nhất. Ðiều
này đã tạo ra nhiều vấn
đề bất ổn về tâm lý vì trẻ con rất
cần thời giờ để chỉ là trẻ con và
để chơi đùa. Chúng nó cần phải có
được điều kiện khám phá những công việc mới
lạ mà không bị so hơn so kém với đứa
khác và được học mà không phải
làm những bài kiểm tra để bị chấm điểm, để có
danh hiệu này danh hiệu nọ. Con trẻ
được thương yêu vì con trẻ là con trẻ, như thế là như thế; chớ
không phải con trẻ được cha mẹ thương yêu
vì chúng đã phải làm
được điều tốt nhất.
Trong xã hội ngày nay cha mẹ
không phải quan tâm sắp xếp việc hôn phối của con cái như ngày xưa nữa.
Ngày xưa thì công việc làm ăn của gia đình
được chuyển giao cho con cái khi con cái có
đủ năng lực quản lý; ngày nay thì không nhất thiết phải như vậy.
Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ rằng, trong xã hội ngày nay, cha mẹ nên cung ứng
những điều kiện vật chất và thể chất
tốt nhất theo khả năng cao nhất của mình.
Cha mẹ nên quan tâm
đến những nhu cầu vật chất và thể chất
của trẻ con một cách thực tiễn. Dĩ nhiên, cha mẹ không thể nào thỏa mãn
mọi yêu cầu của chúng, vượt quá khả năng tài
chánh của mình. Ðáp ứng mọi thứ mà trẻ con muốn chưa hẳn là có lợi cho
chúng mà nhiều khi còn làm cho trẻ con trở thành những
đứa con đua đòi, ỷ lại. Khi những thứ
mà trẻ con ham muốn mà cha mẹ không đáp ứng
được thì họ có thể giải thích là những thứ
đó quá đắt tiền hoặc những thứ đó là
không có bán. Rất ích lợi cho trẻ con nếu cha mẹ dạy cho trẻ con hiểu rằng
dầu cho trẻ con có được những thứ đó thì
chưa chắc chúng có được hạnh phúc hoàn
toàn; và nếu như trẻ con cứ ‘làm dữ’ thì tình trạng của chúng sẽ trở nên
tệ hại hơn nữa. Cha mẹ nên giải thích cho trẻ con sự lợi lạc của việc san
sẻ những vật chất mà chúng có với những người khác.
Qua việc giúp
đỡ trẻ con thích ứng với những ước mong không
được thỏa mãn của chúng, cha mẹ chỉ bày cho trẻ con thấy
được phương cách để làm cho bản thân
chúng giảm đi tánh hay vướng mắc, ngăn ngừa
trẻ con xem những gì chúng đang hưởng
được là tất nhiên, đồng thời giúp cho
chúng biết suy nghĩ đến những nhu cầu và những ước mong của người
khác. Thường thì tâm hồn trong sáng của trẻ con hiểu nhanh hơn người lớn,
hãy tin điều này. Khi một
điều gì
đó được giải thích với một thái độ trầm tĩnh, có biện chứng và giải
thích nhiều lần với những minh họa cụ thể đặt
trong nhiều tình huống khác nhau, trẻ con sẽ hiểu.
Trẻ con, một cách vô thức, xây
dựng hình tượng của bản thân chúng dựa theo lời mà những người lớn chung
quanh nói về chúng. Nếu trẻ con thường xuyên bị mắng là nghịch ngợm và ngu
ngốc thì nghịch ngợm và ngu ngốc sẽ trở nên một ý niệm về bản thân của
chúng rồi dần dần chúng trở thành nghịch ngợm và ngu ngốc. Vì vậy
điều quan trọng là thường xuyên khen
tặng và nói lời thừa nhận về những điều tốt
đẹp mà chúng đã làm
được.
Khi chỉnh sửa những lầm lỗi của
trẻ con thì cha mẹ nên cố gắng giải thích cho chúng hiểu rõ tại sao những
hành động lầm lỗi như thế là có hại.
Một điều quan trọng nữa là làm sao cho
đứa trẻ nhận ra được là chúng
đã phạm sai lầm và
đồng thời cũng biết rằng tuy là chúng
đã làm
điều có lỗi nhưng điều đó không có nghĩa là chúng
đã trở thành người xấu. Nếu con trẻ
bắt đầu nghĩ rằng bản thân chúng là
xấu - thay vì nghĩ rằng hành động đó là
xấu - thì chúng bắt đầu hình dung ra
một hình tượng xấu của bản thân chúng và phát triển theo chiều hướng xấu
đó.
Ðôi khi
để bắt buộc đứa trẻ phải nghe theo một điều
quan trọng, cha mẹ có thể cần phải nói một cách quyết liệt, nhưng trong lòng
của cha mẹ lúc đó nên tràn ngập lòng
từ ái, chớ không nên có một chút giận dữ. Bằng cách như vậy cha mẹ khiến
cho người con biết rằng hành động đó là
không nên làm thêm một lần nào nữa. Cha mẹ không giận dữ cũng không chối
bỏ con của mình chỉ vì nó đã làm hành
động đó.
Làm cha mẹ có nghĩa là phải
bước đi trên sợi dây thăng
bằng giữa hai cực đoan đối nghịch nhau. Một bên là quan tâm săn
sóc quá độ và bên kia là bỏ quên chúng
đi, không chịu hướng dẫn chúng những điều mà chúng cần
được hướng dẫn, không chịu giúp chúng những
khi mà chúng cần được giúp đỡ.
Ðể có thể tránh được cực đoan thứ nhất, tránh
được thái độ chấp mắc và xem con cái là sở hữu thì làm cha mẹ phải
nhớ rằng con cái không phải là vật sở hữu hay là tài sản của họ. Con cái
là những con người có cá tính và đầy đủ nhân
vị; chúng đang hình thành nhân cách riêng và có quyền có những ý
kiến và những quyết định theo ý nghĩ của
riêng chúng.
Qua việc chấp giữ con của mình
quá độ, cha mẹ đã tạo nên một hoàn
cảnh mà bản thân cha mẹ sẽ không có hạnh phúc vì rằng làm sao mà
đứa con đó có thể luôn luôn ở bên cạnh
cha mẹ được khi mỗi ngày nó mỗi lớn
lên. Với sự chấp giữ như vậy thì khi mà đứa
con lớn khôn và có nhu cầu độc lập cao
hơn thì cha mẹ sẽ cảm thấy khó chịu vì họ bắt
đầu không còn có thể gần gũi và kiểm
soát chặt chẽ được những hành vi của
người con nữa. Lúc đó, cha mẹ bị bắt buộc
phải để cho bản thân đứa con tự quyết định nhiều việc.
Nhiều bậc cha mẹ cứ nói
đi nói lại mãi
điều mà con cái nên làm và
điều mà chúng không nên làm nhưng
không hề có ý định giải thích hay thảo luận
với chúng tại sao phải làm và tại sao không
được làm như vậy. Họ chỉ muốn con cái
tuân theo lời họ đã bảo. Thật ra cũng
có trường hợp làm như vậy là đúng. Ðặc
biệt là trong trường hợp sinh mạng của đứa
trẻ bị đe dọa và đứa trẻ chưa có đủ
nhận thức và khả năng quyết định đúng
đắn.
Tuy nhiên cứ mãi bảo ban
điều phải làm và
điều không được làm mà không chịu giải
thích thì không giúp cho đứa trẻ phát triển
khả năng phán xét. Và điều đó cũng
không giúp cho đứa trẻ trở nên dạn dĩ hơn khi bàn bạc những vấn
đề khó khăn của chúng với cha mẹ để có được
những lời khuyên thích đáng. Trẻ con
cảm thấy thân mật với cha mẹ khi nào cha mẹ tỏ ra chịu lắng nghe,
cố gắng thấu hiểu chi tiết những điều chúng
muốn nói, và chịu bàn luận với chúng. Khi cha mẹ chịu khó giải
thích cho đứa trẻ biết tại sao hành
động như vậy là có hại và tại sao hành
động như thế là có lợi ích thì
đứa trẻ sẽ phát triển khả năng phán định để
có những quyết định thích đáng khi trưởng thành. Làm
được như vậy là giúp trẻ con biết suy
nghĩ một cách rõ ràng minh bạch và có những hành
động tốt đẹp. Sau một thời gian rèn
tập cho chúng biết suy nghĩ chín chắn, cha mẹ sẽ cảm thấy yên tâm và
đặt niềm tin tưởng nơi chúng. Do đó, giải
quyết được vấn đề "tranh giành quyền lực" trong gia
đình, một việc rất thường xảy ra ở lứa
tuổi 13 - 19.
Cha mẹ không thể nào làm cho
đứa con của họ thành một
đứa bé lý tưởng theo như trí óc của họ đã
hình dung ra. Mỗi đứa trẻ có những thiên
tư riêng, và những thiên tư đặc biệt này
tương ứng hoặc không tương ứng với điều mà
cha mẹ mong muốn nơi chúng. Cha mẹ không có thể mong mõi
đứa con sống theo mơ ước riêng của cha
mẹ. Là người hướng dẫn cho đứa con chọn nghề
nghiệp, người hôn phối và những trò tiêu khiển thì cha mẹ phải
để tâm tới những điều mà
đứa trẻ ham thích chớ không phải những điều mà
bản thân cha mẹ ham thích. Những bậc cha mẹ sáng suốt chấp nhận những
đứa con của họ như thế và
đồng thời giúp chúng phát triển thuận theo
những năng lực và khuynh hướng riêng của chúng.
Một cực
đoan khác là quên
đứa trẻ đi. Quả thật là không may,
trong một xã hội bận rộn hiện đại điều này
xảy ra rất thường xuyên. Nhiều khi để cung
cấp cho trẻ con thật đầy đủ về mặt vật chất, cha mẹ đã phải làm
việc nhiều đến nỗi không có thời gian dành
cho con cái, cũng không có thời gian để biểu
lộ sự thương yêu hay hướng dẫn những
điều mà chúng nó đang cần. Cha mẹ cần
phải sắp xếp thời gian cho thích đáng. Tốt hơn là làm việc ít hơn
một chút để có một gia đình
đầm ấm hơn.
Làm cha mẹ là một
điều có nhiều thử thách và có thể làm
cho phong phú thêm việc tu tập theo Chánh pháp. Những bài giáo lý về vô
thường rõ ràng và thấm thía hơn khi những đứa
con chuyển biến, lớn dần lên. Sự bất lợi của cơn giận dữ và tầm
quan trọng của lòng kiên nhẫn bây giờ đã
trở nên rõ ràng trong những lần cha mẹ đánh
mất mình trong cơn giận rồi cảm thấy bất lực
đối với đứa con mà mình muốn giúp
đỡ. Một lóe sáng về tình thương rộng
lớn đối với tất cả mọi sinh linh những khi mà
cha mẹ nghĩ đến việc thương yêu mọi
người như thương yêu chính con ruột của mình. Với việc tu tập chánh niệm
cả cha mẹ lẫn con cái có thể cùng tiến bộ với nhau trong việc phát triển
nhân cách.
Hiểu biết cha mẹ của chúng ta
Ngày nay, vấn
đề "Trách nhiệm của con cái
đối với cha mẹ" là một vấn
đề tế nhị. Trong xã hội nơi mà cấu
trúc gia đình
đang bị suy thoái, nhiều người con đã
quên đi nghĩa vụ giúp đỡ cho cha mẹ. Nhiều
trường hợp cha mẹ cứ mải mê tìm cách làm thỏa mãn những mong ước và
những nhu cầu của con cái, nên con cái đã
xem lòng tốt này như là một cái gì tất nhiên và cứ
đòi hỏi cha mẹ mọi thứ trên
đời. Khi mà
đứa trẻ đã có suy nghĩ và hành
động như vậy thì
điều đó không những làm
đau lòng cha mẹ mà còn khiến cho
đứa trẻ cảm thấy lạc lõng và cô
đơn.
Ngành tâm lý học ngày nay
đã nhận thấy rằng những bất an trong
cá tính của một người có nguồn gốc là những sự kiện xảy ra trong thời thơ
ấu. Biết được sự việc nhưng không có nhận
thức sâu sắc, một số người đã oán hận và nghĩ rằng tất cả những vấn
đề khổ sở của họ là do cha mẹ tạo nên.
Ðiều kiện trưởng thành của chúng ta đúng là
đã có một ảnh hưởng quan trọng
đối với chúng ta. Nhưng nếu chúng ta xem cha
mẹ là ngọn nguồn của những khổ sở tức là chúng ta
đang tự mình chấp nhận sống trong
trạng thái tâm lý của một nạn nhân. Chúng ta vướng mắc vào ý nghĩ cho
rằng: "Cha mẹ tôi đã làm như vậy
như vậy nên giờ đây tôi phải khổ sở như thế này"
có nghĩa là chúng ta ngăn cản sự phát triển
của bản thân. Vướng mắc vào ý nghĩ đó
không giúp chúng ta phát triển nhân cách được chút nào cả. Chúng ta
nên tự mình nhận lấy tinh thần trách nhiệm
đối với những sự bất an và những khổ sở mà chúng ta
đang gặp phải trong hiện tại và có
những hành động để điều chỉnh chúng.
Quả thật có những
đứa trẻ đã lớn lên trong những gia
đình tồi tệ, chúng
đã bị bỏ quên hay bị cha mẹ lạm dụng.
Những đứa trẻ này cần phải
được những tấm lòng nhân ái trong xã
hội giúp đỡ để chúng khỏi phải tự nguyền rủa
vì sự có mặt của chúng đã khiến
cho cha mẹ gặp những vấn đề khổ sở. Những đứa
trẻ này cũng không nên đi đến một cực
đoan khác là nguyền rủa cha mẹ, xem đó
là những người đã làm cho chúng
phải khổ sở. Nguyền rủa chỉ làm cho vết thương càng trở nên tồi tệ hơn.
Hiểu biết và tha thứ sẽ có tác dụng chữa lành những vết thương
đó.
Thông thường thì chúng ta rất
giỏi trong việc thấy những lầm lỗi của người khác nhưng chúng ta lại tỏ ra
yếu kém trong việc nhớ lại những phẩm chất và hành vi tốt
đẹp của họ. Ðặc biệt là trường hợp của
cha mẹ. Không cần phải cố gắng cũng có thể thấy và chỉ trích những lầm lỗi
và những hạn chế của cha mẹ chúng ta; không cần phải cố gắng cũng thấy
rằng hiện tại chúng ta đang phải gánh lấy hậu
quả của những lầm lỗi và hạn chế đó.
Khi chúng ta còn nhỏ, cha mẹ của chúng ta có thể
đã làm những việc có tác dụng xấu
đối với chúng ta nhưng trong thâm tâm thì
cha mẹ của chúng ta nghĩ rằng đó là
điều tốt nhất mà họ
đã làm
được cho chúng ta; chúng ta nên nghĩ
đến tình trạng tâm lý bên trong của cha mẹ và hoàn cảnh mà lúc
đó cha mẹ phải sống như thế nào. Suy
nghĩ theo cách này thì chúng ta sẽ hiểu biết và tha thứ, sẽ làm dịu
đi những cơn đau khổ do sự oán hận và
bất bình mang lại.
Nếu chúng ta phàn nàn rằng cha
mẹ của chúng ta không hiểu chúng ta và không chấp nhận chúng ta với những
gì chúng ta đang là, thì chúng ta cũng
nên tự hỏi là chúng ta có hiểu và chấp nhận cha mẹ với những gì cha mẹ
đang là hay không. Cha mẹ với những
lầm lỗi và những điều đáng trách như vậy
không bao giờ có thể giống với hình tượng của bậc cha mẹ mẫu mực mà
chúng ta thường vẽ ra trong trí óc. Làm sao có thể chấp nhận
đem cha mẹ sai lệch đời thường của chúng ta làm
mẫu mực được. Nhưng khi chúng ta có thể chấp
nhận như thế thì chúng ta sẽ trở nên hạnh phúc hơn.
Khi những
đứa trẻ nhớ về những tình thương mà
cha mẹ đã dành cho chúng thì có nhiều
lợi lạc cho đứa trẻ và cho cha mẹ. Cha
mẹ đã tạo nên thân thể của chúng ta và
săn sóc chúng khi còn trong tình trạng
bấp bênh trứng nước. Cha mẹ đã dạy cho
chúng ta bập bẹ từng chữ, từng lời nói ngây ngô
đầu tiên; cha mẹ
đã cho chúng ta
ăn học và chu cấp nhu cầu vật chất
suốt thời gian chúng ta còn thơ ấu. Nếu cha mẹ không săn
sóc cẩn thận thì chúng ta đã bị
đói khát trong nôi và rất có thể là
thân thể của chúng ta không được toàn
vẹn như ngày hôm nay. Khi còn nhỏ, chúng ta cảm thấy không hài lòng khi
chúng ta bị cha mẹ khép vào kỷ luật bởi những lỗi lầm của mình, nhưng nếu
không làm như vậy thì lớn lên chúng ta thành những con người thô bạo và vô
kỷ luật.
Ở
độ tuổi 13 đến 19 những đứa trẻ thường gặp khó khăn trong cuộc sống chung
với cha mẹ. Chúng nó tự thấy bản thân là người lớn và hay ương
ngạnh khi cha mẹ xử sự và xem chúng nó như trẻ nít. Ðối với cha mẹ thì
đứa trẻ ở độ tuổi đó vẫn là con nít và
phải quan tâm bảo bọc. Thật ra trong đôi mắt
của cha mẹ thì ngay cả khi chúng ta 60 tuổi thì chúng ta vẫn là trẻ
nhỏ. Tôi tức cười khi thấy bà nội của tôi bảo cha tôi (một người
đã 65 tuổi) là hãy mang thêm áo khoác
khi ra khỏi nhà, không khéo thì bị cảm lạnh. Nếu chúng ta chấp nhận tình
huống như vậy và nhẫn nại với cha mẹ thì mối quan hệ giữa chúng ta với cha
mẹ sẽ suôn sẻ hơn.
Rất tốt nếu bạn thấy rằng ở
độ tuổi từ 13 đến 19 thì những
đứa trẻ xử sự trước sau không nhất quán.
Nhiều khi chúng đòi hỏi cha mẹ phải làm nhiều việc giúp cho chúng
cứ như là chúng còn quá nhỏ và không thể tự săn
sóc bản thân. Cũng nhiều khi chúng lại muốn cha mẹ xử sự với chúng nó như
là những người lớn thật sự. Trong tình huống như vậy dĩ nhiên là
cha mẹ sẽ thấy bối rối. Phương pháp tốt nhất là hãy
để cho những đứa trẻ ở vào
độ tuổi này tự khẳng
định mình
đã là người lớn; nhưng là người lớn theo hướng phải biểu hiện ra
những đức tính, phải chứng tỏ là người
hữu dụng và có trách nhiệm.
Nhiều khi cha mẹ cảm thấy khó
khăn trong việc tự điều chỉnh bản thân khi
con cái khôn lớn và trở nên độc lập
hơn. Cha mẹ có cảm giác họ trở thành người thừa thãi và bị con cái
lãng quên. Hậu quả là một số cha mẹ bị trầm uất, một số khác thì lại cố
chen vào cuộc sống của con cái. Thay vì tỏ ra bực tức
đối với thái độ của cha mẹ thì con cái
có thể cố gắng thấu hiểu và quan tâm đến
những xúc cảm của cha mẹ. Chúng ta nên nhạy cảm hơn
đối với những nhu cầu tình cảm của cha
mẹ, chúng ta sẽ khẳng định với cha mẹ về tình
thương yêu kính mến của chúng ta mặc dầu càng lúc chúng ta càng trở nên
độc lập.
Ðôi khi cha mẹ của chúng ta
thấy được những nguy hiểm tiềm ẩn mà
chúng ta không thấy; cha mẹ của chúng ta có thể nhìn xa trông rộng trong
khi chúng ta chỉ thấy tình huống nhất thời trước mắt. Trong những trường
hợp này lời khuyên của cha mẹ là sáng suốt. Mặc dầu những lời khuyên của
cha mẹ dường như làm trở ngại cho những ước muốn của chúng ta nhưng thường
khi chúng ta có thể thấy được giá trị của
những lời khuyên đó. Chúng ta đừng nên
có cảm giác rằng sự tự lập của chúng ta bị tổn thương nếu như chúng ta
nghe theo những lời khuyên của cha mẹ. Tốt hơn là chúng ta nhận ra sự sáng
suốt trong đó và tự nguyện nghe theo.
Nếu chúng ta cảm thấy rằng cha
mẹ của chúng ta là vô lý thì chúng ta có thể thảo luận vấn
đề đó với cha mẹ, nhưng trước hết và
có lợi hơn hết là chúng ta hãy tự mình bình tâm lại trước
đã. Vì
đến với cha mẹ với trạng thái tâm lý bực dọc thì chúng ta chỉ làm
cho cha mẹ khó có thể nghe được điều mà
chúng ta muốn trình bày. Thử hỏi chúng ta có chịu nghe những gì một người
dữ dằn, thô bạo nói với chúng ta không?
Ngay cả khi cha mẹ của bạn vô
lý thì bạn cũng nên nhận ra rằng trong thâm tâm cha mẹ vẫn
đang có ý tốt. Cha mẹ của bạn đã hết
lòng hết sức giúp đỡ và hướng dẫn bạn.
Mặc dầu cha mẹ của bạn sai trái nhưng cha mẹ của bạn lúc nào cũng có một ý
muốn mong bạn được đàng hoàng và an
ổn. Cha mẹ của bạn có thể là thiển cận và cứ lo lắng những
điều mà
đối với bạn là vô nghĩa nhưng dù cho khả năng
của cha mẹ có bị giới hạn thế mấy đi nữa thì cha mẹ của bạn cũng có
ý hướng thiện lành. Nếu chúng ta ý thức được
như vậy thì chúng ta sẽ cảm nhận được
tình thương mà cha mẹ đã cho
chúng ta và chúng ta sẽ không lấy những chuyện như vậy làm tức giận. Chúng
ta sẽ cảm thấy biết ơn đối với những quan tâm
của cha mẹ. Hãy mang tâm trạng biết ơn như vậy mỗi khi trình bày
quan điểm của mình cho cha mẹ nghe,
giải thích quan điểm đó theo một cách khéo
léo, nhỏ nhẹ nào đó khiến cho cha mẹ
dễ hiểu và dễ tiếp nhận.
Nên nhớ rằng cha mẹ của chúng
ta cũng đã sống trong những hoàn cảnh
khó khăn và bị hạn chế bởi chính những
quan niệm có sẵn trước đó. Cha mẹ chúng ta đã
phải sống qua một hoàn cảnh xã hội khác xa với hoàn cảnh xã hội mà chúng
ta đang sống bây giờ, vì vậy mà tự
nhiên là họ có những quan niệm khác với những quan niệm của chúng ta. Sinh
ra và lớn lên như thế nên cha mẹ của chúng ta thấy rằng tất cả những quan
niệm đó đều có giá trị; cũng vậy khi sinh ra
và lớn lên như chúng ta đã sinh
ra và lớn lên thì đối với chúng ta những
khung khái niệm và quan điểm của chúng
ta thật là đúng đắn.
Nếu chúng ta chỉ nghĩ về những
khuyết điểm của cha mẹ thì chúng ta sẽ
thấy rằng cha mẹ chúng ta đầy những lỗi lầm.
Suy nghĩ như vậy thì chúng ta đã
quên đi những phẩm tính tốt đẹp của cha mẹ.
Nếu chúng ta nhớ lại những điều tốt đẹp, những sự săn sóc, thương yêu
mà cha mẹ đã cho chúng ta thì chúng ta
sẽ thấy được những phẩm tính tốt đẹp của cha
mẹ và tấm lòng của chúng ta sẽ mở rộng ra. Khi chúng ta không còn
ngang ngạnh và thô bạo thì cha mẹ của chúng ta sẽ lắng nghe những
điều mà chúng ta muốn trình bày.
Ðức Phật dạy cho cư sĩ Thiện
Sanh 5 pháp mà người con phải có đối với cha
mẹ:
- Ủng hộ, bảo vệ và chu cấp
cho cha mẹ những gì cha mẹ cần.
- Thực hiện những nhiệm vụ mà cha mẹ đã ủy thác.
- Bảo vệ danh thơm tiếng tốt của gia đình.
- Hành động và xử trí như thế nào để xứng đáng với gia sản mà cha mẹ
trao lại.
- Nhân danh cha và mẹ mà bố thí cúng dường rồi hồi hướng công
đức cho cha và mẹ.
Sống
đúng đạo nghĩa thì con cái phải thật
lòng chia sẻ những công việc tạp vụ trong nhà và làm việc
để mang lại lợi ích cho cả gia đình.
Vì cha mẹ đã nuôi nấng và dưỡng dục
con cái khi chúng còn thơ ấu nên con cái phải cảm thấy vui lòng khi
đáp đền công ơn cha mẹ khi cha mẹ bệnh hoạn
hay già yếu. Nếu trong hoàn cảnh mà bản thân con cái không thể nào
tự tay săn sóc cha mẹ được thì con cái
phải tìm người thay thế tận tình làm việc này.
Cha mẹ
đã lớn tuổi thì nhiều khi khó tánh
nhưng nếu hiểu được cuộc sống của cha mẹ hiện
tại khổ nhọc như thế nào thì chúng ta sẽ rộng lòng
đối với những điều khó khăn của người mà
mỗi ngày một già hơn. Nếu chúng ta đặt mình
vào hoàn cảnh của người già thì chúng ta sẽ cảm thông và hiểu biết hơn.
Một ngày nào đó chúng ta sẽ già
đi rồi cũng sẽ cần sự giúp đỡ, săn sóc của
con cái.
Ðể
đáp đền phần nào công ơn cao dày của cha mẹ, con cái phải sống một
đời sống hướng đến những giá trị đạo đức mà
cha mẹ đã dạy bảo họ. Con cái nên tự
mình sống đời sống thiện lành nhờ
đó cha mẹ không phải lo âu và hổ thẹn,
không bị xã hội chỉ trích. Làm được như vậy
con cái đã tự làm cho mình xứng đáng
thừa hưởng tài sản mà cha mẹ để lại.
Khi cha mẹ qua
đời thì con cái nên cúng dường và cầu
nguyện rồi hồi hướng những quả phước tốt đẹp
đến với cha mẹ, nhờ đó cha mẹ được phước báu và
được tái sinh vào cõi an lành. Ðiều
tốt nhất có thể làm ngay bây giờ là con cái nên khuyến khích cha mẹ làm
những điều thiện lành có tính cách xây
dựng và tránh những điều quấy ác tội lỗi.
Chúng ta có thể làm tất cả những phương pháp
đã được
đề cập ở trên để tạo nên một
mối quan hệ tốt đẹp với cha mẹ của chúng ta.
II. TÌNH BẠN
^
Chia sẻ và có tấm lòng
Chớ thân cận bạn ác
Chớ thân kẻ tiểu nhân
Hãy thân người bạn lành
Hãy thân bậc thượng nhân. (kinh Pháp Cú, câu78)
Bạn bè của chúng ta ảnh hưởng
đến chúng ta rất nhiều. Vì vậy việc
chọn bạn để kết giao sẽ quyết định đến sự
tiến bộ của chúng ta. Qua kinh nghiệm của chính bản thân, chúng ta có thể
thấy được mức độ tác động của bạn bè
đối với chúng ta như thế nào: Hãy nhớ lại những thời gian mà chúng
ta bị rơi vào tình trạng rối khổ và chiêm nghiệm xem những lúc ấy do chúng
ta kết thân với những người bạn không xứng
đáng nên đã chuốc lấy những
chuyện rối khổ đó như thế nào. Tương
tự như vậy, hãy nhìn lại những hạnh phúc và những hiểu biết mà chúng ta có
được do sự thân cận của chúng ta với những
người bạn có lòng.
Những phẩm chất nào
để nhận biết đó là người bạn tốt?
Những người nào chúng ta nên tránh né? Ðể ngắn gọn chúng tôi xin trình bày
một đoạn trích từ kinh Thiện Sanh nói về tình
bạn. Xem xét từng điểm và suy nghĩ
trong mối liên hệ đến những sự việc cụ thể
trong cuộc đời thì chúng ta sẽ có được
một hiểu biết rõ ràng về những mối quan hệ bè bạn của chúng ta.
Mặc dầu những
điểm sau đây chỉ cho thấy những phẩm cách mà
chúng ta cần xem người bạn của chúng ta có hay không;
điều không kém quan trọng là chúng ta
cũng phải kiểm tra xem bản thân mình có hay không có những phẩm cách này.
Ðây là cách hướng dẫn rất là thực tiễn, nó chỉ cho chúng ta những tính
cách nào tự thân chúng ta cần nên diệt trừ và những phẩm cách nào tự thân
chúng ta cần nên trau dồi. Nhờ vậy những người tốt sẽ tìm
đến chúng ta để cùng làm bạn tốt với
nhau.
Bạn xấu có bốn hạng, những
người này thật ra là kẻ cừu địch giả vờ làm
bạn đó thôi:
(1) Loại bạn
đến với chúng ta tay không và khi
đi thì trong tay phải có. Ðó là những
kẻ:
- Thăm chúng ta với ý định
lấy đi cái gì đó.
- Tặng chúng ta ít thôi và mong muốn nhận lại nhiều.
- Chỉ giúp chúng ta khi bản thân họ đang bị nguy hiểm.
- Liên hệ với chúng ta chỉ vì những động cơ vị kỷ.
(2) Loại bạn
đầu môi chót lưỡi và loại tình bạn
mỏng như cánh chuồn. Ðó là những kẻ:
- Niềm nở rồi hoang phí thời
gian của chúng ta bằng những câu chuyện về quá khứ.
- Niềm nở rồi hoang phí thời gian của chúng ta bằng những câu chuyện về
tương lai.
- Tìm cách đạt được những lợi ích từ chúng ta bằng cách xung phong giúp
đỡ những lúc chúng ta không cần sự giúp đỡ.
- Những khi chúng ta cần giúp đỡ thì họ nêu lên nhiều lý do để thoái
thác và không chịu ra tay.
(3) Loại bạn nịnh hót và giả vờ
quan tâm, săn sóc chúng ta. Ðó là
những kẻ:
- Khích lệ chúng ta khi chúng
ta làm những điều không tốt.
- Ngăn cản chúng ta khi chúng ta làm những điều tốt.
- Ở trước mặt thì khen ngợi chúng ta.
- Ở sau lưng thì chỉ trích chúng ta.
(4) Loại bạn
đưa chúng ta đến chỗ sa đọa. Ðó là
những kẻ:
- Làm người đồng hành với
chúng ta trong các buổi ăn chơi, hút sách.
- Lang thang ngoài phố với chúng ta trong đêm hôm tăm tối.
- Cùng đi xem với chúng ta những buổi biểu diễn không lành mạnh.
- Ði chơi cờ bạc với chúng ta.
Có những quan hệ bằng hữu cởi
mở và thân thiết với những hạng người như trên thì chúng ta sẽ gặp những
khó khăn và rắc rối. Tốt hơn là chúng
ta nên giữ một khoảng cách an toàn nhưng không nên chỉ trích họ. Mặc dầu
có thể cho rằng một hành động nào
đó là không tốt, chúng ta không thể
nói là người đã làm hành
động đó là một người
độc ác, không thể dung thứ. Vẫn có lòng
bi mẫn và có những mong ước tốt đẹp đối với
người đó nhưng chúng ta nhất định không chịu đồng hành vì chúng ta
biết rằng nếu đồng hành với người như
vậy chúng ta sẽ phải đi về một hướng mà
chúng ta không muốn đi.
Cũng theo cách trên Ðức Phật
miêu tả những phẩm chất của người bạn tốt. Ðó là những người mà chúng ta
có thể tin tưởng và nương tựa. Nhờ vào việc kết thân với những người như
vậy chúng ta sẽ có hạnh phúc và sẽ tiến bộ. Ðiều quan trọng không kém việc
tìm những người bạn có những phẩm chất cao thượng là chúng ta cũng phải tự
tu tập những phẩm chất cao thượng nơi tự thân của chúng ta.
Bốn dạng bạn có lòng tốt là:
(1) Người bạn giúp
đỡ chúng ta. Ðó là những người:
- Nhắc nhở mỗi khi chúng ta
cẩu thả hoặc lơ đễnh.
- Bảo vệ tài sản của chúng ta.
- Che chở và an ủi chúng ta trong những lúc chúng ta sợ hãi.
- Giúp đỡ nhiều hơn mức độ mà chúng ta yêu cầu.
(2) Người bạn quan tâm tới
chúng ta trong mọi thăng trầm của cuộc sống.
Ðó là những người:
- Tin cẩn chúng ta.
- Giữ kín những tâm sự riêng tư mà chúng ta đã thố lộ.
- Không bỏ rơi chúng ta khi chúng ta lâm nạn.
- Có thể hy sinh thân mạng cho chúng ta.
(3) Người bạn khích lệ chúng ta
đi theo đường chánh đạo và làm cho
chúng ta trở nên người tốt hơn. Ðó là những người:
- Phản đối khi chúng ta làm
những việc quấy ác.
- Khích lệ khi chúng ta làm những việc lành thiện.
- Tạo điều kiện cho chúng ta nghe những lời dạy hữu ích.
- Chỉ cho chúng ta con đường đi đến hạnh phúc.
(4) Người bạn có lòng bi mẫn và
cảm thông. Ðó là những người:
- Cảm thông cho chúng ta
những khi chúng ta thất bại.
- Hân hoan đối với những thành công và phát đạt của chúng ta mà không
ganh tỵ.
- Phản bác những ai nói xấu chúng ta.
- Tán thưởng những ai nói tốt chúng ta.
Mặc dầu những
điều được trình bày ở trên thì rất sơ
lược và chúng ta có thể có cảm giác rằng đó là
những điều chúng ta đã học từ lâu rồi,
từ khi còn bé; nhưng điều quan trọng là
hãy suy xét lại những mối quan hệ bằng hữu của chúng ta, những hành
động của chúng ta đối với tình bằng
hữu để đánh giá lại mức độ mà chúng ta
đã thực hiện những lời khuyên ở trên
như thế nào rồi. Nhờ vào việc ghi nhớ và áp dụng những lời dạy ở trên vào
những hoàn cảnh cụ thể trong đời sống thì
chúng ta sẽ biết rõ ràng hơn về bản thân của mình và sẽ có
được một định hướng rõ ràng hơn
để tu tiến.
Thương yêu và chấp thủ
Người ta không hiểu làm sao mà
hai lời dạy ngược nhau - lời dạy về không chấp thủ và lời dạy về lòng
thương yêu của Ðức Phật - không bị mâu thuẫn với nhau. Làm sao mà chúng ta
có thể yêu mến một người mà không cảm thấy dính mắc với người ấy?
Không chấp thủ là một trạng
thái thăng bằng của tâm thức nhờ đó chúng ta
không phóng đại lên những phẩm chất của những người mà chúng ta
thương mến. Nhờ một cách nhìn chính xác hơn về người thân mà những vọng
tưởng phi thực tế và cả sự chấp thủ của chúng ta tan dần
đi. Như vậy chúng ta thương yêu người
khác vì họ là họ chớ không phải vì những điều
mà họ đã làm
được cho chúng ta. Tấm lòng không còn
tính chất thiên vị của chúng ta sẽ mở rộng
đến tất cả mọi người, mong rằng mọi người đều có hạnh phúc chỉ vì
mọi người là những con người cụ thể như vậy. Tình cảm ấm áp trước kia chỉ
dành cho một số người nào đó bây giờ có thể
mở rộng cho nhiều người.
Tuy nhiên với những người có
nhiều điểm giống nhau thì dễ dàng trò
chuyện hay trao đổi quan điểm với nhau. Chúng
ta dễ hiểu biết nhau và dễ giúp nhau tiến bộ. Có lẽ chúng ta dành
nhiều thì giờ với những người này hơn là với những người khác. Vì vậy, họ
là bạn của chúng ta mà không cần đến sự vướng
mắc hay chấp thủ. Cần nhắc rằng điểm trọng tâm của tình bạn như vậy
là để cùng nhau tiến bộ chớ không phải
là để làm thỏa mãn những mong muốn vị
kỷ của chúng ta.
Không phải dễ gì mà chúng ta
thoát khỏi thói quen chấp thủ. Vì vậy thoạt
đầu tình bạn của chúng ta là một hợp thể gồm sự chấp thủ và tình
thương yêu chân thật. Nhưng khi chúng ta nhận thức
được rằng sự chấp thủ là lỗi lầm thì
chúng ta sẽ cố gắng loại trừ nó. Sự chấp thủ lúc ấy không còn tạo nên
những rắc rối trong tình bằng hữu giữa chúng ta. Phẩm chất của tình bằng
hữu như vậy sẽ càng lúc càng được nâng cao.
Giúp
đỡ bạn bè
Ðiều quan trọng là chúng ta cần
phải nhạy cảm đối với những nhu cầu và
những mong muốn của bạn. Ðiều này phải gắn liền với việc tôn trọng phẩm
cách riêng của cá nhân người ấy. Chúng ta cũng phải từ bỏ thói quen vị kỷ
và thói quen mệnh lệnh sau mỗi khi làm được
điều gì cho người khác. Ngay khi mà chúng ta suy nghĩ nhiều về tư
lợi và lơ là với lợi ích chung của tình bạn thì những rắc rối bắt
đầu phát sinh.
Ðôi khi chúng ta rơi vào trạng
thái tâm lý "ta được gì? ta
được gì?" và chúng ta nhìn bất cứ
người nào và bất cứ vật gì cũng theo chiều hướng là ta
được gì từ người ấy, vật ấy. Lơ
đễnh hay vô ý thức đối với những tác động tốt
hay xấu của chúng ta đối với người khác nhưng chúng ta lại có ý thức rất
mạnh mẽ đối với những lợi ích hay những tai hại mà người khác có
thể làm cho chúng ta. Thái độ tâm lý như vậy
luôn luôn tạo nên những rắc rối giữa chúng ta với người khác; dù
người khác có tốt cách mấy và làm bao nhiêu việc cho chúng ta thì chúng ta
cũng không cảm thấy thỏa mãn. Chúng ta sẽ trở nên cáu kỉnh, không thỏa mãn
và làm cho mình, cho những người chung quanh trở nên khốn khổ.
Trạng thái tâm lý "ta
được gì? ta
được gì?" trở nên rõ ràng hơn khi
chúng ta bước vào một gian phòng có nhiều người lạ mà ta chưa từng biết
mặt. Khi ấy phải chăng chúng ta thường suy
nghĩ: "Ta cần làm gì để những người
này được lợi lạc? Những người này
cần những gì? Ta có thể giải tỏa được những
đau khổ nào cho họ?" Chúng ta cần trung thực
để nhận ra rằng thông thường thì cách
nhìn vị tha như vậy rất mờ nhạt trong tâm của chúng ta, thay vào
đó chúng ta bị đắm chìm vào những tính
toán: "Ai là người có thể giúp cho mình? Những người này có làm hại và
hạ bệ ta không? Ồ, người trông rất sang trọng
đằng kia sẽ ưa thích ta không?"
Sẽ thú vị nếu chúng ta dừng lại
một phút trước khi bước vào những nơi đang có
nhiều người để quán niệm: "Trong kiếp sống này và trong nhiều
kiếp sống trước, tất cả mọi người đã
có lòng tốt đối với ta. Giờ đây ta có cơ hội
để đối xử tốt lại với họ. Gương mặt của những người này dù có khác
nhau như thế nào đi nữa thì họ
đều giống nhau ở chỗ là nhiều lần họ
cảm thấy bất an và muốn được người khác nhận
ra phẩm chất đích thực của họ. Họ mong muốn được thừa nhận rằng họ là
những cá nhân xứng đáng. Giờ đây ta sẽ sử
dụng thời gian này hiện diện với họ và làm cho họ tất cả những gì
mà ta có thể làm được." Những cảm
giác mà chúng ta có được trong những cuộc
phỏng vấn, trong những buổi tiệc vui và trong những buổi họp mặt sẽ
rất là khác so với những giai đoạn trước đây
nếu chúng ta siêng năng thực tập quán
niệm như thế.
Dần dần chúng ta sẽ hình thành
nên thái độ tâm lý "cho và
cho", tức là thường hay suy nghĩ về những gì mà chúng ta có thể cho
người khác. Khi mà chúng ta có thái độ như
vậy thì những vấn đề khó khăn của
chúng ta sẽ không còn có vẻ to lớn nữa và chúng ta cảm thấy có hạnh
phúc với bất cứ người nào hiện diện với chúng ta. Do
đó, những người khác cảm thấy có hạnh phúc và
mến mộ chúng ta và chúng ta có một sự an vui tận tâm hồn, thấy
đời sống trần gian có nhiều ý nghĩa.
Nhạy cảm
đối với những vui buồn của người khác phải
bao hàm việc ý thức được khi nào
mới nên nói và nên nói chuyện gì. Ðừng có hoang phí thì giờ của người khác
bằng những câu chuyện quàng xiên vô bổ. Ðiều này tưởng chừng như dễ làm
nhưng thật sự không dễ như chúng ta tưởng
đâu. Coi chừng trường hợp chúng ta nghĩ rằng chuyện gì
đó là quan trọng và thú vị trong khi
người kia lại không nghĩ như vậy. Có ý tứ về những tính cách riêng, tư ý
và khuynh hướng của người khác khiến cho con người của chúng ta trở nên
chín chắn hơn.
Trở nên chín chắn và rộng lượng
không nhất thiết có nghĩa là kềm hãm sự phát triển cá nhân của chúng ta
để chỉ làm những
điều mà người khác muốn chúng ta làm
mà thôi. Chúng ta phải nhận ra được sự khác
biệt giữa một bên là thái độ tử tế với
người khác phát xuất từ lòng lân mẫn chân tình
đối với họ và một bên là phủ nhận giá
trị của tự thân chúng ta, làm điều mà
người ta muốn chúng ta làm với mục đích là
được lòng của mọi người. Trước khi
chúng ta có được một tấm lòng lân mẫn,
chúng ta phải có được một tư cách biết tự
trọng.
Mặt khác, lòng tự trọng không
giống tánh vị kỷ. Trong khi lòng tự trọng giúp chúng ta nhận ra
được nhân vị của bản thân chúng ta thì
lòng vị kỷ khiến cho chúng ta đeo đuổi theo
những hạnh phúc của cá nhân mình, xem chúng là quan trọng hơn tất
cả hạnh phúc của người khác. Muốn tìm một
điểm thăng bằng giữa sự tự phủ nhận bản thân và tánh vị kỷ thì hãy
thiết lập lại sự bình đẳng cơ bản của con
người chúng ta với tất cả những người khác: Tất cả đều tìm kiếm
hạnh phúc và tránh xa những rối khổ. Tất cả
đều có những phẩm chất tốt đẹp và những nhược
điểm. Tất cả mọi người trên
đời đều đáng được tôn trọng vì tất cả
mọi người đều là những sinh thể có
linh tánh.
Áp lực trang lứa [*]
Mặc dầu chúng ta thường nghĩ
rằng áp lực của những người cùng một thế hệ hay
đồng song chỉ xảy ra trong giới trẻ, thật ra
nó tác động tới chúng ta bất kể tuổi tác và bất kể là chúng ta kết
giao với ai. Không ai cảm thấy vui vẻ khi bị chê trách hay bị hiểu lầm;
bất cứ ai trong chúng ta đều muốn những người
khác nghĩ tốt về mình. Mặc dầu biết rằng không nên chú ý tới khi có
người diễu cợt hay chỉ trích chúng ta, chúng ta vẫn cảm thấy lo lắng về
những điều mà người kia có thể
đã nói về mình. Ðể ngầm tự bảo vệ,
chúng ta tham gia vào những hoạt động của tập
thể những người cùng trang lứa để tạo
mối dây thân hữu và tránh được sự đối
chọi của số đông.
[*] Áp lực trang lứa
có nghĩa là đông đảo người cùng
độ tuổi với chúng ta đều làm một
điều gì đó và họ yêu cầu chúng ta
làm giống như họ thì chúng ta bị áp lực phải nghe theo để tránh tình
trạng bị cô lập hay bị xem là lập dị hay bị số đông chống đối, ghét bỏ.
Ðó là ý nghĩa của từ ‘áp lực trang lứa’ được dùng ở đây.
Cốt lõi vấn
đề là lòng tự tin của chúng ta. Khi
chúng ta dựa vào lời khen của người khác để
cảm thấy an ổn thì tình trạng tâm lý của chúng ta cứ phải dao
động theo những điều gì mà người ta
khen hay chê. Chúng ta trở nên rất dễ bị tổn thương và rất dễ bị tác
động vì chúng ta không biết rõ chúng
ta nương tựa vào cái gì, tin vào cái gì và có biết rõ
đi nữa thì chúng ta cũng không có
đủ tự tin và dám bộc bạch trước mặt
mọi người.
Chúng ta cần phải suy nghĩ sâu
sắc một sự thật là người ta khen chúng ta tốt thì lời khen ngợi
đó thật ra không làm cho chúng ta tốt,
người ta chê chúng ta xấu thì lời chê bai đó
thật ra cũng chẳng làm cho chúng ta xấu. Khen ngợi và chê bai chỉ
là những ảnh tượng và những tư ý của người khác; chúng không thuộc về
chúng ta. Chúng ta cần phải tự xem xét thái
độ và hành vi mà chúng ta đã
thể hiện để có được một cái nhìn chân
thực về cá nhân của mình. Bằng cách đó chúng
ta có thể tự thẩm định những ưu thế và những nhược
điểm của bản thân.
Nếu một người nào
đó chỉ chính xác được những chỗ yếu kém và
sai lầm của chúng ta thì cũng chẳng có gì phải căng
thẳng. Chuyện đó không khác gì chuyện người ta nói rằng: "Có cái
mũi nằm giữa khuôn mặt của bạn." Thật ra cái mũi
đã nằm đó
tự thuở nào rồi, ai cũng thấy. Cố gắng giấu
đi những sai lầm của mình là
điều sai lầm và vô ích. Khi người nào
đó nói ra sự thật mà ai cũng thấy, thế
mà chúng ta cảm thấy bị xúc phạm thì chúng ta quả thật là vô lý. Việc
đơn giản là thú nhận rằng chúng ta
phạm sai lầm và thành thật xin lỗi, thế thôi.
Ngược lại nếu một người nào
đó diễu cợt rằng có một cái lỗ tai lừa mọc trên
đầu thì chúng ta cũng không nên cảm
thấy là bị xúc phạm vì rõ ràng rằng người đó
phạm sai lầm. Tương tự như vậy, nếu chúng ta bị chỉ trích về một chuyện mà
chúng ta thật sự không có làm hoặc là ai đó
thổi phồng điều sai trái mà chúng ta thật sự có làm ở mức
độ nhỏ hơn thì cũng không cần gì phải
tức giận. Ðiều mà người ấy nói là không đúng,
thế thôi.
Tất cả chúng ta
đều có những phẩm tính tốt đẹp, và
điều quan trọng là hãy phát huy nó.
Tuy nhiên, ngạo mạn về những tài năng và
những thành tựu của chúng ta là phi lý, vì những tài năng
và những thành tựu đó có được là
do lòng tốt của nhiều người. Nếu không ai dạy bảo cũng không ai giúp
đỡ thì chúng ta
đã không thành công như thế. Khi mà
chúng ta có khả năng thừa nhận những sai lầm
của mình mà không bực phiền thì chúng ta cũng có khả năng
tiếp nhận lời khen ngợi mà không kiêu ngạo. Ðức Phật
đã dạy:
Như tảng đá kiên cố,
Không gió nào lay động;
Cũng vậy, giữa khen chê,
Người trí không lay động. (kinh Pháp Cú, câu 81)
Dù cho bị người chê trách hay
được người khen ngợi nếu giữ được sự quân bình
tâm lý thì chúng ta đều có thể đánh giá và
học hỏi từ những điều mà người ta khen
chê. Và nhờ đó chúng ta có được một hình
ảnh thực sự và rõ ràng hơn về bản thân của chúng ta. Ðược như vậy thì
chúng ta sẽ vững vàng hơn trong việc đối phó
với những áp lực trang lứa vô bổ. Một yếu tố khác nữa giúp cho chúng ta thêm
tự tin là chúng ta nhạy bén về những giá trị
đạo đức. Khi nhạy bén về mặt đạo đức thì chúng ta không bị mù mờ và
nhận ra được những tình huống có chứa
mầm mống sa đọa. Và như vậy chúng ta
sẽ không là nạn nhân của những áp lực nguy hại của người khác dù họ là số
đông. Nếu chúng ta suy nghĩ sâu xa về những
điểm ưu thắng và những điểm bại hoại
của một hành động nào
đó thì chúng ta sẽ rạch ròi trong
những quyết định để bảo vệ những giá trị đạo
đức của chúng ta. Ngay cả khi người ta chỉ trích hay bêu riếu chúng
ta vì chúng ta không tham gia vào những hoạt
động không lành mạnh của họ thì trạng thái tâm lý của chúng ta vẫn
vững vàng vì chúng ta biết rằng điều mà
chúng ta đang làm là
đúng đắn. Ðể có
được một sức tự tin vững chắc và có
chiều sâu về những giá trị đạo đức thì
chúng ta phải suy tư và quán xét rất nhiều.
Giãi bày những giận hờn
Ðôi khi chúng ta cần phải giãi
bày những giận hờn đối với bạn bè. Làm
sao chúng ta có thể làm được việc này
một cách tốt đẹp mà không làm nặng nề
bạn bè với những khó khăn, bực dọc và
những cảm giác có hại cho chúng ta. Ðôi khi chúng ta cần phải "Tuôn hết
ra," và một người bạn tốt sẽ là người biết lắng nghe với một tấm lòng
rộng mở và thương yêu.
Trình bày những nỗi khó khăn
của chúng ta cho những người thân yêu nghe thì tốt. Nhưng chẳng tốt
chút nào nếu chúng ta tống một mớ bòng bong những cảm xúc của chúng ta lên
tấm lòng của bạn khiến cho bạn hoang mang và rối mù. Chúng ta cũng chẳng
nên kể lể những khổ sở của chúng ta cho bạn bè chỉ
để họ thông cảm và
đồng ý với chúng ta rằng ai đó đã bất
nhẫn và tệ bạc đối với chúng ta. Làm
như vậy chỉ khiến cho sự tự thương cảm của chúng ta thêm trầm trọng và vấn
đề vẫn còn y nguyên!
Bước
đầu là thừa nhận và chấp nhận rằng
chúng ta có nỗi khổ, có cảm giác buồn khổ hay bị mất
định hướng; bước thứ hai là giải tỏa
chúng. Một trong những phương sách là tìm đến
bạn bè tâm sự để được những lời khuyên
chân thật và có tính cách xây dựng. Chúng ta sẽ
đón nhận những lời bình luận của bạn
bè ngay cả khi bạn bè nói với chúng ta rằng chúng ta
đã phạm sai lầm và chính chúng ta là
người gây nên nỗi khổ đó. Bạn bè giúp
chúng ta bằng cách nói cho chúng ta biết mỗi khi chúng ta thổi phồng câu
chuyện, thổi phồng một chi tiết nào đó, hay
mỗi khi chúng ta cố chấp. Người bạn chân thật sẽ không nói rằng chúng ta
đúng đắn khi sự thật là chúng ta đã
sai lầm và qua đó sẽ giúp chúng ta trong việc
xác định đâu là vấn đề và giải
quyết chúng.
Biết
được giá trị của việc kết giao bằng hữu tốt,
chúng ta sẽ chọn lựa những người bạn có ảnh hưởng tốt đối với chúng ta.
Hơn nữa, chúng ta cũng phải cố gắng làm giảm tối
đa những điều sai quấy của chúng ta và
rèn luyện để thăng tiến những phẩm chất tốt
đẹp để chính chúng ta có thể trở thành người bạn tốt
đối với người khác.
III. ÐỒNG
NGHIỆP VÀ KHÁCH HÀNG
^
Hợp tác trong công việc và hóa
giải những bất đồng
Trong thời gian hạ thủ công phu
với những thiền khóa dũng mãnh nhiệt tâm tinh cần, chúng ta có thể từng
bước tu tập để tiến tới Phật quả, làm
lợi lạc cho vạn loại hàm linh. Nhưng trong cuộc sống bình nhật, chúng ta
cũng phải thực tế đời thường đồng thời làm
phát triển lòng từ bi đối với những người
chung quanh, nhất là đối với những
người làm việc chung với chúng ta. Sống một
đời sống đạo đức, ghi nhận sâu sắc những cố
gắng của họ và hóa giải những bất đồng
là những phương châm có hiệu quả.
Sống một
đời sống đạo đức
Ðời sống
đạo đức là cơ sở dựa trên
đó người ta mới có thể sống chung hòa
bình với nhau và xây dựng được sự nghiệp vững
bền. Người đáng được người khác tin cậy trong công việc làm
ăn thì sẽ
đạt được sự tin tưởng của chủ nhân, sự kính trọng của đồng nghiệp, sự yêu
mến của khách hàng và sự nghiệp của người ấy còn càng lúc càng phát triển.
Nếu chúng ta lấy giá phải chăng, phục vụ tốt
và thành thật với khách hàng thì không những khách hàng sẽ tiếp tục
làm ăn với chúng ta và còn dẫn thêm
mối lại cho chúng ta.
Ngược lại, nếu không quan tâm
đến vấn đề đạo đức và lo làm bất cứ
điều gì
để thỏa mãn mục đích vị kỷ là
kiếm thật nhiều tiền thì chúng ta tự chiêu cảm lấy sự xung
đột và công việc làm
ăn lâu dài bị tổn hại. Trong những năm
gần đây một số nhân vật khét tiếng trong thương trường và chính
trường đã phải
đứng trước vành móng ngựa và bị quần
chúng khinh bỉ. Tính tham tiền và háo danh đã
đưa họ đến tình trạng bị xã hội khinh
ghét, phỉ nhổ và cuối cùng phải tiêu tan sự nghiệp.
Ai cũng ngần ngại và không muốn
làm ăn với người vô đạo đức. Nếu chúng ta nói
dối và gian lận với chủ nhân, với đồng
nghiệp và khách hàng thì tất cả những người ấy sẽ không tin tưởng
và không còn muốn hợp tác với chúng ta nữa. Mặc dầu nhất thời thì chúng ta
có thể thu được nhiều lợi thế và tiền
bạc bằng những phương cách vị kỷ, độc ác
trong việc làm ăn nhưng về lâu về dài
chúng ta sẽ đi đến tình trạng tồi tệ
là: Ban ngày thì công việc làm ăn không còn
suôn sẻ, đêm về thì chúng ta nằm ngủ
với một lương tâm u ám chập chờn. Từ bỏ 10 hành vi tai hại thì ngăn
ngừa được những hậu quả trên.
Cảm nhận sâu sắc những cố gắng
của mọi người
Giúp
đỡ đồng nghiệp và
đánh giá tốt những công việc mà họ
đã làm
được tức là làm cho đồng nghiệp có
hạnh phúc và xây dựng được một tinh
thần đồng cam cộng khổ. Khi người ta thấy rằng những nỗ lực của họ được
ghi nhận thì họ sẽ sốt sắng và nỗ lực hơn nữa. Khi người ta có
điều kiện để biểu đạt ý tưởng riêng
thì họ cảm thấy gắn bó chặt chẽ hơn và lòng trung thành trở nên càng bền
bỉ hơn nữa.
Chúng ta khen ngợi người khác
không phải chỉ vì gia tăng sản lượng! Sự
không thành thật ngay cả trong việc khen ngợi không bao lâu sẽ bị
phát hiện và các mối quan hệ trong công việc sẽ bị suy giảm. Tôn trọng và
cảm nhận tốt về người khác - kể cả những người "cấp dưới" chúng ta về chức
vụ, về bằng cấp... - là chìa khóa để chúng ta
làm phát triển lòng từ bi. Vì vậy chúng ta phải nhớ rằng một người
chủ nhân không thể thành công nếu không có những nhân sự mẫn cán có tinh
thần trách nhiệm; một công ty không thể nào hoạt
động nếu không có nhân viên. Như vậy,
sự thành công có được không phải do bản thân
chúng ta mà là do những sốt sắng và nỗ lực của nhiều người khác.
Những viên chức và công nhân
cũng cần phải thấy được những nỗ lực của
người làm chủ. Phàn nàn và chỉ trích thì thật là chuyện dễ làm; khó
làm hơn là chuyện thừa nhận rằng người kia đã
cố gắng tối đa và nhớ là người