Phật
Giáo trên xứ Huế
Thích Thái
Hòa
---o0o---
PHÁP THOẠI CHO SINH VIÊN KHOA
SỬ -ĐẠI HỌC VINH
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính thưa quý thầy cô trong phái đoàn cùng các anh chị em trong trường Đại
Học Vinh quý mến.
Hôm nay là ngày 22.4.2004 tất cả quý vị đã có cơ duyên vào Huế để tham
quan nghiên cứu và nay đã đến Tổ Đình Từ Hiếu nơi thiền đường Trăm Rằm này
để xin tìm hiểu về Phật Giáo Huế.
Để
đáp ứng yêu cầu của quý thầy cô, cũng như sự học hỏi của anh chị em sinh
viên và chúng tôi có mặt hôm nay, để chia sẽ quý vị những gì mà quý vị yêu
cầu.
Thưa quý vị!
Phật Giáo có mặt trên đất nước Việt Nam chúng ta vào thế kỷ đầu theo các
nhà Sử Học thì Phật Giáo đến Việt Nam từ thế kỷ thứ ba trước tây lịch và
thời vua A Dục ở Ấn Độ, nhưng đây chỉ là tư liệu cá biệt chưa được phổ
quát.
Theo tài liệu chính xác thì Phật Giáo đến Việt Nam từ thế kỳ đầu do Ngài
Phật Quang là một nhà sư Ấn Độ khi đến Việt Nam thì đi vào Cửa Sót (Nghệ
An), đây là biên giới của nước ta thời vua Hùng Vương. Ngài Phật Quang đến
đó và đã mở đầu cho Phật Giáo ở Việt Nam.
Đến đó, Ngài hoá độ cho hai người Phật tử đầu tiên là Chữ Đồng Tử và Tiên
Dong, chuyện này được ghi lại ở trong Lĩnh Nam Trích Quái.
Tiếp đó vào thế kỷ II, III trước Tây Lịch có Ngài Khương Tăng Hội, chùa có
mặt sớm nhất tại Việt Nam là chùa Pháp Vân (ở trung Luy Lâu) Pháp Vũ, Pháp
Lôi và Pháp Điển. chùa Pháp Vân có ý nghĩa rất là sâu sắc: Pháp là chánh
pháp của Phật, Vân là mây. Chùa Pháp Vân là chùa có vầng mây của chánh
pháp, vầng mây đỏ sẽ che mát đất nước Việt Nam, sẽ che mát dân tộc Việt
Nam. Có cơ duyên thì mây đó sẽ mưa xuống làm cho đất nước Việt Nam tươi
mát trở lại. do đó từ ngôi chùa Pháp vân ta lại có thêm ngôi chùa tên là
Pháp Vũ.
Từ
Pháp Vân, Pháp Vũ đất ta lại có chùa Pháp Lôi. Lôi là tiếng sấm. Pháp Lôi
là tiếng sấm của chánh pháp. Tiếng sấm ấy làm cho nhân dân Việt Nam đứng
dậy vượt ra khỏi sự nô lệ, sự thống trị. Lôi là sức mạnh tự đứng dậy, gầm
lên như tiếng sấm. Biểu tượng cho dân tộc Việt Nam khi thu hút được chất
liệu của Phật Pháp, chất liệu của Phật Giáo trong đời sống thì nó có một
sức mạnh tự lực giống như là sấm vậy.
Chùa Pháp Điển là ánh sáng của Chánh Pháp, ánh sáng đó sẽ soi đường cho
dân tộc Việt Nam đi lên, như vậy, các anh chị em thấy chỉ tên bốn ngôi
chùa không thôi, cũng nói lên vai trò ngôi chùa trong sự phát triển đất
nước và phát triển tâm linh của đất nước Việt Nam. Từ đó, Phật Giáo có mặt
với dân tộcViệt Nam trãi qua các thời kỳ đứng lên dành đọic lập cho đất
nước.
Trong biến cố chính trị 40-34, sau khi quân Hán chiếm đóng Giao Châu, lúc
bấy giờ thì các nữ tướng Trưng Trắc, Trưng Nhị sau khi hai bà nhảy xuống
sông tuẩn tiết đã vào chùa tu lánh nạn.
Căn cứ như vậy để thấy Đạo Phật đến Việt Nam muộn lắm là sau khi biến cố
của Trưng Trắc, Trưng Nhị.
Sau khi hai Bà Trưng Thất bại, thì phu nhân Bát Nàn (là nữ tướng của hai
bà) vào chùa tu, như vậy ngôi chùa đã có và người ta đến chùa phải cần một
thời gian rất dài. Điều đó chứng tỏ rằng Phật Giáo đến Việt Nam trước kỷ
nguyên và Phật Giáo thấm sâu vào lòng quần chúng.
Ngôi chùa Bảo Vân trở thành trung tâm tu học của Giao Châu lúc bấy giờ.
Vào thế kỷ thứ 6 tức là 580, Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến Ấn Độ và qua trung
Hoa học đạo với Ngài Tăng Xán, sau đó về Việt Nam và ghé lại chùa Pháp
Vân. Ở nơi đó, có Ngài Pháp Hiền đang giảng dạy chô hơn 300 Tăng Sĩ.
Dân tộc mình cách đây gần hai ngàn năm có được bao nhiêu người, dường như
đến đời Lý, dân tộc mình được 5 triệu người mà trước đó đến 800-900 năm
thì dân trộc mình có bao nhiêu, nhưng có đến 300 Tăng sĩ. Như vậy, chúng
ta cũng thấy được vai trò Phật Giáo lúc đó phát triển như thế nào. Quý vị
suy nghĩ sẽ thấy thế mạnh của Phật Giáo lúc bấy giờ.
Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi chỉ đến Việt Nam đã dịch Kinh tượng đầu và nội dung
Kinh đó là gì? Tư tưởng chỉ đẠO CỦA Kinh thế nào? Tư tưởng đó đáp ứng được
cái gì cho dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ.
Một bản Kinh mà khhi các Ngài chọn để dịch và truyền bá thì bản Kinh đó
phải đáp ứng được cái khát vọng của người Việt Nam lúc bấy giờ, cái suy
nghĩ của Việt Nam lúc bấy giờ là cái suy nghĩ gì? Về nhân sinh quan, về vũ
trụ quan, về thân phận con người thì thì bản Kinh đó phải đáp ứng. Một bài
văn thôi mà còn ảnh hưởng huống chi là một bản Kinh, không có bản kinh nào
mà khơi khơi hết. Kinh có một ý nghĩa rất sâu nhưng quý vị chưa có cơ hội
để học một cách sâu sắc nên chưa nhận ra được giá trị của vấn đề này. Tôi
gợi ý để quý vị có cơ hội kiểm nghiệm.
Vào thế kỷ thứ 9, tức là năm 820 thì thiền phái Vô Ngôn Thông xuất hiện,
Ngài Vô Ngôn Thông chỉ nhận một câu nói từ vị thầy của mình là Báhc Trượng
mà Vô Ngôn Thông ngộ: “ Tâm địa nhược thông, tuệ nhật tự chiếu.” Nghĩa là,
nếu tâm địa tức là mãnh đất tâm của chúng ta, cõi lòng của chúng ta không
bị ngăn ngại bởi tất cả mọi sự phiền não, bỡi tất cả các sự vô minh thì
mặt trời trí tuệ nó tự toả ra. Cho nên, cõi lòng của chúng ta khônbg sáng
chói lên được là vì vô minh và phiền não nó dày đặc trong lòng. Còn nếu
cõi lòng của chúng ta không bị vô minh ngăn che thì mặt trời trí tuệ trong
ta nó toả ra, nó soi chiếu. Nhân câu dạy của Tổ Bách Trượng như vậy mà Vo
Ngôn Thông ngộ được đạo lý và về đến Việt Nam vào thế kỷ thứ 9.
Như vậy, từ thế kỷ đầu cho đến thế kỷ thứ 9 chung ta đã có thiền phái của
Ngài Khương Tăng Hội chủ trương về quán chiếu hơi thở, của Tỳ Ni Đa Lưu
Chi và thiền của Vô Ngôn Thông, và từ đó đẫn đến Phật Giáo đời Lý. Nếu
không có Phật Giáo của các thế kỷ trước như vậy thì không có Phật Giáo đời
Lý.
Nói thêm về Phật Giáo đời Lê. Lê Long Đỉnh khhi lên ngôi ông đã cho sứ
thần sang Trung Hoađể thỉnh Đại Tạng Kinh Phật Giáo rồi, nhưng Kinh chưa
về tới thì ông băng hà. Như vậy, ngay đời Lê Đại Tạng Kinh Phật Giáo đã có
mặt mà Đại Tạng Kinh này đã khắc từ đời Tống ở Trung Hoa.
Đến đời Lý thì Ngài Vạn Hạnh đã giúp cho vua Lý Công Uẩn lên ngôi, đời Lý
phật Giáo phát triển rất là lớn nhưng không phải vì vậy mà Phật Giáo đời
Lý có nhiều thuận lợi một trăm phần trăm. Trong sử ghi là đời Lý “thiên hạ
bán vi Tăng”, nghĩ là nhân dân đời Lý hết một nữa là làm thầy tu rồi, như
quý vị biết cái gì nhiều thì phức tạp. Mọi người nói dưới đời Lý PhậtGiáo
thạnh nhưng dưới cái nhìn của tôi trong đời Lý Phật Giáo cũng có cái suy.
Bởi vì, khi Phật Giáo được các triều đình trọng vọng thì người ta cũng lợi
dụng cái trọng vọng đóđể đi tu. Cho nên, người đi tu với tâm chí cao
thượng cũng có mà đi tu với tâm chí tầm thường cũng có.
Người đi tu mà với tâm chí cao thượng sẽ làm cho Phật Giáo snág chói lên,
làm cho đời đẹp lên. Nười đi tu với tâm chí tầm thườnglại làm cho đạo mờ
xuống. Cho nên, mình thấy đông chưa hẳn đã mừng mà thấy ít chưa hẳn đã
buồn.
Đông phải là đông như thế nào? Đông mà tạp thì cái đông đó không nên, ít
mà thuần chất thì cái ít đó đang trân trọng.
Đến đời trần,
Đọc trong lịch sử cúng tôi cũng thấy rằng khi tôi viết “lịch sử phát triển
Bát Nhã Tâm Kinh” tại Việt Nam, chúng tôi không tìm ra bản dịch và chú
giải của Phật Giáo đời Lý. Cho nên, trong “tập san nghiên cứu” của Phật
Giáo Thừa Thiên Huế tôi có viết: “ triều đại nào lên cũng xóa triều đại
trước và muốn người sau chỉ biết mình thôi chứ không biết cái trước nữa,
điều đó sẽ rất trở ngại cho nhà nghiên cứu khi mình muốn nghiên cứu triều
đại trước và đó là bi kichj là cái bi đát của tham vọng chính trị, mà
khôngphải là người làm văiệt nam hóa.
Người làm văn hóa không có nhìn như người làm chính trị. Do đó,các sử gia
đời Trần như Lê Văn Hưu ki ông ăn cơm đời Trần, uống nước đời Trần thì làm
sao ông dám ca ngợi đời Lý. Quý vị nên nhớ một câu của Trần Thủ Độkhi đi
ngang qua ngôi chùa và thấy Lý Huệ Tông sau khi trao ngôi cho con là Lý
Chiêu Hoàng rồi đi ở chùa, ông ta ngồi nhổ cỏ, Trần Thủ Độ làm quan dưới
triều Lý nhưng ông tìm cách chuyển ngôi cho Nhà Trần khi thấy Lý Huệ
Tông ông Trần Thủ Độ mới nói: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Vua Lý Huệ Tông
nghe câu nói đó liền ngao ngán tình đời, ngao ngán tham vọng con người nên
Lý Huệ Tông đã vào trong phòng kín và uống thuốc tự vẩn.
Qua sử sách đã ghi lại một câu nói của Trân Thủ Độ chính đã làm cho chúng
ta trở ngại rất nhiều khi nghiên cứu lịch sử đời Lý, nhổ cỏ nhổ tận gốc
mà.
Nghĩa là tất cả những cái gì liên hệ đến đời Lý là phải huỷ sạch. Lê Văn
Hưu hưởng bổng lộc của đời Trần thì phải viết lịch sử theo quan điểm của
đời Trần, cho nên khiến cho mình khi nghiên cứu phải sử dụng cái đầu cực
kỳ thông minh mới khám phá ra được, còn minh đi theo dấu chân, suy tư theo
lối cũ, nói năng lập đi lập lại theo lối cũ thì chân lý chỉ là một cái gì
đó xa vời mà mình không bao giờ với tới.
Nhưng ở đời Lý vẫn có một thiền phái đặc biệt đó là thiền phái Thảo Đường.
Vua Lý Thái Tông là một trong những vị tích cực ủng hộ cho thiền phái này.
Nhưng đến đời Trần thì thiền phái này không được nhắc nhở nữa. Khi đọc
Thánh Đăng Lục được viết từ đời Trần chúng tôi thấy nơi đó chỉ đề cập đến
các vị vua nhiều hơn còn các vị thiền sư không thấy đề cập đến. Khi đến
đời Trần thì trí thức Phật Giáo nhiều, từ vua quan đến thứ dân rất nhiều
và làm chho Phật Giáo đời này có khuynh hướng quý tộc.
Cái nổi bật nhất của Phật Giáo đời này là Trúc Lâm Tâm Tổ.
Phật Giáo đời Trần đã đóng góp vào phần giữ nước, đã haii ba lần đanh lại
với Nguyên- Mông. Quân Nguyên mông của Thành Cát Tư Hãn rất là hung hãn
nhưng đến Việt Nam nó thất bại vì người Việt Nam trong hội nghị Diên Hồng
đã nói lên tinh thần đoàn kết. Nhờ yếu tố đoàn kết đó mà mình giữ được
nước và phát triển được đất nước.
Phía Nam mình sống hài hoà với Chiêm Bang, sau đó vua Trần Nhân Tông đã gã
công chúa Huyền Trân cho vua Chàm và vua Chàm đã hhién tặng cho Việt Nam
lúc bấy giờ là hai châu Ô và Lý.
Điều này có nhiều người phê phán, nhưng mình thấy vua Trần Nhân Tông khônở
chỗ là khi gã công chúa huyền Trân cho vua Chàm để nhận hai châu Ô và Lý
tức là dùng tình yêu để mở mang đất nước chứ không dùng bạo lực. Do đó,
vào đời Trần biên giới nước ta vào đến địa bàn và giờ đay chúng ta hỏi và
trả lời ngay. Bây giờ được rằng Phật Giáo Huế có từ khi nào? Và Phật Giáo
Huế đã ảnh hưởng trong lòng quần chúng như thế nào?
Ta
trả lời một cách dứt khoát là Phật Giáo Huế có mặt từ thời Trần Nhân Tông.
Vì sao? Vì đời Lý Phật Giáo là quốc giáo, cho nên khi vua Chàm trao cho
Việt Nam hai châu Ô và Lýthì việc trước mắt là nhận đất đai, khai phá đất
đai và dân chúng lúc đó là ai? Là Phật Tử đi đến vùng kinh tế mới, đi
đểkhai phá đất hoang phát triển đất nước thì lúc họ đã đêm theo tôn giáo
của họ, đem theo tín ngưỡng tâm linh của họ. Khi mà Phật Tử đi thì thầy
của họ cũng đi theo họ và vị Tăng xuất hiện đầu tiên tại Thuận Hóa đời
Trần là Điều Ngự Giác Hoàng tứ là Trần Nhân Tông, sau đó hướng dẫn người
vào để hướng dẫn tâm linh cho quần chúng.
Như vậy Phật Giáo Huế ảnh hưởng Phật Giáo đời Trần, mà giáo lý đời Trần là
gì? Đó là giáo lý nhập thế tức là dấn thân vào cuộc đời mà cứu khổ.
Một trong những bài phú của Trần Nhân Tông : “ Cư trần lạc đạo” đã nói lên
tư tưởng của ông, nói lên vai trò học Đạo của ông và vai trò ứng xử của
ông.
“Cư trần lạc đậo khả tuỳ duyên
cư
tắc san hề khôn tất miên
gia trung hữu bảo hưu tìm mích
đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.”
Đây là tư tưởng chủ đạo của đời Trần và cũng là tư tưởng đầu tiên ở Thuận
Hóa này.
Có
nghĩa là, sông ỉơ giữa đời mà vui cái niềm vui của Đạo, sông giữa đời mà
thăng hoa cuộc đời lên chứ Phật Giáo không bao giờ chán đời.
Đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì nằm. Phật Giáo đời Trần đã ảnh hưởng
đến Huế một cách thực tiễ, thuận với quy luật tựnhiên của cuộc sống.
Trong nhà có của báu rồi còn tìm đâu xa cho mệt.
Của báu đó là gì? Đối với đạo lý thì trong tâm mình đã có Phật, có Pháp,
có Tăng rồi, đi tìm kiếm làm gì?
Về
mạch nguồn dân tộc thì mình đã có đạo lý giải thoát, đạo lý dân tộc rồi,
mượn cái bên ngoài làm gì nữa.
Về
cuộc sống gia đình ta đã có cha, có mẹ, có tổ tiên ông bà của ta, có của
báu của gia đình mình rồi , đi tìm làm chi cho khổ.
Dưới cái nhìn tâm linh, cái gì là báu?
Dưới cái nhìn của giang sơn tổ quốc thì cái gì là báu?
Dưới cái hìn gia đình thì cái gì là báu?
Nhận ra được cái đó thì, mình khỏi phải loay hoay tìm kiếm. Như Trịnh Công
Sơn nói một cõi đi về: “ Bao năm xa rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh
cho đời mỏi mệt, trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi xuống trăm năm
một cõi đi về.” Nghĩa là, trên hai vai ta có cha có mẹ, có nội có ngoại,
có trời có đất, có âm có dương, có tất cả đi tìm đau cho mệt. Trịnh Công
Sơn rọi từ bên ngoài vào còn Trần Nhân Tông rọi từ bên trong mà ra.
Trực diện với mọi hoàn cảnh,cảnh đẹp, cảnh xấu, cảnh thuận lý, cảnh không
thuận lý tâm không bị mắc kẹt tốt xấu thăng trầm. Khi thực tập với mọi
hoàn cảnh mà tâm không vướng mắc thì đó là thiền.
Quý vị có nhớ Nguyễn Công Trứ khi bị đày làm lính thú có nói câu gì không?
“Khi làm quan tôi không thấy đó làm vinh, cho nên khi bị đày làm lính tôi
không thấy nó là nhục”. Nguyễn Công Trứ dựa theo tinh thần nào mà nói lên
được câu nói sĩ phu, tiêu biểu cho trí thức một thời như thế? Đó là ảnh
hưởng Phật Giáo, tinh thần Phật Giáo đã un đúc tạo nên một Nguyễn Công
Trứđó là: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”.
Đối diện với quan chức không thấy đó là vinh, cho nên khi bị sa cơ lỡ vận
không thấy đó là nhục. Ra làm quan bởi ý nguyện giúp đời mà làm, chứ không
vì bản thân tôi mà làm quan. Nếu vì bản thân mình mà làm quan thì tham
nhũng hối lộ, quan liêu cưỡng quyền; nhưng mà vì người mà làm quan, vì
cuộc đời mà làm quạ thì tham nhũng hối lộ bị xóa sạch ngay.
Như vậy, tư tưởng chủ đạo của Phật Giáo đời Trần đã thẩm thấu vào Phật
Giáo Huế - Phật Giáo Thuận Hóa vào thời đó. Mãnh đất Huế này trở thành
trung tâm để duy trì nền văn hóa Đại Việt và đồng thời nó làm bàn đạp để
phát triển văn hóa, phát triển ý thức dân tộc twf nơi đay mà đi về phía
Nam.
Cho nên, thời chúa Nguyễn Phúc Chu mở mang bờ coỉ đến Sài Gòn bây giờ Biên
Hòa gọi là Biên Thành tức là biên giới ở phái Nam.
Thời Minh Mạng thì mình lấy luôn sáu tỉnh miền Tây. Thuận Hóa là bàn đạp
để phát triển đất nước.
Khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1557 và năm 1601 thì ông ta
cho trùng tu lại ngôi chùa Thiên Mụ (Linh Mụ ).
Nhiều sử gia viết rằng, Nguyễn Hoàng xây dựng ngôi chùa Linh Mụ, vậy là
sai. Bởi vì, theo Châu Cận Lục đã có trước chúa Nguyễn Hoàng vào.
Như vậy, khi chúa Nguyễn Hoàng tu sữa lại Linh Mụđể trở thành một trung
tâm tu học, một trung tâm nuôi dưỡng tâm linh cho đăng trong thì vai trò
của Phật Giáo đối với xứ Huế nó được khẳng định một cách minh bạch. Không
những vậy, tổ sư Nguyên Thiều từ Trung Hoa qua đâyvào đời Lê và các cao
Tăng khác như: Minh Hoàng Tử Dung ở chùa Từ Đàm, như Ngài Từ Lâm ở chùa Từ
Lâm… Các vị đó đã đi đến miền Trung này để truyền Đạo. Sau đó Ngài Liễu
Quán xuất hiện để truyền Đạo tại đây. Như vậy, các Ngài truyền Đạo gì? Bổ
sung Đạo gì ở nơi đây?
Thời chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho người đi mời Ngài Thạch Liêm đến đây để
truyền Đạo tại chùa Thiền Lâm.
Quý vị khi đó có điều kiện học lịch sử Phật Giáo Việt Nam, tư liệu của một
nhà sử học nước ngoài quý ậi sẽ thấy. Ví dụ Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại
Sang quý vị sẽ biết thêm. Trong đó có ghi chuyện đối đáp của Hòa Thượng
Thạch Liêm với chúa Nguyễn Khắc Chu như thế này: “ Khi chúa Nguyễn Phúc
Chu phát tâm thọ Bồ Tát Tại Gia để ăn chay trường thì thì chúa hỏi Hòa
Thượng như thế này:
Với vai trò quốc chủ mà thọ Bồ Tát Giới Tại Gia ăn chay trường, nó trở
ngại cho việc triều chính.
Hòa Thượng Thích Đại Sáng nói:
-Cái việc mà quốc chúa thọ giới Bồ Tát để mà ăn chay trường
không phải như người bình thường. Có nghĩa là vị đó phải thiết kế một
chính sách phù hợp với nhân tâm để phát triển đất nước, phải xã tù, phải
giảm thuế cho dân, đem cả trong kho ra mà ban phát cho người nghèo khổ, đó
mới là người thọ trì Bồ Tát Giới chứ không phải thọ trì Bồ Tát Giới chỉ là
ăn khuôn đậu với rau muống.
Quý vị phải yêu cầu quý thầy cô cho đi thuyền trên sông Hương để quý vị có
thể thưởng thức được Hương Giang, dong nước chảy như không chảy, không
chảy mà chảy. Để quý vị thấy được tại sao thiền ảnh hưởng với Phật Giáo
tại Huế? Tại vì thiền là một cái gì đó rất là trầm lắng, sâu thẳm, có mà
như không, không mà như có. Tư tưởng của Phật Giáo như thế, nó đã ảnh
hưởng trong xương, trong tủy cảu người Huế. Cho nên, nó đã tạo ra cái đức
tính điềm tỉnh, cái sâu lắng của người Huế.
Cho nên nói:
“
Huế không nơi nào có được
Nét dịu hiền pha lẫn trầm tư.
Đặc tính của người Huế là trầm tư và trầm tư đóảnh hưởng từ thiền học của
Phật Giáo.
Nhờ trầm tư đó mà giữ được nước, gạn lọc tất cả những gì xào tạp từ mọi
phía đi tới với mình. Nếu ta sống mà thiếu trầm tưtức là thiếu khả năng
gạn lọc thì cái gì cũng có thể đổ dồn vào trong cuộc sống của ta cả, ta bị
đánh mất và ta không còn là ta nữa.
Cho nên, nét trầm tư của người Huế nó ảnh hưởng tinh thần thiền học của
Phật Giáo và chính tinh thần đó đã gạn lọc và khiến cho Huế biết gạn lọc
rất là sâu khi tiếp nhận những cái từ bên ngoài.
Vì
vậy, Phật Giáo Huế khác với Phật Giáo Hà Nội. Phật Giáo Hà Nội mang bản
sắc chính trị.
Phật Giáo Huế cũng khác với Phật Giáo Sài Gòn. Phật Giáo Sài Gòn mang bản
sắc thương trường. Phật Giáo Huế lại mangbản sắc tâm linh. Cho nên, ai có
chiều sâu tâm linh, thì người đó thích Huế, thích Phật Giáo Huế. Ai hời
hợt và phóng thể chạy ra bên ngoài thì họ không thích và họ thích Phật
Giáo thời đại nhưng Phật Giáo thời đại cũng giống như nước lũ.
Tịnh Độ cũng vậy, Tịnh Độ không phải là niệm Phật để cầu sanh về cảnh
giới của đức Phật A Di Đà mà ý nghĩa thâm sâu của Tịnh Độ là thiết lập
ngay quê hương Tịnh Độ ở trên đất nước này, ở nơi xứ sở này, và chính là
thiết lập quê hương Tịnh Độ từ nơi tâm của mình. Trong tâm của ta mỗi
người có một quê hương Tịnh Độ ở trong đó, mỗi người đều có đức Phật A Di
Đà ở trong tâm. Từ đó người Huế có khà năng tự tin, có khả năng đối phó,
tin vào cái vốn có của mình, cho nên có khả năng khắc phục được cái hoàn
cảnh khắc nghiệt của bên ngoài đưa lại.
Người Huế ảnh hưởng sự thiểu dục tri túc của Đạo Phật ít ( ít muốn và biết
đủ), vì vậy nên người Huế ít đua đòi và biết vừa đủ. Người nhiều khi nghèo
lắm nhưng nhà cửa vẫn nghiêm túc. Nhiều người Huế, nìn vào tưởng giàu có
lắm nhưng họ chẳng có đồng nào để tích lũy. Khách đến nhà dù hết gạo cũng
tìm cách mời khách ở lại và tìm cách có cơm để dọn, đó là cái đặc điểm của
người Huế. Đó là ảnh hưởng tinh thần thiểu dục tri túc của người Huế - của
Đạo Phật. Quan trọng ở chỗ là ta sống với nhau bằng tấm lòng, quý là ở tấm
lòng chứ không phải tiền bạc.
Vì
Đạo Phật đã dạy: Tâm làm chủ, tâm tác động. Ta đến với người bằng tâm an
lạc, tâm hạnh phúc thì mọi vấn đề hạnh phúc đi kèm theo. Ta đến với người
bằng tâm ích kỷ nhỏ nhen thì tâm đau khổ nó đi kèm theo.
Bởi vậy, dân Huế có câu nói rất là hay: “ Tiếng chào cao hơn mâm cổ”.
Tiếng mời nhau quan trọng hơn mâm cổ dọn ra. Tất cả nhữngcái đó nó ảnh
hưởng cái tình người trong Đạo Phật, ảnh hưởng chất liệu từ bi ở trong Đạo
Phật, ảnh hưởng chất liệu trí tuệ trong Đạo Phật, ảnh hưởng giáo lý thiểu
dục tri túc.
Có
một tư tưởng ảnh hưởng dân Huế hiện nay nữalà giáo học. Tức là người Huế
trong cái nền kinh tế khó khăn người ta phải đi tìm niềm vui nơi cảnh trí
thiên nhiên ở nơi sông, ở nơi biển hay niềm vui ở nơi đạo lý. Và người Huế
rất chịu khó học, họ không học ở trường nữa thì họ học ở nhà, không có
thầy dạy thì họ tự học lấy trong sách vở. Người Huế rất chịu khó về chuyện
học hành.
Cha mẹ có nghèo cũng bán ruộng vườn nhà cửa cho con ăn học. Bởi vì không
học thì không có trí tuệ, mà không có trí tuệ thì không giải mã được vấn
đề trong cuộc sống con người.
Cho nên, tinh thần ham họck hỏi, ham hiểu biết đã ảnh hưởng rất lớn đến
người Huế.
Tinh thần “mật tông” cung ảnh hưởng đến người Huế. “Mật tông” là gì?
“Mật tông” là giáo lý mà đòi hỏi người thực tập phải có một định lực sâu
và cao khi đọc lên câu thần chú. Cí những cái mà ta không lý giải được
bằng kiến thức của ta, ta không giải được bằng trí thức của ta bằng kinh
nghiệm sống của chúng ta. Cho nên chúng ta phải nhờ năng lực của câu thần
chú, câu thần chú đó chuyển tải và hoá giải những thắc mắc những ưu tư
trong tâm linh của ta.
Phật Giáo Huế cũng còn ảnh hưởng tinh thần luật tạng. Luật tạng là gì?
Luật là giới về mặt tổ chức, luật là giới về mặt hành chánh, luật là để
phán xét đúng sai ở nơi hành vi.
Mọi hành vi mà không có luật, không biết dựa vào đâu để phán xét. Cho nên
Phật Giáo Huế ảnh hưởng luật rất lớn, và chính giới luật đó đã ảnh hưởng
ra giữa xã hội gây nếp sông đạo đức cho dân Huế.
Trong giới luật Phật Giáo nói như thế này:
“Hiếu danh vi giới
Diệt danh chế chỉ”.
Hiếu chính là giới, là đạo đức có khả năng ngăn ngừa điều ác của thân, ngữ
và ý.
Người Huế, con ít khi ngổ nghịch với cha mẹ và cha mẹ hết lòng thương yêu
con cái. Đó không phải là tuyệt đối nhưng nó có một ý nghĩ tổng quát. Cho
nên, cha mẹ nói con nghe, đó cũng là cái đặt biệt của người Huế nói riêng
và đặt biệt Việt Nam nói chung. Ở đây nhấn mạnh về điều đó vì có luật, khi
có luật là có đạo đức, có giềng mối.
Ở
chùa Từ Hiếu này, vị đệ Nhị Tổ được vua Thiệu Trị và Vua Tự Đứcphong tặng
là tăng cang (cang: cương lĩnh, là vị thầy cầm cương lĩnh cho đạo và cho
đời). Cho nên, triều đình có chuyện gì bất trắc thì vua lên chùa cung
thỉnh các Ngài, xin các Ngài chỉ bảo.
Thời đại nào mà dân chúng suy thoái, đạo đức băng hoại là bởi vì Phật
Giáo băng hoại. Thời đại nào mà Phật Giáo hưng thịnh thì đạo đức xã hội
đưởctật tự an toàn. Nghĩa là chính phủ nào, chính quyền nào chèn ép Phật
Giáo thì trước sau gì chính quyền đó cũng bị quần chúng ruồng bỏ; cụ thể
là chế độ Ngo Đình Diệm Nguyễn Văn Thiệu đã sụp đổ vì chèn ép Phật Giáo.
Dưới thời Lê Long Đỉnh đã róc mía trên các nhà sư mà cười chơi giỡn và
cuối hành vi đó khiến cho triều đại Tiền Lê sụp đỗ.
Triều đại nào biết sử dụng Phật Giáo, biết sử dụng giáo lý Phật Giáo để đi
vào cuộc sống để thiết định chính sách an quốc, trị dân thì triều đại đó
tồn tại.
Trong triều Nguyễn, tuy rằng họ thiết lập chính trị trên nền tảng Nho Giáo
nhưng họ viết bốn chữ chỉ đạo cho tư tưởng của họ; bốn chữ nhưng gom hết
cả chính sách an quốc, trị dân đó là : “Phi Nho mộ Phật”. Nghĩa là, về
mặt chính trị thì dựa trên nền tảng Nho Giáo để ổn định xã hội trên tam
cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức; về mặt giá trị tinh thần văn hóa, tâm
linh thì phải ở nơi Phật Giáo. Lấy Phật Giáo làm nền tảng tâm linh cho
nhân dân, cho xã hội, ngưỡng mộ đạo Phật và xem đó là nguồn suối tâm linh
của dân tộc của con người. Khi nguồn suối tâm linh đó chảy dài trong đời
sống con người thì gia đình ổn định, con ra con, cha ra cha, vợ ra vợ, anh
ra anh, em ra em, quan ra quan, vua ra vua mà không có xen kẽ giữa cái này
và cái khác.
Như vậy là tôi đã trả lời cho quý vị Phật Giáo Huế có từ khi nào, tư tưởng
nào chủ đạo, ảnh hưởng đến đời sống dân tộc Huế thế nào rồi, vậy là đã đáp
ứng yêu cầu của quý vị rồi.
Quý vị biết, chính Phật Giáo Huế ảnh hưởng về luật cho nên người Huế tổ
chức rất giỏi, Tăng cũng tổ chức rất giỏi. Cho nên đơn vị cấu trúc Phật
Giáo từ tỉnh huyện đến phường xã, thôn xóm, từng tổ từng chúng… đều áp
dụng giỏi về luật. Nếu ta khômh giỏi về luật, ta không giỏi về pháp chế
thì không thể giỏi về mặt tổ chức được.
Cho nên, Phật Giáo Huế nhờ luật tạng mà ảnh hưởng đi tới tổ chức quần
chúng trong xã hội và đóng góp cho xã hội. Ví dụ, quý vị bí thư ở đay toàn
là phật tử hết, đều sinh hoạt gia đình phật tử hết, nhờ cái nhìn luật tạng
Phật Giáo mà đi vào cái nhìn của luật pháp thế gian.
Tất cả các luật pháp của các quốc gia tiên tiến trên thế giớikhông ra
ngoài năm giới của đạo Phật, đều thiết lập trên nền tảng năm giới của đạo
Phậtcả.
Thử hỏi có luật pháp nào cho phép giết người không? Không có, như vậy là
ngay từ buổi đầu đạo Phật đã cấm giết hại chúng sanh.
Có
luật pháp nào cho phép trộm cắp không? Ngay từ buổi ban đầu, giới luật
Phật giáo đã cấm trộm cẳp rồi, dù là trộm cắp dưới hình thức nào.
Luật pháp quốc gia đôi khi trộm loại này không tội, trộm loại khac smới có
tội; ví dụ như biếu xén không tội mà tham nhũng là có tội nhưng luật Phật
biếu xén kiểu nào, tâm nào cũng có tội.
Có
luật pháp nào ủng hộ tà dâm không? Nếu tà dâm là sẽ đưa tới tệ nạn xã hội.
Chỉ những quốc gia thấp kém mọi rợ mới mua dâm và bán dâm. Phật Giáo đã
thấy đó là nguy hiểm của xã hội và đã cấm, nam nữ quan hệ với nhau phải
hợp pháp, nghĩa là phải được gia đình hai bên đồng ý và được luật pháp
quốc gia bảo hộ. Nếu nam nữ quan hệ với nhau mà cưỡng bức nhau là phi
pháp, nam nữ quan hệ với nhau mà không được dòng họ hai bên công nhận là
phi pháp, nếu được dòng họ công nhận mà không được luật pháp công nhận
cũng là phi pháp. Cho nên, quý vị thấy luật của Đạo Phật cực kỳ văn minh,
Đạo Phật đã sớm thấy điều đó.
Đạo Phật cấm không được nói láo, nói láo tức là tâm nghĩ một đường mà
miệng nói một nẻo, tâm nghĩ một đường mà hành động một nẻo. Có quốc gia
văn minh nào trên thế giới mà ca ngợi sự nói láo đâu, ai cũng ưa nghe sự
thật, ai cũng muốn tìm hiểu sự thật, ai cũng muốn biết sự thật. Như vậy,
giới thứ tư của Đoạ Phật chỉ nói lên cái khát vọng của con người. Chính vì
vậy, mà giới luật của Phật Giáo nó ảnh hưởng đến đời sống của con người.
Trí thức là cái quý nhất của con người, trí tuệ là cái quý nhất của con
người, con người khác con vật là cái trí thức, con người là trí thức cấp
cao, con người khác con vật là nhờ trí thức trí tuệ. Lấy cái gì để bảo vệ
cái trí thức cái trí tuệ đó.
Giới thứ năm là không được uống rượu, vì rượu có tác dụng gậy mê ý thức
con người, nó tê liệt ý thức con người.
Các quốc gia văn minh chẳng có quốc gia nào chấp nhận thứ gây mê con
người.
Ngày naym xã hội mới tìm cách loại trừ buon lậu ma túy thuốc phiện nhưng
chưa loại trừ được nấu rượu, uống rượu. Đạo Phật cấm triêt để chuyện đó.
Một xã hội được gọi là công bằng văn minh là xã hội đó đến với nhau bằng
tình người, bảo vệ nhau mà không tàn hại lẫn nhau.
Xã
hội công bằng là xã hội tài sản của ai thì người đó có quyền sử dụng mà
người khac skhông được lạm dụng vào. Một xã hội công bằng văn minh có
nghĩa là phẩm giá con người phải được tôn trọng mà không được sử dụng hành
vi bất hợp pháp, mà không được dòng họ hai bên và luật pháp công nhận.
Một xã hội công bằng văn minh là sự thật phải được tôn trọng , được bảo
vệ.
Một xã hội công bằng văn minh là xã hội đó nâng caóy thức con người, đó là
ý thức tự giác phải nâng cao sự hiểu biết của con người, phải nâng cao trí
tuệ của con người. Quí vị thấy Đạo chưa? Như vậy quí vị đã thấy giới luật
Đạo Phật là không giết hại, không trộm cắp, không dâm dục, không tà dâm,
không uống rượu không vọng ngữ…Tất cả những cái đó đã trở thành nếp sống
của người phật tử Huế nói riêng và phật tử Việt Nam nói chung; của dân Huế
nói riềng và của nhận dân Việt Nam nói chung. Đó là nền tảng đạo đức cho
con người cho xã hội. Dù cũng văiệt nam minh đến mấy cũng không vượt qua
khỏi lưới đó phải không quí vị?
Văn minh gì khi giết nhau hàng loạt, văiệt nam minh gì mà làm ít hưởng
nhiều, văn minh gì mà nam nữ hư thân trắc nết, con người hkông còn cái
phẩm cách của con người, văn minh gì mà nói láo với nhau, lừa bịp nhau.
Phát triển kinh tế như gọi là văiệt nam minh sao? Đó là phát triển kinh tế
lừa bịp .
Con gà một ngày đẻ một trứng bây giờ làm cho nó đẻ một ngày hai, ba trứng
gọi là văn minh sao ? Đó là văn minh bóc lột, bóc lột con người đã là tàn
nhẫn thay huống chi bóc lột loài vật thấp kém hơn mình.
Cho nên, giáo lý Đạo Phật, đạo đức Đạo Phật khiến con người bảo vệ công
bằng lẽ phải. Chính vì vậy mà trãi dài gắn liền 2500 năm lịch sử, Phật
Giáo đã gắn liền với dân tộc, dân tộc mà suy Phật Giáo suy, dân tộc mà
thạnh Phật Giáo thạnh.
Phật Giáo thạnh thì dân tộc mới thạnh, đoạ đức và nề nếp văn hóa được phát
triển.
Phật Giáo suy thì đất nước này hết chuyện nói, bởi vì không có cơ sở đoạ
đức nào mà duy trì, mà phát triển được nữa.
Cho nên, tất cả quí vị phần nhiều là ở Vinh, các tỉnh phía Bắc của miền
Trung có thể quý vị chưa phải là phật tử nhưng tôi nhìn sâu vào tôi thấy
quý vị toàn là phật tử hết. Cơ sở nào để nói như thế? Nếu quý vị về giở
lại gia phả năm đời, mười đời quý vị thấy trong dòng máu quý vị là phật tử
hết. Lý Trần Phật Giáo là quốc giáo, 400 năm từ vua quan cho đến thần dân
không ai là không Phật Giáo, không ai là không con Phật. Như vậy, tại sao
mình lại đi theo dòng máu nào? Mà không phải là phật tử. Cho nên, tất cả
quý vị là phật tử hết, ngay cả những người Thiên Chúa Giáo cũng là phật tử
trong dòng máu của họ nhưng vì họ theo danh theo lợi, quên mất tổ tiên
quên mất đường về.
Vua Trần Nhân Tông nói: “gia trung hữu bảo hưu tầm mích” ( trong nhà mình
có của báu nhưng mình ham chơi bắt hoa, bắt bướm, sa hầm sỉa hố mà quên
mất đường về, chứ thật ra trong dòng máu của mình là Phật hết.)
Tôi chứng minh lịch sử như vậy, quý vị có gì thắc mắc xin phát biểu?
*Có vị hỏi: Tại sao trên bàn thờ dĩa hoa quả có một quả dựng đứng vậy?
-Thật sự khi mình cắm một bình hoa, đơm một dĩa quả khi nào cũng có một
cái làm chuẩn.
Bình hoa phần nhiều có một cái hoa làm chuẩn, rồi dựa vào cía hoa đó mà có
những hoa xung quanh. Quả cũng vậy, phải có quả làm chuẩn như cột trụ để
quả xung quanh dựa vào. Đoạ lý Phật Giáo không ra ngoài nhân và quả, giữa
biểu tượng cho nhân từ nhân đó mà sinh ra quả.
Từ
hoa đó mà sinh tra văn hóa, sinh ra nghệ thuật, sinh ra văn chương. Mà từ
văn chương đó chính là triết lý, chiều sâu của triết lý là đạo lý, con
người phải có chiều sâu mới cảm nhận được, mình sống hời hợt thì không
ngoài cơm ăn áo mặc, sống lăng xăng đến khi chất đi cuộc đời nó vô duyên
quá.
*Có vị hỏi: Tại sao trong chùa này có vị mặc áo vàng, có vị mặc áo nâu, có
vị mặc áo lam?
-Trong pháp phục Phật Giáo nó có pháp phục nghi lễ và thường phục.
Thường phục có loại ở trong chùa, có loại để đi ra ngoài. Y phục màu vàng
để dành cho buổi lễ tôn giáo. Y phục màu như tôi mặc đây dnàh cho buổi lễ
có tính hành chánh ,giảng dạy. Y phục ngắn để chỉ cho sinh hoạt thường
ngày ở trong chùa.
Mục đích màu sắc là hoại sắc, tức là phá hỏng sắc chính đi. Có nghĩa là,
người tu không đi theo màu sắc của thế tục, không bị màu sắc của thế tục
cuốn hút. Người tu không chạy theo sắc mà chạy theo tâm, phảit quay về để
thay đổi cái tâm mình vì cái tâm là gốc của sự sống.
*Có sinh viên hỏi: Năm giới cấm là căn bản đạo đức ở trong Phật Giáo và
các nước cũng thiết lập trên năm giới đó. Vậy, trong đó có gì sâu sắc, hơn
không? Xin thầy chia sẽ.
-Quý vị muốn xây một ngôi nhà mà nền móng, không có vững chãi thì ngôi nhà
đó không có an toàn và dễ sập đỗ. Cũng vậy, con gười muốn tiến hơn cao hơn
thì phải lập nền tảng của đạo đức từ nơi năm giới cấm. Năm giới cấm đó là
nền tảng đoạ đức của cuộc sống con người, dù là Âu hay Á, dù là xưa hay
nay mà nếu vượt qua năm giới cấm đó là phi đạo đức . Đây là đạo đức căn
bản mà trong thuật ngữ chuyên môn của Phật Giáo gọi là đạo đức tự duyên
của con người, ngang đó con người từ đó mà đi lên, nếu dưới mức đó thì con
người từ đó mà đi xuống. Chonên, đó là điểm gặp gỡ giữa con người và thánh
nhân và cũng là điểm gặp gỡ của những con người với những loài vật thấp
kém. Cũng là con người cả nhưng con người ngang đó mà đi lên thì con người
bảo toàn và có thể đi lên cao hơn và dưới mức đó thì gọi là phi đạo đức.
Sau đây chúng ta phải đặt ra cho được câu hỏi: Thế nào là một con người
hạnh phúc ở trong thế giới con người?
Chúng ta đí tìm đạo đức, chúng ta đi tìm hạnh phúc, chúng ta muốn hoàn
thành nhân cách nhưng chúng ta không biết chất liệu nào tạo nên?
Vậy muôn tạo nên một con người hạnh phúc thật sự là sao?
Một người lý tưởng trong trong thế giới con gười là sống lâu, có ai trong
chúng ta ưa chết sớm không ? Ai cũng muốn sống lssu, muốn sống lâu thì
phải giữ giới không đoạt mất sự sống của kẻ khác, mình đoạt sự sống của kẻ
khác thì cuộc sống của mình làm sao ra hồn được, làm sao sống có ý nghĩa
được, làm sao trường thọ được. Như vậy muốn sống lâu phải giữ giới không
sát sanh. Sống lâu là ước muốn muôn thuở của con người, giàu cũng ưa sống
lâu, nghèo cũng ưa sống lâu, người trí thức cũng ưa sống lâu, người ngu
cũng ưa sốnglâu, người Mỹ cũng ưa sống lâu, người Tàu cũng ưa sống lâu,
con chó con mèo cũng ưa sống lâu, sống lâu là tham vọng muôn thuở của
chúng sanh. Muốn duy trì và đạt được tham vọng đó thì phải giữ giứoi không
sát sanh.
Sông lâu mà nghèo đối không có cơm ăn áo mặc có khổ không? Cho nên ước
vọng thứ hai là sôíng lâu mà giàu có, mà muốn giàu có thì phải tôn trọng
tài sản của người khác. Cái mà làm cho mình nghèo đí lkà vì mình ăn trộm.
Tham mà nghèo, không có ai tham mà giàu hết, dù người đó ở nhà lầu có cả
ngàn cây vàng họ vẫn nghèo thôi, bởi vìtham thì phải đi ăn trộm. Như vậy
muốn giàu có phải giữ giới không trộm cắp.
Sống lâu giàu có rồi nhưng xấu xí, muốn đẹp thì phải giữ giới không tà dâm
mới tạo ra được sắc đẹp của thân tâm.
Sống lâu giàu có đẹp rồi phải có uy tín. Có người giàu có đpẹ nhưng người
ta khinh, đẹp mà không có hương vị của cuộc sóng. Vậy muốn sóng lâu, giàu
có, đẹp và người tin thì phải giữ thêm giới không nói láo tức là tạo ra uy
tín cho mình.
Một đứa con nít mà nói thạt, nói đúng người lớn nể vẫn như thường, người
lớn mà nói sai, nói xuyên tạc thì người ta khinh như thường, chỉ lừa họ
một lần qua hai lần chứ không lừa họ mãi được.
Có
người giàu có, đẹp đẽ mà hay nói láo thì đi đâu cũng chẳng ai nể nang gì
cả, chẳng ai tin được. Cho nên muốn sống lâu, giàu có, đẹp đẽ có uy tín
thì phải giữ giới không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói
láo.
Con người còn phải có trí thức cao, muốn như vậy thì phải không uống rượu.
Cho nên muốn sống lâu, giàu có, đẹp đẽ, có uy tín, có trí thức thì phải
giứ giới không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói láo,
không uống rượu.
Như vậy, Một mẫu người lý tưởng trong thế giới con người là người sống
lâu, giàu có, đẹp đẽ,có uy tín và trí thức. Con người mà đầy đủ năm chất
liêu đó triong đời sống của họ đó là một điều hạnh phúc, mà muốn đạt tới
mẫu người đó thì phải sống theo lời phật dạy: không giết hại, không trộm
cắp, không tà dâm, không nói dối, không uông rượu. Nhờ giữ gìn như vậy mà
phẩm giá của con người ngày càng cao lên, trong gia đình ai cũng giữ giới
như thế thì già đình đó trở thành gia đình đạo đức, xóm làng xã hội giữ
giới như vậy thì xóm làng xẫ hội sẽ hạnh phúc, dân tộc sẽ hạnh phúc sẽ có
giềng mối và tạo ra một sức mạnh mà không có một sức mạnh nào bên ngoài có
thể xâm nhập được cả.
Cũng vậy, quý vị thấy cấu trúc chùa Một Cột của đời Lý lấy tư tưởng Phật
Giáo làm cột tỵu để phát triển đất nước khắp cả bốn phía. Tất cả những
làng văiệt nam hóa, tư tưởng bên ngoài đi vào thì cũng phải thẩm thấu để
trở thành cột trụ và từ cột trụ mà chống đỡ để đi ra phát triển khắp cả
bốn phương, Như vậy, quý vị đã thấy Phật Giáo đã ảnh hưởng trên xứ Huế và
trên đất nước mình chưa? Biết được Phật Giáo đã đáp ứng được tham vọng
của con người chưa?
Ta đi tìm một mẫu người toàn hảo dưới cái nhìn Phật Giáo chứ không phải
đơn giản là cơm ăn áo mặc là đủ đâu.
Khi nào đói thiệt thì mình cần cơm, lạnh thiệt thì mình cần áo nhưng khi
đã no cơm ấm áo rồi thì con người phải là con người thiệt tức là phải có
một chút thăng hoa nữa.
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-09-2005