HT. Thích Minh Châu
Trong hơn 40 năm qua, chúng tôi đã nỗ
lực để xây dựng một đường hướng giáo dục cho chư Tăng Ni và Phật
tử Việt Nam dựa trên những lời dạy của Đức Phật. Con đường đã được
mở ra và đã được vận dụng ít nhiều, tạo nên những hiệu quả thiết
thực trong bối cảnh lịch sử văn hóa dân tộc. Chúng tôi cũng nương
vào lời dạy của Đức Phật, kết hợp với truyền thống văn hóa nước
nhà trong việc nỗ lực xây dựng các môi trường tu học cho Tăng Ni
Phật tử, vừa đúng với tôn chỉ giác ngộ của Bậc Đạo sư, vừa hợp với
truyền thống văn hóa của dân tộc.
Trong sự nghiệp
thuyết pháp độ sinh của Ngài, Đức Phật rất quan tâm môi trường tu
học thích hợp, không những cho các đệ tử của mình mà còn cho hết
thảy mọi người. Trong bản kinh "Khu Rừng" thuộc Trung
Bộ, Ngài nêu ra nhiều môi trường với các điều kiện khác nhau
để nhấn mạnh tầm quan trọng của một môi trường thích hợp nhất cho
sự tu học của các học trò mình. Theo Ngài, một môi trường thích
hợp cho sự tu tập và phát triển hài hòa, toàn diện của con người
phải hội đủ hai điều kiện thiết yếu, vật chất và tinh thần. Về
phương diện vật chất, Ngài nói đến các điều kiện vật chất cần
thiết hỗ trợ cho sự tu học của các cá nhân ở trong môi trường đó.
Về phương diện tinh thần, Ngài nhấn mạnh các nội dung tu học dựa
trên Giới, Định, Tuệ hướng đến giải thoát, giác ngộ. Đức Phật cho
rằng khi người nào tìm thấy một môi trường tu học hội đủ hai tiêu
chuẩn trên, thời người ấy cần phải bám trụ môi trường đó để tu tập
trọn đời, không được bỏ đi, dầu cho có bị xua đuổi. Ngài dạy:
"Này các Tỷ kheo, vị
Tỷ kheo sống tại một nơi nào hay sống gần một người nào, các niệm
chưa được an trú được an trú, tâm không định tĩnh được định tĩnh,
các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ,
vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng
đạt; và những vật dụng cần thiết cho đời sống của người xuất gia
như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị người bệnh,
những vật dụng này kiếm được một cách không khó khăn, vị Tỷ kheo
ấy cần phải suy nghĩ như sau: ‘Ta sống ở nơi này hay sống gần
người này, các niệm chưa được an trú được an trú, tâm chưa được
định tĩnh được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn
trừ được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi ách phược chưa
được thành đạt được thành đạt; và những vật dụng cần thiết cho đời
sống của xuất gia như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm
trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách dễ dàng’. Này các
Tỷ kheo, sau khi suy nghĩ như vậy, vị Tỷ kheo ấy phải trọn đời
sống ở nơi ấy hay theo sát người ấy, không được bỏ đi, dầu cho có
bị xua đuổi".
Đường hướng giáo dục
của Đức Phật nhấn mạnh sự hoàn thiện hay giải thoát của con người
trên cơ sở đánh thức, nuôi dưỡng và phát triển giới đức, tâm đức,
tuệ đức của mỗi cá nhân. Do đó một môi trường tu học đáp ứng được
mục tiêu trên cần phải có đủ Giới, Định, Tuệ và các điều kiện hỗ
trợ cho việc phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức. Đạo Phật chú ý
kiến tạo các môi trường giáo dục, khuyến khích sự phát triển giới
đức, tâm đức, tuệ đức của cá nhân dẫn đến sự phát triển hài hòa
của cộng đồng, và trong lịch sử các ngôi chùa Phật đã đáp ứng vai
trò ấy.
Suy ngẫm nhiều về lời
dạy của Đức Phật kết hợp với việc xem xét lịch sử văn hóa dân tộc,
chúng tôi nhận ra rằng, ngôi chùa luôn luôn là một môi trường tốt
và thích hợp nhất cho sự phát triển hài hòa của con người, đồng
thời là nơi gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, bởi cứ theo lời
dạy của Đức Phật ở trên, thì ngôi chùa chính là nơi ươm mầm và
nuôi lớn truyền thống đạo đức và trí tuệ của dân tộc.
Người Việt Nam chúng
ta tiếp thu đạo Phật từ rất sớm và ngôi chùa đã trở thành trung
tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng. "Đất vua, chùa làng, phong
cảnh Bụt" là hình ảnh rất gần gũi thân quen với người Việt. Làng
là đơn vị hành chính nhỏ nhất của hệ thống quản lý nhà nước ở xứ
sở ta từ xưa đến nay. Làng nào cũng có chùa. Chùa là của chung,
mang tính cộng đồng, nên mọi người đều có thể đến chùa, không phải
để tìm kiếm danh lợi mà để tìm lại chính mình, bởi ở đấy có đầy đủ
các yếu tố cần thiết và thích hợp cho mỗi con người muốn tìm thấy
chính mình thông qua việc học tập và phát triển hài hòa các phẩm
chất giới đức, tâm đức, tuệ đức của bản thân. Chúng tôi cho rằng
chư vị Tổ sư của chúng ta đã kế thừa đầy đủ lời Phật dạy trong
việc xây dựng nên các thiền môn hội đủ hai tiêu chuẩn căn bản trên
khiến trở thành các môi trường thích hợp cho sự phát triển hài hòa
của cá nhân dẫn đến sự phát triển hài hòa của cộng đồng. Chính sự
phát triển hài hòa, đồng bộ và thống nhất ấy của mỗi cá nhân và
cộng đồng trong cùng một môi trường giáo dục đã tạo nên sắc thái
văn hóa độc lập của dân tộc.
Đạo Phật đến Việt
Nam, giúp soi sáng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
của người Việt, che chắn cho người Việt đứng vững và vượt qua mọi
thử thách lớn của lịch sử. Có lẽ do hiểu rõ sự đóng góp thầm lặng
nhưng hết sức thiêng liêng của đạo Phật đối với vận mệnh của dân
tộc mà một thi sĩ đã thốt lên:
"Mái chùa che chở hồn
dân tộc,
Nếp sống muôn đời của
tổ tông".
Xã hội Việt Nam đang
trải qua giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa; điều này đồng
nghĩa với việc chúng ta thừa nhận nền văn minh khoa học kỹ thuật
phương Tây trong điều kiện xây dựng và phát triển đất nước. Phát
triển là bước tiến của lịch sử nhưng cần được xem xét và cân nhắc
kỹ để có những bước đi hài hòa ổn định cho quê hương xứ sở. Chúng
tôi nghĩ rằng càng theo đuổi sự phát triển mang tính hiện đại bao
nhiêu, chúng ta cần ra sức gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống bấy nhiêu. Có như thế cuộc sống con người mới phát
triển hài hòa, xã hội mới tiến bộ ổn định, văn hóa dân tộc mới
không bị mai một.
(*) Tựa đề của Báo
Giác Ngộ. Trích Diễn từ của HT. Thích Minh Châu đọc trong
lễ khánh thành bảo điện TV Vạn Hạnh, ngày 24-10-2004.