Làm thế nào
để trở thành một người tốt
Thích Như Điển
Phật lịch 2.548 - 2004
Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam
tại
Cộng Hòa Liên Bang Đức Xuất Bản
---o0o---
LỜI NÓI ĐẦU
Hôm nay là ngày 16
tháng 11 năm 2003 tại vùng núi rừng của Tu Viện Đa Bảo ở Sydney thuộc nước
Úc, tôi và tăng chúng ở đây đã gần một tháng nhập thất rồi và công việc
của chúng tôi là dịch kinh, hành trì, tu tập, công phu, học tập, chấp tác
v.v... Mỗi ngày cứ như thế và cứ thế, bắt đầu từ 5 giờ 30 sáng và chấm dứt
vào lúc 23 giờ đêm.
Thời gian trôi qua
thật nhanh, làm cho ai trong chúng tôi cũng có cảm tưởng rằng mới ngày nào
đó mình đến đây mà nay đã ở gần một nửa thời gian đã được ấn định rồi. Mọi
người đang vội vã để tự làm xong những công việc của mình. Riêng tôi,
ngoài dịch phẩm: "Đại Đường Tây Vức Ký" nói về hành trình đi thỉnh kinh
của Ngài Huyền Trang tại Ấn Độ, tôi muốn rằng phải có thêm một tác phẩm
nữa. Do vậy mà tác phẩm này mang tên là: "Làm Thế Nào Để Trở Thành Một
Người Tốt" được ra đời. Nhằm để cảm tạ thâm ân của Tam Bảo, Thầy Tổ, cha
mẹ và đàn na thí chủ đã vun bồi cho cá nhân mình trong hơn nửa thế kỷ qua.
Đây cũng là một tác
phẩm chuyên đề về giáo dục, về đạo đức, luân lý. Mà cũng có thể là một
quyển sách hướng dẫn về cách sống cho mọi người, nếu ai đó thấy thích hợp.
Vì lẽ cuộc sống hôm nay và cuộc sống ngày trước có nhiều thay đổi quá,
khiến cho lương tâm con người thật khó phân biệt, đâu là chánh, đâu là tà.
Phải nên nghe theo ai, phải nên bỏ ai v.v... Cuối cùng rồi nhiều khi chính
mình lại mâu thuẫn với mình nữa. Do vậy mà tác phẩm nầy cần góp mặt với
cuộc đời. Dĩ nhiên đây chẳng phải là kim chỉ nam cho mọi người phải noi
theo, mà là một cái nhìn của người đã qua những phương pháp sư phạm ở
trường Đạo cũng như trường Đời và nhất là phải nhìn đời hay đúng hơn là
cuộc sống nầy dưới cái nhìn về Đạo Đức của một Tôn Giáo thì mới mong cứu
vãn tình thế như hiện nay đã xảy ra nhan nhản khắp nơi trên quả địa cầu
nầy.
Tôi ở trong rừng cây
vắng vẻ trên núi, chung quanh được bao bọc bởi những cây bạch đàn. Đêm về
có tiếng côn trùng nỉ non, than thở. Ngày đến có nhiều động vật khác lạ,
có nhiều màu sắc, tiếng kêu ở xứ Nam Bán Cầu với những động vật mà tôi đã
thấy qua ở Phi Châu hay Á Châu, cũng như Âu Châu. Vì vậy mà cái nhìn về
thiện ác, tốt xấu v.v... có lẽ nó cũng sẽ giải trình theo từng quan điểm
khác nhau khi ở chỗ nầy hay chỗ khác. Vì lẽ ở bên này là ngày mà bên kia
quả đất là đêm và bên nầy bán cầu là mùa hè, trong khi đó ở bên Âu Châu là
mùa đông lạnh lẽo, giá buốt. Vậy thì đúng hay sai, tốt hay xấu hãy đừng
nên bị không gian và thời gian chi phối, mà chúng ta hãy gạt qua tất cả,
để đứng lên trên mọi chuyện chấp nhứt thị phi thì quan điểm ấy mới hợp với
đường lối nghiên cứu của các nhà khoa học hiện nay. Ngay cả đó là môn khoa
học về đạo đức hay khoa học của một Tôn Giáo.
Mỗi sát na là một
biến đổi. Mỗi giờ phút là một sự thay ngôi đổi chủ và trong khi chúng ta
đang sống thì cũng đã có biết bao nhiêu người đang phải chết. Trong khi
chúng ta đang đi đầu thai thì có không biết bao nhiêu người và động vật
được sinh ra. Thế giới nầy là một sự biến ảo. Một sự ảo hóa, có có không
không. Khiến cho người không vững lòng tin, khó mà thoát ra khỏi vòng đối
đãi chấp trước.
Ta là gì trong vũ
trụ nầy? Thật sự ra nó chẳng là gì cả. Vì trong vũ trụ nầy có biết bao
nhiêu cái ta như thế được đem ra giải trình; nhưng đâu có thấy được cái ta
nào đâu. Vậy nó là cái gì? Con kiến càng lớn, cái ta càng cao. Con kiến
nhỏ chắc cũng phải có một bản ngã nhỏ như thế? Vì lẽ khi ta đạp đến nó. Nó
tự vệ bằng cách cắn lại mình. Con chim két đang kêu tíu tít đó, chắc chắn
rằng con trống đang khoe tài với con mái, nhất là khi có con trống thứ hai
bên cạnh, thì con trống nầy lại ráng sức hơn để nói những gì mà có lẽ chỉ
chúng hoặc con mái đứng bên cạnh biết mà thôi. Nhưng có lẽ một điều không
sai là con nào cũng muốn phần thắng thuộc về mình.
Mỗi con vật, mỗi con
người đều có một loại vũ khí để phòng vệ. Ví như con kiến, con ong khi
chúng ta đụng vào nó, điều đầu tiên là nó lấy 2 càng và vòi cũng như nọc
độc để chích lại đối phương. Đấy chỉ nhằm tự vệ cho sự sinh tồn của chúng.
Vì chúng nghĩ rằng chúng phải sống. Sống là một định luật mà bất cứ loài
nào cũng phải tranh giành lấy. Vì sự hiện hữu trên cuộc đời nầy rất quan
trọng. Như con thiêu thân cố gắng ở trong bóng tối bao lâu để được nở
thành hình dạng; thì chỉ một đêm thôi đã trở thành cát bụi. Con muỗi cũng
thế, nếu chẳng may gặp người giết thì cũng chỉ trong khoảnh khắc lại tan
tành. Con rệp nó chui rúc dưới giường, giấu mặt để tìm chút hương thơm của
máu, thì cũng bị con người phát hiện và trước sau cũng sẽ bị chết với nước
sôi, hoặc dưới bàn tay không nhân nhượng của con người. Vì lẽ ai cũng phải
chiến đấu cho cái tự ngã của mình trước hết.
Có những con vật
thật lớn nơi vườn Tu Viện Đa Bảo nầy; nhưng nhiều khi bị những con kiến
thật nhỏ khiêng đi thân xác của những con gấp 20 hay 30 lần của chúng, mặc
dầu con vật lớn ấy vẫn còn sống. Tôi thấy được vội cứu đi liền và tự hỏi
làm sao có nhiều con lớn mà thiếu trí và mưu như thế, để cho một bầy kiến
nhỏ lại mang đi dễ dàng như vậy? Có lẽ bầy kiến sẽ hận tôi lắm? Nhưng
chuyện mạnh được yếu thua hay lớn ăn hiếp nhỏ có lẽ không đúng trong
trường hợp nầy?
Tôi quan sát 2 con
quạ và 2 con két. Khi quạ kêu lên thì két nó lắng tai nghe và khi két nói
thì quạ nó làm thinh. Chẳng biết chúng hỏi nhau gì; nhưng hỏi xong rồi mỗi
con bay đi mỗi ngả, quạ thì bay theo quạ và két thì bay theo két. Chúng
thường hay bay cặp hay bay thành đàn với nhau, chứ ít khi bay lẻ một con.
Trời hôm qua nóng
đến 32ổC; nhưng hôm nay thì gió bụi mịt mù. Ai ai cũng bảo sao mà trời làm
như thế? Nhưng dẫu làm thế nào thì con người, muôn vật vẫn phải sống. Nếu
lạnh thì mặc áo ấm vào. Nếu mưa thì phải che dù. Nếu gió thì phải khép cửa
lại để bảo vệ cho sự sống. Ta cũng chẳng có quyền để bảo gió phải dừng,
trời đừng mưa nữa và mây kia hãy đừng kéo đến để phủ kín bầu trời nầy.
Biển vẫn xanh, có
nhiều gợn sóng; nhưng giông bão đến thì biển sẽ gầm thét không ngừng.
Nhiều khi có khả năng nuốt hết những ngôi nhà nhiều tầng, nhất là những
đợt sóng thần trong lịch sử đã chứng minh điều đó.
Máy bay vẫn bay, vẫn
thành công về độ nhanh; nhưng cũng có nhiều chiếc đang rớt và có nhiều
người chết. Ai là người bị số phận hẩm hiu như thế? Và ai là kẻ được hạnh
phúc đến nơi chốn an toàn? Những cuộc hành trình ấy được bao lâu thì phải
chấm dứt? Và vũ trụ nầy có đứng yên hay bị hoại diệt bởi thời gian năm
tháng? Hay cứ thế mà lững lờ trôi về một nơi vô định nào khác?
Rồi trong lòng đất
người ta đã rút ra nào dầu lửa, hơi đốt, nhôm, chì, thép, đồng, vàng và
những kim loại khác v.v... nhưng khi nào thì những chỗ thủng ấy được thay
thế vào? Rồi những thứ được rút ra khỏi lòng đất ấy đã đi đâu? Biến thể
như thế nào? Của ngàn năm trước và ngàn năm sau nữa?
Con người ngày nay
đã chinh phục được mặt trăng và cả những hành tinh xa xôi khác nữa trong
vũ trụ nầy. Nhưng để làm gì? Và cuối cùng sẽ là gì? Nhìn đến phía trước
các khoa học gia đã và sẽ thấy gì và nhìn lại sau, họ đã rút ra được bài
học gì cho nhân loại?
Còn Tôn Giáo ư? Dĩ
nhiên là Tôn Giáo nào cũng muốn dạy cho Tín Đồ của mình trở thành những
người tốt. Tuy nhiên điều răn dạy ấy có hợp với tín đồ không, lại là một
điều khác. Ta thấy rằng cuộc đời nầy có lúc chìm lúc nổi, lúc lên lúc
xuống. Do đó Tôn Giáo cũng bị ảnh hưởng theo. Có lẽ đó là vòng quay của
tạo hóa chăng? Ngày xưa Phật Giáo ở Ấn Độ. Hơn 5000 năm của Ai Cập. Khổng
Giáo của Trung Hoa. Thiên Chúa giáo ở Âu Châu v.v... tất cả đều vang bóng
một thời. Tất cả đã đi vào dĩ vãng. Lật lại những trang sử ngày xưa người
ta thấy rằng dĩ vãng rất oai hùng, rất kiêu hãnh. Từ đền đài cung điện cho
đến văn hóa văn chương. Những gì mà còn lại như Kim Tự Tháp của Ai Cập,
Đại Tháp nơi Bồ Đề Đạo Tràng v.v... tất cả là những công trình to lớn mà
đời nầy người ta không thể xây dựng nên được. Không phải người ta thiếu
những phương tiện máy móc, mà người ta thiếu những đầu óc sáng tạo. Ngày
xưa người ta sống với thiên nhiên, tiếp cận, giao thoa với thiên nhiên;
nên thiên nhiên đã ưu đãi cho con người như thế. Tuy rằng phương tiện ngày
ấy chẳng có gì. Phải nói rằng chắc chắn thô sơ hơn ngày hôm nay; nhưng con
người ngày đó làm được. Còn bây giờ thì không.
Những tảng đá lớn
nơi đền thờ Đế Thiên Đế Thích tại Cam Bốt hay tại Bura Budur Nam Dương
chẳng hạn. Ai đã tạo nên những kỳ công lịch sử như thế nầy? Có phải một
ông Tiên nào đó ở thế giới khác đến đây để giúp cho con người, hay do nghị
lực của con người mà thành tựu? Thế thì cái nghị lực ấy ngày hôm nay nó đi
đâu rồi?
Ai trong chúng ta
lại tự nhận mình là người xấu, người thiếu khả năng? Ai có thể tự xấu hổ
khi một lỗi lầm đã xảy ra dầu trong vô tình hay cố ý? Ai có ý ăn năn để
sám hối, rửa tội? Những hình thức ấy có ý nghĩa gì? Và ai là người sẽ chịu
trách nhiệm về những gì mà chính ta đã gây nên? Phật, Trời, Chúa, Đế
Thích?
Con chim nó bay
nhiều lúc chúng ta nghĩ rằng nó không định hướng; nhưng chắc chắn chúng
biết cái tổ của nó ở đâu nó lại trở về. Con vật đi ăn đêm, làm sao có thể
trở về lại nơi xuất xứ ra đi? Con kiến nó bò xa miệng hang cả hàng trăm
thước. Thế mà nó vẫn có thể tự trở về. Con con người ngày hôm nay mặc dầu
có cả tấm bản đồ trong tay; nhưng đi vào phố vẫn bị lạc nhiều tiếng đồng
hồ? Đó là chưa hiểu làm sao có thể tự mình lên Thiên Đàng hay vào thế giới
Cực Lạc được? Mới đi chỉ một đoạn đường ngắn mà đã lạc rồi, làm sao trong
luân hồi sanh tử ấy biết bao nhiêu lần lặn hụp của kiếp nhân sinh, có thể
làm cho ta nhắm hướng đúng được?
Ngày nay những
thương thuyền lớn ra đi vẫn có hải bàn, có tài công giỏi, có đầy đủ phương
tiện liên lạc, thông tin, nhưng thỉnh thoảng ta đọc báo thấy có chiếc tàu
đâm vào đá, chiếc kia bị nổ, bị cháy giữa đại dương khiến cho hàng ngàn
người chết. Lỗi ấy tại ai và do đâu mà có?
Máy bay bay trên
trời rộng thênh thang. Họ có đủ các cơ phận radar để dò xét. Thế mà thỉnh
thoảng vẫn có những chiếc máy bay tông nhau trên bầu trời rộng rãi ấy.
Trong khi đó những con kiến chạy thành đàn ở dưới đất nầy đâu thấy con nào
bị tai nạn giao thông đâu. Lỗi ấy tại ai?
Quyển sách nầy nhằm
giải đáp một phần nào những thắc mắc trên qua kinh nghiệm bản thân của
người viết. Chắc chắn rằng có rất nhiều sự thiếu sót. Mong rằng qua kinh
nghiệm và ý kiến của chính quý độc giả sẽ đóng góp xây dựng, để từ đó rút
ra nhiều bài học quý giá hơn.
Mong được như vậy.
Núi rừng Đa Bảo vào một ngày hè của năm 2003
Tác giả cẩn chí
Thích Như Điển
Chương Một.
Định nghĩa về tốt và không tốt
Chữ Hán là một ngôn
ngữ tượng hình, dùng hình tượng để ghép lại để trở thành một chữ. Khi xem
chữ đó người ta biết nó biểu hiện cho cái gì. Ví dụ như nhà cửa, ruộng
nương, trâu bò, heo gà, cây cối, núi sông, nóng lạnh, gió, lửa v.v... tất
cả đều dùng hình ảnh để nói lên nội dung của chữ ấy. Trong khi đó ngôn ngữ
tiếng Việt lại tượng thanh nên khi phân tích ra bằng hình ảnh sẽ không
nhận biết được. Ví dụ chữ "tốt" mà đem chia ra bằng lối đánh vần thì nó
chẳng còn có ý nghĩa gì cả. Trong khi đó chữ Hán phải làm nhiệm vụ ghép
từng chữ tượng hình như thế mới có ý nghĩa.
Ví dụ chữ "tốt" là
"lương" hay "hảo". Chữ lương (良)
gồm 2 bộ. Bộ chủ (丶)
nghĩa là phàm vật gì cần có phân biệt, sự gì cần biết nên chăng, lòng đã
có định, thì đánh dấu chữ chủ để nhớ lấy. Bộ Cấn (艮)
có nghĩa là bền hay ngăn lại. Cũng gọi tên là Quẻ Cấn trong tám quẻ. Như
vậy định nghĩa chung của chữ lương (良)
là: phàm làm việc gì lòng đã có ý nhất định, cần phân biệt rõ ràng và có
tính cách bền chắc thì gọi là tốt. Ngoài chữ nầy ra bên tiếng Hán còn một
chữ khác nữa để diễn tả cho việc tốt, hành động tốt nữa gọi là hảo (好).
Chữ nầy có hai bộ. Đó là bộ nữ (女)
và bộ tử (子).
Chữ nữ (女)
có nghĩa là con gái, sao Nữ. Cũng đọc là nứ: nghĩa là gả con gái cho người
ta và cũng có âm gọi là nhữ. Nghĩa là mày, tục dùng như chữ nhữ (汝).
Còn chữ tử (子)
gọi là con. Bất luận trai hay gái đều gọi là tử. Đàn ông nào có được hạnh
học vấn đều gọi là tử cả, như Khổng Tử, Mạnh Tử v.v... Con cháu gọi người
trước là tiên tử. Gã, dùng để gọi kẻ tầm thường như chú lái đò, chú học
trò v.v... Chức tước hoặc mầm mống của các loài động vật. Số lẻ, tiếng
giúp lời. Cũng còn có nghĩa là tý, tức giờ đầu trong 12 Chi.
Nếu ghép chữ hảo (好)
lại thì ta thấy có người đàn bà và bên cạnh đó chữ tử (子)
có 8 nghĩa chính như bên trên đã nêu. Nếu người đàn bà đức hạnh có được
người con, người chồng, một mầm mống tốt thì người ta gọi là hảo (好).
Còn chữ bất (不)
gồm 2 bộ là bộ nhất (一)
và bộ tiểu (小).
Bộ nhất (一)
có nghĩa là một, là số đứng đầu trong các số đếm. Phàm việc gì chỉ có một
đều gọi là nhất cả. Cũng có nghĩa là cùng, dùng về lời nói hoặc giả thế
chăng. Bao quát hết thảy, thuộc về một mặt. Còn bộ Tiểu (小)
có nghĩa là nhỏ, hẹp hòi, khinh thường, nàng hầu v.v... Như vậy nếu ta
ghép chung 2 bộ lại thì sẽ có chữ bất (不)
nghĩa là chẳng khá, là lời nói lưỡng lự chưa quyết hẳn. Cũng đọc là chữ
phủ v.v...
Như vậy tốt được gọi
là hảo (好),
lương (良).
Không tốt được gọi là bất hảo (不好), bất lương (不良).
Phàm bất cứ việc gì mà có chữ bất đứng đầu đều ngầm ý giả định, chưa chắc
chắn. Có ý nghi ngờ từ việc lớn đến việc nhỏ. Còn đã gọi là tốt thì hoàn
toàn có ý tin cậy vào; nhất định hơn những điều xấu khác. Cho nên gọi là
tốt.
Ở đây chúng ta có
thể nêu lên vài ví dụ để nhìn về 2 khía cạnh của việc tốt và việc xấu, từ
phía nầy hay phía khác. Vậy chúng ta nên đứng về phía nào để nhìn một sự
việc?
Ví dụ như mưa phùn
mùa xuân rất tốt cho cỏ cây hoa lá và cho nông dân cày cấy, gieo mạ; nhưng
đối với người đi đường thì trơn trợt, không tốt lắm. Vì áo quần sẽ bị dơ
bẩn. Trăng mùa thu rất đẹp cho thi nhân mặc khách với bầu rượu túi thơ
ngắm trăng thưởng gió. Nhưng đối với kẻ ăn trộm thì ánh trăng ấy quả là kẻ
thù. Anh ta chẳng làm ăn gì được cả.
Một kẻ đang trung
thần với một triều đại là tốt. Trong khi đó những người không ủng hộ, thì
gọi đó là xấu. Vậy thì qua thời gian năm tháng, qua cách sống, qua lịch sử
sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ biết rằng thế nào là đúng, thế nào là sai. Ví
dụ đối với dân tộc và đất nước, vua Quang Trung Nguyễn Huệ là một đại anh
hùng. Vì ông ta đã đại thắng quân Thanh, mang danh dự về cho Đại Việt;
nhưng khi nhà Nguyễn Gia Long lên xây dựng vương triều thì gọi Tây Sơn là
Ngụy. Vì lẽ ngày xưa quân Tây Sơn đã đánh quân chúa Nguyễn chạy qua đến
Cao Miên và Thái Lan, sau đó mới về lập quốc và thống nhất sơn hà, bắt đầu
trả lại thù xưa.
Cái lý tưởng của
người Việt Nam bỏ nước ra đi tỵ nạn Cộng Sản là tốt. Vì họ là những người
không thích và không thể sống với cái chủ nghĩa độc tài chuyên chính ấy;
nhưng đối với người Cộng Sản, họ là kẻ chiến thắng. Họ gọi họ là kẻ anh
hùng. Họ gọi những quân nhân của chính quyền miền Nam Việt Nam là ngụy
quân, ngụy quyền. Còn người miền Nam gọi người miền Bắc là giặc, là quân
cướp nước, xâm chiếm miền Nam, v.v...
Người thích ăn trái
sầu riêng thì bảo rằng cái mùi sầu riêng sao mà nó thơm quá; nhưng những
kẻ không thích mùi nầy thì có cạy miệng bảo họ cũng chẳng dám ăn.
Kẻ ăn chay lâu ngày
thì không thể nào dùng mặn được. Vì mùi vị của thức ăn mặn nó tanh tưởi
khó chịu. Trong khi đó biết bao nhiêu người ăn đùi gà, đùi heo bịnh tật
nhưng đâu có đoái hoài lưu tâm. Đó là chưa kể về lý do Tôn Giáo, đạo đức
hoặc cái nhìn từ bi từ hướng nầy hay hướng khác.
Có người cả đời
chẳng đi xe hơi. Vì bảo rằng xăng của xe sẽ làm ô nhiễm môi sinh. Trong
khi đó những người xử dụng những năng lượng nầy đâu có bao giờ để ý đến.
Hoặc lý luận như người ở trên thì làm sao các hãng xe hơi sản xuất được và
lúc bấy giờ đem bán cho ai? Xã hội làm sao phát triển được? Kỹ nghệ sẽ như
thế nào? Chính phủ sẽ lấy tiền thuế ở đâu mà bù vào cho các khoản chi của
nhà nước?
Có ai thương hại
những loài dã thú trong rừng hoang của Phi Châu hay của Ấn Độ không? Ai
cũng muốn săn bắn; nhưng đâu ai đó có biết rằng có những con vật đã tiệt
giống ngày nay không còn có mặt trên trái đất nầy chăng? hay cứ vui theo
cái thú vui độc hại ấy. Nếu loài thú biết nói, chắc rằng chúng sẽ thành
lập nên hội thú quyền để đòi hỏi những bất công mà loài người đã mang đến
cho chúng. Chúng chẳng biết làm gì ngoài khả năng tự vệ mà thôi. Khi không
còn tự vệ được nữa thì chịu chết với sức mạnh của con người. Vậy thì ai
tốt ai xấu? Bởi vì chúng ta không hiểu được tiếng nói của động vật nhưng
nếu chúng ta nhìn động tác của chúng trước khi bị giết thì chắc rằng chúng
ta sẽ chẳng làm ngơ cho việc nầy.
Thế giới nầy đâu có
mấy nước giết chó để ăn thịt. Chỉ riêng người miền Bắc Việt Nam của chúng
ta đã thoải mái giết sinh mạng của những con vật biết trung thành với chủ
nầy để nhâm nhi. Người ta nói: "Chó không chê chủ nghèo. Con không chê mẹ
hát dở" là điều đúng. Dù cho chủ có nghèo đi chăng nữa, chó không bao giờ
đổi chủ. So ra tánh trung thành nầy của chó đối với người và muôn loại
khác thì có lẽ chó vượt qua rất xa. Thế mà đã có nhiều người Đại Hàn,
người Việt Nam, người Trung Quốc bắt chúng làm thịt cho được, thì không
biết phải hiểu như thế nào về hành động nầy?
Ở Mỹ người ta xếp
chó mèo trên đàn ông đến 2 bậc và ở Âu Châu cũng như các xứ tân tiến khác
cũng thế; nhưng nếu lỡ mà họ đến Việt Nam thấy dân mình đang bắt chó làm
thịt thì họ sẽ nghĩ gì về một dân tộc có mấy ngàn năm văn hiến như thế?
Một người học trò
ham học mà nhà nghèo. Ngoài việc học ra phải đi làm bồi bàn để kiếm sống
và đóng tiền học phí. Trong khi đó một kẻ con nhà giàu tiêu tiền như nước,
sát phạt qua những canh bạc thâu đêm, đâu có ý nghĩa gì với những đồng
tiền nhỏ nhoi ấy, nhưng đối với cậu học trò nghèo kia có thể sống cả một
cuộc đời; tuy nhà nghèo nhưng còn trong sạch. Trong khi đó biết bao nhiêu
người giàu họ đã sống trên mồ hôi và nước mắt của kẻ khác thì sao? Xã hội
bây giờ đã tiến bộ lắm rồi; nhưng mỗi ngày trên thế giới nầy vẫn còn mấy
chục ngàn trẻ em thiếu ăn, thiếu thuốc men mà chết. Trong khi đó có không
biết bao nhiêu thực phẩm dư thừa tại Âu Mỹ hay Á Châu đem đổ vào sông vào
biển. Vì họ lý luận rằng tiền chuyên chở đến Phi Châu hay những nơi có nạn
đói đắt hơn là nguyên vật liệu đem đi cho. Do vậy họ đem đi đổ; nhưng
trong khi đó thì thế giới nầy đang có không biết bao nhiêu người đành phải
chịu chết đói, chết khát.
Tục ngữ Việt Nam
chúng ta có câu: "Mèo khen mèo dài đuôi" có lẽ diễn tả đúng được tâm trạng
và tình huống của những điều đã nêu trên. Vì ai cũng muốn cái lý và phần
thắng nằm về phía mình chứ không nằm về nơi khác. Đó cũng là điều dễ hiểu.
Vì mình muốn bảo vệ cái tự ngã, cống cao, ngã mạn của mình và cho rằng ai
cũng sai hết, chỉ có tôi là đúng mà thôi. Vì tôi có lý, vì tôi mạnh, vì
tôi có tiền, vì tôi có quyền, vì tôi có thế lực, vì tôi có học, vì tôi
đẹp, vì tôi giỏi v.v... và v.v... cứ thế nhân lên, trừ đi, cộng thêm và
chia ra rồi trước sau gì nó cũng huề cả. Vì tạo hóa lâu nay vốn dĩ công
bằng. Điều ấy cũng hẳn đúng với câu: "Chẳng ai giàu ba họ và cũng chẳng ai
có thể khó đến ba đời". Đâu có ai làm quan từ đời nọ qua đời kia đâu? Đâu
có ai đi ở đợ suốt bao nhiêu thế hệ đâu? Và cũng đâu có ai giàu suốt năm
nầy qua tháng nọ, đời nầy qua đời khác đâu?
Nếu tất những việc
bên trên mà không đúng, hóa ra luật vô thường của nhà Phật không đúng sao
và cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác sẽ cư xử như thế nào đây?
Một kẻ giết người
không gớm tay cứ nghĩ rằng không ai có thể biết được hành vi tông tích của
mình. Vì hắn đã có nhiều thiện xảo; nhưng thời gian năm tháng trôi qua
chính lương tâm hắn bị dằn vặt, hoặc giả những oan hồn uổng tử ấy cứ hiện
về khiến hắn ăn không ngon, ngủ không yên để rồi phải tự ra đầu thú với
chính quyền địa phương và tự khai những lỗi lầm của mình để xin được quyền
sống cho đến cuối đời chứ không muốn bị hành quyết nơi ghế điện. Tại sao
một người giết người không gớm tay như thế mà còn sợ đau sợ chết, thì thử
hỏi những cái chết oan uổng khác của những người mà hắn ta đã giết phải bị
đau khổ và dằn vặt biết chừng nào? Trong khi mạng mình thì quý mà xem mạng
người khác còn thua cỏ cây rơm rác là nghĩa như thế nào?
Ngày xưa khi khoa
học chưa phát triển, loài người sống với thiên nhiên, với mặt trời, mặt
trăng và các vì tinh tú, họ vẫn có thể tự biết khi nào trời mưa, trời bão
hoặc có những hiện tượng biến dị của đất trời của con người. Còn ngày nay
chỉ cần bật máy truyền hình, truyền thanh lên là có thể nghe và thấy được.
Nhưng riêng tôi cả tháng nay ở vùng núi đồi Đa Bảo nầy chỉ chập chùng có
những cây bạch đàn và những cây thông, trong nhà trong thất không có điện
thoại, không có truyền hình; nhưng cũng có thể hiểu và biết được những
hiện tượng như trên, không qua ngôi sao hay mặt trăng mà qua những động
vật đang sống quanh đây. Cứ mỗi lần có những biến thiên của trời đất thì
xem hiện tượng của những con mối và những con kiến thì rõ.
Con kiến biết trước
rằng sẽ có mưa to gió lớn nên chúng sẽ vào sâu trong ổ cũng như che đậy
mặt ở của mình thật kỹ cho nước mưa khỏi lọt vào và gió cũng không thể
thổi mạnh vào hang của chúng. Sau khi gió mưa đã ngừng nghỉ thì chúng lại
đi nhặt những lá cây, vỏ cây mà chúng đã đậy lại, đem đi nơi khác. Nhìn
thấy chúng mảnh khảnh như thế nhưng chúng làm việc liên tục và rất có tinh
thần trách nhiệm, khiến cho con người cũng phải khâm phục.
Còn con mối cũng
thế. Bỗng một hôm trời nắng gắt, nóng không thể tưởng, quý Thầy, quý Chú
trong Tu Viện Đa Bảo nghĩ rằng ngày mai chắc phải chịu một ngày nắng bức
hơn như thế nữa. Thế nhưng bỗng nhiên những con mối cánh dài bay đậu đầy
cửa sổ và bóng đèn. Ai trong chúng tôi nhìn chúng cũng thấy là một hiện
tượng lạ; nhưng chưa biết là việc gì. Có người nghĩ tại sao cuộc đời của
con mối cũng như của những con thiêu thân thê thảm đến thế. Đầu thai bao
lâu trong trứng mới nở được, mà chỉ cần một đêm thôi thì thân hình đã tan
xác pháo, đúng là kiếp phù du mà. Nhưng không, đó là một sự báo hiệu của
ngày mai không đẹp đẽ mấy. Mai sẽ giông, gió sẽ thổi, mưa sẽ nặng hạt hơn
mọi lần. Mà đúng thế, lần nầy thì thôi khỏi phải nói, trời đất nổi cơn
thịnh nộ, xung thiên, cuồng phong thổi dữ dội, khiến cho những chậu kiểng
trong vườn của Tu Viện ngã lăn ra hết và mưa cứ thế mà càng ngày càng nặng
hạt. Dĩ nhiên là những con mối kia đã chết hết rồi. Không biết vì sao
chúng lại chịu hy sinh như thế? Có lẽ chúng không chịu được giông bão
chăng? Hay vì lẽ gì khác? Chúng sinh ra chỉ chờ cơn giông bão là phải
chết? Nhưng dù sao đi nữa tôi thấy những loài động vật như kiến, mối ở đây
quả thật là bất khả tư nghì. Tôi không biết chúng có bảo rằng: trời sao
xấu quá không? Tại sao phải làm mưa làm gió như thế để cho chúng phải
chết? Còn thiên nhiên thì sẽ trả lời sao về việc nầy?
Thật sự ra có rất
nhiều sự sống ở dưới bàn chân của ta, ở trong người của chúng ta, ở trên
không trung, trong biển cả và ở khắp nơi trong hoàn vũ nầy. Bởi vậy trong
kinh Phật dạy có hằng hà sa số chúng sanh là vậy. Có những chúng sanh có
tư tưởng mà không có hình tướng. Hoặc giả có hình tướng mà không có tư
tưởng. Hoặc giả có loài có cánh, có loài có chân, có loài không chân
v.v... cứ thế và cứ thế chúng sống rất nhiều trong thế gian và ngoài thế
gian nầy. Con người thật ra chỉ là một sinh vật rất nhỏ, nhỏ li ti so với
bao nhiêu sinh vật đã có trước ta và sau ta nữa.
Nước Úc nầy người
Anh mới phát hiện ra 200 năm. Diện tích lớn gấp mấy chục lần nước Việt Nam
mình; nhưng cho đến thế kỷ thứ 21 nầy vào năm 2003 chỉ mới có độ 20 triệu
người. Nếu đem cả dân tộc Ấn Độ gần 1 tỷ người vào đây ở, chắc cũng còn
rộng. Tuy nhiên chính phủ sợ thiếu nước. Nước sẽ là một đề tài rất lớn mà
nhân loại trong tương lai sẽ gặp phải.
Người Âu Châu khi ăn
uống phải lịch sự, nhai không có tiếng kêu, trong khi đó người Nhựt, nếu
anh ăn canh mà không húp thành tiếng thì đó không phải là người mạnh khỏe.
Trong khi chúng ta ăn dùng đũa, dùng nĩa thì gọi là văn minh, còn người Ấn
Độ, Tích Lan dầu khách nào đi chăng nữa, họ cũng chỉ dùng bàn tay mặt.
Chúng ta nhìn họ, bảo rằng họ không văn minh; nhưng họ nhìn mình, có lẽ họ
cũng nghĩ vậy. Họ sẽ nghĩ rằng: Cơm là hạt ngọc của trời cho. Tại sao
không dùng tay mà sờ mó trực tiếp để nâng hạt cơm ấy đưa vào miệng? Thế
mới gọi là biết ơn, trân quý chứ? Còn vật nào mà người ta ghê tởm thì
người ta mới gắp và tạo một khoảng cách cần thiết để khỏi dơ tay!!! Vậy
thì đúng hay sai, tốt hay xấu tùy theo từng phong tục, tùy theo từng địa
phương mà có nên những quan điểm như thế nầy.
Một hôm chúng tôi
đứng sắp hàng ở phi trường Auchland thuộc nước Tân Tây Lan để chờ kiểm
soát giấy thông hành khi ra khỏi cửa. Bỗng mọi người chú ý đến một người
đàn ông. Người ấy vẫn là đàn ông; nhưng ông ta đang mặc váy. Ai thấy cũng
xầm xì; nhưng ông ta thì tỉnh bơ. Không phải ông mặc lộn đâu. Vợ ông cũng
mặc như thế. Xem ra ông ta rất hãnh diện. Vì đây là những y phục truyền
thống của người Mori, dân địa phương của Tân Tây Lan đấy! Trong khi đó ông
nhìn chúng tôi và mọi người chung quanh chắc cũng có một quan điểm như
thế. Nghĩa là tại sao đàn ông không mặc váy mà mặc cái gì không ra cái gì
hết vậy? Còn đàn bà cũng thế, phần trên thân thể cũng thiếu, phần dưới
thân thể cũng vậy. Như vậy là văn minh sao? Vậy thì tốt hay xấu; nên hay
không nên, chúng ta phải đứng ở khía cạnh nào để định nghĩa và tuân theo
đây?
Một con người được
gọi là tốt. Vì người đó có nhiệm vụ đóng thuế đầy đủ cho chính phủ, không
phạm về luật lệ giao thông, là một người chồng siêng năng lý tưởng.
Một con chó được gọi
là con chó tốt; nghĩa là con chó ấy phải trung thành với chủ. Còn nếu mình
đóng vai người thiếu đạo đức và một con vật không trung thành thì mình sẽ
nghĩ như thế nào về chính phủ của mình và chủ của mình đây? Rồi ai sẽ là
người xử kiện cho chúng ta trong những việc nầy? Lương tâm, luật pháp,
đạo đức hay có người trung gian để hòa giải?
Thật ra tốt và xấu
là 2 mặt trái phải của cuộc đời nầy. Đứng bên nầy thì mình thấy ban ngày,
mà đứng bên kia thì mình thấy ban đêm. Sự tốt xấu ấy nó không phải là một
định luật, lại càng không phải là một định đề. Vì lẽ nếu đem áp dụng vào
chỗ nầy thì đúng mà chỗ khác lại không đúng. Chúng ta nên có một cái nhìn
và sự đánh giá không phải ở điểm khởi đầu của sự kiện, mà nên đứng ở trung
tâm của sự việc để nhìn. Nếu cao cả hơn thì nên vượt lên trên sự đối đãi
để nhìn thì chúng ta sẽ có một cái nhìn tổng quát và toàn diện hơn.
Chương Hai
Ý nghĩ của trẻ thơ khi làm một việc
thiện
Đa phần chúng ta
đánh giá về tuổi thơ rất sai lầm. Đại để là: Con nít nó biết gì? Đó là một
cái đánh giá thiếu căn bản. Nhiều lúc có thể trẻ nhỏ cũng sẽ đánh giá
ngược lại như thế, là người lớn chẳng hiểu gì việc của con trẻ làm cả. Vì
người lớn lúc nào cũng nghĩ rằng mình làm đúng; nhưng điều đó chưa chắc!
Ví dụ như tai nạn
giao thông trong phố thì người lớn lái xe gặp nhiều khó khăn hơn với đèn
vàng, đèn đỏ. Trong khi đó người trẻ lại nhanh hơn. Vì người lớn bao giờ
cũng nghĩ là phản ứng của mình là đúng, cẩn thận; nhưng những phản ứng đó
quá chậm, làm cho xe sau bị gây ra tai nạn. Trong khi đó tuổi trẻ thì
nhanh nhẩu hơn. Họ chỉ gặp tai nạn khi bất cẩn tại xa lộ vì háo thắng cũng
như hấp tấp. Trong khi đó người lớn tuổi ít vấp phải trường hợp nầy.
Đứa bé nó luôn luôn
muốn có khoảng tự do riêng của nó; nhưng người lớn thì ép nó phải như
mình. Điều đó dĩ nhiên sẽ bị kháng cự. Lúc ấy người lớn sẽ bảo rằng đứa bé
nầy hư. Nhưng sự nhận xét ấy cũng chỉ một chiều thôi. Vì đứa bé sau khi
sinh ra đời, tất cả những gì đối với nó trong thời gian phát triển nầy là
mang tính cách cộng thêm vào. Còn người lớn thì ngược lại, càng ngày càng
phải trừ bớt đi, trong đó có cả sự trừ đi của việc hiểu biết nữa. Người
trẻ luôn luôn nhớ cái mới và thích học hỏi những gì cần học hỏi; trong khi
đó đối với người lớn tuổi thì chỉ nhớ cái quá khứ còn cái mới thì hay
quên. Có lẽ vì cái túi chứa nơi tâm thức đã đầy rồi chăng? Có một câu
chuyện thiền xin kể ra đây để hầu quý vị.
Có một vị khách rất
tri thức đến gặp một vị Thiền Sư để hỏi đạo. Khi gặp khách, Thiền Sư đem
trà ra chế mời khách. Vừa nói chuyện vừa châm trà và khi ly trà đã đầy;
nhưng Thiền Sư cứ châm mãi cho nó tràn ra. Vị khách ấy mới bảo:
- Bạch Ngài, nước đã
tràn ra ngoài ly khá nhiều.
- Cũng như thế đó,
những gì được gọi là tri thức nó đã ngự trị nơi tâm của ông đã đầy dẫy.
Ông còn tâm đâu để học Thiền nữa. Cho nên những gì ông muốn học, nó cũng
như những giọt nước tràn ra đấy thôi. Thiền Sư trả lời như thế.
Sau khi nghe Thiền
Sư nhắc khéo như vậy, người khách mới tỉnh mộng nam kha và tất cả người
lớn của chúng ta cũng đều như thế cả. Chúng ta hay tự dễ dãi với chính
mình và buộc người khác phải tuân phục mình thì mình mới thỏa mãn với cái
tự ngã của mình.
Trước năm 1975 tại
miền Nam Việt Nam có một vở kịch nhan đề là "Lá Sầu Riêng" do nghệ sĩ Kim
Cương đóng. Nữ nghệ sĩ nầy đóng rất xuất sắc, ai xem cũng cảm động, có
nhiều người cầm lòng không đậu khi xem kịch, phải lau nước mắt nhiều lần.
Nội dung của vở kịch, soạn giả viết rất hay đã đành mà cách diễn xuất câu
chuyện và hình thức của câu chuyện cũng đã thành công một cách tuyệt vời
do sự diễn xuất của nữ nghệ sĩ Kim Cương. Trong vở kịch có nhiều đoạn hay;
nhưng hay nhất và cảm động nhất có lẽ là câu nầy.
Kim Cương nói: "Tại
sao lúc con còn nhỏ, mẹ chỉ cho con một cây kẹo, mà lúc nào con cũng quấn
quít bên mẹ. Còn bây giờ con lớn khôn rồi, mẹ đã cho con cả cuộc đời của
mẹ mà con vẫn chối từ?"
Câu nói chỉ đơn giản
thế thôi; nhưng đã đánh đúng vào tâm lý của biết bao nhiêu bà mẹ. Thế là
nước mắt cứ lưng tròng và tủi phận mình làm sao lại có những đứa con bất
hiếu như thế! Tại sao vậy? Vì trong vòng tay của mẹ, lúc nào người mẹ cũng
muốn người ấy là con của mình, chứ không thể là con của người khác. Cái
tình thương mà lúc còn nhỏ ấy bây giờ nó không còn nữa. Nó bị đẩy xa ra,
càng ngày càng xa ra khỏi tầm tay của mẹ; nên người mẹ mới nghĩ như vậy.
Đứng về phương diện của người mẹ thì mẹ có lý đấy chứ. Nhưng đứng về quan
điểm của người con thì sao?
Lúc nhỏ sinh ra lúc
nào đứa con cũng được vòng tay thương yêu bảo bọc của người mẹ; nên mẹ con
là tất cả. Do vậy ca dao Việt Nam mình vẫn ca tụng tình mẹ như:
"Mẹ già như
chuối ba hương
Như xôi nếp
mật như đường mía lau"
Tình mẹ cao cả thật
và người con được sinh ra cũng như lớn lên trong tầm tay của mẹ. Thế rồi
tình thương vẫn tràn đầy, không thay đổi, không thuyên giảm; nhưng còn
người con thì sao? Dĩ nhiên đứa bé của lúc 3 tháng không thể là đứa bé của
lúc 1 tuổi và đứa bé của lúc 3 tuổi không thể là đứa bé của lúc 10 tuổi
được. Cậu ta sẽ học từ mẹ cha, học từ bạn bè, học từ Thầy giáo, học từ môi
trường và từ chính khả năng nội tại của cậu bé ấy. Nếu môi trường tốt, cậu
ấy có thể trở thành văn nhân, thi sĩ, kỹ sư, bác sĩ v.v...; nếu môi trường
xấu sẽ không là như vậy. Ở đây xin nêu ra một ví dụ để mọi người cùng
tường lãm.
Ví dụ như một đứa bé
mồ côi ở Phi Châu được một người Âu hay người Mỹ đem về quê hương của họ
để nuôi nấng. Dĩ nhiên ban đầu đứa bé ấy rất khó để thích hợp với môi
trường văn minh; nhưng dần dà cậu ta sẽ quên đi tất cả những gì mà cậu ta
đã cảm thọ, mặc dầu da và tóc của cậu ta vẫn còn đen. Tuy nhiên tư tưởng
và sự học hành của cậu ta là một sự tiến bộ. Nhiều khi còn hơn cả những
bạn bè da trắng cùng lớp nữa.
Một điều bất hạnh
khác là có một đứa bé người Mỹ hoặc người Âu đem bỏ vào trong vùng rừng rú
của Phi Châu, ngày đêm đứa bé nầy chỉ quen biết với khỉ, với cọp thì chắc
chắn rằng dẫu cho di truyền của đứa bé nầy tốt bao nhiêu đi chăng nữa, đứa
bé ấy cũng sẽ là đứa bé bán khai, mặc dầu được sinh ra nơi văn minh nhất
nhì thế giới.
Cuộc đổi đời năm
1975 đã có biết bao nhiêu người Việt Nam đã ra đi khỏi quê mẹ thân yêu và
định cư trên năm châu của thế giới. Tính đến nay đã có hơn 2 triệu người
rồi đó. Đó là chưa kể cả hơn 500 ngàn người vùi thân nơi biển cả mênh mông
kia để làm mồi cho cá mập cũng vì hai chữ tự do mà đã cất bước ra đi. Khi
đến xứ người đa phần đã thành công hơn là thất bại. Sau đây là một vài câu
chuyện nhỏ được dẫn chứng qua tác phẩn "Vẻ Vang Dân Việt" của tác giả
Trọng Minh ở Hoa Kỳ.
Chuyện kể như thế
nầy: Có nhiều gia đình xuất thân từ nghề đánh cá (dĩ nhiên là con cái
không có cơ hội tiến thân về việc học tập, chứ không phải là một nghề
xấu); nhưng khi đến Mỹ, con cái được học hành đàng hoàng và con cái trong
gia đình nầy có nhiều người đã đậu bằng Bác sĩ và Thạc sĩ.
Cũng có một người
học trò bình thường sinh ra trong một gia đình trung lưu của Việt Nam;
nhưng khi đến Mỹ cho con đi học và nay cậu ấy đã ra trường với học vị Tiến
sĩ Chính trị học. Mới 33 tuổi thôi và hiện tại đang làm trong Bộ Tư Pháp
của Hoa Kỳ, xếp hạng thứ ba đấy. Người ta cũng tiên đoán rằng chỉ cần vài
thập niên nữa thôi, người nầy sẽ trở thành Bộ Trưởng Ngoại Giao của Hoa
Kỳ. Điều ấy rất đúng với câu tục ngữ của Việt Nam là: Ở bầu thì tròn, ở
ống thì dài. Nhưng cũng có một số trường hợp không được như ý lắm giống
như những câu chuyện dưới đây.
Có nhiều gia đình ít
học, khi ra đi khỏi Việt Nam muốn cho con cái mình càng giống Mỹ càng tốt.
Họ cho hội nhập thật nhanh, chỉ có cái đầu tóc đen và màu da vàng là chưa
đổi được. Còn phong tục tập quán, ngôn ngữ, tôn giáo v.v... đều Mỹ hóa
hết. Vì lẽ cha mẹ trình độ thấp cho nên không dạy cho con học tiếng Việt
được mà cũng chẳng khuyến cáo con đi học. Do đó con cái chỉ nói tiếng Mỹ.
Do vậy khi lớn lên con nói con nghe, cha mẹ nói cha mẹ nghe. Thế là hỏng.
Cha mẹ đâm ra bực dọc con cái. Thế rồi từ thế hệ nầy trở đi đã có hàng rào
ngôn ngữ cản ngăn rồi. Cha mẹ chỉ biết tiếng Việt, còn con cái chỉ biết
tiếng Mỹ. Nên đây là một vấn đề nhức nhối của thời đại của nhiều gia đình
tỵ nạn Việt Nam ở khắp năm châu, chứ không riêng gì ở Mỹ.
Nhưng được một cái
là thế hệ thứ hai nầy ở ngoại quốc, họ ít có liên hệ về quá khứ như cha
ông của họ đã sanh ra và lớn lên tại Miền Nam Việt Nam nên cái suy nghĩ
của họ nó cũng khác. Nó không đâm sau lưng mà là đối diện. Nếu ai thắng
thì kẻ thua phải chịu thiệt thòi, chứ không phải thua cũng cứ đòi mình trở
thành người thắng.
Tôi đang dịch Đại
Đường Tây Vức Ký từ chữ Hán sang tiếng Việt cùng Thầy Đồng Văn có một
đoạn cũng rất hay, hợp với điều trên nên xin ghi vào đây để cho mọi người
đọc.
Khi Ngài Huyền Trang
đi chiêm bái Ấn Độ, lúc ấy cách nay cũng đã hơn 1.300 năm rồi; nên những
địa danh không còn như xưa; nhưng đại khái câu chuyện như thế này:
Ở nước nọ có một nhà
vua rất sùng tín Ngoại đạo và vua ra lệnh các Tăng sĩ cũng như các Luận sư
của ngoại đạo phải có một cuộc tranh tài. Nếu Ngoại đạo thắng, nhà vua sẽ
tiêu diệt Phật Giáo. Nếu Phật Giáo thắng, những Luận sư của Ngoại đạo phải
tự hủy hoại thân thể của mình. Khi chư Tăng bên Phật Giáo nghe thấy thế
lấy làm lo nên ai cũng im lặng. Có người đề nghị rằng có Ngài Hộ Pháp
người học rộng hiểu nhiều, nên cung thỉnh Ngài ra luận nghị. Cuối cùng
Ngài đồng ý và đã thăng tòa.
Ngoại đạo đọc thuộc
lòng những thánh kinh của họ và dương dương tự đắc.
Ngài Hộ Pháp nghe
xong liền cười và bảo rằng: Ta sẽ là người thắng rồi đó.
Ngoại đạo hỏi tại
sao?
Ngài bảo rằng ta
không những thuộc lòng mà còn đọc ngược lại tất cả những gì mà ngươi đã
đọc, đồng thời lý giải những chỗ còn yếu. Thế rồi Ngài Hộ Pháp đọc. Đọc
đến đâu Ngoại đạo khiếp vía đến đó và tất cả Luận sư của phái Ngoại đạo
kia đều quỳ xuống xin bái phục, đồng thời xin sám hối và sẽ làm như lời
giao ước là sẽ tự hủy mình.
Ngài Hộ Pháp điềm
tĩnh bảo rằng: Cái thân thể nầy nó chẳng có tội lỗi gì cả. Nếu muốn cải
thiện thì cái tâm của các ông mới là điều căn bản. Hãy cải hối nơi tâm,
chứ không nên sát hại thân thể.
Ngoại đạo nghe xong
mừng rỡ cảm tạ và nhà vua từ đó cũng từ bỏ Ngoại đạo mà phụng trì Phật
Pháp.
Ngày xưa cái thời mà
văn minh vật chất chưa tiến bộ lắm; chỉ có văn minh tinh thần thôi; nhưng
họ rất rõ ràng và lịch sự, hiểu biết. Còn ngày nay con người càng chạy
đông chạy tây, chạy sao cho khỏi tội và càng đổ tội, bôi nhọ lên người
khác cho xấu hơn mình để mình được nổi bật hơn những kẻ khác, thì quả thật
cái đạo đức và luân lý của người đời nay nó đã xuống thấp quá nhiều rồi.
Một đứa bé được giáo
dục tại ngoại quốc ngày nay nó khác với sự giáo dục trong nước rất nhiều.
Nghĩa là tự nó làm, tự nó học, nó sẽ mãn nguyện; chứ không phải việc làm
và sự học hỏi ấy do cha mẹ nó làm dùm hay bày vẽ làm dùm thay cho nó. Ví
dụ một đứa bé đi học mang rất nhiều sách vở, người mẹ Việt Nam thấy thế
tội nghiệp mang dùm đi đến trường cho con. Điều nầy nếu nhìn dưới cái nhìn
của người mẹ có lẽ đúng. Vì thương con trẻ nhọc nhằn; nhưng nếu nhìn với
cái nhìn giáo dục thì sai. Vì lẽ phải để cho đứa trẻ tự mang vào lưng, vào
đời của nó, để sau nầy nó đứng vững trong đời, chứ cha mẹ có đi vào đời
thế cho nó bằng đôi chân, bằng khối óc, bằng nghị lực được đâu?
Chỗ nào nó học không
hiểu thì chúng hỏi và cha mẹ phải tự xem là bạn của chúng trong sự trao
đổi học hỏi, chứ không là kẻ đàn áp chúng; nếu chúng học không được hay
làm bài sai thì đem roi ra để dọa nạt, đánh đập. Ở Á Châu chúng ta cách
giáo dục đơn thuần là người học trò chỉ cần học thuộc lòng những gì mà
Thầy dạy là đủ; nhưng ở đây thì không thế, ngoài cái dạy của vị Thầy ra,
người học trò, đứa bé có thể nói lên ý kiến hoặc quan điểm của mình nữa.
Nhiều khi biết đâu ý kiến của đứa bé lại hay hơn ý kiến của Thầy giáo và
cha mẹ của mình cũng không chừng. Ở Á Châu, thực ra đứa bé nó chỉ sợ con
roi khi nó không thuộc bài, chứ thực ra nó không sợ ông Thầy hoặc cha mẹ
khi xử dụng vũ lực với nó, mà không xử dụng lý trí, sự hiểu biết hay khả
năng. Nếu nó có biện luận thì bảo rằng: Con trẻ biết gì?
Nhưng thế nào là
biết? Một đứa bé mỗi ngày có thể mỉm cười từ 5 đến 10 lần. Trong khi đó
người lớn, có nhiều người suốt ngày tìm một nụ cười cũng chẳng có. Vậy thì
ai hạnh phúc hơn ai? Ai thánh thiện hơn ai? Mặc dầu đứa bé chẳng làm việc
gì gọi là thiện cả; nhưng ít ra nó không gây tội ác hơn là người lớn và
một việc được gọi là thiện đối với trẻ thơ nó chỉ đơn thuần như một nụ
cười, một niềm vui, không tính toán, không khoe khoang, không vị kỷ và
nhất là không vì tự ngã của mình mà làm.
Khi chơi trò chơi,
khi nhìn những con vật nhỏ bé bị nạn trẻ thơ kia đôi khi cũng làm người
dũng sĩ tí hon, rất hào hiệp nhảy vào cứu người và cứu kẻ bị thế cô. Thế
là các em đã mãn nguyện lắm rồi, không cần đền đáp, không cần ai nhắc đến
tên mình để trả ơn trả nghĩa. Nếu là người lớn chắc là việc cứu mạng như
thế họ sẽ nhớ lâu lắm?
Đầu óc của trẻ thơ
rất non nớt và hầu như không tính toán. Nhiều lúc phát ngôn ra nhiều lời
nói bộc trực, táo bạo, khiến người khác cũng rùng mình, không biết rằng ai
đã dạy chúng như thế? Nhưng đâu có ai biết rằng đó là một việc tự nhiên
như một phản xạ của thân thể và trí óc.
Một hôm tôi thấy một
con mèo rình bắt một con chim vành khuyên. Sau khi mèo bắt được chim rất
hí hởn, tôi không nỡ lòng nào ngồi nhìn, đoạn mở cửa phòng chạy ra thì
thấy chim kia đã bị sứt hết nhiều lông và có những vệt máu bầm, cổ chim đã
quẹo lại, tôi mới đuổi con mèo; nhưng hắn ta gầm gừ dữ dội, đã 2 lần như
thế cố tranh với con mồi trên tay tôi. Sau đó chú mèo chạy vào bụi rậm. Có
lẽ chú giận tôi lắm. Tôi đem con chim để nơi cao ráo; nhưng chẳng bao lâu
sau nó trút hơi thở cuối cùng. Dẫu sao đi nữa nó chết, cũng còn toàn thây
và con mèo kia không ăn được con chim, chắc cũng không bị chết đói.
Khi tôi ngồi viết
bài nầy nhìn ra ngoài sân thấy có con chim gì màu sắc rất đẹp đang cắn xé
một con ve sầu mùa hạ. Giống ve ở đây cũng khác lạ với quê hương mình. Con
ve có 2 cánh rất lớn, mà theo Hạnh Tuệ thì bảo rằng nhờ thế nó mới kêu to.
Tôi thấy bất nhẫn quá nên mở cửa để đuổi con chim đi. Con chim vì miếng
mồi ngon mà không được ăn, có lẽ nó cũng giận tôi lắm; nhưng con ve kia
đâu có tội tình gì? Vả lại con chim không ăn một bữa đâu có chết mà sợ.
Con ve còn kêu than để cho người ta biết mùa hè đã đến nữa, cho nên Hạnh
Tuệ đã hí hửng đem thâu băng để nghe tiếng ve sầu. Vì ở Âu Châu làm gì có
được thứ côn trùng ấy. Sau đó thì ve sống lại và bay đi. Tôi không là trẻ
thơ; nhưng vẫn cố cứu những con vật cô thế như vậy.
Ở đây chim chóc rất
lạ có nhiều màu sắc rất đặc biệt. Mỗi buổi sáng, mỗi trưa và mỗi chiều
chúng thường hay bay liệng trước cửa thất của tôi và phòng của quý Thầy
quý Chú. Có nhiều loài chim, loài sâu bọ, loài kiến tôi chưa từng thấy lần
nào. Có lẽ đây là vùng đất nam phương của thế giới; nên có nhiều con vật
lạ như thế. Cũng tiếng kêu ấy; nhưng xem ra hình tướng khác lạ vô cùng,
như con quạ vẫn nghe kêu là quạ quạ. Con vành khuyên, con chim sáo chúng
vẫn kêu như thế; nhưng sự dạn dĩ và màu sắc thì ở đây rất lạ kỳ.
Mới đây báo chí có
nói rằng nếu con người tăng lên 30 đến 40% rau cải hoa quả trong mỗi bữa
ăn thì bệnh đau tim không còn nhiều và bệnh khủng hoảng tinh thần cũng ít
đi. Nếu con người chỉ muốn ăn thịt động vật thì những bệnh kia khó chữa
lắm! Mình cũng là động vật; heo gà, trâu bò cũng là động vật, nỡ nào mình
ngon miệng mà chúng phải bị đau thương kêu cứu như thế?
Có một năm trường
tiểu học ở Mỹ các em học sinh làm kiến nghị dâng lên Tổng Thống Clinton
rằng nhân lễ Thaksgiving (Lễ Tạ Ơn) không nên ăn thịt ngỗng nữa. Vì những
con vật ấy các em thấy chúng rất là hiền hòa dễ thương. Đó là một việc
thiện; nhưng không biết người lớn có nghe chăng? Hay vẫn bảo rằng các em
vẫn còn nhỏ dại chưa biết gì? Vậy thì trong trường hợp nầy người lớn biết
gì? Biết chém giết? Biết hơn thua? Biết ngon miệng? Còn các em? Ai sẽ là
người hóa giải hay xử kiện cho vấn đề lương tâm nầy? Chắc chắn một điều
các em có lý. Vì các em không muốn thấy sự chết chóc ấy diễn ra tại nước
Mỹ và khắp nơi trên thế giới khi mùa Tạ Ơn đến lại có những con vật phải
hy sinh cuộc đời của mình như vậy chỉ để làm cho con người được khoái khẩu
lúc ăn nhậu mà thôi.
Đây là một chương và
một đề tài cần phải nghiên cứu và thảo luận để chúng ta có thể nâng cao
giá trị đạo đức của tuổi thơ ngày nay.
Chương Ba
Ý nghĩ của thiếu niên về việc tốt và
không tốt
Khi con trẻ vị thành
niên, dưới 18 tuổi phạm luật của nhà trường hay xã hội thì cha mẹ hay
người giám hộ phải chịu trách nhiệm; nếu là những tội nhẹ. Nếu chẳng may
phạm tội giết người thì chính thiếu nên ấy phải vào tù để được cải huấn.
Đa phần luật lệ ở các nước Âu Mỹ đều như vậy. Dĩ nhiên là có nhiều trường
hợp đặc biệt khác nữa; nhưng tựu chung là như vậy.
Nhưng tại sao con
trẻ ngày nay lâm vào tình trạng ấy? Do xã hội? Cha mẹ? Hoàn cảnh chung
quanh? Hay học đường? Nếu bảo rằng: "học đường là lò đúc nhân tài" thì gia
đình là gì? Nếu không phải là nơi căn bản để sản sinh ra người con ấy?
Nhưng tại sao cũng gia đình đó, cha mẹ đó mà sinh ra nhiều người con, lại
khác nhau đến như vậy? Có người học hành nên danh nên phận, bác sĩ, kỹ sư;
trong khi đó có nhiều người hư thân trắc nết, phạm vào những lỗi lầm
nghiêm trọng đối với gia đình, với bạn bè và với xã hội? Lỗi ấy tại ai?
Nếu bảo rằng tại
người trẻ ấy hoàn toàn cũng không đúng. Vì lẽ cha mẹ vẫn là người trực
tiếp lo lắng mà. Còn nếu bảo là nhà trường hay cha mẹ cũng không đúng. Tại
sao nhà trường vẫn có những người học giỏi và cha mẹ vẫn có những người
con ngoan hiền mà? Cái nên của ngày xưa nó khác và cái hư của ngày nay nó
cũng khác nhau nhiều lắm. Ngày xưa khi muốn lấy chữ hiếu để làm gương, cha
mẹ hay Thầy giáo hay đem gương hiếu thảo của 24 người học trò thời Đức
Khổng Tử ra khuyên bảo; nhưng thời đó qua xa rồi, đã hơn 2.500 năm rồi còn
gì. Cái hiếu thời đó là xã hội không có khả năng chu toàn cho con người;
nên con cái phải có bổn phận lo cho cha mẹ khi về già. Còn cái hiếu ngày
nay mà bảo phải làm như thế thì chắc chắn con cái sẽ cãi lại rằng, đã có
xã hội lo rồi. Họ đi làm đóng thuế cho chính phủ và chính phủ hay nhà nước
phải có bổn phận lo cho cha mẹ mình.
Ngày hôm nay ít còn
có người con nào có hiếu phải cõng cha cõng mẹ đi khắp nơi xin ăn hoặc lóc
thịt mình để cho cha mẹ dùng như nhiều mẩu truyện cổ của Phật Giáo vẫn
thường hay nghe nói đến, mà cha mẹ ngày nay đôi khi lại buồn tủi vì nói mà
con cái không nghe lời. Con cái được sinh ra trong các gia đình người Á
Đông, đa phần cha mẹ làm chủ mọi việc, kể từ việc trong gia đình cho đến
việc học hành, giao thiệp v.v... quyền uy cha mẹ nắm, tiền bạc cha mẹ lo.
Những trẻ con vị thành niên phải chấp nhận việc ấy và xem cha mẹ là bậc
Thầy săn sóc mọi vấn đề từ vật chất đến tinh thần; nhưng khi ở ngoại quốc
ngày nay lại khác. Nếu cha mẹ la rầy quá đà, nhiều lúc cầm cây để hăm dọa,
chưa đánh đứa trẻ; nhưng đứa trẻ nhanh chân hơn, chúng đi tìm điện thoại
để gọi cho Cảnh Sát đến điệu cha mẹ về bót. Có nhiều cử chỉ nâng niu chiều
chuộng thân mật thì chúng cũng có thể gọi cho Cảnh Sát như thường và báo
cho Cảnh Sát biết là bị lạm dụng. Khi Cảnh Sát đến thì cha mẹ chẳng biết
giải thích tại sao. Vì nó là con cái của mình mà. Có một câu chuyện hơi
khôi hài nhưng có thật, xin kể cho quý vị nghe.
Có một chùa nọ nuôi
mấy chú tiểu dưới 18 tuổi, dĩ nhiên là được cha mẹ gửi gấm đàng hoàng. Một
hôm vào lớp học ngồi ngủ gục, chú kia bị cô giáo hỏi tại sao? Chú tiểu trả
lời rằng: Ở chùa phải thức khuya dậy sớm để tụng kinh nên vào trường buồn
ngủ. Thế là Thầy trụ trì ấy bị mời đến trường và từ đó trở đi không được
kêu chú bé ấy dậy tụng thời kinh Lăng Nghiêm vào buổi sáng nữa.
Nếu một người đi tu
mà không tụng kinh Lăng Nghiêm vào buổi sáng thì thử hỏi phải làm gì bây
giờ? Thật là khó xử. Ở nhà cha mẹ đã khó, mà đến chùa quý Thầy, quý Cô
cũng chẳng biết phải làm sao cho hơn bây giờ. Đó là chưa nói đến những
người lớn hơn tuổi ấy. Ở Việt Nam, nếu đã là người phát tâm xuất gia thì
vào chùa và Thầy trụ trì hay vị Bổn Sư là người có quyền quyết định tất
cả; nhưng ở ngoại quốc nầy không phải như thế. Nếu nói nặng một tiếng thì
đã bỏ chùa đi rồi. Họ không cần đi đến chùa khác, ra ngoài ở vẫn xin tiền
trợ cấp của chính phủ để thuê nhà và có đủ tiền ăn uống, đâu có lo gì, mà
sợ những hình phạt của Thầy mình. Đó là chưa kể những chuyện trái ý nghịch
lòng khác của tình yêu lẩm cẩm của trẻ vị thành niên nữa. Có những em chưa
đầy 18 tuổi đã bụng mang dạ chửa. Bây giờ phải đổ thừa cho ai đây. Đó là
chuyện ngoài đời. Còn trong đạo thì chuyện nầy tương đối còn kỷ cương hơn
một chút. Vì có giới luật ràng buộc; nhưng nếu chính những cô cậu ấy không
tự giữ mình thì không có gì có thể giữ thay cho mình được.
Ở Đức, nếu một người
trẻ muốn đi tu, tuổi ít nhất phải là 16. Do vậy ở ngoại quốc chúng ta thấy
ít có những chú tiểu đầu để một vá tóc dài buông xuống phía trước rất dễ
thương như ở Việt Nam chúng ta thường thấy, mà đa phần là người lớn tuổi,
hay những người già cả. Vì vậy cho nên có một Thầy ở Mỹ tuyên bố rằng: Ở
Mỹ nầy chỉ có những người không bình thường mới đi tu, chứ những đứa trẻ
bình thường thì nó ít đi tu lắm!!! Tôi có hỏi tại sao thì được giải thích
rằng:
Một đứa bé bình
thường sau khi xong Tiểu Học thì nó vào học Trung Học. Sau khi học xong
Trung Học thì vào Đại Học. Sau khi ra trường thì nó đi tìm việc làm và sau
đó là mua xe, mua nhà, lấy vợ, sinh con. Chứ ai đâu có thì giờ để mà lo
chuyện xuất gia tu học. Chỉ những kẻ không phải như vậy họ mới đi tu thôi.
Nghe xong tôi thấy
hơi xốn xang và tự nghĩ rằng: Không lẽ chùa là một cái bệnh viện, chỉ chứa
toàn là những bệnh nhân? Nếu hiểu dưới cái dạng cứu đời giúp người thì
đúng chùa là nơi như vậy; nhưng quý Thầy, quý Cô giống như Bác sĩ, Y tá
chữa bệnh cho bệnh nhân thì phải là những người bình thường chứ? Nếu là
người không bình thường thì làm sao mà chữa bệnh? Nhưng khi nghe và hiểu
nguyên nhân như trên thì lấy đâu ra nguồn vốn là con người từ lúc ban đầu
để mà đào tạo thành người tu chân chính, rồi đầu ra mới có được những
người giỏi chứ? Nếu đầu vào chưa là đầu voi mà đầu ra còn nhỏ hơn đuôi
chuột nữa thì quả thật là một điều đáng lo ngại cho Phật Giáo Việt Nam
ngày nay tại Mỹ nói riêng và tại ngoại quốc nói chung. Vì tre sắp tàn mà
măng không có mọc. Đây là trách nhiệm của Giáo Hội, của con người thời
đại. Nếu tất cả chúng ta đều giao phó cho xã hội. Còn con người phải bó
tay thì phải nói rằng đặt ra giáo dục học đường và giáo dục gia đình để
làm gì? Nếu con người là Thượng Đế, mà Thượng Đế hư hỏng như thế, quả thật
xã hội nầy đã đến lúc cần phải thẩm định lại.
Mới đây Bộ Giáo Dục
Đức đã cộng tác với Cơ quan Giáo Dục Thế Giới kiểm tra lại sức học của các
học sinh trường trung học của mình thì thấy không phải một em bé mà kết
quả chung là nước Đức đứng hàng thứ 14 trên thế giới. Vì vậy cho nên Thủ
Tướng Schröder và Bộ Giáo Dục bắt học đường phải có bổn phận nhiều hơn
nữa. Nghĩa là tăng giờ học lên. Có nơi còn phải học vào cả ngày thứ bảy
nữa và dĩ nhiên là nhu cầu đòi hỏi cho học đường cũng gia tăng hơn. Do vậy
mà cha mẹ phải đóng thuế nhiều hơn thì chính phủ mới có tiền để chi vào
các khoản thiếu hụt đó, chứ tiền ở đâu mà chi bây giờ? Đúng là một cái
vòng luẩn quẩn, đẩy cái nầy qua thì cái khác phải xê dịch đi một tí.
Phải thành thật mà
nói rằng ở Hoa Kỳ cho đến ngày hôm nay, sau hơn 25 năm xây dựng chưa có
chùa nào hay Phật Học Viện nào của Phật Giáo Việt Nam thành công trong vấn
đề đào tạo thế hệ xuất gia trên quê hương mới đó. Có; nhưng rất ít và rất
lẻ loi. Thế hệ thứ 2 đã thế thì thử hỏi thế hệ thứ 3 sẽ ra sao? Ngày xưa
khi vào chùa tu, tôi đã được nghe bảo rằng: "Đời người tu giống như bông
xoài trứng cá". Điều ấy đúng. Vì việc tu nó không đơn giản. Nếu đơn giản
thì mọi người đã đi xuất gia hết rồi; nhưng ít ra cũng còn người đi tu.
Còn ngày nay ở ngoại quốc như thế quả là điều hết sức nan giải vô cùng.
Một bài toán mà Giáo Hội vẫn chưa có đáp số là phải mạnh dạn viết lên con
số như thế nào, là bao nhiêu đây? Câu trả lời vẫn còn để trống !
Vậy xã hội ngày nay
là xã hội gì? Đó là một xã hội không trọng nhân nghĩa bằng tiền bạc. Một
xã hội chỉ xử dụng những người giỏi, còn người dở bị quẳng vào quên lãng.
Một xã hội chỉ có đồng tiền là đại diện cho tiếng nói của mọi hoàn cảnh.
Vì thế cho nên ai có tiền nhiều, ai có bằng cấp cao thì xã hội Mỹ, xã hội
Úc, Canada sẽ cho di dân dễ dàng hơn là những người không có chuyên môn gì
cả. Vậy thì ngày nay chuyện đạo đức, luân lý nói với ai đây?
Đã có hằng trăm
Thầy, Cô ra đi từ trước và nhất là sau năm 1975; nhưng một thời gian ở Mỹ
rồi thì bị cái vòng xoay của Mỹ nó mạnh quá hay nói đúng hơn là nó tàn
nhẫn quá; nên đã có không biết bao nhiêu Thầy, Cô đã bỏ chiếc áo nhà tu,
đi mặc lại chiếc áo đời thường để được dễ thở hơn; nhưng không biết cái
đời thường ấy đã nghiền nát họ như thế nào rồi, thì chẳng ai quan tâm đến
họ nữa. Dẫu sao đi nữa họ cũng đã bị tục hóa rồi mà. Đời lúc ấy có đen hay
trắng cũng vậy thôi. Nếu Thầy, Cô nào giỏi thì bon chen với đời. Còn không
có khả năng thì đành chịu như bao nhiêu người khác và sống bằng cách đón
chờ những ân huệ của xã hội hằng tháng. Chỉ có thế thôi.
Vậy thì tuổi trẻ có
đóng góp gì cho xã hội? Có chứ và có rất nhiều. Bằng chứng là những nhà
bác học, những nhà giáo dục, những nhà xã hội đều xuất thân từ tuổi trẻ
đấy chứ. Nếu bảo sự giáo dục tại trường ấy dở, tại sao đào tạo được nhiều
bậc nhân tài như thế? Dĩ nhiên không phải ai học trường ấy đều ra làm Thủ
Tướng, Tổng Thống, Bác Học cả, mà lý do nội tại là do chính cậu bé, cô bé
ấy nhiều hơn. Nếu sinh ra trong nhà giàu có mà chẳng ham học, chỉ xài tiền
của cha mẹ thì cậu ấy hay cô ấy tương lai sẽ chẳng có gì. Nếu cô cậu ấy
biết tiến thân qua lời dạy của cha mẹ và học đường thì cô cậu ấy sẽ thành
công; nhưng nhiều khi cũng có thể hiểu ngược lại là đằng khác đấy. Các cô
cậu vị thành niên nầy sẽ nghĩ gì và nói rằng: Người lớn là loại người khó
xài được, vì chẳng hiểu tuổi trẻ là gì cả. Nhưng các cô cậu đâu có ngờ
rằng trước khi bước qua cái tuổi già nầy, tất cả họ đều phải trải qua cái
tuổi trẻ ấy chứ. Con cái ngày nay có thể hơn cha mẹ về thông minh, khoa
học, ngoại giao v.v... nhưng chắc chắn một điều không thể hơn kinh nghiệm
được. Điều đó phải khẳng định như thế và chưa có cậu bé nào qua khỏi được
nhận định nầy.
Napoléon của Pháp
ngày xưa hay vua Quang Trung của Việt Nam cách 200 năm về trước khi chinh
phục đông tây nam bắc hoặc có khả năng đại thắng quân Thanh như thế, không
phải là một ông tướng già ở nơi trận mạc, mà tất cả đều là những thanh
niên ưu tú của quốc gia. Là những người có đầu óc minh mẫn mới lãnh đạo
được hàng hàng lớp lớp tướng sĩ như thế. Dĩ nhiên những anh hùng ấy không
phải tự nhiên mà anh hùng. Họ là những người phải được hun đúc nơi học
đường, nơi gia đình từ thuở ấu thơ kia. Tôi đoan chắc là như thế, mà mãi
cho đến ngày nay tôi chưa đọc được một tác phẩm nghiêm túc, rõ ràng nào về
cha mẹ họ, về cuộc đời của họ lúc ấu niên cũng như thiếu niên, mà chỉ biết
họ thành danh, thành người và những chiến công lẫy lừng của những vị tướng
ấy. Lẽ ra phải có những nghiên cứu sâu xa hơn nữa, để chúng ta được tự hào
về những người như thế và tôi tin rằng không phải ai cũng nhờ thời thế mới
tạo nên anh hùng.
Nhà thờ tại Mỹ ngày
nay một phần nhỏ bị khủng hoảng. Có lẽ không phải vì niềm tin mà vì thiếu
tiền. Nguyên nhân từ đâu mà thiếu? Vì người lớn càng ngày càng nhiều mà
người nhỏ đi nhà thờ rất ít, ai sẽ là người đóng thuế nhà thờ để nuôi nhà
thờ đây? Nếu không phải là những người trẻ, mà ngày nay người trẻ họ tin
gì? Nếu làm thống kê thì chắc có lẽ những nhà tôn giáo học sẽ thất vọng.
Do vậy nhà thờ phải bán và ai mua nhà thờ để làm gì? Nếu không phải là nhà
chùa. Chỉ có chùa mới mua lại mà thôi, như thế mới đủ tiêu chuẩn; nhưng
rồi 20 năm sau nữa nhà chùa không có khả năng duy trì nữa thì chắc có lẽ
lúc ấy cũng phải treo bảng bán mà thôi. Nhưng lúc ấy thì ai mua? Hãy chờ
và xem thử ra sao, chứ việc bán chùa để làm nhà hàng của người Trung Hoa
tại San Francisco không phải là không có.
Đó là chuyện của 100
năm trước, khi mà cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 của Tôn Dật Tiên đã
thành công ở Trung Hoa thì có rất nhiều người Hoa chạy sang lánh nạn tại
Hoa Kỳ. Lúc ấy họ thấy trống trải quá cho nên sau khi tạm yên thì họ lo
đời sống tâm linh và lúc ấy chắc cũng đã có nhiều Thầy sang tỵ nạn; nên họ
đã xây dựng được nhiều ngôi chùa to lớn và đến 20 năm sau, 40 năm sau rồi
60 năm sau họ không thể duy trì được. Vì lẽ thiếu người tu và thiếu người
đi chùa nên họ phải bán lại cho người khác để làm nhà hàng. Đó là một thực
tế. Dầu ta không chấp nhận cũng phải thừa nhận một sự thật như vậy.
Đâu có ai sống hết
thế kỷ nầy đến thế kỷ khác để mà làm nhân chứng cho cuộc đời nầy đâu mà có
thể biết được hết mọi biến thiên của lịch sử. Nhưng lịch sử là những gì
nối ghép lại của thời nầy qua thời nọ, tạo thành một chuỗi dài thời gian
liên tục như thế và do con người đóng góp mà thành. Lịch sử có lúc nên có
lúc hư, có khi thịnh khi suy cũng là lịch sử. Còn con người hiện diện
trong thời gian đó chỉ là một nghiệp lực mà thôi. Ví dụ ngày nay những
người Đức còn sống sót lại dưới thời Hitler cai trị thì họ rất xấu hổ rằng
họ đã có một người lãnh đạo đất nước họ như thế; nhưng vào thời đó ai dám
nghĩ điều đó; nếu có chỉ vào tù và không có đường nào khác. Ngày đó là
vậy; nhưng bây giờ thì nhân loại đã ghê tởm trò chém giết dân Do Thái như
thế; cho nên ngày nay người Đức an ủi vết thương lòng của dân Do Thái bằng
cách tổ chức lễ kỷ niệm hằng năm để tưởng nhớ đến những người bị Đức Quốc
Xã thiêu sống và người Do Thái ngày nay ở Đức cũng có nhiều quyền lợi hơn
những người ngoại quốc khác. Một phần vì họ có tài và một phần họ được
nâng đỡ.
Tuổi trẻ của Karl
Marx, của Lénin, của Stalin, của Hồ Chí Minh, của Mao Trạch Đông, của Kim
Nhựt Thành, của Fidel Castro v.v... những tên tuổi mà người chết nghe còn
sợ, huống gì những người còn đang sống hay bị sống dưới thời họ cai trị.
Cũng là tuổi trẻ dấn thân; nhưng chẳng may họ dấn thân lầm vào con đường
bạo ác mà dân tộc của những nước nầy chắc không cần đến họ thì những dân
tộc ấy vẫn có thể hiên ngang sánh vai chung cùng thế giới. Có đâu sau 70
năm của Liên Xô hay hơn 50 năm của các nước Cộng Sản khác tại Âu Châu họ
vẫn còn nghèo đói, chết chóc và xiết buộc những tư tưởng tự do để cho thế
giới nhìn họ như là những dân tộc kém mở mang về dân trí cũng như nhân
quyền.
Đông Âu đã sớm thoát
ra khỏi sự cai trị của chủ nghĩa Cộng Sản và bây giờ họ đã được phục hồi
về mọi phương diện. Nhờ đó mà tuổi trẻ ngày hôm nay họ có được cơ hội để
tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Từ đó họ sẽ phụng sự cho quê hương đất
nước họ với cái nhìn thực tế hơn. Nếu ai đó có cơ hội xem lại những cuốn
phim mà đài truyền hình Đức chiếu về những cô nhi nhà nước Lỗ Ma Ni nuôi
nấng lúc chủ nghĩa Cộng Sản còn thịnh hành thì mới thấy rằng: Đời sống của
các em lúc đó chẳng khác nào heo gà và súc vật. Do vậy khi lớn lên các em
cũng chỉ được hành xử như súc vật, không hơn không kém, mà đó không phải
là lối cư xử của con người. Tội ác ấy đâu phải do các em, mà do những
người lãnh đạo ấy đầu độc. Bây giờ có em đã được nước Đức bảo lãnh nuôi
nấng, cho ăn học thành tài, khi các em nhìn lại hình ảnh nhà giam lúc còn
thanh thiếu niên tại đó, các em phát biểu rằng: Không ngờ các em từ địa
ngục đã được tái sanh trở lại làm người.
Có những người trẻ
may mắn ở Âu, Mỹ, Á, Úc ngày hôm nay, đầy đủ điều kiện để đi học và nhận
chân được giá trị chân thiện mỹ của cuộc đời thì trong khi đó cũng có
những em cùng tuổi với các em chẳng may sinh vào các nước Phi Châu nghèo
khó hay Bắc Hàn ngày nay, dẫu cho có muốn làm một việc thiện đi nữa cũng
khó mà thực hiện. Do vậy các em hãy ngẩng cao đầu lên và dùng hai mắt, đôi
tay cũng như lý trí để đi thẳng vào đời và hãy nhận chân lấy những kinh
nghiệm của người đi trước mà bước vào đời bằng cách sống tự tin riêng của
các em.
Chương Bốn
Người lớn suy nghĩ như thế nàovề việc
tốt và không tốt
Ngày xưa người ta
chia đời người ra làm 5 giai đoạn như sau:
Giai đoạn đầu từ lúc
mới sinh ra đến lúc 10 tuổi gọi là thời kỳ ấu thơ hay ấu niên. Sống nương
vào sữa mẹ và sự đùm bọc của mẹ cha. Đây là thời kỳ chưa biết gì nhiều.
Đến 10 tuổi mới được đi học với Thầy đồ ở trong làng và từ đó học tiếp lên
cao hơn nữa. Trường lớp ngày xưa chắc chắn không quy củ như bây giờ. Nghĩa
là con người sinh ra chỉ học cho biết chữ để đọc để viết là đủ. Nếu ai đó
có đầy đủ của cải, tiền bạc, thế lực thì mới đi học xa hơn, cao hơn để đi
thi làm ông Tú, ông Cử, ông Nghè, ông Tiến Sĩ v.v... Còn người nghèo đôi
khi cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc khi đông đến, lúc hạ sang, lấy đâu ra
tiền để cho con ăn học. Dân tộc ta vốn sống về nghề nông; nên sinh con ra
là nghĩ ngay đến việc ruộng nương cày cấy. Do vậy nếu sinh ra con trai thì
cha mẹ ai cũng vui mừng, vì có kẻ nối dõi tông đường, vả lại việc đồng áng
đã có người nhờ cậy được. Còn con gái ngày xưa mà đi học thì cũng rất
hiếm. Vì quan niệm rằng: Người con gái, đàn bà chỉ có bổn phận sinh con,
đẻ cái, lấy chồng và làm công việc nhà chứ không phải như ngày hôm nay. Vả
lại sự học ngày nay cũng bắt đầu sớm hơn cả nam lẫn nữ, chứ không phải chỉ
cho con trai không mà thôi. Bây giờ trẻ em đi học từ 4, 5 tuổi gọi là vườn
trẻ hay trường chuẩn bị trước khi vào tiểu học và đến 6 tuổi là đã bắt đầu
vào học trường lớp đàng hoàng rồi. Chứ không phải như ngày xưa tuổi ấy còn
chưa biết mắc cỡ và không mặc quần áo cũng không sao. Còn bây giờ thì khác
nhau nhiều lắm.
Do đó tuổi ấu niên
ngày nay có thể chia ra từ lúc mới sinh cho đến 6 tuổi là vừa và tuổi
thiếu niên ngày xưa thì chia ra từ 10 đến 18 tuổi hay còn gọi là tuổi vị
thành niên. Nghĩa là tuổi chưa trưởng thành. Bây giờ có lẽ cũng vậy thôi.
Từ 6 đến 18 tuổi gọi là thiếu niên. Vì lẽ chưa có nước nào trên thế giới
ngày nay cho người dưới 18 tuổi đi bầu cử cả. Ngoại trừ nước Mỹ mới 16
tuổi đã cho lấy bằng lái xe, mà ở các nước khác thì không được. Có lẽ vì
văn minh tiến bộ của xứ Mỹ hơn các nước khác trên thế giới, nên trẻ em
phát triển sớm hơn chăng? Nhưng một lý do thực tế là xứ Mỹ quá rộng, ai đi
đâu cũng phải cần đến xe hơi. Nếu không tự lái thì ai có thể lo cho mình
được? Cho nên đây có thể là lý do chính vậy. Tuy nhiên trẻ em ở Mỹ dưới 18
tuổi có bằng lái xe, vẫn được lái; nhưng cha mẹ phải chịu trách nhiệm. Do
vậy mà tai nạn đã xảy ra trên đường sá ở xứ Mỹ cũng không phải là ít, do
những người tuổi trẻ gây nên.
Từ 18 tuổi đến 35
tuổi gọi là tuổi thanh niên. Đây là lứa tuổi mà thành công nhất trong 5
giai đoạn của cuộc đời. Đó là ấu niên, thiếu niên, thanh niên, trung niên
và lão niên. Giai đoạn nầy người con trai hay người con gái đem hết khả
năng và nhiệt huyết của mình ra để phụng sự, học hành, thi cử, nghề
nghiệp, dựng vợ, gả chồng, làm nhà, tạo cơ sở làm ăn, buôn bán v.v... hầu
như những việc chính của đời người đều xảy ra trong giai đoạn nầy. Cũng có
một số trường hợp ngoại lệ là thành công sớm hơn hoặc sau tuổi 35; nghĩa
là bước vào tuổi trung niên mới khởi sắc; nhưng đa phần cả người con trai
lẫn người con gái thời kỳ của tuổi nầy là thời kỳ lịch lãm nhất.
Ngày xưa Việt Nam ta
có những người đàn bà như bà Đoàn Thị Điểm, bà Hồ Xuân Hương, bà Huyện
Thanh Quan hay một số bà Công Chúa, Hoàng Hậu văn hay chữ tốt và có tiếng
tăm lừng lẫy trên văn đàn, có lẽ cũng nhờ cha mình làm quan nên ảnh hưởng
lây và ngày xưa chỉ cho con trai đi thi chứ con gái thì không được. Rõ
ràng đấy là chế độ trọng nam khinh nữ rất rõ rệt. Đa phần thấy các ông đỗ
khoa nầy khoa nọ, Tiến Sĩ, Trạng Nguyên. Chứ còn mấy bà thì thời đó chưa
thấy có ai hết. Nếu bây giờ ai đó về Hà Nội đọc hết tên trên bia Tiến Sĩ,
có lẽ chẳng có tên một bà nào. Còn ngày nay lại khác, nam nữ đã bình
quyền; nên có rất nhiều người nữ đã đậu đến 2 hay 3 bằng Tiến Sĩ, làm đến
Bộ Trưởng nầy Bộ Trưởng kia. Có người còn làm Vua và Tổng Thống nữa. So ra
chỉ 100 năm thôi, mà thế giới ngày nay thay đổi nhiều như thế đó.
Có những bà là tướng
tài như bà Bùi Thị Xuân, bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, bà Triệu Ẩu v.v... cũng
đâu phải là những người xuất thân từ khoa bảng; nhưng các bà vẫn là anh
hùng của dân tộc, mà ngày xưa đa phần các ông Vua đâu thấy có ông Vua nào
đậu Cử Nhân, Tiến Sĩ? Họ cai trị dân đa phần bằng cái đức. Còn bây giờ đa
số cậy vào cái tài mà đất nước càng ngày càng loạn ly, bế tắc, đạo đức suy
đồi, nhân tình ly tán. Trong các Vua của Việt Nam chỉ có ông Vua Tự Đức là
hay chữ nhất. Ông Vua Trần Nhân Tông là ông Vua có tu nên để lại nhiều tác
phẩm về đạo rất nổi tiếng, như Thượng Tọa Trí Siêu là Mạnh Thát, nhà học
giả Phật Giáo mới đây có cho xuất bản quyển Trần Nhân Tông toàn tập, ta
đọc thì thấy rõ. Trần Thái Tông cũng thế, ông Vua nầy cũng muốn đi tu
nhưng không bỏ ngôi được, vì quân sư Trần Thủ Độ ngăn cản; nhưng cũng đã
sáng tác rất nhiều tài liệu về Thiền. Còn đa phần những ông Vua khác của
Việt Nam không có một lịch sử hãn hữu như nhiều ông Vua khác của Trung Hoa
hoặc Nhật Bản. Ngay cả vua Lê Thánh Tông là người hay chữ; nhưng cái giá
trị văn học ấy chưa thoát ra khỏi biên giới của đất nước Việt Nam. Thế
giới khi nghĩ đến Việt Nam đa phần nhờ chiến tranh mà họ biết, chứ không
phải vì văn học hay vì một nền kinh tế lớn mạnh như Nhựt mà họ phải lưu
tâm.
Nhìn vào lịch sử
Việt Nam và lịch sử Phật Giáo cũng thế, lúc nào cũng thấy chiến tranh cũng
thấy tranh đấu. Thời gian đâu để xây dựng về văn học, nghệ thuật hay Tôn
Giáo? Chỉ có 400 năm của triều Lý và triều Trần ở vào thế kỷ 11 đến 14 là
ý nghĩa hơn cả. Gần đây Hà Nội đã khai quật được kinh đô Thăng Long của
triều Lý và Trần; nên ta còn một chút hãnh diện về nguồn gốc lịch sử của
1000 năm trước. Đó là nhờ công lao của dân chúng, vua, quan và nhất là
Phật Giáo. Nếu không có Phật Giáo trong những triều đại nầy, phải nói rằng
Việt Nam chúng ta chẳng có gì cả.
Tuổi trung niên ngày
xưa người ta chia từ 35 đến 50 tuổi. Sau 50 tuổi là lão niên rồi. Đó là
tuổi hưởng nhàn như các nhà nho Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bỉnh Khiêm v.v...
họ chia đời họ ra làm 2 phần; một phần xuất và một phần xử. Xuất là học
tập, thi đỗ đạt ra làm quan để đền ơn vua nợ nước. Sau đó thời kỳ hưởng
nhàn yếm thế của cuộc đời. Họ xem cuộc đời như mây nổi, như chiêm bao, do
vậy càng hưởng nhàn lâu bao nhiêu thì càng tốt; nhưng bây giờ tuổi về hưu
là trung bình giữa 50 và 65. Do vậy ta có thể kéo dài cái thời gian của
tuổi trung niên hơn, nghĩa là từ 35 đến 60 hoặc 65 tuổi. Trong 25 hay 30
năm của cuộc đời nầy sau thời gian thanh niên và trung niên năng động là
thời gian có nhiều kinh nghiệm nhất. Đây là thời kỳ bước lên cao điểm nhất
của cuộc đời, rồi bắt đầu bước xuống cái thang danh vọng mà mình đã tự bắc
đi lên lúc tuổi còn ấu thơ cũng như tuổi thiếu và thanh niên.
Thời gian được gọi
là người lớn có nghĩa là sau 18 tuổi và thời gian được gọi là người già
theo người xưa là 50 tuổi và bây giờ 60 hoặc 65 tuổi. Trong suốt khoảng
thời gian ấy người ta đã làm cho tiếng thơm của mình cũng lừng lẫy, đồng
thời chính mình cũng đã làm cho mình khổ lụy vào thân về đường tình, đường
công danh, nghề nghiệp v.v... bao nhiêu thành công là người ta phải đạp
lên biết bao nhiêu thất bại, phải có, trái có, tốt có, xấu có. Tất cả đều
là 2 mặt của một cuộc đời. Thế nào là thiện? Thế nào là ác? Thế nào là
tốt? Thế nào là xấu?
Ví dụ cha mẹ muốn
người con gái ấy về làm dâu nhà mình. Vì cha mẹ nghĩ rằng người con gái ấy
đoan chánh, đức hạnh. Trong khi đó ý kiến của con trai mình lại khác, nó
không quan niệm đức hạnh là chính trong cuộc đời, mà sắc đẹp mới là chính.
Do vậy dưới cái nhìn của cậu con trai nầy là người con gái ấy chẳng xứng
đôi vừa lứa với mình. Vậy thì ai đúng và ai sai?
Có thể cả 2 cùng
đúng mà cả 2 cùng sai. Cha mẹ đúng là vì cha mẹ đã thể nghiệm qua cuộc
sống của cuộc đời nầy, đắng cay gian khổ đã nếm đủ mùi cho nên mới thấy
rằng "cái nết kia mới có thể đánh chết cái đẹp" được. Nhưng người con trai
thì không nghĩ thế, cha mẹ cổ hủ quá, vì cha mẹ già rồi làm sao biết tình
yêu là gì? Luyến ái tự do là gì? Mà họ quên đi rằng chính cha mẹ cũng đã
trải qua giai đoạn như thế, mới có cậu ta chứ. Do đó cậu ta đúng với cái
nhìn của một thanh niên mà sai với cái nhìn từng trải của cha mẹ.
Sau đây là một câu
chuyện mà tôi và Thầy Đồng Văn đã dịch trong Đại Tạng kinh quyển thứ 51
phần truyện của Ngài Huyền Trang sang tiếng Việt, xin viết lại để hầu quý
vị.
Khi Ngài A Nan tuổi
đã già rồi; nhưng Ngài vẫn muốn ở lại đời để tiếp tục giáo hóa chúng sanh.
Vì sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, Ngài Ca Diếp đã làm nhiệm vụ đó và nay
thì Ngài Ca Diếp đã thị tịch rồi; nên Ngài A Nan muốn tiếp nối con đường
ấy để xiển dương Phật Pháp. Lúc đó Ngài A Nan đã 120 tuổi rồi. Một hôm
Ngài vào trong rừng nghe một Sa Di học thuộc lòng một đoạn kinh mà Ngài
nghe thấy chương cú đều sai, ý nghĩa không đúng; nên Ngài muốn sửa lại cho
đúng; nhưng Sa Di ấy bảo rằng: Sư Ông già rồi nên lẫn lộn, chứ Thầy con là
một bậc cao minh trong thiên hạ, không thể sai được. Ngài A Nan nghe như
thế nên mới than rằng: Dẫu ta có ở đời đến hơn trăm năm nữa thì cũng chẳng
có ích gì. Do vậy muốn vội vào Niết Bàn. Đoạn văn ấy nguyên văn bằng tiếng
Phạn như thế nầy:
Kẻ sống cả
trăm năm
Mà không
biết pháp sanh diệt
Không bằng
sống một ngày
Mà hiểu
pháp sanh diệt.
Sa Di đọc rằng:
Kẻ sống cả
trăm năm
Mà không
biết con vịt nước
Không bằng
sống một ngày