Có và Không
Thích Như Điển
Phật
lịch 2544 - 2000
Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam
tại
Cộng Hòa Liên Bang Đức Xuất Bản
---o0o---
Chương VI
Vô thường
Đề Tài nầy thì tôi đã nói, đã
viết đã giảng cả hằng trăm lần trên sách vở, báo chí và băng giảng; nhưng
tưởng nhắc lại hôm nay cũng chẳng phải là thừa. Vì lẽ chính bản thân tôi
cũng phải học hỏi chiêm nghiệm về đề tài nầy. Đây là một đề tài lớn như 27
đề tài trong Trung Quán luận mà hành giả cần phải quán chiếu khi tham
thiền cũng như tụng kinh niệm Phật.
Phật đã nói đề tài nầy từ trong
vô lượng kiếp, các vị Bồ Tát đã thực hành đề mục nầy để quán chiếu thế
gian nầy hay những quốc độ khác cả hằng tỷ tỷ thiên niên kỷ rồi và nay
chúng ta đang tập quán xét về vô thường cũng nhẫn đến ngàn sau, ngàn sau
nữa, bất cứ ai là người học Phật cũng phải lấy đề tài nầy mà quán chiếu
trong cuộc sống, để biết rằng cuộc đời vốn dĩ không có gì là thường cả, mà
tất cả đều bị biến đổi, bị xúc tác, bị chi phối, bị xâm thực, bị băng
hoại, bị giải thể v.v... nên gọi là vô thường.
Hôm nay tôi xin kể cho quý vị
nghe một câu chuyện. Câu chuyện nầy có thật, không hư cấu giả tưởng như
tiểu thuyết, mà chuyện nầy xảy ra tại nước Đức nầy từ năm 1999 đến năm
2000 mà thôi; nhưng không phải đầy đủ 24 tháng, mà chỉ có 6 tháng của năm
99 và 1 tháng rưỡi của năm 2000 nầy. Câu chuyện sẽ dài dòng, vì tôi sẽ cố
gắng đi vào từng chi tiết nhỏ.
Mùa Phục Sinh năm 99 nhằm vào
tháng 4 dương lịch, nhân khóa tu học hằng năm của Gia Đình Phật Tử Việt
Nam Đức Quốc tại chùa Viên Giác do Thượng Tọa Thích Thiện Huệ và tôi
hướng dẫn, có hơn 150 anh chị em thanh niên nam nữ về chùa tu học. Trong
cơ hội nầy, Phật Tử Minh Tấn, hiện ở Darmstadt, có gọi điện thoại về cho
tôi, thưa rằng:
- Bạch Thầy, Ba vợ con có người
anh ruột đi tu tại Việt Nam, Pháp danh là Thích Thiện Thông, Thầy ấy hiện
được ba vợ con ở Koblenz bảo lãnh sang đây thăm gia đình; nhưng Thầy ấy
muốn về chùa thăm Thầy và nếu được thì xin ở lại chùa chừng 3 tháng, sau
đó về lại Việt Nam.
Tôi bảo rằng:
- Cứ về, không có gì trở ngại
cả. Phàm người tu thì phải ở chùa là đúng rồi.
Sau giờ giảng hôm ấy thì tôi gặp
Thầy tại chùa. Mới trông bề ngoài Thầy thì đúng là một ông Thầy ngoại diện
không có gì đáng chú ý mấy, vì cách phục sức cũng rất bình thường; một
chiếc áo tràng màu nâu cũ kỹ; thêm vào đó hình như nhãn lực của Thầy cũng
không bình thường mấy. Sau đó tôi có nói chuyện với Thầy và cả Thầy Thiện
Huệ nữa. Chúng tôi mới đi đến kết luận rằng: Quả là một viên bảo châu của
Phật Pháp. Vì sao vậy ? Đây là lý do:
Thầy ấy bảo rằng: Thầy đi xuất
gia năm 22 tuổi, tức nhằm năm 1965-1966; nghĩa là sau tôi chừng một đến
hai năm. Đầu tiên Thầy tu với một vị Thầy Bổn Sư ở làng quê và hình như vị
nầy chỉ chuyên cúng bái; nên Thầy Thiện Thông đã tìm đến tu thiền với Hòa
Thượng Thanh Từ chừng một năm rưỡi thì không tu nữa. Lý do là bệnh phổi
đến thời kỳ thứ 3 không chữa trị được. Thời gian ấy là năm 1977-1978. Thầy
về quê và về núi để lo tịnh dưỡng và tự chữa trị bệnh của mình bằng pháp
môn Sám Hối cũng như Tịnh Độ. Thầy đã tụng hằng ngàn lần chú Đại Bi bằng
tiếng Việt và tiếng Phạn, sau đó bệnh tự nhiên lành không cần thuốc thang
chi. Kể từ đó Thầy chuyên tu pháp môn Tịnh Độ và Sám Hối. Đến nỗi một hôm
Thầy trở lại Tu Viện Thường Chiếu và Viên Chiếu để thăm những người bạn
cùng tu thuở trước thì chẳng ai ngờ là Thầy còn sống sót cho đến ngày nay.
Sau khi hỏi duyên cớ thì Thầy bảo là nhờ Niệm Phật nên trị khỏi bệnh, Thầy
bạn của Thầy Thiện Thông mới vào đầu giường của mình lấy quyển "Tịnh Độ
Thập Yếu" của Hòa Thượng Thiền Tâm biên soạn tặng cho Thầy Thiện Thông và
bảo rằng: Tôi biết anh thích loại sách nầy nên tặng cho anh vậy.
Thầy Thiện Thông mỉm cười đáp lễ
và hỏi rằng: Sao đang tu thiền mà vẫn có sách Tịnh Độ đây ?
Thầy bạn đáp là: Tại vì Ông Cụ
(Hòa Thượng Thanh Từ) không cho xem sách Tịnh Độ nên mình phải lén xem.
Bây giờ xin trao lại cho anh đó.
Lý do khác mà Thầy Thiện Thông
không còn tu thiền nữa vì sao thì Thầy đã giảng rất rõ nhân một buổi giảng
tại chùa Linh Thứu Berlin trong một bữa Thọ Bát Quan Trai vào năm 1999,
lúc ấy có ghi âm (nếu quý vị nào cần nghe thì xin để mà sang lại). Thầy
còn kể thêm là sở dĩ Thầy không ở với Hòa Thượng Thanh Từ nữa, vì lẽ Hòa
Thượng Thanh Từ bảo rằng những kinh sách thuộc về Tịnh Độ không được xem,
không được phổ biến v.v... và chính những Thầy đệ tử lớn của Hòa Thượng
Thanh Từ đang tu theo pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật chứ phần hành thiền ít
hơn xưa. Thầy ấy có kể tên độ 5 hay 6 Thầy gì đó; nhưng tôi không lưu tâm
làm gì; nên không nhớ tên.
Sám Hối và Niệm Phật mà chữa
lành bệnh vào thời kỳ nguy kịch nhất, thì đây là điều linh diệu thứ nhất
tôi đã nghe qua Thầy Thiện Thông kể lại.
Tiếp sau khóa học của Gia Đình
Phật Tử thì đến lễ Phật Đản và các khóa Thọ Bát Quan Trai các nơi và khóa
tu Gieo Duyên. Nơi nào Thầy cũng cùng đi với tôi và nếu có 3 thời giảng
thì tôi chia cho Thầy 2 thời và tôi một thời. Vì cách giảng của Thầy mới
lạ, đặc biệt là chuyên đề về Tịnh Độ.
Vào mùa hè năm 99, sau khi Thầy
giảng 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà xong, quý Phật Tử ai nghe cũng
trầm trồ và ngợi ca trí nhớ của Thầy. Vì lẽ Thầy thuộc lòng 48 lời nguyện
và giảng cả hằng mấy tiếng đồng hồ chưa hết. Quả là bất khả tư nghì. Ngay
cả tôi cũng chưa thuộc lòng nữa, huống gì là các Phật Tử tại gia. Tôi bắt
đầu khâm phục Thầy về trí nhớ và cách hạ thủ công phu của Thầy đối với
Pháp Môn Tịnh Độ.
Một hôm khác, Thầy cầm bản kinh
dịch về 3 Kinh Tịnh Độ đã đánh máy xong, bảo tôi rằng:
- Thầy Viên Giác à: Tôi muốn ấn
tống quyển kinh nầy. Vì đây là tài liệu cần cho người tu Tịnh Độ tham cứu
học hỏi và trì tụng.
-Tôi bảo rằng: Không có gì trở
ngại, sẽ lo vận động tài chánh để in kinh.
Thế là hơn một tháng sau đã đủ
tiền để in 500 quyển kinh nầy, đóng bìa cứng mạ vàng rất đẹp. Sau nầy có
gởi về Việt Nam cho Thầy độ 20 quyển.
Ba Kinh Tịnh Độ nầy gồm có 3
quyển. Đó là:
- Kinh Vô Lượng Thọ Phật
- Kinh Quán Vô Lượng Thọ, và
- Kinh Tiểu Bổn A Di Đà.
Thầy Thiện Thông đã dịch ra
tiếng Việt từ các bản chữ Hán một cách thông suốt, trôi chảy; người đọc,
người tụng cảm nghe như tiếng nước chảy róc rách, tiếng suối reo tưng
bừng, giống như nhạc chư Thiên nơi cõi Tịnh Độ ca lên để cúng dường chư
Phật và chư Bồ Tát.
Ngoài ra Thầy còn dịch ít nhất
là 30 tác phẩm khác, hiện đang có tại chùa Viên Giác và sẽ lần lượt tái
bản sau nầy, nếu có dịp. Ví dụ như các kinh:
Công Đức Tạo Tượng,
Kinh Dược Sư,
Kinh Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp,
Kinh Thập Ác Báo,
Thập Thiện Nghiệp Báo,
Luật Trường Hàng,
Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà La Ni,
Nghi Thức Tán Phật Thù Ân,
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,
Kinh Bồ Tát Địa Tạng,
Đại Thừa Khởi Tín Luận,
Kinh Văn Thù hỏi Phật,
Phật Học Giáo Khoa Thư v.v...
như vậy cả kinh, luật và luận
Thầy Thiện Thông đã có dịch qua và đây là những tác phẩm rất có giá trị đã
được dịch sang Việt ngữ.
Thầy Thiện Thông, trình độ học
vấn của Thầy ấy mới xong lớp 8 thôi. Có nghĩa là chưa xong Trung Học Đệ
Nhất Cấp; nhưng văn dịch của Thầy có thể sắp ngang hàng với những người đã
tốt nghiệp Đại Học. Văn phong rất trang nghiêm và câu cú rất chỉnh tề. Tất
cả đều do tự học, cả tiếng Việt lẫn chữ Hán cũng thế. Chữ Hán mà nhất là
danh từ Phật Học thì phải nói là khó; nhưng Thầy ấy đã tự tra cứu và đọc
Đại Tạng kinh rất thong thả, không bị vấp váp chỗ nào. Quả là một bậc kỳ
tài của Phật Giáo.
Mùa An Cư Kiết Hạ năm 1999 tôi có
nhờ Thầy dạy cho Tăng chúng chùa Viên Giác, Đại Thừa Khởi Tín Luận và năm
2000 nầy Thầy dạy Quy Nguyên Trực Chỉ. Tất cả hầu như Thầy đã thuộc lòng
và viết chữ Hán lên bảng không cần tra cứu tự điển, mặc dầu nhiều chữ quá
khó, ngay cả tôi cũng chưa biết chữ đó là chữ gì, phải đi tìm tự điển để
tra. Còn Thầy thì làu thông Hán học. Năm rồi và năm nay Thầy dạy luật cho
Sa Di và Tỳ Kheo và hầu như luật nào Thầy ấy cũng không cầm sách mà có thể
đọc thuộc lòng các giới cấm của Phật chế mấy ngàn năm về trước.
Có lần Thọ Bát Quan Trai tại
Rottweit vào năm 1999, Thầy có đọc truyện Kiều cho tôi nghe. Cả hơn 3.000
câu thơ Kiều như thế mà Thầy chẳng quên một câu nào. Thật là đáng bái
phục. Vì lẽ tôi cũng thuộc lỏm bỏm Kiều; nhưng so ra với Thầy ấy thì chẳng
thấm vào đâu.
Có lần Thầy đọc một bài thơ dài
độ trăm câu, vần song thất lục bát diễn tả một người lính Pháp khi thua
trận ở Việt Nam năm 1954 phải lên tàu về nước và người yêu nước Việt Nam
nào đó đã khuyên người lính Pháp hãy về lại với quê hương, với vợ con,
làng xóm và những hồi còi tiễn biệt anh về cũng là những hồi còi để tiễn
đưa người đã khuất về bên kia thế giới. Ai nghe bài thơ nầy cũng cảm động.
Có nhiều người rơi cả nước mắt. Vào ngày 4.6.2000 vừa rồi Thầy có dịp đọc
lại một lần nữa tại Karlsruhe nhân khóa học ngắn hạn tại đây, để rồi Thầy
chẳng bao giờ còn đọc lại cho tôi nghe lần thứ ba nữa. May là lần thứ 2
nầy có ghi âm lại và nếu có ai đó muốn tìm lại để nghe thì xin hỏi nơi Chi
Hội Phật Tử tại Karlsruhe.
Ba tháng ở Đức đã xong, nhờ Thầy
Từ Trí đưa Thầy đi khám mắt và với lý do mổ hai mắt, Thầy được gia hạn
thêm ở lại Đức được 3 tháng nữa. Thế là Thầy lại dịch kinh và tiếp tục
công việc dạy Chúng cho chùa Viên Giác, để rồi cuối tháng 10 năm 1999 Thầy
ấy trở lại Việt Nam với một hành trang nặng trĩu Đạo Đời. Thầy về lại Việt
Nam có mang theo một số tịnh tài của Phật Tử ở Đức cúng dường; nên đã xây
được nhà Tổ, nhà Đông và nhà Tây, ra chiều Thầy mãn nguyện lắm.
Khi về lại Việt Nam, tôi vẫn
thường liên lạc với Thầy và tôi có đề nghị với Thầy Thiện Thông là năm nay
(2000) nên xin qua Đức một lần nữa đi. Có 2 lý do để làm việc nầy. Lý do
thứ nhất là nên đi tái khám lại mắt để về dịch kinh và dạy Chúng dễ dàng
hơn và lý do thứ hai là năm nay (2000) khóa Tu Học Phật Pháp Âu Châu kỳ
thứ 12 tổ chức tại Pháp; nên với Visa vào Đức, Thầy có thể đi Pháp dễ dàng
và tôi sẽ trình với Giáo Hội Âu Châu để Thầy dạy cho các lớp trong khóa
học. Thầy ấy đã hoan hỷ và lo làm giấy tờ tại Việt Nam. Độ tháng 4 năm
2000 thì tôi được biết rằng đã có Visa vào Đức 3 tháng và đầu tháng 5 thì
Thầy đã có mặt tại Đức, sau khi thăm nhà người em ở Koblenz một vài ngày
thì về chùa Viên Giác Hannover với Phật Tử Minh Tấn. Lần nầy Thầy gặp tôi
thì vui tươi và niềm nở, tặng tôi mấy chục bó hương trầm và kinh sách.
Thầy bảo rằng: "Nên đốt hương nầy cúng Phật trong mùa an cư kiết hạ", và
đúng thế Thầy Thiện Thông ơi! bây giờ đang đốt hương nầy để cúng Phật và
cúng Thầy đó. Thầy có cảm nhận được mùi thơm của giới đức nầy không?
Trong hơn một tháng rưỡi Thầy ở
Đức nầy, từ ngày 7 tháng 5 đến ngày 30 tháng 6 năm 2000, Thầy đã làm được
không biết bao nhiêu là công chuyện. Ví dụ như sau Phật Đản và nhập hạ an
cư tại chùa Viên Giác, Thầy đã cùng Thầy Từ Trí về giảng kinh 10 ngày tại
Niệm Phật Đường Tâm Giác, ai nghe cũng hiểu thấu đáo Pháp Môn Tịnh Độ để
mà tu, mà học rồi. Kế đến Thầy cùng tôi, Thầy Quảng Bình và Thầy Từ Trí đã
có mặt tại Karlsruhe từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 6 năm 2000, Thầy lại giảng
Pháp Môn Tịnh Độ một lần nữa một cách say sưa cho hơn 100 học viên già trẻ
lớn bé nghe để biết mà tu. Sau đó Thầy đi Wiesbaden vào ngày 11 và 12
tháng 6 năm 2000 để giảng Pháp Môn Tịnh Độ một lần nữa.
Sau khi về lại chùa Viên Giác,
Thầy đã bảo với tôi rằng: Thầy Viên Giác ơi! Tôi đã rút hết ruột gan, tim
phổi của mình để giảng cho các Phật Tử ở Đức nghe về Pháp Môn Tịnh Độ rồi
đó. Bây giờ chỉ còn tu nữa thôi, chứ không còn gì nữa cả. Vì thế Thầy có
đề nghị với tôi là nhân khóa tu Gieo Duyên từ ngày 1 đến 14 tháng 7 tại
chùa Thầy ấy sẽ giảng về lý Bát Nhã của Ngài Văn Thù nói và khóa tu học
Phật Pháp Âu Châu, Thầy ấy sẽ giảng về Tịnh Độ cũng như Bát Nhã song hành.
Đến ngày 16 tháng 6 năm 2000 tôi
cùng Thầy đi Ý. Ngồi trên máy bay từ Hannover đến Milano cả chuyến đi lẫn
chuyến về tôi cùng Thầy đã trao đổi rất nhiều công việc Phật sự khác nhau
ở ngoại quốc cũng như ở Việt Nam. Tôi kèo nèo cho được để Thầy đi Venic,
một thành phố nổi rất nổi tiếng của Ý. Thế là Thầy được mãn nguyện và khi
đi đến Niệm Phật Đường Viên-Ý ở Ý, Thầy cũng đã nhìn được những đóa sen
mọc hai bên vệ đường, như đón mừng Thầy lúc đi cũng như lúc về như ở một
thế giới xa xôi nào đó, không phải ở thế giới Ta Bà nầy.
Từ 24 đến 25 tháng 6 năm 2000 tại
chùa Viên Giác có họp Hội Phật Tử. Tôi bận họp nên đề nghị Thầy truyền
trao giới Bát Quan Trai cho các Phật Tử tại đây. Hôm đó có chừng 25 Phật
Tử tham dự. Tôi có đề nghị Thầy giảng 2 thời; nhưng Thầy chỉ giảng có một
thời. Có lẽ Thầy mệt và những ngày nầy Thầy ngủ nhiều. Thầy ấy bảo rằng:
Chắc đi Ý về, đường xa nên bị mệt. Lần nầy cúng dường tịnh tài cho Thầy,
Thầy không có ý nhận. Thầy bảo rằng: Của chung nên chia đều ra. Tôi nói
rằng: Ở đây đâu có ai thiếu gì; thôi thì Thầy hãy mang về Việt Nam mà làm
Phật sự. Thế là Thầy nhận.
Trưa hôm 25.6.2000 có đám xả tang
cho Đạo Hữu Viên Mãn, Thầy thấy tôi bận họp nên Thầy đã cùng với quý Chú
thay thế tôi để cúng và Thầy khuyên mọi người nên niệm Phật. Sau đó Thầy
cùng Thầy Từ Trí đã về lại Barntrup để ngày 26.6 đi tái khám mắt. Lần nầy
Thầy xin gia hạn thêm một tháng nữa để qua khỏi an cư kiết hạ và lớp Tu
Học Phật Pháp Âu Châu. Đến sáng ngày 27.6.2000 Thầy và Thầy Từ Trí còn đi
mua quà tặng sinh nhật cho tôi vào ngày 28 tháng 6.
Sau khi tôi đi quá đường xong vào
ngày 27.6.2000 tôi thấy Thầy và Thầy Từ Trí về lại chùa và chiều hôm đó có
một số quý Phật Tử ở Canada sang thăm chùa nên tôi đã tiếp họ từ 4 giờ
rưỡi đến 5 giờ rưỡi. Sau đó vào phòng Hạnh Tấn để nói chuyện với Thầy và
Thầy Từ Trí.
Đó là một ngày không như mọi
ngày, vì bình thường thì tôi rất bận cho chuyện nội tâm của mình; chuyện
viết, dịch kinh sách, chuyện dạy học, chuyện tu niệm, chuyện chùa chiền,
chuyện Phật Tử, chuyện giao dịch v.v... nhưng hôm ấy, chiều ngày 27.6.2000
tôi cảm thấy cần phải nói chuyện với Thầy và hôm đó là lần nói chuyện cuối
cùng và vĩnh viễn sẽ không bao giờ nói chuyện với Thầy nữa. Nếu có cũng
chỉ là trong giấc mộng mà thôi.
Tôi gõ chửa phòng Hạnh Tấn để nói
một vài công việc thì thấy Thầy ngồi đó đang nói chuyện với Thầy Từ Trí.
Tôi hỏi Thầy Từ Trí là Hạnh Tấn đi đâu rồi? Thầy Từ Trí bảo:
- Thầy ấy mới ngồi đây và đang la
hoảng lên là quên cái gì đó, hình như đi đón ai đó; nên đã chạy ra ngoài
rồi, bạch Thầy.
Tôi tiếp:
- Sao quý Thầy ngồi phòng nầy bị
gió lùa quá vậy ?
- Tại Thầy Hạnh Tấn không chịu
đựng nóng nực quen rồi. Thầy Từ Trí trả lời thế.
Tôi hỏi tiếp:
- Quý Thầy đang bàn gì thế ?
- Chúng con đang nói về ngày
sinh nhật vào ngày mai của Thầy và Thầy Hạnh Tấn. Thầy Từ Trí thưa vậy.
- Vậy có gì đặc biệt ?
- Nếu có Thầy Hạnh Bảo ở chùa,
chắc là sinh nhật của Thầy màu mè hơn. Còn Thầy Hạnh Tấn thì chắc không
phải vậy. Vì Thầy ấy tu theo tánh Không; nên có lẽ chỉ lạy Thầy 3 lạy nhân
ngày sinh nhật rồi thôi. Do vậy con đã điện cho Sư Diệu Ân và Sư Diệu Hạnh
bảo rằng quý Sư làm sao đó thì làm phải lo dùm ngày mai, chứ Thầy Hạnh Tấn
thì Thầy ấy đơn giản lắm. Thầy Từ Trí bảo vậy.
Tôi hỏi tiếp:
- Vậy Sư Diệu Ân sẽ làm gì và Sư
Diệu Hạnh sẽ làm gì ?
- Thầy Từ Trí bảo rằng: Việc nấu
nướng chắc quý Sư ấy rành và ngày mai hay chiều nầy là Sư Diệu Ân và
Thượng Tọa Minh Phú về chùa Viên Giác.
Đoạn tôi tiếp:
- Quý Thầy biết không, hồi Ông
Cụ thân sinh của tôi mất vào năm 1986, Thầy Bảo Lạc ở Úc cũng làm đơn giản
lắm. Tôi thấy Thầy Bảo Lạc để hình của Ông Cụ tôi trên thùng phước sương
để cúng, rồi cũng đâu có sao.
Tất cả 3 người cùng cười, rồi
Thầy Thiện Thông bảo:
- Để tôi làm một câu đối để sau
nầy quý Thầy đệ tử của Thầy đi đối Thầy, chứ không thì không ai lo trước
cho.
- Tôi mà mất thì chắc mấy ông đệ
tử để bài vị tôi lên lạy 3 lạy cúng dường là xong, chứ cúng kiến, đối đáp
gì. Tôi nói thế và bắt sang chuyện khác.
- Sao tôi thấy Thầy buồn buồn,
không biết có chuyện gì không ?
Thầy Thiện Thông trả lời:
- Chẳng có gì, Thầy Viên Giác
đừng quan tâm.
Tôi hỏi tiếp Thầy Thiện Thông:
- Thầy có biết ở Việt Nam người
ta nói Thầy sao không?
- Họ nói sao? Thầy Thiện Thông
hỏi lại.
- Họ bảo rằng: Thầy thì tu
nghiêm mật thanh tịnh lắm; nhưng Thầy nóng tính lắm phải không? mấy ông
học Tăng bảo vậy.
- Đúng thế! Tôi không tha thứ
cho một Tăng Ni sinh nào tu hành không đàng hoàng, chểnh mảng trong việc
tu học mà siêng năng trong công việc thế gian; nên họ ghét tôi cũng phải.
Đoạn Thầy ấy giọng hơi trầm lại:
- Thầy Viên Giác à, kỳ nầy tôi
về chắc là tụi Công an nó làm khó dễ lắm.
- Tại sao vậy ?
- Vì công an mà nhất là công an
tôn giáo họ đâu có dễ dãi với mình. Lần trước tôi về lại Việt Nam họ đã
làm khó dễ tôi và họ bảo rằng: Tại đây, Bà Rịa - Vũng Tàu nầy chỉ có ông
Thiện Thông và ông Hạnh Đức là khó khiến. Thầy giải thích tiếp: Họ chỉ
thích những người nào vâng lời như một số Thầy đang theo chủ trương của
Giáo Hội và Nhà Nước, trên thực tế là vậy; nên buồn lắm, khó làm việc vô
cùng. Có lẽ kỳ nầy tôi về cũng sẽ nghỉ dạy học luôn để có cớ mà lần tới
sang Đức ở lâu dài hơn và các trường cơ bản Bà Rịa - Vũng Tàu như trường
Cao Đẳng tìm Thầy khác dạy. Thầy Thiện Thông tâm tình như vậy.
Tôi nhìn sâu vào mắt Thầy, thấy
Thầy ấy như có vẻ lo âu, mà những điều lo âu của Thầy Thiện Thông thì tôi
không thể hiểu hết. Có lẽ Thầy ấy chỉ nói một phần, đoạn tôi hỏi tiếp:
-Thầy về Việt Nam kỳ nầy lo xây
xong những phần của Đông Đường và Tây Đường còn lại, sau đó tôi lo giấy
bảo lãnh cho Thầy và khi qua thêm lần nữa ở lâu hơn, không phải lo gì
chuyện ở Việt Nam nữa.
Thầy thấy đó, lần nầy đâu có bao
nhiêu, chủ yếu vẫn là những người lớn tuổi cúng dường, thấy họ mà tội
nghiệp, hay lấy tiền già hay tiền xã hội ra cúng chùa. Họ phải nhịn ăn,
nhịn mặc nhiều lắm.
- Tôi đồng ý với Thầy là vậy;
nhưng tâm của Phật Tử là tâm cầu giải thoát. Việc hỗ trợ tận đáy lòng, chứ
đâu phải khách sáo. Do vậy Thầy cứ nhận, khi họ cúng dường. Tôi bảo vậy.
Tôi chuẩn bị đứng lên thì thấy
cái chân phải của Thầy hơi run run; nhưng tôi chẳng nói gì; theo tôi nghĩ
có lẽ vì Thầy ngồi gần cửa sổ bị lạnh. Tôi và Thầy Thiện Thông cũng như
Thầy Từ Trí nói chuyện trong phòng Hạnh Tấn 30 phút như những mẩu đối
thoại vừa nêu; nghĩa là từ 17:30 đến 18:00 giờ. Tôi bước ra khỏi phòng, đi
về phòng hội họp xem qua một số công chuyện thì thấy chú Quảng Giác lo sửa
soạn bữa ăn chiều cho chư Tăng, tôi mở cánh cửa rộng thêm để chú ấy mang
thức ăn vào. Sau đó tôi trở ra thì thấy Thầy Thiện Thông mặc áo vạt hò đi
vào nhà cầu (người tu giữ giới thường hay thế, khi đi đại tiểu tiện chỉ
mặc áo ngắn; khi nói chuyện tiếp khách phải mặc áo dài). Sau đó tôi về
phòng riêng của mình để đọc một ít sách báo đến 18:25 phút chiều ngày 27
tháng 6 năm 2000 như thường lệ tôi đi về hướng phòng ăn, thấy mọi người
lao xao đi tìm Thầy Từ Trí, tôi hỏi có chuyện gì? thì mọi người bảo rằng
Thầy Thiện Thông bị trúng gió !!! Tôi chạy vụt lên nơi lầu ba. Phòng nầy
vốn là của Hạnh Bảo ở trước khi đi Đài Loan, sau đó Hạnh Vân vào ở. Đến
khi Thầy Thiện Thông qua, tôi có bảo là nên dọn lại phòng nầy cho Thầy ở.
Vì ở đây sáng sủa và cũng yên ổn hơn những phòng khác ở bên Đông Đường.
Tôi thấy Thầy ấy nằm co ro và
nhỏ một ít nước bọt. Tay mặt đương cầm cây viết nguyên tử và tay trái cầm
tờ giấy có câu đối chữ Hán như sau:
Đa niên
bặt thiệp tận tha phương
Vị pháp vong xu vị thế nhơn
Nghĩa là;
Nhiều năm lanh lợi
chốn tha phương
Vì đạo mất mình vì
nhơn thế
Tôi thấy câu đối cũng rất quan
tâm. Theo tôi nghĩ câu đối ấy Thầy Thiện Thông viết cho tôi, vì lẽ câu
chuyện ở dưới phòng của Hạnh Tấn chưa chấm dứt; nhưng không ngờ hôm nay
dùng để đối cho Thầy ấy.
Sau nầy có thêm hai tin nhỏ nữa
bổ túc vào việc nầy như sau:
Chú Quảng Giác bảo rằng chú ấy
ra nhà tắm thì thấy Thầy Thiện Thông đang đi tiểu mà một tay phải chống
lên tường; nhưng chú không dám kêu và không dám nói. (Có lẽ mạch máu đã bị
đứt khi Thầy thay áo đi vào nhà cầu). Sau đó lên tầng 3 của Tây Đường cố
gắng viết 2 câu đối cho tôi.
Việc thứ hai, Thầy Giáo Thọ
Thích Quảng Bình, bảo rằng: Thông thường Thầy ấy gần ăn chiều là lên tầng
3, nơi có Computer mà Hạnh Hòa vẫn hay làm việc để nói vài tiếng chào hỏi
nhau trước khi ăn chiều. Theo Thầy Giáo Thọ bảo rằng: Khi Thầy Giáo Thọ
nói như vậy thì Thầy Thiện Thông thường hay trong phòng đi ra bảo rằng:
Đại Sư, Đại Sư khỏe không? nhưng hôm ấy thì không nghe nói. Thầy Giáo Thọ
mới nhón đầu nhìn vào thì thấy Thầy Thiện Thông đang lấy tay đang cầm
miếng giấy đập đập xuống sàn nhà như cố gắng kêu nhưng chẳng ai nghe. Thầy
Giáo Thọ bấm vào huyệt nhân trung nơi miệng thì Thầy ấy nói mấy lời; nhưng
chẳng nghe rõ gì cả. Đoạn bảo chạy đi kêu Thầy Từ Trí ...
Đó là hai dữ kiện gần nhất vậy.
Khi Thầy Từ Trí đến thì tôi cũng đã đến rồi, bảo Hạnh Giới gọi xe cấp cứu
đến. Trong khi đó Thầy Từ Trí nhăn mặt bảo rằng nặng lắm, không giống như
trường hợp của Thầy ấy ở vào độ mấy tháng trước đây. Thế là 5 phút sau xe
cứu thương đến. Những người cứu thương đã làm hô hấp và chích nước biển
vào nhưng thấy Thầy Thiện Thông chẳng khá hơn. Sau đó thì Bác Sĩ cấp cứu
đến. Khi đến thì Bác Sĩ bảo phải chở vào nhà thương. Lúc ấy tôi cho Hạnh
Tấn và Hạnh Giới đi theo xe cứu thương và có gì thì gọi về lại chùa cho
biết.
Sau chừng một tiếng
đồng hồ thì từ nhà thương Laatzen, Hạnh Giới gọi về bảo rằng: Nhà thương
đã chụp hình đầu của Thầy; nhưng thấy máu ra quá nhiều; nên phải chở vào
bệnh viện của Đại Học Y Khoa Hannover (Medizinische Hochschule) để chụp
lại và có thể phải mổ liền đêm nay.
Thế là quý Thầy quý Chú liên lạc
với anh Đỗ Văn Thông ở Koblenz để lo thủ tục mổ và vợ chồng anh Thông nghe
tin ấy cũng rất bàn hoàn; nên không ngủ được và 12 giờ khuya đêm 27.6.2000
đã lái xe về chùa, đến 7 giờ sáng ngày 28.6.2000 thì tới chùa. Mọi việc
diễn ra như nhanh hơn thường lệ.
Sau đó từ nhà thương Đại Học
Hannover Hạnh Tấn gọi điện thoại về bảo là Bác sĩ đã chạy và bảo rằng
không nên mổ, Nếu mỗ ra, Thầy ấy chỉ còn cái xác không hồn, cũng khổ cho
thân Thầy ấy lắm. Thế rồi họ chở Thầy ấy về lại bệnh viện Laatzen gần chùa
để chờ. Đêm đó ai cũng hồi hộp lo âu. Mọi người nghe tin nầy giống như một
cơn động đất hay một trận cuồng phong vừa thổi đến. Ai cũng ngẩn ngơ cả
người mà chẳng biết phải làm gì. Người thì tụng kinh cầu nguyện, kẻ thì
niệm Phật, đâu đâu tại xứ Đức cũng đều làm thế. Quả là Phật Tử tại đây rất
có lòng với Thầy. Hèn gì Thầy muốn sang công tác Phật sự tại Đức thì phải.
Sáng ngày 28 tháng 6 năm 2000,
hôm ấy là sinh nhật lần thứ 52 của tôi; nhưng chẳng ai vui gì. Vì tất cả
đều dồn mọi chuyện để lo cho Thầy Thiện Thông. Tôi đã cùng với Thầy Minh
Phú, Sư Diệu Ân, Sư Diệu Hạnh, Thầy Thiện Sơn, Thầy Từ Trí và gia đình từ
Koblenz mới lên, đi vào bệnh viện để thăm. Khi hỏi bệnh tình của Thầy ra
sao thì Bác sĩ và Y tá bảo rằng không thể mổ được, vì máu đã ra đầy não bộ
và chỉ chờ tắt thở thôi. Ai cũng bảo rằng còn nước thì còn tát. Đó là câu
tục ngữ của Việt Nam mình. Tôi hỏi tiếp Bác sĩ là liệu Thầy ấy còn sống
được bao lâu nữa? Bác sĩ bảo có thể là vài tiếng đồng hồ; nhưng cũng có
thể là vài ngày nữa.
Tôi nói với Thầy Giáo Thọ đi
cùng là giống như trường hợp cô Hạnh Như bị mất bên Ý hồi năm 1996. Cũng
chỉ trong mấy tiếng đồng hồ là ra người thiên cổ. Không biết nghiệp lực gì
mà đa phần những người tu đều đứt mạch máu não và đi nhanh như thế? có
phải sống trong thế giới nầy phải lo lắng cho nhiều công việc chăng ?
Chúng tôi trong một thời kinh
cầu an cho Thầy và trở về lại chùa để tham dự sinh nhật. Dĩ nhiên lần nầy
chẳng có gì vui. Tất cả mọi người hiện diện đều nhớ nghĩ đến Thầy Thiện
Thông và lo cầu nguyện cho Thầy ấy. Ngay cả sinh nhật của tôi, tôi cũng
phải phát biểu về cái chết sẽ sẵn sàng chờ đợi Thầy ấy; nên không khí tẻ
nhạt;; không ca hát, không ngâm thơ như mọi năm.
Đến chiều chúng tôi lại vào bệnh
viện thăm Thầy ấy một lần nữa. Lúc đó thì đã có Minh Tấn và Thiện Thủy lên
rồi. Cũng sau một thời kinh cầu an lẫn cầu siêu cho Thầy, chúng tôi lại về
chùa để chờ đợi.
Tối ngày 28 tháng 6 năm 2000 sau
khi lễ Phật, mỗi chữ mỗi lạy kinh Đại Bát Niết Bàn thì chúng tôi ngồi
thiền như thường lệ. Trong khi ngồi với tư thế bán già thì đột nhiên tôi
thấy một mặt trời rất lớn xuất hiện và trên ấy có một ít mây và Tây Phương
Tam Thánh đã đến để rước Thầy Thiện Thông. Ở giữa Đức Di Đà rất sáng, màu
vàng kim và 2 bên là Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và Đức Đại Thế chí Bồ Tát,
hình mờ hơn một chút. Các vị đều cầm hoa sen giơ lên như có ý mời gọi.
Xin thưa, đây là lúc ngồi thiền
sau khi lạy Phật chứ không phải nằm mơ; nên ngày hôm sau, 29.6.2000, tôi
và Thầy Từ Trí vào thăm Thầy, tôi đã kể việc thấy Tây Phương Tam Thánh đến
đón Thầy ấy và nói rằng:
"Hôm qua lúc ngồi thiền tại
chánh điện chùa, tôi đã thấy Tây Phương Tam Thánh đến đón rước Thầy đi;
nếu quả thật thế thì xin Thầy cứ niệm Phật để Phật tiếp dẫn về Tây Phương.
Nếu không, cứ xin Thầy tự tiện rút hết những dây ống lòng thòng nơi mũi,
nơi cổ của Thầy ra và ngồi dậy nói năng đàng hoàng thì cả bệnh viện nầy sẽ
quy y Thầy và sẽ trở thành đệ tử của Phật. Nếu mạnh thì phải là như thế,
hoặc ít nhất cũng phải được như Thầy Từ Trí; chứ còn phải nằm như thế nầy
chờ 1 năm, 2 năm hay lâu hơn nữa thì liệu có ích lợi gì, chỉ làm khổ thân
Thầy và khổ đến những người khác. Như Thầy biết đó, chúng ta là những
người xuất gia không con cái riêng tư, mà chắc gì đệ tử của mình có thể
hầu cận lâu như thế được. Vả lại khi chúng ta đến nơi cuộc đời nầy cũng
chỉ là 2 bàn tay trắng, rồi mai sau nầy Thầy có đi cũng chẳng mang theo
được gì; nhưng riêng Phật Tử Việt Nam tại Đức nầy đã hưởng được biết bao
nhiêu lời pháp nhủ đậm đà tình nghĩa Tây Phương. Vậy Thầy hãy an tâm đi mà
niệm Phật. Mong Thầy hiểu cho".
Đó là những lời tâm sự của tôi
và những lời chuyên chở về tính cách vô thường của cuộc đời để Thầy Thiện
Thông nghe lần cuối. Hôm ấy có anh Thông, em ruột Thầy, thâu Vidéo, trong
khi mắt Thầy đã nhắm nghiền, mà Thầy đã nhắm từ hôm Thầy té tại chùa Viên
Giác kia, để khỏi phải nhìn cuộc đời dâu bể nầy làm gì nữa; nhưng tôi chắc
rằng A Lại Da Thức của Thầy đang làm việc mạnh lắm. Những lời tôi nói,
chắc chắn những giờ phút cuối cùng của đời Thầy, Thầy đã nghe rõ, nghe hết
và nơi chốn Tây Phương xa xôi kia, Thầy hãy mỉm cười để nhìn một Như Điển
nầy vẫn còn vần xoay với con tạo.
Thầy vẫn còn thở và nhịp tim lên
xuống hơi bất thường nên Minh Tấn bảo rằng tối 29 tháng 6 sẽ xin bệnh viện
và vào ở với Thầy để niệm Phật cho Thầy. Tôi trở về chùa và hỏi thăm quý
Thầy, quý Cô, quý Chú đệ tử ai chưa đi thăm thì nên đi thăm Thầy, kẻo
không còn có cơ hội nữa. Vì dẫu sao đi nữa Thầy Thiện Thông là một ân sư
của Tăng Chúng chùa Viên Giác nầy.
Sáng hôm sau vào lúc 9 giờ sáng
ngày 30 tháng 6 năm 2000 sau khi điểm tâm, tôi và Thượng Tọa Thích Tánh
Thiệt cùng một số quý Chú cũng như Thầy Từ Trí đến bệnh viện. Sau khi hỏi
Minh Tấn thì được biết rằng tối hôm trước đó Thầy có duỗi chân một lần và
có cử động; nhưng theo Bác sĩ trực cho biết đó chỉ là phản xạ tự nhiên của
các cơ bắp thịt mà thôi. Sáng nay thì Thầy đã tự thở được; nhưng nhiệt độ
lên cao quá, máu trong người của Thầy cũng luân chuyển không đều, cũng như
tim đã đập bất thường. Chúng tôi tụng cho Thầy một thời cầu an, cũng như
cầu siêu, để sau một tiếng đồng hồ thì lên thăm Đạo Hữu Thiện Ý đau tim
đang điều trị cùng bệnh viện ở tầng 2.
Sau khi từ bệnh viện về tôi đi
quá đường. Sau khi đi quá đường xuống vào lúc 12 giờ trưa thì được biết là
cô Thủy đã gọi về chùa sau 10 giờ rưỡi sáng báo tin là Thầy Thiện Thông đã
ra đi lúc 10 giờ 30 phút trong trạng thái an nhiên như một giấc ngủ, chẳng
có gì nuối tiếc với cõi trần ai nầy gì cả và cũng chẳng mang theo một lời
trăn trối với ai, ngoại trừ 2 câu đối Thầy đã để lại.
Thế là cả chùa gồm có quý Thầy
đã đông đủ về đây tham dự giảng dạy cũng như quý Phật Tử dự Khóa Tu Gieo
Duyên 14 ngày đã lục tục kéo vào bệnh viện để trợ niệm vãng sanh cho Thầy.
Tôi vào thăm Thầy lần cuối một lần nữa và chào Thầy vĩnh biệt từ đây.
Riêng Thầy thì đã lựa ngày giờ để ra đi một cách thoải mái an nhiên, có
đầy đủ chư Tăng Ni và Phật Tử vân tập về Đạo Tràng Viên Giác để tu học và
hỗ trợ Thầy về cảnh Tây Phương. Ôi sung sướng biết dường nào, mà không
biết nơi cuối đời tôi có được như vậy không thì chưa rõ.
Tôi và Minh Tấn cũng như Thiện
Thủy đến nhà quàng để lo một số thủ tục giấy tờ và hoạch định ngày giờ
liệm cũng như làm lễ hỏa táng Thầy. Giờ liệm được cử hành lúc 17 giờ chiều
ngày 2 tháng 7 năm 2000 nhằm ngày mồng một tháng sáu âm lịch (Canh Thìn)
có độ 70 Tăng Ni và hơn 100 Phật Tử tới để đưa Thầy vào kim quan, có sự
chủ trì của Hòa Thượng Thích Minh Tâm và Thượng Tọa Thích Tánh Thiệt đến
từ Pháp. Quý Sư Bà, Ni Sư,. Sư Cô v.v... đều có mặt. Một số quý Thầy quý
Cô từ Việt Nam sang du lịch cũng có mặt hôm ấy khi tụng tiếp dẫn cho Thầy
Thiện Thông. Sau đó về chùa làm lễ phát tang cho gia đình và quý Phật Tử
tại Tổ Đường chùa Viên Giác.
Buổi trưa ngày 1 tháng 7 năm
2000, nghĩa là sau 24 giờ Thầy Thiện Thông đã viên tịch, sau khi quá đường
kinh hành nhiễu Phật xong thì về lại liêu phòng để chợp mắt một chút. Tôi
thấy Thầy Thiện Thông tươi cười bảo rằng: Thầy Viên Giác à! Mọi việc tôi
sẽ lo liệu cho". Tôi giụi mắt nhìn ra ngoài cửa sổ thì chỉ thấy ánh sáng
mặt trời giờ ngọ, trong khi tiếng của Thầy ấy vẫn còn văng vẳng đâu đây.
Tôi tự hỏi lại mình rằng: Tôi phải lo cho Thầy thì có, chứ bây giờ Thầy
nằm im bất động như thế thì Thầy lo được gì? không biết ai phải lo cho ai
đây?
Tôi đem 2 điềm lành của Thầy
Thiện Thông kể cho Phật Tử nghe, thế là mọi người lưu tâm và xôn xao kể
mãi, để những ngày sau đó Phật Tử tại các Chi Hội ở nước Đức liên tục kéo
về chùa và lần lượt những điềm lành cũng xuất hiện tại chùa Viên Giác qua
nhiều người thấy nghe và chứng biết như vậy.
Đến ngày 7 thì Thầy đã về chùa
thật sự và ánh sáng chói lọi đã dọi vào chánh điện vào lúc 10 giờ đêm ngày
7 tháng 7 năm 2000. Việc nầy Viên Giác đang ngồi thiền tại chánh điện
trông thấy. Viên Giác là một Thầy mới vừa thọ giới Tỳ Kheo, đệ tử của
Thượng Tọa Thích Trí Minh đang tu 14 ngày tại chùa Viên Giác nầy và trước
đây Thầy ấy chẳng có liên hệ gì với Thượng Tọa Thiện Thông; nhưng cũng
được thấy như vậy. Rồi Hạnh Sa cũng đã thấy Thầy Thiện Thông về mỉm cười
kêu gọi. Năm rồi (1999) khi Thầy Thiện Thông đến Đức, tôi đã cho Hạnh Sa
làm thị giả Thầy trong vòng 6 tháng; nên năm nay Thầy tịch, tôi đã cho
Hạnh Sa để tang thế cho các đệ tử xuất gia của Thầy không có mặt tại đây.
Đêm ấy là đêm 7 tháng 7 năm
2000, Sư Bà Bảo Quang, Ni Sư Như Tường, Ni Sư Như Viên, Ni Sư Giới Minh,
Ni Sư Diệu Phước, Ni Sư Diệu Ân, Ni Sư Diệu Hạnh đã thay phiên nhau tụng 3
kinh Tịnh Độ của Thầy Thiện Thông dịch. Quý Thượng Tọa Thích Minh Phú,
Thích Giác Thanh và quý Thầy Thích Hạnh Thông, Thích Từ Trí và Tăng Chúng
của các chùa thay phiên nhau tụng một bộ Địa Tạng, 3 quyển. Anh Nguyên
Biên Trần Hữu Lượng từ Frankfurt về tham dự lễ vào ngày mai 8.7.2000 cũng
đã thấy một đám mây chiếu sáng và dọi thẳng vào kim quang của Thầy. Ánh
sáng ấy lung linh khó tả và anh đã quỳ xuống để đọc lên những lời nguyện
cho Thầy Thiện Thông. Lúc ấy là 3 giờ sáng. Anh Nguyên Biên đã kêu anh
Thiện Vân người ngủ cùng phòng dậy xem thì cũng thấy nguyên như vậy. Đúng
là những điềm lành lại liên tục xuất hiện.
Đến ngày hôm sau, sau khi kim
quan đã đưa đi làm lễ trà tỳ rồi, thì vào khoảng 2 giờ sáng có các Phật Tử
tại Na Uy, Đức và Hòa Lan cũng thấy những ánh sáng hực hở xuất hiện trên
nóc chùa Viên Giác và chiếu thẳng vào nhà Tổ, nơi đang thờ Thầy. Quý Phật
Tử nầy sở dĩ thấy được như vậy vì tầng 3 của Đông Đường có cửa sổ thông
thoáng lên bên trên nên có thể thấy cả bầu trời trăng sao vào lúc ban tối.
Thế là mọi người quỳ xuống để niệm Phật, một lúc 4, 5 phút sau thì ánh
sáng đo mất đi.
Hôm làm lễ di quan Thầy, Thầy
Giáo Thọ làm Chủ Sám và các Thầy khác của Viên Giác cũng như Khuông Việt
nằm trong Ban Kinh Sư, Thầy Giáo Thọ và Ban Kinh Sư đã xướng lên những lời
ai oán não nùng, khiến cho ai nghe cũng tủi lòng. Riêng tôi thì phải dừng
lại nhiều lần trong khi phát biểu cảm tưởng của mình và những giọt nước
mắt đã lăn tròn trên gò má lúc nào chẳng hay biết gì cả. Sau nầy một số
quý Phật Tử có bảo rằng lần đầu tiên mới thấy Sư phụ khóc. Tôi bảo rằng:
Sở dĩ tôi khóc vì Phật Giáo mất đi một trí tuệ rạng ngời và chư Tăng Ni
mất đi một bậc nhân tài để lo gìn giữ cho mối đạo. Những giọt nước mắt ấy
có ý nghĩa như thế.
Trước khi xe tang của Thầy lăn
bánh thì anh Thông, em ruột của Thầy, đọc lên những lời cảm tạ chư Tăng Ni
và Phật Tử đã chứng minh cũng như tham gia lễ táng cho Thầy cả tuần qua
cùng với sự phát biểu của Hội Phật Tử và các Chi Hội Karlsruhe, Wiesbaden,
Reutlingen. Mọi người ai cũng bùi ngùi xúc động cho một chuyến ra đi, mà
chuyến đi nầy chẳng mấy ai chờ đợi; nhưng nó vẫn tới.
Thầy Thiện Thông đã lựa đúng
ngày để viên tịch, lúc có đông đảo chư Tăng Ni và Phật Tử đến và cũng lựa
đúng ngày cuối tuần để làm lễ trà tỳ để có nhiều người về tham dự. Thầy
mất ngay vào lúc chư Tăng Ni Âu Châu vân tập về chùa Viên Giác an cư kiết
hạ,có cả giới đàn truyền Sa Di, Sa Di Ni, Thức Xoa và Bồ Tát giới cũng như
Khóa Tu Gieo Duyên. Có hơn 170 người vừa Tăng lẫn tục luôn luôn hộ niệm
cho Thầy trong suốt 2 tuần lễ, quả là một phước báu rất nhiệm mầu. Đó là
nhờ công phu tu tập của Thầy trong nhiều đời nhiều kiếp và chắc rằng Thầy
ấy đã vãng sanh.
Để rồi tuần 49 ngày của Thầy cũng
nhằm vào ngày thứ bảy 19 tháng 8 năm 2000 nhân lễ Vu Lan của chùa Viên
Giác cử hành, có đông đủ chư Tăng Ni và Phật Tử về hộ niệm cho Thầy nữa.
Quả là một điều rất hy hữu. Ra đi trong tiếng kinh cầu, sống cũng trong
ánh từ quang của đạo và khi mất đi rồi cũng đã làm lợi lạc không biết bao
nhiêu sinh linh đang phát tâm tu học và nguyện về thế giới Tây Phương Tịnh
Độ.
Đám tang của Thầy, các Chi Hội và
các Chùa đã đi điếu độ 15.000 Đức Mã. Số tiền nầy tôi đã bàn với gia đình
là đem cúng dường hết cho 70 vi Tăng Ni để chia phần công đức cho Thầy và
mong Thầy an vui nơi cõi Tịnh, khi người sống đã làm mãn nguyện cho người
chết. Riêng tiền xây tháp tại Việt Nam đã có sẵn. Đó là số tiền do Phật Tử
tại Đức cúng độ 10.000 Đức Mã, em Thầy đã mang về Việt Nam 6.000 Đức Mã để
xây tháp và làm lễ trai tăng nhân tuần 49 ngày của Thầy. Số tiền còn lại
4.000 Đức Mã sẽ in kinh của Thầy để ấn tống. Ngoài ra việc thiêu cốt, nhà
quàng cũng như bệnh viện đã có bảo hiểm lo. Vậy là xin Thầy cứ thong dong
nơi cõi Tịnh Độ vậy. Nếu Thầy có muốn tái sanh lại xứ Ta Bà nầy, đặc biệt
là xứ Đức như Thầy đã sống qua 2 lần thì xin Thầy cứ tự nhiên hạ sanh từ
Tịnh Độ. Biết đâu 10, 15 năm sau có một chú bé vào chùa Viên Giác để xin
xuất gia, thì chú bé ấy là hiện thân của Thầy và Thầy sẽ tiếp tục những gì
Thầy chưa làm xong nơi thế gian nầy vậy.
Tôi cũng được biết là sau khi xây
chùa tại Việt Nam nợ nần Thầy đã thanh toán hết rồi. Như vậy đâu có gì để
phải lo nữa. Nhưng nếu có còn thì những người đến sau phải kế tục, chứ
Thầy nằm yên đó làm sao lo được và suốt cả cuộc đời cứ lo và lo như thế
cho đến bao giờ mới hết lo.
Sau khi đưa kim quan Thầy vào nhà
thiêu, cách 2 đêm sau tôi nằm mơ màng, đâu khoảng 2 giờ sáng, có ánh sáng
chiếu qua cửa sổ phòng minh với hình dạng một chiếc quan tài lơ lửng giữa
hư không và chung quanh chỉ toàn là ánh sáng. Mở mắt thật lớn để nhìn thật
kỹ thì nơi ấy chỉ còn là một khoảng không to tướng của giữa đêm trường
tịch mịch cô liêu, chỉ còn mình đối diện với mình mà thôi. Riêng tôi đã
thấy Thầy 3 lần qua Phật thị hiện, qua Thầy báo mộng và qua chiếc kim quan
treo lơ lửng giữa hư không, tôi đoan chắc rằng Thầy đã giải thoát và Thầy
đã về cõi Phật.
Tro cốt của Thầy đưa về Việt Nam
và xây tháp tại chùa Phước Quang ở xã Suối Nghệ, Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi
Thầy đã trụ trì và xin Thầy đời đời an nghỉ tại đó. Riêng tôi thì có phước
nhưng không duyên; nên chưa chắc gì tôi sẽ về được để thăm Thầy; nhưng dẫu
sao đi nữa, hình ảnh của Thầy vẫn luôn còn giữ lại nơi tâm khảm của tôi,
của Tăng Chúng chùa Viên Giác và Phật Tử Việt Nam tại xứ Đức nầy.
Tôi cũng không mong Thầy báo mộng
nữa. Vì như thế cũng đủ rồi và cứ như thế mỗi năm sau ngày sinh nhật tôi
28.6 thì tôi sẽ chuẩn bị cúng Thầy vào ngày 30.6 và cũng là một ngày để
chuẩn bị cho khóa an cư kiết hạ của Tăng Ni Âu Châu và các Phật Tử về Tu
Gieo Duyên và nguyện cầu rằng Thầy dầu ở đâu đâu, bất cứ thế giới nào đó,
Thầy cũng luôn gia hộ cho đệ tử của Thầy tại quê hương Việt Nam muôn thuở
được chân cứng đá mềm để gánh vác trọng trách của Thầy đã mấy thập niên
qua gầy dựng nơi quê hương nghèo nàn; nhưng đầy ắp tình người ấy.
Sở dĩ tôi phải viết chương nầy để
tiễn biệt Thầy, vì lẽ tôi thấy cuộc đời nó vô thường quá, nó không có ý
nghĩa gì cả. Có đó rồi mất đó, mới là hình hài hôm qua mà nay đã ra người
thiên cổ, thì thử hỏi ai mà không phải tự vấn lương tâm mình. Mình sống
như thế nầy để làm gì? sống cho ai và sống có ý nghĩa gì? Thế mà đã có
biết bao nhiêu con thiêu thân đã đốt mình trong cõi dục, liều chết trong
vô minh và ái nhiễm để đời đời sẽ chỉ phải quẩn quanh trong 6 nẻo luân
hồi. Cứ thế và cứ thế lại dần trôi vào quên lãng. Cát bụi sẽ trả về với
cát bụi; nhưng nghiệp thức của mỗi chúng sanh thì phải luôn luôn trả vay
trong muôn vạn kiếp nhân sinh. Thật là khổ ải biết chừng nào; nhưng mấy ai
muốn mong ra khỏi. Chỉ có con người biết giác ngộ, có trí tuệ mới muốn ra
thôi. Đó là những người biết làm chủ chính mình và là một người trưởng
thành thực sự. Còn đa phần chúng sanh cũng giống như những đứa con nít vậy
thôi; khi khóc lóc sẽ được mẹ dỗ dành bằng kẹo ngọt thì đứa bé sẽ im ngay.
Đó là ái dục và vô minh. Còn người lớn dẫu có đem kẹo ngọt, lời hay khéo
để dụ dỗ họ vẫn không thèm. Vì lẽ những thứ nầy không còn hấp dẫn họ nữa.
Đấy là những người có trí tuệ và biết hiểm nguy của sanh tử là gì.
Xin chắp tay nguyện cầu cho Thầy
mãi mãi là ánh đèn sáng để soi rọi cho mọi người và mọi loài. Từ đó Thầy
sẽ đi, từ đó Thầy sẽ đến và Thầy sẽ là và mãi mãi sẽ là chỗ nương tựa vững
chắc cho những ai phát tâm vãng sanh về Tịnh Độ.
---o0o---
Mục Lục |
Chương I
|
Chương II
|
Chương III
Chương
IV
|
Chương V
|
Chương VI
|
Chương VII