Có và Không
Thích Như Điển
Phật
lịch 2544 - 2000
Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam
tại
Cộng Hòa Liên Bang Đức Xuất Bản
---o0o---
Chương II
Có và Không theo quan niệm về hạnh phúc và
khổ đau
Hạnh phúc và khổ đau nó cũng chỉ là những danh từ trừu
tượng. Người ta không tự biết khi nào người ta đau khổ. Tại sao họ đau khổ
cũng như vì đâu họ có hạnh phúc v.v... Ví dụ người Hoa hay chúc với nhau
là: "Ngũ phúc lâm môn". Có nghĩa là 5 điều phúc đức theo quan niệm của thế
gian luôn luôn ở trong nhà của họ. Đó là :
1.
Đa lộc
2.
Đa thọ
3.
Đa phú quý
4.
Đa tử tôn
5.
Đa kiện khang
Trong đời sống hằng
ngày đây là 5 điều mà ai ai cũng muốn có. Có như thế gọi là hạnh phúc mà
không có những điều như thế tạm gọi là nghèo nàn hay khổ đau. Đây là một
cái nhìn đơn thuần về phương diện vật chất. Nơi đây chúng ta phân tích ra
từng điểm một để thấy rõ vấn đề hơn.
Lộc ở đây có nghĩa là
màu xanh, cũng có nghĩa là của cải, luôn luôn tươi thắm được nhiều như lá
cây mùa xuân, không bị tàn phai theo thời gian năm tháng; nhưng trên thực
tế thì lá cây có mọc ra, có xanh tốt, ắt có ngày phải vàng úa và một ngày
nào đó phải rời khỏi cành. Ngày tháng trôi qua lá cây sẽ trở thành phân,
thành cát bụi để bón lại cho cây cỏ vẫn còn chuyển xoay theo sự vận chuyển
của đất trời.
Sống lâu là một cái
phước. Vì kiếp trước không gây nhân giết hại người hay sinh mạng của những
vật khác; nên kiếp nầy được thọ mạng dài lâu; nhưng không phải ai sống
được lâu là không bịnh không khổ đau. Có nhiều người muốn chết mà vẫn
không chết được. Vì còn phải sống trên giường bệnh để trả nợ của kiếp xưa.
Sống như thế trên thực tế rất khổ đau; nhưng biết làm sao hơn khi mạng căn
vẫn còn tiếp diễn.
Giàu có tiền bạc
chẳng ai là không ham hết. Có nhiều người ham làm giàu đến nỗi quên ăn bỏ
ngủ, ham làm giàu quên cả lễ nghĩa ở đời, ham làm giàu quên cả tội lỗi
v.v... Nếu ai đó có nói đến chuyện bố thí làm phước thì luôn luôn tìm cách
để chối từ. Vì cứ muốn cho mình cứ giàu mãi lên. Những người nhà giàu dễ
sinh tâm keo kiệt hơn là những người nghèo hoặc trung lưu. Vì nhà nghèo họ
nghĩ là họ phải làm phước để kiếp sau được giàu có hơn. Còn người đã giàu
có rồi, họ luôn muốn giàu hơn nữa và cánh cửa từ bi của họ ít dễ dàng mở
ra để đón nhận những khó khăn thiếu thốn của những người khác.
Có một câu chuyện đời
xưa kể về một người giàu có mà luôn luôn hà tiện cho người nay nghe cũng
vui vui. Chuyện kể rằng: Có một ông nhà giàu nhất làng; nhưng không bao
giờ rộng rãi, lúc nào ông cũng so đo tính thiệt, tính hư, miễn sao cho bồ
thóc của nhà ông đầy và tránh việc phí phạm tài sản một cách phi pháp. Một
hôm ông bàn với bà vợ là cả hai đều già rồi nên ngồi lại để chung lo bàn
chuyện hậu sự. Sau đó cả hai đi đến quyết định là đi đến một tiệm bán quan
tài để mua hòm về dưỡng già phòng khi có hậu sự xảy ra không lo kịp. Sau
khi trả giá quan tài ông thấy cái nào cũng đắt; nhưng cuối cùng thì hai
ông bà đã chọn được hai cỗ quan tài rất vừa ý. Do vậy mà ông mua và tính
keo kiệt của ông vẫn còn, mặc dầu biết rằng ngày chết không còn bao lâu
nữa; nhưng ông vẫn cố nài nỉ với người bán hòm, thôi hãy thêm cho tôi một
cái quan tài nữa thì tôi mới mua hai cái quan tài kia. Người bán hòm tròn
xoe đôi mắt và tự nhủ với lòng mình là: "Tại sao mà chết vẫn còn hà tiện
nhỉ ?".
Nhiều con cái ở Phi Châu và Á Châu ngày nay là một đại
nạn; nhưng mấy người lo lắng. Vì lẽ họ hay quan niệm rằng: "Trời sinh voi,
sinh cỏ - sinh người sinh lộc" nên cứ thế mà sinh. Càng sinh nhiều gọi là
phước đức. Trong khi đó người Âu Mỹ lại ít sinh con; nhưng họ lo cho con
cái của họ một cách chu đáo hơn. Do vậy theo quan niệm ngày xưa sinh nhiều
con là hạnh phúc, chúng ta ngày nay cần phải xét lại cho thật là kỹ vậy.
So ra những người không có con và những người già sống không gia đình, họ
không có thê triền, tử phược, cũng không ai nói rằng họ không có hạnh
phúc. Mới đầu thế kỷ thứ 20, Việt Nam chỉ có hơn 20 triệu dân; đến cuối
thế kỷ 20 Việt Nam đã lên 76 triệu và nghe đâu với mức sinh sản nầy Việt
Nam đến năm 2025 sẽ có 125 triệu dân. Ấn Độ đã sinh ra đứa trẻ thứ 1 tỷ và
Trung Quốc thì đã vượt qua con số nầy từ lâu. Nhân loại ngày nay đã có hơn
6 tỷ con người trên quả địa cầu nầy và trong khi đó thì Á Châu chiếm hơn
phân nửa số lượng dân số hiện có trên thế giới. Như thế vấn đề phải cần
xét lại kỹ càng hơn.
Phần cuối của Ngũ Phúc Lâm Môn là chúc cho nhiều sức khỏe
không bệnh tật. Quả đúng như vậy. Người xưa thường nói: "Sức khỏe là vàng"
mà có thể còn quý hơn cả vàng nữa kia. Vì lẽ có một núi vàng mà không có
sức khỏe và không hưởng được của cải ấy thì vàng kia cũng kém giá trị vậy.
Vì vậy cho nên bất cứ người Âu Mỹ hay Á Phi lúc nào gặp nhau cũng hỏi thăm
nhau về sức khỏe trước.
Đây là năm điều phúc đức của người thế gian; nhưng xem ra
chúng không thật có. Nó chỉ là một sự giả hợp để tồn tại và phát triển mà
thôi. Nếu đủ duyên thì chúng ở, thiếu duyên thì chúng tan vậy. Chúng không
có thực tại, không có chỗ đứng. Tất cả cũng chỉ nương nhờ vào nhau để phát
triển với nhau và để rã rời nhau. Không hình tướng nên chúng ta không thấy
được. Tuy chúng vẫn hiện hữu. Đây là một thực tế mà ai trong chúng ta cũng
có thể chấp nhận được.
Bước sang lãnh vực khổ đau cũng vậy. Đức Phật đã chẳng dạy
lần đầu tiên về Tứ Diệu Đế trong đó chữ khổ vẫn đứng đầu. Nào là sanh,
lão, bệnh, tử khổ. Ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắng hội và ngũ ấm xí
thạnh khổ v.v... tất cả những loại khổ nầy chúng cũng không có hình tướng
nhưng luôn ẩn hiện dưới nhiều hình thức khác nhau giữa thế gian nầy. Cái
khổ không tìm, chúng vẫn tới. Còn hạnh phúc mọi người đều đi tìm nhưng
chúng vẫn vượt xa khỏi tầm tay. Đời là thế. Oái oăm lắm, không thể diễn tả
bằng ngôn từ được. Tuy nhiên tất cả những sự khổ đau nầy chúng cũng không
thật tướng. Ví dụ tôi vẫn thường hay quan sát những sự khổ đau của mọi
người khi bị mất người thân trong gia đình, nhất là vợ hay chồng. Lúc một
người thân lâm chung, ai trong gia đình cũng phải khổ tâm. Có người khổ
tâm nhiều, có người khổ tâm ít. Có người muốn chết theo người thân của
mình nữa; nhưng sau một vài tuần thất, tôi nhận thấy sự khổ đau đã đổi đi
nhiều rồi. Đến khi khăn tang trên đầu chưa xả, mà người nam hoặc người nữ
còn lại đó, đã có đối tượng mới rồi. Quả thật cuộc đời là một cái gì mà
khó ai định nghĩa trọn vẹn được. Hạnh phúc đó, khổ đau đó - chợt đến rồi
chợt đi - như gió thoảng, như mây bay, như sương sa, như điện chớp; nhưng
tất cả đều cố gắng để tìm tòi và mong đạt đến. Nếu người tu học Phật Pháp
thấy được thật tướng của Hạnh Phúc và thật tướng của Khổ Đau thì người ấy
sẽ tự thấy mình an lạc. Sự an lạc ấy dĩ nhiên nó cũng chỉ còn trong trạng
thái đối đãi của cõi phàm tình nầy; nhưng dẫu sao đi nữa đây vẫn là bước
tiến của nội tâm khi đã trải qua những thay đổi của quan niệm cũng như
cuộc sống.
Đức Phật luôn luôn dạy rằng: "Tất cả mọi hiện tượng đều vô
thường". "Tất cả mọi hiện tượng đều không chắc thật, không bền vững". Hãy
luôn luôn quán sát khổ đau, không tướng và vô ngã để từ đó chúng ta không
bị những hiện tượng giới bên ngoài làm chủ được tâm thức của chúng ta. Đôi
khi và điều nầy rất thường xảy ra với con người. Có lẽ vì chúng ta quá yếu
đuối cho nên để cho những hiện tượng giới ấy làm chủ mình. Ví dụ như hạnh
phúc, khổ đau, giận, hờn, buồn, vui, tham, sân, v.v... Sở dĩ chúng ta
nương theo chúng để tồn tại. Vì lẽ chúng là kết quả bề nổi của tâm thức.
Khi tâm thức của chúng ta chưa vắng lặng, chưa biết rõ mặt mũi của tất cả
những kết quả của những hiện tượng không chắc thật bên trên, thì chúng ta
dễ dàng buông bỏ, để cửa trống tâm thức cho những giận hờn ngự trị. Một
người mà hiểu rõ mặt mũi của những hiện tượng là một người không bị khổ
đau và hạnh phúc chi phối. Vì sao vậy ? Vì chúng ta biết rằng chúng không
thật. Ví dụ về vô thường. Đức Phật vẫn thường hay dạy cuộc đời là vô
thường. Chúng ta phải tự hỏi tại sao nó vô thường ? Lúc lấy giờ chúng ta
phân tích ra từng loại một. Về thân thể cũng bị vô thường chi phối. Khi
mới sanh ra ta còn nương nơi sữa mẹ, chịu sự ẵm bồng suốt bao nhiêu năm
tháng chúng ta mới lớn khôn. Sau đó đi học, thành người và xây dựng tương
lai cho chính mình, lúc bấy giờ thấy đời toàn là một màu xanh, tương lai
đầy hy vọng; nhưng năm tháng chất chồng, mái tóc mấy chốc đã trở thành hoa
râm, rồi bịnh, rồi suy đồi thân thể, lưng còm, gối mỏi v.v... thời gian
năm bảy chục năm trôi qua một cái vèo, thật đúng như trong văn Cảnh Sách,
Ngài Quy Sơn Thiền Sư đã dạy "Nhựt vãng nguyệt lai, táp nhiên bạch thủ".
Nghĩa là: "Ngày qua tháng lại, thoắt đã bạc đầu". Như thế đứng về phương
diện thân thể chẳng phải bị vô thường chi phối là gì? nhưng mấy ai dễ chấp
nhận ?
Thứ đến là tâm của chúng ta cũng bị vô thường biến đổi
nữa. Trong nhiều kinh điển, Phật thường dạy rằng: Tâm Viên Ý Mã". Nghĩa là
tâm của chúng ta giống như con khỉ chuyền cây. Ý của chúng ta giống như
con ngựa chạy hoang vậy. Khỉ chuyền cây và ngựa chạy hoang là 2 tiêu đề
của nhà Phật thường hay ví tâm mình khi không điều khiển được chúng. Lúc
thì tâm thương hiện lên, lúc thì tâm ganh tị hiện đến. Lúc thì buồn, lúc
thì giận v.v... tất cả đều bị chi phối bởi những hiện tượng giới ở bên
ngoài. Tâm tuy không có hình tướng; nhưng do tâm và từ nơi tâm có thể tạo
nên thiên đường, địa ngục, tạo nên thế giới. Vũ trụ nầy hay ngôi nhà nầy
tất cả đều do tâm điều khiển. Còn vật chất để tạo thành thế giới và ngôi
nhà chỉ là những vật thể bị nhân duyên biến đổi mà thành. Muốn điều phục
tâm, muốn gạn lọc tâm hay muốn làm cho chơn tâm hiển lộ, bắt buộc hành giả
phải hạ thủ công phu tụng kinh, trì chú, lễ bái, sám hối, Thiền định
v.v... nếu không thực hiện những việc nầy, kể như vô bổ. Vì càng bổ sung
sự hiểu biết cho tri thức bao nhiêu, mà không dụng tâm chế ngự gạn lọc tâm
thức, thì sự tu học đó nó cũng chỉ giống như một cái đãy đựng sách là
cùng.
Thân và tâm thay đổi luôn luôn và thường hay bị vô thường
chi phối như vậy. Ngoài ra hoàn cảnh cũng như chỗ ở của chúng ta cũng bị
vô thường luôn luôn biến đổi. Ví dụ một người sinh ra và lớn lên tại xứ
nầy, muốn ở luôn tại đó để lập nghiệp cũng như xây dựng tương lai; nhưng
chiến tranh loạn lạc, hạn hán, mất mùa, lụt lội v.v... làm cho người đó
không thể ở yên một chỗ; nên bắt buộc phải thay đổi nơi chốn cũng chỉ vì
hoàn cảnh mà thôi. Riêng người Việt Nam cũng như nhiều người trên thế giới
như Đức, Đại Hàn v.v... đã bị chia đôi đất nước, rồi Đức và Việt Nam được
thống nhất trở lại; nhưng với một hoàn cảnh bị phân ly hơn một thế hệ như
thế làm cho hai bên không hiểu nhau, không thông cảm lẫn nhau, cũng chỉ vì
cái chủ nghĩa do con người dựng lên như vậy.
Hơn 2 triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi sau năm 1975
và hiện nay có mặt tại 40 nước trên thế giới. Họ đã vì chiến đấu cho tự do
mà đã phải rời xa đất tổ và ngày hôm nay họ đã lưu lạc ở bốn phương trời.
Sau đệ nhất thế chiến (1914 - 1918) nhân dân Âu Châu và nhân dân thế giới
đã bắt đầu một cuộc sống an ổn; nhưng nạn độc tài và quân phiệt đã hình
thành và đệ nhị thế chiến (1939-1945) đã xảy ra, làm cho Âu, Á khổ đau
không biết bao nhiêu mà lường, để rồi cả triệu người Âu Châu di cư sang Mỹ
Châu và Úc Châu lập nghiệp. Có lẽ những người Âu Châu, trong ấy có người
Đức, lúc bấy giờ họ cũng chẳng nghĩ tại sao họ phải xa quê cha đất tổ và
hoàn cảnh ấy đã bắt buộc họ phải lập nghiệp tại quê người cho đến ngày hôm
nay, đã gần 100 năm xa xứ. Bây giờ nhìn về cố quốc; những thế hệ con cháu
đã trải qua 3 hay 4 đời họ sẽ nghĩ rằng: xa xa đâu đó nguồn gốc tổ tiên
của họ từ Âu Châu như: Đức, Pháp, Ý v.v... qua Úc, Mỹ lập nghiệp mà thôi.
Tương tự như thế, người Việt Nam đã 25 năm xa xứ, ra đi với 2 bàn tay
trắng. Bây giờ thế hệ thứ 2 đã sinh ra và lớn lên tại đây. Do đó thế hệ
nầy chẳng hiểu vì sao họ phải xa xứ. Nếu có nghe cha mẹ, ông bà kể lại,
thì đối với họ cũng là những gì xa xôi vọng lại mà thôi.
Đi xa hơn nữa chúng ta thấy rằng nơi chúng ta ở tại quả
đất nầy cũng không có gì chắc thật. Vì chúng cũng bị vô thường chi phối.
Sự vô thường ấy biểu trưng cho núi lửa, động đất, đại hồng thủy v.v... 5
hay 6 tỷ năm về trước, quả địa cầu nầy mới chỉ là một làn gió thổi qua và
5 hay 6 tỷ năm về sau nữa trên mặt đất nầy có lẽ cũng chẳng còn có một vi
sinh vật nào cả. Vì tất cả đều phải đổi thay và tất cả đều phải trở về sự
quên lãng. Có nhiều người cho rằng vũ trụ nầy là chắc thật; nhưng đứng
trên bình diện khoa học cũng như Phật Giáo, không có gì là đứng yên một
chỗ cả. Do tâm niệm, do thời gian làm chuyển đổi tất cả những gì có hình
tướng trong thế giới nầy. Một ngày nào đó thế giới nầy cũng sẽ đổi thay,
nổ tung ra; chỉ còn lại không khí và chất lỏng, lúc ấy tâm thức của con
người se trôi giạt đến một nơi khác. Theo Phật Giáo quan niệm, ngoài nơi
chúng ta đang ở, còn có nhiều thế giới khác nhau nữa. Mỗi thế giới đang có
một vị Phật Giáo hóa sanh và hằng hà sa số vị Bồ Tát đang thuyết pháp hoặc
đi kinh hành nơi đó. Trong 3 cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới có tất
cả là 28 cõi thế giới khác nhau. Ví dụ cõi dục giới có 6 cõi thế giới như
:
1. Trời Tứ Thiên Vương
2. Trời Dạ Ma
3. Trời Đao Lợi
4. Trời Đẩu Suất
5. Trời Hóa Lạc
6. Trời Tha Hóa tự tại.
Cứ một ngày ở cõi trời Đẩu Suất là bằng một trăm năm nơi
cõi thế gian nầy. Tại đây có Nội Viện Đẩu Suất và Ngoại Viện Đẩu Suất. Các
vị Bồ Tát chuẩn bị đản sanh vào cõi Ta Bà nầy đều có mặt tại Nội Viện Đẩu
Suất. Các Ngài sẽ quan sát tư cách phi phàm của một người mẹ để nhập vào
thai và khi Bồ Tát ở thai mẹ thì trăm ngàn Bồ Tát khác đều giáng vào thai
ấy để nghe Bồ Tát thuyết pháp và sau khi Bồ Tát nầy giáng sanh, tu hành
thành Phật thì các vị Bồ Tát kia là bạn lữ đồng học và cũng là những vị đệ
tử của vị Bồ Tát đã thành Phật kia.
Nếu ai tu tại đây mà phát nguyện sanh về Đẩu Suất thì nên
phát nguyện vào Nội Viện; nếu chẳng may nằm ở Ngoại Viện Đẩu Suất thì vì
còn ở cõi Dục giới; nên dễ bị luân hồi sanh tử trở lại, nhất là phần phước
đã hưởng tại nơi nầy đã hết.
Một ngày tại cung trời Tha Hóa tự tại bằng 1.600 năm ở xứ
Ta Bà nầy. Do vậy mà mạng sống ở đây rất dài lâu; trong khi đó, mạng sống
của chúng sanh ở thế giới Ta Bà nầy rất hữu hạn.
Cõi Sắc giới có tất cả là 18 cõi trời. Mỗi cõi trời như
thế có vô lượng thế giới nữa. Tại đây những người đã nhập vào Sơ Thiền,
Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền đầu sống và hành đạo tại đây. Những chúng
sanh ở những cõi trời của Sắc giới có tuổi thọ rất dài lâu. Tuy nhiên sau
khi đã hưởng hết các phước lành, vẫn lại phải luân hồi sanh tử nữa.
Cuối cùng là 4 cõi thuộc về Vô Sắc giới. Bốn cõi nầy chúng
sanh không có hình tướng như hai cõi kia, tất cả đều sống an nhàn bằng tâm
thức; nhưng tâm thức nầy cũng luôn biến đổi, để rồi một tỷ tỷ năm sau cũng
phải chịu luân hồi sanh tử nữa. Chỉ có những người nào phát tâm tu học
tiếp tục thì mới ra khỏi 3 cõi nầy để trở thành Bồ Tát và Phật, mới có thể
hóa độ chúng sanh một cách tự tại được.
Từ cõi Ta Bà nầy đến cõi Tây Phương Cực Lạc còn xa xôi
trong muôn vạn tỷ tỷ năm ánh sáng nữa; nơi đó đang có một Đức Phật hiệu là
A Di Đà đang thuyết pháp độ sanh. Nếu chúng sanh nào có nhân duyên với
Tịnh Độ, trước sau gì cũng sẽ được vãng sanh về đó. Tuy không gian và thời
gian có cách ngăn nhưng quan niệm về: nhứt niệm biến tam thiên. Có nghĩa
là chỉ trong một suy nghĩ, tư tưởng của ta có thể bay đi trong trăm nghìn
đại thiên thế giới, nên cuối cùng, một tư tưởng đã được giải thoát thì
không cần phải biến thiên qua nhiều giai đoạn, chỉ cần một kiếp thác sanh
thôi.
Trong 3.000 Đại Thiên Thế Giới ấy có tất cả là 28 cõi trời
và trong 28 cõi trời ấy lại có vô lượng thế giới và trong vô lượng thế
giới ấy có vô lượng chúng sanh khác nhau về tâm thức, về tư tưởng, về hình
dáng, về tuổi thọ v.v... là do phước báu của mỗi chúng sanh tạo ra trong
mỗi đời và nhiều đời mới huân tập lại mà thành vậy. Nhưng so ra thì thế
giới nầy, vũ trụ nầy không có gì chắc thật cả. Vì thế giới nầy thành tựu
thì thế giới kia bị băng hoại và ngược lại cũng thế. Do đó hạnh phúc hay
khổ đau khi chúng ta sống trong các thế giới ấy, tất cả đều bị vô thường
biến đổi và chi phối, cho nên chúng không có thật.
Có người hỏi tôi rằng: Vậy thì cuộc đời có ý nghĩa gì? Xin
trả lời rằng: Chẳng có ý nghĩa gì cả. Tất cả đều trở lại số không. Tuy con
người có sinh ra, lớn lên, già, bịnh và chết đó. Một khoảng thời gian năm
bảy chục năm không có một ý nghĩa gì cả và một chúng sanh nhỏ bé như chúng
ta chẳng là gì cả so với một Đại Thiên Thế Giới có nhiều thế giới lớn nhỏ
bao quanh.
Ý niệm về vô thường, về sinh diệt, về hạnh phúc, về khổ
đau phải hiểu một cách cặn kẽ rốt ráo như thế thì mới hiểu được đạo Phật.
Nếu học Phật mà không hiểu về giáo lý Phật Giáo cũng sẽ bằng thừa. Vì
chúng ta không ứng dụng một tí gì giáo lý của đạo Phật vào đời sống hằng
ngày của chúng ta gì cả, thì thật là một thiếu sót to lớn vậy.
Nói về khổ thì có muôn hình vạn trạng mà Đức Phật đã dạy
cho chúng ta qua Tứ Diệu Đế và Thập Nhi6 Nhân Duyên và phần bên trên chúng
tôi đã trình bày một ít vền nạn khổ của chúng sanh rồi. Sau đây sẽ trình
bày một ít về tư tưởng tánh không của Phật Giáo Đại Thừa. Tư tưởng nầy có
nằm rải rác trong các kinh Bát Nhã, Trung Luận, Đại Trí Độ Luận v.v... Do
chính Đức Phật giảng dạy và Ngài Long Thọ (Nagarjuna) biên tập lại mà
thành.
"Ngài Long Thọ (Nagarjuna) do sinh ra dưới gốc cây
A-chu-đà-na nên đặt tên là Ajuna. Ngài lại nhờ loài rồng mà thành đạo nên
gọi là Long. Ngài ra đời ở vùng Nam Ấn Độ, sau khi Phật diệt độ 700 năm.
Kinh Ma Ha Ma Da quyển Hạ nói: "Ngài là pháp tử của đệ tử Ngài Mã Minh là
Ca Tì Ma La tôn giả, là Thầy của Đề Bà Bồ Tát". Ngài đã xuống long cung
mang kinh Hoa Nghiêm về rồi mở tháp sắt truyền bá Mật tạng. Ngài là Tổ Sư
của tám tông Hiển và Mật Giáo" (Tự Điển Phật Học Hán-Việt, trang 670).
"Ngài là người soạn bộ Trung Luận (Madhyàmaka-Sàstra) gọi
đủ là Trung Quán luận Bồ Tát Thanh Mục chú thích. Ngài Cưu Ma La Thập đời
Diêu Tần dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán. Là một trong 3 bộ kinh luận căn
bản của tông Tam Luận. Luận nầy chủ trương Trung Đạo triệt để nhất. Có tất
cả 496 câu kệ, 27 phẩm; trong đó 25 phẩm đầu nói về phá sự mê chấp của Đại
Thừa, 2 phẩm sau nói về phá sự mê chấp của Tiểu Thừa. Đây là thuyết Trung
Đạo bát bất, tức là Trung Đạo vô sở đắc và là tư tưởng Bát Nhã. Gồm 27
phẩm như: Phá nhân duyên - Phá khứ lai - Phá lục tình - Phá ngũ ấm v.v...
Trong Đại Tạng bây giờ, luận Thuận Trung, 2 quyển, do A
Tăng Khư chú thích, Cù Đàm Bát Nhã dịch; Bát Nhã đăng luận thích gồm 15
quyển do Ngài Phân Biệt Chiếu Minh Bồ Tát giải thích, Ngài Ba La Phả Ca La
dịch và Đại Thừa Trung Quán thích luận, 9 quyển, An Tuệ giải thích và Duy
Tịnh v.v... dịch, đều là những tác phẩm khác có xuất xứ từ Trung Luận của
Ngài Long Thọ. Tây Tạng cũng có hai hệ thống học phái Trung Quán". (PHTĐ
Hán-Việt, trang 1391).
Những năm tháng đầu tiên của thế kỷ thứ nhất và thứ nhì
nhờ có các vị dịch giả thực tu thực học và thực chứng như Ngài An Thế Cao,
Ngài Cưu Ma La Thập v.v... có nhân duyên với Trung Quốc và Ấn Độ; nên
những tác phẩm quan trọng như thế đã được dịch ra tiếng Trung Quốc. Rồi từ
Hán Tạng người đời sau mới chú giải ra tiếng Nhựt, tiếng Đại Hàn, tiếng
Việt Nam v.v... Dĩ nhiên là tại Ấn Độ lúc bấy giờ vào cuối thế kỷ thứ nhất
đầu thế kỷ thứ hai tinh thần của Phật Giáo Đại Thừa cũng được phát triển
mạnh mẽ và ngày nay người ta tìm thấy những tự viện cũng như kinh điển
được truyền bá khắp nơi tại miền Nam Trung-Ấn và ngay cả qua đến
Indonésia, Mã Lai Á v.v... nhưng vì người Hồi Giáo đã tàn phá hết tất cả
chùa chiền cũng như Tăng Sĩ Đại Thừa lúc bấy giờ; nên Phật Giáo tại Nam
phương còn sót lại ở các nước Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện v.v.. nhiều
hơn là tinh thần Trung Quán do Ngài Long Thọ chủ trương. Ngày nay thuyết
nầy được Đại Thừa Phật Giáo phương Bắc và các nước Âu Mỹ rất thích; nên đã
có nhiều người trở thành Sư Tăng và tín đồ rất thuần thành của Phật Giáo.
Nói về vô ngã thì có nhiều kinh sách đã đề cập đến; nhưng
thiết tưởng cũng không thừa, khi nhắc lại vấn đề nầy, để mọi người có một
cái nhìn tổng quát về tứ pháp ấn đã đề cập phía trên.
"Vô Ngã (Anàtman) còn gọi là Phi Ngã. Cái thể thường nhất,
cái dụng có chủ tể gọi là Ngã. Đối với thân người, chấp có cái đó, gọi là
Nhân Ngã (cái ta của con người). Đối với pháp, chấp có cái đó, gọi là Pháp
Ngã. Đối với mình, chấp có cái đó, gọi là Tự Ngã. Đối với kẻ khác, chấp có
cái đó, gọi là Tha Ngã. Nhưng thân thể của con người là do sự giả hợp của
năm uẩn mà có, không có ngã thể thường nhất; còn các pháp hết thảy đều là
do nhân duyên mà sinh ra, cũng không có cái ngã thể thường nhất; đã không
có nhân Ngã, không có Pháp Ngã, thì tất nhiên cũng không có Tự Ngã và Tha
Ngã. Như vậy, cuối cùng là không có cái Ngã. Đó là chân lý rốt ráo. Chỉ
Quán, quyển bảy viết: Vì không có trí tuệ, nên mới nói là có ngã, lấy trí
tuệ mà xem xét thì thực không có ngã. Ngã ở chỗ nào ? Ở đầu, chân, hay ở
tay. Hết thảy xem xét thấu suốt, chẳng thấy cái ngã ở đâu cả. Vậy người và
chúng sanh ở đâu mà ra ? Do nghiệp lực của chúng sanh, giả hợp theo các
duyên mà sanh ra, không có chủ tể, như ngủ ở ngôi đình trống rỗng. Luận
Nguyên Nhân nói: Sắc của hình hài, tâm tư của tư hệ, từ vô thủy đến nay là
do lực của nhân duyên, niệm niệm sanh diệt, nối tiếp không cùng, như nước
chảy xuôi, như đèn tỏa sáng. Thân tâm giả hợp, tựa như nhất thể, tựa như
hằng thường. Phàm phu không biết, chấp nó là ngã. Vì cho cái ngã nầy là
của báu, nên dấy lên ba món độc: tham, sân, si; ba món độc đó trói buộc
cái ý, phát động ra thân khẩu, tạo nên hết thảy các nghiệp". (Từ Điển Phật
Học Hán-Việt, trang 1531).
Những định nghĩa như thế cho ta biết rõ ràng về cái ngã;
nhưng thông thường chúng ta hay chấp ngã. Bởi lẽ chúng ta thấy nó có hiện
hữu; nhưng trên thực tế thì không có. Vì lẽ chúng do nhiều nhân duyên hội
tụ lại mà thành. Vì thấy có cái ta làm chủ. Do vậy phải cần có cái thuộc
về ta (ngã sở), để rồi chúng ta cứ mãi mãi vướng vào con đường chấp trước
và mê lầm. Sở dĩ chúng ta hiện hữu là vì nhân duyên nhiều loại hợp thành.
Nếu nhân duyên bị tan rã, tức mọi vật đều bị ảnh hưởng dây chuyền, không
có cái gì tự độc lập một mình cả. Do vậy mà gọi là Vô Ngã là thế. Nếu ai
hiểu được giáo lý căn bản nầy, tức hiểu được Đạo Phật và hiểu được tất cả
những hiện tượng giới xảy ra chung quanh mình. Hiểu, chấp nhận là một
chuyện; còn việc thực hành lại là một chuyện khác nữa. Tất cả đều phải
trải qua từng giai đoạn và từng sự tướng một, lúc bấy giờ mới thực hiện
được tính Vô Ngã qua hành động cụ thể của mỗi con người.
Như vậy những gì được gọi là hiện tượng ví dụ như hạnh
phúc và khổ đau, có không, còn mất v.v... tất cả cũng chỉ là những đối
đãi, giả hợp, không thật tướng. Nếu có đi chăng nữa, thì đó chỉ là những
giả danh để gọi về con người, sự vật, thực vật và tĩnh vật mà thôi.
---o0o---
Mục Lục |
Chương I
|
Chương II
|
Chương III
Chương
IV
|
Chương V
|
Chương VI
|
Chương VII