Cảm tạ xứ Đức
Thích Như Điển
Phật lịch
2546 - 2002
Trung
tâm văn hóa xã hội Phật Giáo Việt Nam
---o0o---
Chương IV.
Hơn 30 năm sống ở ngoại quốc và trong đó có
hơn 25 năm sống tại xứ Đức
Năm nay (2002) tôi
đã 54 tuổi tính theo lịch Việt Nam và 52, 53 tuổi tính theo lịch Âu Mỹ.
Cái tuổi ngũ thập tri thiên mệnh rồi. Nghĩa là việc gì xảy ra trong trời
đất đều phải biết cả; thế nhưng sự kiện xảy ra hằng ngày làm sao biết hết
nổi, quá nhiều. Người nào có bộ óc tinh vi đến bao nhiêu đi nữa cũng không
thể nhớ hết tất cả sự việc. Còn tôi với chừng tuổi ấy, đã ở ngoại quốc năm
thứ 31 rồi. Điều ấy có nghĩa là tôi rời xa đất mẹ Việt Nam từ năm 23 tuổi.
Cái gốc gác cội nguồn ấy bây giờ nó đã còn sót lại trong tôi ít hơn là năm
tháng tôi học hành, trưởng thành và sinh hoạt tại ngoại quốc nầy.
Cũng may là sau khi
xong Tú Tài II, nghĩa là xong Trung Học Đệ Nhị Cấp tôi mới xa quê hương để
đi du học, nên vốn liếng tiếng mẹ đẻ cũng như lịch sử, văn chương, địa lý,
phong tục v.v... nó còn sót lại nơi mình. Khi nhìn những em bé sinh ra tại
ngoại quốc và lớn lên, học hành đỗ đạt ở đây, nhưng vẫn cố gắng nói tiếng
mẹ đẻ và viết được tiếng Việt, thật tình tôi cảm phục vô cùng. Một phần
tôi cảm phục các em ấy, phần khác phải công nhận rằng giáo dục của gia
đình em ấy có căn bản cho nên mới được kết quả ấy. Thông thường người ta
nói là: "Con cái nói tiếng mẹ đẻ" chứ chẳng ai nói rằng: con tôi nó nói
tiếng của cha nó. Như thế là hỏng mất một hay hai thế hệ rồi.
Cách đây chừng 20
năm khi tôi có dịp sang Thụy Sĩ thuyết trình về Phật Giáo, có lưu lại
trong một gia đình người Việt Nam lấy chồng người Thụy Sĩ, đã có 2 con rất
lớn. Các cháu đến chào tôi bằng tiếng Việt giọng Huế. Tôi đã ngỡ ngàng
không ít và hỏi người đàn bà đối diện rằng:
- Tại sao con chị
lai Thụy Sĩ mà nói tiếng Việt hay thế ?
- Bạch Thầy! Các
cháu phải nói tiếng mẹ đẻ của nó chứ! Bà ta trả lời như thế.
Đây là một bằng
chứng hay nhất để cho những người mẹ dạy dỗ con của mình. Ngày nay con của
mình có thể học, nói, viết 5, 7 ngôn ngữ cùng một lúc; nhưng quan trọng
nhất phải là ngôn ngữ của người mẹ trước. Nếu mẹ là người Việt Nam, bắt
buộc phải dạy con mình nói tiếng Việt. Nếu mẹ là người Hoa, người Nhật,
người Đức, người Pháp, người Ý v.v... điều đầu tiên là phải luyện cho con
mình học ngôn ngữ của mình nói ra. Người mẹ có cơ hội gần gũi con cái mình
nhiều; nên con cái dễ tập theo hơn là người cha. Người cha chỉ có bổn phận
làm ra tiền bạc và nuôi dưỡng con cái gia đình, còn người mẹ giữ vai trò
huấn dụ, uốn nắn con mình đi theo con đường của cha mẹ sẽ chọn và dạy dỗ
cho con.
Có nhiều người Việt
Nam sinh trưởng nơi thôn quê nghèo khó, không có chữ nghĩa bao nhiêu, khi
sang Đức hoặc Mỹ, Úc muốn cho con mình học ngôn ngữ địa phương cho nhanh
để dễ hội nhập vào cuộc sống mới. Dĩ nhiên là chúng rất thành công. Vì môi
trường giáo dục tốt thì con cái cứ thế mà phát triển và thành đạt; nhưng
tiếc thay sinh hoạt trong gia đình thì không ổn thỏa. Vì con cái chỉ nói
tiếng địa phương, trong khi đó cha mẹ lại ù ù cạc cạc. Nhiều khi chúng
chửi hoặc nói xấu cha mẹ bằng tiếng ngoại ngữ cha mẹ cũng chẳng biết đâu
mà trả lời. Chỉ biết nhăn răng cười khì thì chúng cho là lạc hậu, hủ bại
v.v... thế rồi đâm ra buồn phiền con dâu và có rất nhiều hiện tượng rất
tiêu cực như tự tử, thối chí, bấn loạn tâm thần v.v...
Ngày 22 tháng 2 năm
1972 khi tôi cất bước ra đi du học khỏi Việt Nam, tôi nghĩ rằng có ngày sẽ
trở lại quê cha đất Tổ, đâu có ngờ rằng phải lưu lạc khắp bốn phương trời,
tính cho đến ngày nay đã là năm thứ 31 rồi. Nếu có ai đó hỏi: Thầy sống ở
ngoại quốc thấy như thế nào? Thầy có nhớ Việt Nam không? hoặc giả dự định
tương lai của Thầy như thế nào? v.v... thì có vô vàn câu trả lời để diễn
tả tâm trạng của mình khi xa xứ. Được một cái may là tôi hội nhập rất
nhanh và biết nhiều ngoại ngữ cũng như sử dụng chúng một cách thuần thục,
do đó đỡ bỡ ngỡ khi tiếp xúc với người ngoại quốc hay với người đồng hương
của mình.
Tiếng Pháp tôi học 7
năm tại Trung Học Đệ Nhất Cấp và Đệ Nhị Cấp. Mỗi tuần 6 tiếng tiếng đồng
hồ. Văn phạm thì rất rành, nhưng nói năng thì chẳng được chữ nào khi còn ở
trong nước và lúc còn ngồi tại ghế nhà trường. Sang Trung Học Đệ Nhị Cấp
tôi lấy Anh văn làm sinh ngữ 2, học để lấy điểm và cốt thi Tú Tài I và II
cho xong là an phận. Còn chữ Hán thì tôi đã học tại chùa Phước Lâm, Viên
Giác cũng như tại các trường hạ tại chùa Tỉnh Hội Quảng Nam và chùa Long
Tuyền. Chỉ có chừng ấy chữ mà thôi. Giữa năm 1971 tôi đậu Tú Tài II và xin
giấy tờ sang Nhật Bản. Lúc ấy có học đâu chừng 3 tháng tiếng Nhật tại
trường Nhật ngữ Chiêu Dương ở Sài Gòn. Ngôn ngữ nầy cũng chẳng dễ chút
nào. Do vậy ba tháng học hỏi tiếng Nhật ấy cũng giống như muối bỏ vào biển
vậy thôi. Khi đến Nhật chẳng mở miệng nói được câu nào; ngay cả câu chào
hỏi hằng ngày.
Đến Nhật tôi ở chung
với Thầy Thích Chơn Thành mấy tháng để đi học tiếng Nhật tại trường Nhật
ngữ Yotsuya tại Tokyo. Đi học thì ham lắm, nhưng tiền bạc không có, biết
làm sao đây. Từ Sài Gòn qua Tokyo để du học mà trong mình chưa có 1.000
$US và một vé máy bay một chiều do Thầy Bảo Lạc, bào huynh của tôi tặng.
Hành trang chỉ có một bộ y (không đủ 3 y nữa), sách vở và bằng cấp Tú Tài
I và II. Chỉ đơn giản có vậy thôi. Lúc ấy tôi tìm địa chỉ của những người
quen và cuối cùng thì được gặp Phan Đức Lợi, người bạn học cũ cùng trường
Tiểu Học năm xưa từ 1958-1961 ở Xuyên Mỹ, Duy Xuyên, Quảng Nam. Lúc đó hắn
ta cũng mới qua Nhật độ 2 năm; nhưng có đi làm và dư dả chút ít nên đã cho
tôi mượn một ít tiền để đóng tiền trường học Nhật ngữ. Kế đến khóa 2 thì
hết tiền, tôi mới viết thư về Việt Nam cho Sư phụ tôi và một dịp may hiếm
có là có chị Yến con ông Tô Văn Tám ở Nhật lâu năm, nay sắp về nước, có để
lại một ít tiền; nên Sư phụ tôi đã mượn của ông Tô Văn Tám và chị Yến đã
chuyển ngay đến tôi.
Học khóa I tôi thi
nhảy lên khóa III và học khóa III tôi thi nhảy lên khóa cao cấp. Có nghĩa
là thay vì học một năm Nhật ngữ, tôi chỉ cần học có 6 tháng là thi đỗ vào
Đại Học.
Bây giờ thì Phan Đức
Lợi đã chết rồi, khi công danh còn rạng rỡ, ở lứa tuổi chưa đến 50. Tôi và
Lợi chánh kiến khác nhau. Do vậy mà cũng không thuận nhau mấy; nên những
ngày tháng sau 1975 ít hay liên lạc. Còn chị Yến và ông Tô Văn Tám nay vẫn
còn ở Mỹ, người lấy chồng tại Los Angeles, kẻ cư ngụ tại San Jose. Tất cả
đều ở cùng Tiểu Bang California. Xin cảm ơn tất cả với tấm chân tình của
từng người và từng giai đoạn trong cuộc đời tu học của mình.
Trước khi đi du học
tôi có thọ ơn của hai gia đình ở Việt Nam. Đó là gia đình của Phạm Mạnh
Cương và gia đình của Phạm Nam Hải. Hai người nầy là bạn học, bạn thi Tú
Tài I và Tú Tài II của tôi tại Sài Gòn thuở ấy. Từ sự liên hệ nầy mà năm
1975 đến nay tôi vẫn còn liên lạc với anh Phạm Nam Sơn, cô Đỗ Ngọc Hiền là
anh ruột và chị dâu của Hải và những người nầy đã quy y làm đệ tử của tôi
từ năm 1979. Hiện nay họ đang ở Raleigh, Tiểu Bang North Carolina, Mỹ
Quốc.
Sau khi thi đỗ vào
Đại Học Teikyo ở Hachigi ngành Giáo Dục học tôi đã chẳng còn tiền để đóng
học phí. Nếu không có đủ - thuở ấy chừng 1.000 $US - thì xem như không
được học. Tôi chạy quýnh quáng mọi nơi. Có lúc nhờ Thầy Minh Tâm, có khi
nhờ Thầy Như Tạng và Thầy ấy đã mách dùm là tại Nhật có một Đạo Hữu tương
đối có tiền. Đó là Đạo Hữu Quảng Phụng. Tôi mừng quá mới nhờ Thầy Như Tạng
giới thiệu và bảo đảm để mượn độ 10 vạn Yen. Độ chừng 500 $US thuở ấy.
Cuối cùng rồi tôi cũng đủ số tiền 1.000 $US để đóng học phí. Lúc ấy kiều
bào tại Nhật rất ít. Còn ở Nhật tất cả Sinh viên đều nghèo, ai cũng giống
như nhau, chẳng biết ai mà hỏi mượn. Nhìn về Việt Nam thì vô vọng. Giáo
Hội nghèo, gia đình chẳng trông cậy gì được. Lúc ấy tôi là một Tăng sinh
giỏi nên ngày đi du học Hòa Thượng Trí Giác và Sư phụ tôi hứa giúp mỗi
tháng 30 $US; trong khi đó ở Nhật một người Sinh viên tiêu mỗi tháng ít
nhất là 150 $US chưa kể tiền học phí. Thôi thì cứ chấp nhận và giải quyết
từng giai đoạn chứ biết sao hơn.
Thầy Như Tạng sau
khi xong Tiến sĩ chính trị học tại Đại Học Meiji ở Tokyo, sang định cư tại
Úc từ năm 1986, có lập gia đình và sinh một cháu gái học rất giỏi. Thầy là
bạn của Thầy Bảo Lạc và ân nhân của tôi từ thuở ban đầu khi mới đến Nhật.
Thầy Minh Tâm, bây
giờ là Hòa Thượng Thích Minh Tâm hiện trụ trì chùa Khánh Anh đó, khi tôi
qua Nhật thì Thầy đã chuẩn bị xong chương trình hậu Đại Học tại Đại Học
Risso, cũng là người ân của tôi và Thầy ấy đã giới thiệu cho tôi vào ở
chùa Honryuji tại Hachiogi để ở từ năm 1973 đến năm 1977. Chỉ những cái ơn
nho nhỏ nhưng rất quan trọng lúc ban đầu ở xứ người như thế, mà mãi cho
đến ngày hôm nay khi xây chùa Khánh Anh tại Pháp dưới sự trụ trì của Hòa
Thượng Thích Minh Tâm, cá nhân tôi và chùa Viên Giác ở Hannover đã đóng
góp giúp đỡ như thế nào thì quý vị đã rõ.
Năm 1973 Thầy Minh
Tâm đi Pháp; năm 1971, 1972 Thầy Long Nguyệt, Thầy Trí Quảng về lại Việt
Nam; một số Thầy khác như Thầy Bảo Lạc, Minh Tuấn, An Thiên, Thầy Chơn
Thành, Thầy Minh Tuyền vẫn còn ở lại Nhật cho đến năm 1980 hay mãi những
năm sau đó mới rời Nhật đi Úc, Mỹ v.v...
Đạo Hữu Quảng Phụng
đã giúp đỡ ngày xưa, sau năm 1975 đã sang định cư ở Pháp và tiếp theo sang
Hoa Kỳ lập nghiệp. Cuối đời thì xuất gia. Hiện đang trụ trì chùa Linh Sơn
tại Paris dưới pháp hiệu là Thích Trí Nguyên. Tất cả đều đổi thay và tất
cả đều không chắc thật. Chỉ có tâm nguyện của con người, lòng từ ái, sự
biết ơn là còn theo mãi ta suốt kiếp luân hồi mà thôi.
Thật tình mà nói
trước khi sang Nhật du học các Sinh viên thiếu rất nhiều nguồn thông tin.
Ngay cả Tòa Đại Sứ Nhật tại Việt Nam cũng ít cung cấp cho đầy đủ. Trong
khi đó Sứ Quán Việt Nam Cộng Hòa tại Tokyo cũng chỉ làm những nhiệm vụ
ngoại giao là chính, chứ vấn đề văn hóa giáo dục hình như cũng ít quan
tâm, ai cần gì thì họ giúp đỡ, hướng dẫn; nhưng thiếu tính cách chung cho
mọi trường hợp. Do đó người Sinh viên trở nên bơ vơ nơi đất khách. Ngay cả
trường hợp của chúng tôi là những Sinh viên Tăng đang còn hăng say, mới
bước chân vào ngưỡng cửa Đại Học, cũng chẳng biết tại Nhật đời sống của
Tăng Ni ra sao, ăn uống như thế nào ? trú ngụ ở đâu ? học hành trường sở
ra sao ? v.v... và v.v... tất cả đều mù tịt; miễn sao có được cái Passport
nắm trong tay và có Visa của chính phủ Nhật là an tâm để lao vào một chặng
đường chông gai chẳng ai có thể đoán trước được là gì nữa.
Đầu tháng 2 năm 1973
tôi đã dọn vào ở chính thức tại chùa Bổn Lập (Honryuji) ở thành phố Bát
Vương Tử (Hachiogi). Vị Thầy trụ trì ở đây tên là Oikawa, có gia đình 4
con và là Giáo sư Đại Học Risso tiếng Pali. Trước đây Thầy ấy có du học
Tích Lan mấy năm, nên ông ta tương đối có thông cảm với người ngoại quốc.
Do vậy ở chùa cũng dễ thở một chút so với những nơi khác. Tuy nhiên chùa
chiền ở Nhật sinh hoạt giống như một gia đình không hơn không kém; nhưng
tôi phải cố nhẫn nại. Vì biết rằng ở đây để giỏi tiếng Nhật và đỡ tiền ăn
ở là phước lắm rồi. Còn tiền học tự đi làm trong những kỳ nghỉ hè để xoay
xở mà đóng học phí. Nên tất cả đều phải vâng vâng dạ dạ và làm việc thật
tận tâm cho chùa để ngày tháng trôi qua và phải thành tựu một cái gì đó
mới là điều cần làm.
Năm thứ nhất tại Đại
Học Teikyo, Thầy giảng phần Thầy, trò nghe phần trò; chẳng hiểu mô tê ất
giáp gì hết, mặc dầu tiếng Nhật của tôi cũng không đến nỗi tệ lắm. Đến năm
thứ 2 trở đi mới nắm vững vấn đề là nhờ vào thời gian và bạn bè giúp đỡ.
Trong đó có Yamada và Iyoda là 2 người bạn trai học cùng phân khoa đã giúp
tôi không ít lúc ban đầu. Lúc ấy thì tiếng Nhật phải sử dụng như là ngôn
ngữ chính, tiếng mẹ đẻ và tôi đổi sang tiếng Anh làm sinh ngữ I và tiếng
Pháp làm sinh ngữ II, trong khi đó ở Việt Nam thì ngược lại.
Mỗi ngày tôi dậy sớm
để lau chùi chùa và tụng kinh, sau đó đi học cho đến chiều mới về chùa.
Buổi trưa ăn ở Kantine của Đại Học, vào Thư viện nghỉ trưa một chút và
chiều học thêm một vài môn nữa, sau đó lên xe Bus phía sau Đại Học đến nhà
gare Takahatafudo (Cao Phan Bất Động) thì đi tàu lửa về nhà gare Hachiogi
và đi bộ độ 15 phút thì về đến chùa. Khi về chùa báo cho chùa biết là
Tadaimasu nghĩa là tôi đã về tới. Người trong chùa sẽ nói lại là:
Okaerinasai nghĩa là: hãy trở về. Lúc đi cũng vậy, khi ra khỏi chùa phải
nói là Itteikimasu -xin phép được đi- người trong chùa sẽ trả lời là:
Itteirasai -xin vui lòng đi- Đó là cung cách của người Nhật rất lịch sự,
lễ phép, duyên dáng mà nhiều ngôn ngữ khác như Anh, Pháp, Đức không có.
Công việc của tôi là
nấu cho sôi nồi nước tắm chung cho cả chùa bằng một loại củi khô. Ở Nhật
ít có nhà nào rộng nên họ đi tắm chung tại một địa điểm nhất định trong
phố. Nhà chùa thì rộng rãi hơn nên họ có nhà tắm riêng. Tuy nhiên nồi nước
đó chỉ vừa một người ngồi vào sau khi đã hòa nước cho ấm, chứ không thể
nào tắm một lúc nhiều người được như ở ngoài. Cuối cùng rồi mọi thành viên
trong chùa đều phải tắm trong mỗi ngày cả. Lúc ấy có thêm 3 Sinh viên Tăng
và tôi nữa là 4 và gia đình Thầy Trụ Trì 6 người. Vị chi là 10 người.
Nakatomi, Matsunagara, Shimizu là những người Tăng sĩ trẻ đang học tại Đại
Học Risso thuở ấy và bây giờ đã là Trụ Trì nhiều ngôi chùa danh tiếng tại
Tokyo cũng như Sikokku rồi. Matsunagara và Nakatomi vào mùa hè năm 1974
cùng tôi có về Việt Nam một tháng, có dẫn họ theo và họ rất thích phong
cảnh cũng như đời sống của người Việt Nam.
Sau đó tôi có giới
thiệu Thầy Như Mẫn, tức Thầy An Thiên, vào ở chung chùa Honryuji từ cuối
năm 1973 đến năm 1975 thì Thầy ấy không còn ở đó nữa, mà dọn lên gần
trường để học và sau nầy có trở lại Honryuji để giúp việc trong các lễ
Ohigan cũng như Vu Lan bồn v.v... để rồi năm 1991 qua Úc, sau khi tốt
nghiệp Tiến sĩ tại Đại Học Risso và ngày 24 tháng 5 năm 2002 nhằm ngày 13
tháng 4 năm Nhâm Ngọ Thầy ấy đã tự thiêu sau chùa Minh Giác ở Sydney để
lại một nỗi buồn man mác cho mọi người. Vẫn biết rằng cuộc đời nầy là
huyễn mộng; nhưng học lực như thế, hảo tướng như thế, chưa giúp đời, giúp
đạo được là bao nhiêu, đã vội vào cõi tĩnh, thì thử hỏi ai mà chẳng ngỡ
ngàng.
Lúc đầu mới vào ở
chùa tôi không rành tiếng Nhật nên mỗi sáng phải đi làm thêm bên ngoài.
Trong tuần đi bỏ báo và cuối tuần đi làm thuê cho Nhật tại Takananobaba.
Nơi nhà gare nầy mọi người tập trung đến đó, có người đến ngã giá và chở
đi, đến sở làm và làm ở đó suốt ngày, đến chiều thì trả tiền. Đa phần là
những công việc xây cất. Chả bù với tấm thân mảnh khảnh của các Sinh viên,
chẳng làm được một việc gì nặng nhọc, mà bây giờ vì sự sống còn, phải kham
nhẫn vậy thôi.
Càng ngày tiếng Nhật
của tôi càng giỏi hơn, nhờ tiếp xúc hằng ngày tại chùa và cũng có khiếu
sinh ngữ nữa; nên tôi đã tụng kinh tiếng Nhật với các Sinh viên Tăng nầy
mỗi khi có đám tại chùa cũng như Thầy trụ trì cho nên càng dạn dĩ hơn.
Chùa nầy theo tông Nhựt Liên (Nichiren) nên kinh Pháp Hoa là bộ kinh
chính. Đa phần chỉ tụng phẩm thứ 2, tức Phương Tiện Phẩm và khi nào có lễ
lớn mới tụng Phẩm thứ 16 tức: Như Lai Vô Lượng Thọ Phẩm. Dần dà tôi đi đám
bên ngoài được và từ đó ít bận tâm đến chuyện tiền bạc để đóng học phí
nữa.
Mỗi năm 4 kỳ như
thế, trong chùa khoanh vùng ra cho 5 người đi cúng trong số đàn gia và tín
đồ của họ. Phần tôi độ 100 căn nhà như thế. Mỗi năm vào trước Tết, vào
cuối tháng 3, vào giữa tháng 7 và cuối tháng 9, từ chùa Tăng sĩ tự động
đến nhà Phật Tử để tụng kinh cầu nguyện. Ở Nhật đó là chuyện bình thường.
Có lẽ nhờ như vậy mà họ duy trì được sự liên hệ giữa chùa và các tín đồ
thuộc môn phái của họ. Nếu đến nhà đó không có người thì đi trở lại một
hay hai lần nữa. Khi tụng xong thời kinh là uống một ly trà, ăn một cái
bánh ngọt và nhận một bao thơ cúng dường với câu nói của thí chủ là: Cảm
ơn sự khổ nhọc của Thầy (Gokurosama desu). Tùy theo nhà giàu nghèo; đa
phần họ cúng 1.000 Yen là thường. Thời giá lúc ấy độ 5 $US, còn bây giờ là
10 đô-la vậy. Vì đồng Yen đã tăng giá. Đi cúng cả tuần như thế và hết 100
nhà là được 500 đến 1.000 đô-la. Một năm 4 kỳ như thế, quả là con số không
nhỏ. Thỉnh thoảng còn có đi đám tang với Thầy trụ trì nữa thì có thêm tiền
vào.
Có lần tôi đến cúng
cho một nhà, tôi mặc Kimono màu đen của Tu sĩ Nhật, khi tụng kinh thì đắp
y màu tím, ngắn thôi, không phải như y hậu của người Việt Nam mình, trông
cũng giống Nhật lắm. Vả lại tiếng Nhật của tôi cũng thuộc loại giỏi; nên
bà chủ nhà ít để ý. Đoạn bà ta hỏi:
- Thầy quê ở đâu vậy
?
- Tôi ở xa lắm, đi
máy bay cả 7, 8 tiếng đồng hồ. Tôi trả lời vậy.
Bà ta tròn xoe đôi
mắt và nói tiếp:
- Nước Nhật nầy bé
tí teo, từ Bắc xuống Nam chỉ đi 2 tiếng đồng hồ máy bay là hết sức. Vả lại
đây là Đông Kinh (Tokyo) đã ở giữa nước Nhật rồi, làm gì có xứ nào mà xa
vậy.
Tôi để bà ta ngẫm
nghĩ một lát. Vì tôi biết bà ta lầm tôi là người Nhật chánh hiệu. Trong
tôi có một niềm vui nho nhỏ, vì như thế tiếng Nhựt của mình cũng đủ tự tin
lắm rồi đấy chứ! Tôi tiếp:
- Tôi là người Tăng
sĩ Việt Nam.
- Mèn đét ơi! Cái xứ
gì mà mọi rợ thế?
- Tại sao? Tôi hỏi
bà.
- Anh em chúng nó
một nhà mà giết nhau như vậy, không man di mọi rợ là gì.
Tôi mỉm cười với lối
tự ái của dân tộc và tôi cúi đầu xuống để suy nghĩ về thân phận mình. Bây
giờ mình là người gì đây? và cứ thế bằng tư tưởng càng ngày càng nhiều và
tôi với bà ta thảo luận về chiến tranh, về chết chóc, về hận thù v.v... để
cuối cùng bà ta kết luận là: Kawaisoo desune! nghĩa là tội nghiệp quá nhỉ!
Ngày ấy khi còn ở Nhật tôi ít ưa nghe tiếng nầy từ người Nhật và tôi phải
chứng minh cho họ thấy rằng chiến tranh Việt Nam không phải thế.
Có lần tôi cũng đã
cãi lại bà cô giáo dạy tiếng Nhật rằng: Người đó giỏi, người đó dở v.v...
tiếng Nhật gọi Atama ga ii - nghĩa là cái đầu người kia tốt. Hoặc giả
Atama ga warui - cái đầu nó xấu lắm, hư lắm v.v... Tôi nói rằng: Chẳng có
cái đầu nào tốt mà cũng chẳng có cái đầu nào xấu cả. Xấu hay tốt cũng sẽ
giống nhau thôi. Ví dụ một bài toán được đưa ra cho 2 người giải. Kết quả
vẫn giống nhau. Tại sao gọi là tốt hay tốt. Nếu có chăng đi nữa là do
người được gọi là thông minh đó họ giải nhanh hơn. Còn người được gọi là
tối dạ đó họ giải chậm hơn; nhưng kết quả đâu có gì sai! Thế là cô giáo
cũng chịu thua với lối lập luận của tôi.
Tiếng Nhật là ngôn
ngữ thứ 3 của tôi, nhưng tôi dám thừa nhận rằng tôi hiểu tiếng Nhật trọn
vẹn, giống như tiếng Việt vậy. Dầu cho 30 năm sau trở lại Nhật vào tháng 3
năm 2002 nầy suốt 5 ngày thông dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt và ngược
lại; nhưng tôi chỉ quên có một chữ mà thôi. Vì vậy Hòa Thượng Thích Hộ
Giác đi cùng đoàn phát biểu rằng: Tôi rất lấy làm lạ là tại sao hơn 25 năm
xa Nhật mà Thầy không quên tiếng Nhật. Tôi chẳng biết tại sao; nhưng có lẽ
nhờ ở chùa suốt thời gian ở Nhật nên mới được vậy. Tôi hiểu người Nhật cho
đến cái mỉm cười, cái cúi đầu, cái e thẹn, cái ganh ghét, cái thể hiện
tình thương v.v... thế mà lần nầy quên một chữ. Nguyên là Thầy nào đó ngồi
gần tôi bảo rằng nhờ Thầy nói họ cho xin một ít gừng. Tôi đâm ra lúng túng
bảo người bồi bàn rằng:
- Chotto Ingwer
Kudasai!
- Simasen! nandeska
?
Xin vui lòng cho tôi
một ít gừng. Chữ gừng tôi nói tiếng Đức -Ingwer- nên bà ta chẳng hiểu.
Đoạn tôi bảo:
- Ginger Kudasai.
Lại nói tiếng Anh
-bà ta cũng chẳng hiểu gì- hên là có ai đó lôi trong bát canh trước mặt
một lát gừng, nên bà ta reo lên! Aa Shoga, Shoga! Gừng mà, gừng mà! Thế là
mọi người cười rộ lên, trông như hiểu biết ý vậy. Ngôn ngữ là thế đó. Đúng
là bất khả tư nghì, bất khả thuyết là vậy. Không biết tự nhiên sao nó quên
cái chữ dễ như vậy, mà chữ ấy hằng ngày lúc ở chùa Honryuji tôi đều gặp
phải mà!
Năm 1973 tôi có nhờ
chùa Kongoin (Kim Cang Viện) cho Thầy Minh Tuấn ở. Thầy ấy sau khi học
tiếng Nhật, sang học Đại Học của tông chơn ngôn ở Kozasan và sau khi tốt
nghiệp đã đi Mỹ. Thầy Yamada trụ trì chùa có quen biết rất nhiều với quý
Thầy Việt Nam trước và sau 1975.
Đến cuối 74 đầu 75
thì Thầy Bảo Lạc sang, tôi đã nhờ chùa Shinshoin (Tín Tùng Viện) cho ở
thời gian đầu. Lúc ấy chưa quen với khí hậu mùa Đông của Đông Kinh nên
Thầy ấy chảy máu mũi nhiều. Mấy tháng đầu Thầy Bảo Lạc nhận cả hằng trăm
lá thư của học trò và Thầy Cô giáo từ Việt Nam gởi sang và Thầy lo đọc
cũng như trả lời. Vì Thầy ấy có dạy trường Trung Học Bồ Đề ở nhiều nơi về
môn Văn nên có nhiều học trò như thế.
Đến năm 1980 Thầy
Bảo Lạc đã xong Cử Nhân Xã Hội Học tại Đại Học Komazawa ở Tokyo và Thầy ấy
sang Úc sáng lập cũng như Trụ Trì chùa Pháp Bảo cho đến ngày nay. Thầy Bảo
Lạc cũng thích viết và dịch sách; nên cho đến bây giờ tổng cộng đâu chừng
30 tác phẩm đã được xuất bản, đa phần là tiếng Việt và dịch từ chữ Hán
sang tiếng Việt.
Ngày 1 tháng 4 năm
Showa (Chiêu Hòa) thứ 48, tức năm 1977, tôi đã ra trường với tước hiệu là
Văn Học Sĩ của xứ Nhật ngành giáo dục và kết quả là đứng 2 toàn khoa và
toàn trường với luận văn tốt nghiệp bằng tiếng Nhật - Tối Ưu - Tôi xin ghi
lại từng môn học một mà tôi đã thành công sau bốn năm ngồi Đại Học Teikyo.
Luân lý
học : Thứ
Luận lý
học : Bình
Tây Dương
sử : Ưu
Pháp học (bao gồm
cả Hiến
Pháp) : Bình
Xã Hội
học : Bình
Số
học : Ưu
Vật lý
học : Ưu
Thống kê
học : Thứ
Đây là những khoa
giáo dục cơ bản mà một Sinh viên bắt buộc phải chọn và tại Nhật chỉ có 3
loại điểm như vậy. Nếu dưới Thứ là rớt, phải thi lại. Nhưng 62 môn học
trong 4 năm của tôi, đã chẳng phải thi lại một môn nào cả.
Phần ngoại ngữ gồm
Anh, và Pháp văn như sau:
Anh ngữ
I : Thứ
Anh ngữ
II : Thứ
Anh ngữ
III : Ưu
Anh ngữ
IV : Bình
Anh ngữ
V : Ưu
Pháp ngữ căn
bản : Ưu
Pháp ngữ văn
phạm : Ưu
Pháp ngữ trung
cấp : Thứ
Phần ngoại ngữ học
tất cả là 8 đơn vị. Ngôn ngữ Anh tại Việt Nam là ngôn ngữ thứ 2, sang Nhật
đổi thành sinh ngữ I và Pháp ngữ ở Việt Nam học 7 năm tại Trung Học Đệ
Nhất và Đệ Nhị Cấp, sang Nhật Bản đổi thành sinh ngữ 2 ở Đại Học; nên học
cũng tương đối thoải mái không khó khăn gì. Chỉ có tiếng Anh ban đầu hơi
mệt một chút, nhưng nhờ trường Đại Học có phòng thính thị nên tôi vẫn hay
vào đó để nghe và luyện giọng, nên tiếng Anh chuyên khoa sau nầy tương đối
vững, nhưng chẳng phải là một môn học đơn thuần.
Có một điều quan
trọng mà mọi Sinh viên khi vào đến Nhật nên nhớ là dầu cho đang học ở Đại
Học nhưng môn thể dục bắt buộc phải lấy; nếu không, khó mà có thể ra
trường được. Đi học, tôi mặc áo dài tu sĩ Việt Nam suốt trong mấy năm học
như thế; nhưng khi tập thể dục và chơi bóng bàn thì phải thay đồ thể thao.
Thể dục lý luận :
Thứ
Thể dục thực hành :
Ưu
Trên đây là những
môn có thể chọn lựa được. Còn phần phía dưới nầy hầu như bắt buộc Sinh
viên học ngành giáo dục phải lấy.
Giáo dục triết học :
Thứ
Giáo dục nguyên lý :
Thứ
Giáo dục khóa trình
: Bình
Giáo dục sử khải
luận : Thứ
Giáo dục tư tưởng sử
: Ưu
Giáo dục tâm lý học
: Bình
Thanh niên tâm lý
học : Thứ
Giáo dục bình giá :
Thứ
Giáo dục phương pháp
luận : Thứ
Xã hội giáo dục khải
luận : Bình
Giáo dục xã hội học
: Bình
Giáo dục công học :
Thứ
Giáo dục hành tài
chánh học : Ưu
Học hiệu giáo dục :
Thứ
Giáo dục học diễn
tập I : Bình
Giáo dục học diễn
tập II : Bình
Giáo dục học diễn
tập III : Ưu
Giáo dục tâm lý học
diễn tập I : Thứ
Giáo dục tâm lý học
diễn tập II : Thứ
Tốt nghiệp luận văn
: Tối ưu
Sau năm thứ 3 tôi đã
bắt đầu đọc sách để viết luận văn ra trường của mình. Có nghĩa là năm 1975
đã chuẩn bị và năm 1976 đã viết. Mỗi lần viết được một chương, đưa qua cho
Yamada xem trước dùm và sau đó mới đưa qua cho ông Thầy giáo thọ xem và
chỉ dẫn. Tôi cũng không ngờ là trình độ tiếng Nhật của mình khá như thế;
suốt cả một luận văn viết nháp chừng 150 trang mà những dòng chữ gạch đỏ
bên cạnh các câu không tới 10 lần. Tôi rất mừng và về chùa chép lại sạch
sẽ để nộp. Hiện tại ở Thư Viện chùa Viên Giác có bản chép tay của tôi năm
1976 bằng tiếng Nhật. Còn bản chính thì đã nộp cho Đại Học rồi.
Tình cờ năm 1980 về
thăm lại Nhật, đến thăm chùa xưa và Đại Học cũ thì nhân viên nhà trường có
đưa cho tôi xem một tập luận văn của Đại Học Iwaki đã cho in một phần luận
văn của tôi bằng tiếng Nhật vào năm 1978 cho các Sinh viên tham khảo. Cuối
trang 60 của tập văn còn ghi chú là "Genbun no mama" có nghĩa là sao lại
nguyên mẫu. Điều ấy cũng có nghĩa là luận văn ấy đã được các Đại Học khác
tại Nhật chú ý và cho in ra để cho các Sinh viên Nhật cũng như Sinh viên
ngoại quốc tham khảo.
Cùng viết trong tập
luận văn của Đại Học Iwaki toàn là các bậc Giáo thọ của Đại Học, chỉ có
tôi là lưu học sinh Việt Nam mà đã đứng ngang hàng với những người địa
phương ấy, quả là một hãnh diện rồi còn gì nữa. Tiện đây tôi xin cho đăng
nguyên văn cả phần nghiên cứu của Đại Học Iwaki bằng tiếng Nhật vào đây để
làm bằng chứng. Chắc chắn bề nào cũng có người đọc được tiếng Nhật. Do vậy
tôi không dịch ra tiếng Việt để đỡ tốn chỗ cho quyển sách nầy.
Tiếp theo là những
môn học chuyên môn của ngành giáo dục mà một Sinh viên dầu là Nhật hay
ngoại quốc bắt buộc phải lấy như:
Xã hội tâm lý học :
Ưu
Xã hội giáo dục
phương pháp luận : Bình
Cần lao thiếu niên
giáo dục : Bình
Đạo đức giáo dục
nghiên cứu : Thứ
Sản nghiệp tâm lý
học : Bình
Giáo dục tương đàm :
Bình
Giáo dục học đặc
giảng : Bình
Giáo dục thực tập :
Ưu
Nhật ngữ I : Ưu
Nhật ngữ II : Ưu
Nhật ngữ III : Bình
Điểm mà Đại Học hoặc
các vị Giáo thọ cho Ưu có nghĩa là từ 80 đến 100 điểm. Bình có nghĩa là
điểm từ 70 đến 79 và Thứ có nghĩa là 60 đến 69 điểm. Đây là một nhu cầu
rất cao tại Đại Học của Nhật thuở bấy giờ. Nếu Sinh viên nào học những môn
học và thi dưới 60 điểm, xem như đã bị đánh rớt.
Tôi là Sinh viên
ngoại quốc tại Đại Học Teikyo nên phải học thêm tiếng Nhật. Ông thầy dạy
tiếng Nhật ở Đại Học chuyên về ngôn ngữ học; nên mỗi giờ học ông đem theo
tờ báo Yomiuri ra và chọn phần Tienrin Shingo như là phần bình luận về mọi
vấn đề thời sự, văn hóa, chính trị, tôn giáo để học và tuy ông ấy khó tánh
như thế, sau 3 học kỳ tôi đã lãnh 2 Ưu và 1 Bình.
Tiếp theo là phần
chuyên môn về Anh ngữ. Vì tôi chọn ngành giáo dục Anh ngữ; nên luận văn ra
trường tôi đã nghiên cứu về: Giáo dục Anh ngữ của Nhật Ban dưới thời Meiji
(Minh Trị). Cuộc cách mạng của vua Minh Trị từ năm 1868 và đến năm 1976
tôi mới nghiên cứu sâu vào, nghĩa là hơn 100 năm sau. Tuy nhiên cũng có
rất nhiều người quan tâm về đề tài trên.
Anh ngữ học khải
luận : Thứ
Anh ngữ âm thinh học
: Thứ
Anh văn học sử I :
Bình
Anh văn học sử II :
Bình
Anh văn học giảng
độc I : Thứ
Anh văn học giảng
độc II : Thứ
Anh hội thoại I : Ưu
Anh hội thoại II
: Thứ
Anh tác văn diễn tập
I : Ưu
Tây dương văn học :
Ưu
Anh văn pháp : Thứ
Anh ngữ khoa giáo
dục pháp : Thứ
Như vậy trong 62 môn
học đó tôi đã có 19 môn được hạng Ưu; 20 môn thuộc hạng Bình và 23 môn
thuộc hạng Thứ; nếu bình quân chia ra, điểm ra trường là điểm giữa 1 và 2
nếu tính theo cách tính của Đức. Một Sinh viên ngoại quốc học 4 năm ở Đại
Học như thế không phải là chuyện đơn giản.
Trước khi xong Đại
Học tôi cũng đã dự định là học tiếp lên Cao Học. Chương trình Cao Học ở
Nhật gọi là Tu Sĩ Khóa Trình. Có nghĩa là những người tu nghiệp và nghiên
cứu sinh không đơn thuần là học tập và Sinh viên ở Đại Học nữa.
Tôi ở chùa đã 4 năm
và tiếng Nhật cũng khá rành. Vả lại lúc ấy không có liên lạc được với Việt
Nam. Vì sau 1975 một lá thư đi từ Việt Nam sang Nhật phải mất đến 6 tháng
và bị kiểm duyệt nát nhàu. Thư đi từ miền Trung vào Sài Gòn, ra Hà Nội,
đến Bắc Kinh, chuyển qua Nga rồi mới đến Nhật. Thư đến nhàu nát như tương
và giấy đen như mực, chữ viết lem luốt, không thể nào đọc được. Lúc ấy tôi
chẳng hiểu cái xã hội chủ nghĩa Cộng Sản Việt Nam nó ra như thế nào cả.
Đọc thư của người thân, của gia đình mà ngậm ngùi cho số phận.
Vì không về nước
được mà cũng chẳng phải đi đâu. Vả lại tôi đã ở chùa theo Tông phái Nhật
Liên (Nichiren). Do vậy tôi được nợp đơn thi vào Cao Học phân khoa Phật
Học. Lúc ấy tôi làm ngon, lấy chữ Hán làm sinh ngữ chính. Vì suốt 4 năm
học ở Đại Học biết rằng Sinh viên Nhật chữ Hán không rành. Họ chỉ biết chữ
Hán-Nhật chứ không thể biết cổ ngữ Hán văn. Phần tôi đã đọc kinh sách hằng
ngày bằng chữ Hán, hoặc Hán-Việt; nên không mấy khó khăn khi chọn môn nầy
làm sinh ngữ chính.
Vào lớp thi họ cho
ra đề tài 5 thời giáo nghĩa qua sự phân định của Thiên Thai Trí Giả Đại Sư
và họ bắt chấm câu, phân đoạn chữ Hán và bình chú ra tiếng Nhật. Thế là
trúng tủ của tôi rồi. Trong khi đó nhiều Tăng sĩ Nhật ngồi bên cạnh vẫn
cắn bút và tôi lấy tiếng Pháp làm sinh ngữ 2 để thi. Do vậy cũng không gặp
khó khăn mấy. Sau khi thi, về chùa chờ. Vì biết chắc rằng mình sẽ đậu nên
không lo mấy. Cũng giống như khi còn học Trung Học thi Tú Tài I và Tú Tài
II tôi rất tự tin, nên về chùa lúc nào cũng an dạ. Còn nhiều người khác
thì phập phồng lo sợ.
Sau 10 ngày tôi có
kết quả đã đỗ vào Cao Học Phật Giáo và theo tôi nghĩ có lẽ cũng có lời gởi
gấm nào đó của Thầy Oikawa; nếu lỡ tôi không đậu thì chắc Thầy ấy cũng
buồn; nhưng sự cố gắng toàn lực nằm nơi cá nhân tôi khi học ở Đại Học cũng
như khi thi, chứ không phải hoàn toàn nằm ở sự gởi gấm đó. Đây chỉ là điều
dự đoán của tôi thôi chứ không phải là sự thật, mà điều nầy cho đến nay
tôi vẫn chưa hỏi Thầy ấy về vấn đề nầy.
Lúc đó tiền học phí
phải đóng độ chừng 250.000 Yen tương đương với 1.000 US$. Đây là Đại Học
Phật Giáo mà Tăng sĩ vẫn phải đóng tiền. Tôi đã có phân nửa tiền do sự đi
cúng; phân nửa tiền còn lại do Thầy trụ trì Oikawa cho. Như vậy tôi đã
thoát ra khỏi một cơn hiểm nghèo.
Đại Học nầy có nhiều
Thầy Việt Nam tốt nghiệp như Hòa Thượng Minh Tâm, Hòa Thượng Chơn Thành,
Hòa Thượng Trí Quảng hoặc Hòa Thượng Thánh Nghiêm người Đài Loan cũng đã
đỗ Tiến sĩ Phật Học nơi đây và hiện tại Ngài là người có uy tín về giới
nghiên cứu Phật học của Đài Loan tại Mỹ cũng như tại mẫu quốc. Tôi đã gặp
Ngài vài lần ở Nhật và khi qua Mỹ năm 1985 tôi cũng đã có ghé thăm Trung
Tâm Thiền Học của Ngài tại New York.
Đang học ngon trớn
tại Cao Học ở Đại Học Risso chẳng biết nguyên nhân gì tôi lại muốn đi
ngoại quốc. Thuở ấy đã có thư từ liên lạc với Văn Công Trâm đang học Y
khoa tại Đại Học Kiel và cuối cùng anh ta gởi cho tôi một giấy mời đến Đức
cũng như giấy học Đức ngữ tại trường Volkshochschule Kiel. Cầm Passport
Việt Nam Cộng Hòa lên Sứ Quán Đức xin Visa vào Đức, không ngờ họ thị thực
cho thật lẹ, mừng quá tôi về lại chùa Honryi để thưa với ông bà trụ trì
rằng đi nghỉ hè một thời gian vì sau khi thi cử nhức đầu quá. Vả lại sang
Âu Châu có cơ hội tìm thêm tài liệu về Phật Giáo Việt Nam bằng tiếng ngoại
ngữ để về Nhật làm luận án Cao Học và Tiến sĩ.
Tôi đã mua vé máy
bay khứ hồi của hãng Lufthansa có giá trị trong vòng một năm. Điều ấy có
nghĩa là tôi còn định trở lại Nhật và đồng thời cũng xin tái nhập quốc vào
lại nước Nhật khi từ Đức trở về.
Đến Đức vào một sáng
tinh sương ngày 22 tháng 4 năm 1977. Khi đi từ phi trường Haneda ở Tokyo
tôi đã nhận được một cái giấy nhắn tin là: Không đến đón Thầy được. Ký
tên: Lâm Đăng Châu. Tôi đoán có lẽ Trâm đã nhờ anh Châu đi đón dùm. Vì
Trâm vẫn còn đi thực tập tại một bệnh viện ở gần Kiel. Tôi biết thế và khi
đến phi trường Hamburg thì điện thoại về chỗ thực tập cho Trâm. Hôm đó là
ngày thứ sáu và sau hơn 1 tiếng đồng hồ thì Trâm đến đón về nhà của cô bạn
gái người Đức. Ngôi nhà ấy ở trong một làng quê rất đẹp, thật yên tĩnh,
rất giống với tâm tình của người Đức. Trong gia đình chỉ có một cụ già,
một cô gái và một con chó. Lúc ấy tôi chỉ xử dụng tiếng Anh, và tiếng Đức
hầu như không biết được một chữ nào cả. Vả lại 2 người ấy cũng không nói
tiếng Anh được; nên tôi phải nói tiếng Việt và Trâm dịch lại. Cô bạn gái
của Trâm hình như tên là Waldrau thì phải, tôi nhớ mang máng như thế. Vì
đã 25 năm rồi còn gì, cô ta cũng lịch sự vui vẻ, chỉ có hơi già so với
Trâm. Còn Trâm thì hơi thấp. So ra 2 người không cân xứng và nhiều khi tôi
nghĩ "tình không biên giới" là thế đó.
Tôi ở đó vào một cái
cuối tuần đầu tiên vào ngày 22, 23 và 24 tháng 4 năm 1977, không khí thật
êm đềm dễ chịu. Mỗi chiều lúc 4 giờ là giờ ăn bánh ngọt và uống cà-phê hay
trà. Tôi nâng niu những miếng giấy lau miệng mà không dám xài và làm nhàu
nát. Tôi nghĩ tại sao ở đây lại sang quá vậy. Tôi hỏi Trâm xài một lần rồi
bỏ đi sao? Trâm cười và bảo: Giấy mà chú.
Tôi đã thọ Tỳ Kheo
từ năm 1971 tại Việt Nam trước khi đi du học Nhật Bản; nhưng Trâm và tôi
vốn là bạn bè, do đó gọi nhau như thế cho đến năm 1978, 79 thì thôi. Sau
nầy Trâm đổi lại cách xưng hô là Thầy và xưng con, thỉnh thoảng cũng có
xưng tên. Ở Nhật quanh năm suốt tháng tôi chẳng có được một thời giờ rảnh
vào giữa chiều như thế để mà uống cà-phê hoặc ăn bánh ngọt. Còn ở đây mới
cái cuối tuần đầu tiên mà đã được thư giản như vậy nên tôi cũng thích. Đặc
biệt người Đức rất yêu thú vật, cho chúng sống chung trong nhà và quý mến
nó như một em bé. Còn ở Nhật thì không được thế. Trong khi đó ở Việt Nam
lại còn tồi tệ hơn; chó con, chó lớn chạy ngông nghênh ngoài đường để tự
kiếm ăn chứ người còn thiếu ăn, có đâu mà lại cho chó nữa.
Chiều 24 tháng 4 năm
1977, cô Waldrau chở tôi và Trâm đến chỗ thực tập của Trâm tại một bệnh
viện. Ở đây cảnh đẹp và lại còn yên tĩnh hơn tại nhà của cô Waldrau nữa.
Mỗi ngày tôi dậy sớm cùng Trâm ăn bánh mì, uống cà-phê, sau đó Trâm đi làm
và tôi ở nhà viết thư cho bạn bè khắp nơi báo tin rằng tôi đã đến Đức rồi.
Nếu tôi nhớ không lầm mỗi ngày như thế tôi viết độ chừng 10 đến 15 lá thư
và Card Postal và tổng cộng độ chừng 100 lá thư như thế. Lúc ấy dán tem
mệt nghỉ và hớn hở để đi gởi thư. Mỗi trưa Trâm đi làm về thì đã có cơm và
chiều thì tôi và Trâm cùng nấu. Những kỷ niệm như thế nó vẫn còn ở mãi
trong lòng, dẫu cho người ta có già hay chết đi, chắc không bao giờ phai
nhòa trong trí óc của tôi được.
Mỗi chiều tôi cùng
Trâm đi dạo ở bờ hồ và quan sát xem thấy những cặp tình nhân hay những ông
bà già dắt tay nhau đi rất tự nhiên tình tứ. Hình ảnh ấy chẳng có tại
Nhật. Vì ở Á Châu người ta ít thổ lộ tình cảm ra bên ngoài như thế. Ngay
cả việc bắt tay với người nữ, ở Á Châu cũng chẳng có so với người dân bình
thường. Còn ở đây tôi là người tu hình ảnh ấy lại còn quá xa lạ với mình.
Mỗi ngày đều sinh hoạt đều đặn như thế. Ngoài ra nếu có thì giờ rảnh thì
chúng tôi bàn về những sinh hoạt của Sinh viên các nơi trên thế giới, ở
Mỹ, Nhật hoặc Đức. Thỉnh thoảng cũng đưa ra một vài nhận xét cũng như quan
điểm chính trị của mỗi người.
Sau 2 hoặc 3 tuần ở
nơi thực tập, Trâm chở tôi về nơi cư xá Sinh viên tại đường Projendorf ở
Kiel. Tại đây lúc ấy có khoảng 20 Sinh viên Việt Nam đang học ngành Y và
Nha và trong hiện tại thì hầu hết đã ra trường đi làm việc, có phòng mạch
riêng và cũng có người sang Mỹ để sinh sống và cả hơn 20 người ấy ai ai
cũng sống với nghề nghiệp của mình chứ chẳng có ai bỏ cuộc.
Tại cư xá Sinh viên
tôi được sinh hoạt tự do, tiếp xúc với các Sinh viên Đức và Sinh viên
ngoại quốc ở cùng cư xá. Tôi quan sát mọi hiện tượng và nơi cư trú của họ.
Điều đầu tiên và rất đặc biệt là hệ thống sưởi trong nhà của Đức rất tốt.
Nhiều khi tôi thấy phí phạm nhiên liệu rất nhiều khi phải sưởi khắp phòng,
khắp nhà, khắp hành lang như thế, mà có xử dụng hết đâu. Chẳng bù với
Nhật, ở chùa mùa đông phải mở cửa và chân không được mang vớ khi tụng
kinh. Người Nhật cũng sưởi nhưng rất giới hạn. Họ chỉ sưởi nơi bàn chân ở
một bàn sưởi giữa nhà dùng cho cả gia đình ngồi uống trà hoặc ăn cơm
chung; chứ khi ngủ mỗi người rúc vào chăn bông thật ấm phủ lên người, lên
đầu là xong, không cần phải sưởi trong khi ngủ. Vả lại ở Nhật thường hay
động đất, nên nhà cửa xây toàn bằng những vật liệu nhẹ và cửa ngõ thường
dán bằng giấy. Nếu lấy ngón tay có thể chọc thủng từ bên nầy qua bên kia
một cách dễ dàng; cho nên nhiều Sinh viên hay gọi nhà của Nhật là nhà bằng
giấy là vậy.
Mỗi cuối tuần các
anh em Sinh viên tại Kiel thường hay đá banh với nhau, tôi cũng tham gia
cho vui, chứ nguyên tắc chẳng hiểu mô tê gì hết. Cũng có những đêm thứ bảy
rảnh rỗi ngồi kể cho nhau về sự sinh hoạt của Sinh viên tại Nhật cũng như
tại Đức cho nhau nghe và lúc ấy mới hay ra là mọi Sinh viên Việt Nam đi du
học ở Đức trước năm 1975, sau khi Miền Nam Việt Nam bị thất thủ, họ đã
nhận được một giấy gọi là Premdenpaß dùng cho người ngoại quốc trong khi
tiến hành thủ tục xin tỵ nạn.. Tôi nghe mà ham. Vì lẽ ở Nhật cho đến năm
1977 vẫn chưa có đả động gì tới chuyện giấy tờ cho những Sinh viên đến
Nhật du học trước năm 1975. Ngoài ra những Sinh viên nghèo ở Đức vẫn còn
có thể xin trợ cấp học bổng để học nữa. Đây là một số lý do căn bản để tôi
suy nghĩ là có nên tiếp tục ở lại Đức hay là về lại Nhật trong thời gian
một năm đầu ấy.
Trâm đã ghi danh cho
tôi học khóa tiếng Đức căn bản tại Volkshochschule và mỗi chiều Trâm có
kèm tôi một tiếng đồng hồ về văn phạm cũng như cách phát âm tiếng Đức. Đây
là một loại ngôn ngữ khó tôi đã bắt đầu làm quen. Không biết nên nói tiếng
Đức là ngôn ngữ thứ mấy của tôi rồi; nhưng nếu kể theo thứ tự ngoài tiếng
mẹ đẻ ra, tôi đã làm quen với tiếng Pháp, Anh, Hán, Nhật và bây giờ là
tiếng Đức nữa. Vị chi cũng không ít loại ngoại ngữ khó mà tôi đã kinh qua.
Học độ chừng 3 tháng
tại Volkshochschule Kiel tôi đã xin qua học phân khoa Đức ngữ tại Đại Học
Kiel. Nơi đây có phòng luyện giọng, tập nói, nghe kể chuyện v.v... nên
việc học tiếng Đức của tôi càng ngày càng tiến bộ. Dĩ nhiên tiếng Đức là
một loại tiếng khó, ít có người ngoại quốc nào dám tự hào rằng mình nói
đúng tiếng Đức hoàn toàn, chỉ trừ những em bé ngoại quốc sinh ra ở đây,
lớn lên đi học và tốt nghiệp từ Tiểu Học, Trung Học, Đại Học của Đức thì
có thể hãnh diện nói được điều đó; nhưng lại kẹt một điều là tiếng mẹ đẻ
của em ít rành hơn tiếng Đức; nên đó cũng là vấn đề được đặt ra của cha mẹ
các em cho chính tương lai của các em khi muốn tiếp tục tồn tại tại xứ nầy
mà phải làm sao bản sắc văn hóa của dân tộc không bị mất gốc. Quả là không
đơn thuần chút nào cả.
Học tiếng Đức mỗi
ngày chừng 4 tiếng đồng hồ và mỗi tuần từ thứ hai đến thứ năm. Ngày thứ
sáu tôi ôn bài hoặc làm bài tập để ngày thứ bảy, chủ nhật thì đi hái trái
Kirchen, là một loại đào của Đức, ra hoa cỡ tháng 3 và kết trái vào tháng
6 tháng 7. Từ Nhật sang tôi có mang theo một ít tiền; nhưng đã gần cạn. Do
đó tôi bắt đầu đi làm thêm với những anh em Sinh viên khác. Lúc ấy cũng có
một số người tỵ nạn đến sinh sống ở Kiel; nhưng ít lắm, độ chừng 10 gia
đình là cùng. Họ cũng cùng đi hái trái Kirchen với chúng tôi. Cứ mỗi giỏ
đầy là 5 Đức Mã. Mỗi ngày, mỗi người hái được 10 giỏ như thế là giỏi. Một
Sinh viên tay trắng mà mỗi ngày làm được 50 Đức Mã là loại siêng năng có
hạng và lúc ấy mới thấy được giá trị của đồng tiền là gì.
Nhưng mùa đào, mùa
dâu tây, mùa trái đâu có kéo dài suốt năm. Vả lại chúng tôi còn phải đi
học nữa; nên chỉ đi làm đâu chừng 6 đến 8 cái cuối tuần như thế cũng tạm
đủ tiêu vặt trong mấy tháng rồi. Làm việc kiểu Sinh viên chắc ai cũng rõ,
vả lại là Sinh viên cũng không được phép đi làm ngoài hè nhiều giờ. Vì bị
chi phối bởi việc học.
Ở chung với Trâm
chừng 3 tháng thì tôi dọn ra ở riêng tại đường Holtenauerstr. cũng ở Kiel,
mỗi ngày đạp xe đạp đến trường để học tiếng Đức. Có chiều ghé qua cư xá
Sinh viên của Trâm để thăm, ăn cơm chung và sau đó nhờ Trâm chỉ thêm cho
một ít văn phạm tiếng Đức. Sở dĩ tôi dọn riêng ra như thế, vì muốn có
phòng ốc rộng rãi hơn để thờ Phật và tụng kinh. Từ Nhật qua tôi chỉ mang
theo một cái chuông, một cái mõ và mấy hình Phật, kể cả một cái dĩa và một
đôi đũa với một số hồ sơ cá nhân. Như vậy đó mà 25 năm sau ở xứ nầy đồ cá
nhân chắc phải chở mấy xe cam-nhông mới hết. Nhưng để làm gì và sẽ đi về
đâu? thì là một con số không to tướng qua sự thành, trụ, hoại, diệt của sự
vật mà.
Nhiều lúc nghe mưa
rơi thấy nhớ nhà; nhưng chẳng biết nhớ ai. Không lẽ nhớ xứ Nhật. Vì nơi đó
không phải là quê hương của mình. Còn nhớ Việt Nam ư ? Nếu tính từ 1972
đến 1977 cũng đã hơn 5 năm xa xứ rồi, còn gì để nhớ nữa. Kể từ khi xuất
gia 1964 đến 1968 tại Hội An, tôi đã xa nhà cha mẹ và anh chị em, chỉ lấy
chốn chùa chiền làm nơi nương tựa. Rồi 1968 vào Sài Gòn ở chùa Hưng Long
đi học cho đến năm 1971 và 1972 lại rời Sài Gòn sang Tokyo. Như vậy đối
với tôi thuở ấy chẳng có nơi nào là quê hương chắc thật cả. Một hôm tôi
viết thư về Tokyo để hỏi thăm ý kiến của Thầy Bảo Lạc, bào huynh của tôi
vẫn còn đang học tại Đại Học Komazawa ở Tokyo rằng có nên về lại Nhật hay
nên ở lại Đức ? Tiếp theo tôi cũng viết cho Thầy Oikawa một lá thư bằng
tiếng Nhật để cảm ơn và để hỏi ý kiến. Vì thấm thoát cũng đã 8 tháng rồi
kể từ khi tôi rời Nhật.
Sau chừng vài tuần,
tôi nhận được thư của Thầy Bảo Lạc trả lời rằng: Nếu hoàn cảnh bên Đức
thuận tiện thì nên ở lại học hành; nếu về lại Đông Kinh cũng không sao. Vì
con đường học vấn vẫn còn chờ đợi đó.
Lá thư của Thầy
Oikawa gởi đi, nhưng không có thư trả lời. Tôi biết tánh Thầy ấy, bao giờ
cũng vậy rất dễ dãi, xuề xòa, nhưng lười trả lời thư cho bất cứ ai. Chỉ
thích một điều duy nhất là rượu. Nhiều khi ông ta uống nhiều quá bà vợ bảo
sao uống nhiều vậy ? Thì ông ta trả lời rằng: "Rượu cũng làm từ gạo ra chứ
sao bắt tôi phải ăn cơm để làm gì ?". Quả thật không sai; nhưng không hoàn
toàn đúng. Thế là mọi người cũng phải cười với lối lập luận ấy mà thôi.
Kể từ nhỏ, lúc 15
tuổi vào chùa, mọi quyết định đều tự mình lo liệu và giải quyết. Ví dụ như
quần áo tự giặt, mền chiếu tự lo, tiền bạc tự phải xoay xở cho có để đi
học, bài vở ở học đường tự tìm kiếm bạn giỏi cùng học và cùng làm xong
nhiệm vụ của một người học sinh, một Tăng sĩ, một Sinh viên. Thế thôi!
Không than phiền, không giận hờn, không trách móc, không đòi hỏi và cứ thế
mà tiến hành trên con đường thiên lý ấy.
Đâu vào cuối năm
1977, tôi nhận được thư của anh Lâm Đăng Châu ở Hannover gởi lên báo rằng
có chỗ học (Zulassung) tại Đại Học Giáo Dục Hannover. Thế là tôi mừng và
bắt đầu chuẩn bị đồ đạc để dời về Hannover sau khi ở Kiel và học tiếng Đức
hơn 8 tháng. Ngày hôm đó có lẽ vào Đông 1978, tôi đã đến ở tạm nhà anh Lâm
Đăng Châu độ chừng 10 ngày thì anh Châu đọc báo và thuê được căn nhà tại
đường Kestnerstr. số 37. Đây chỉ là một Wohnung nhỏ thôi, có 2 phòng, một
nhà bếp, một nhà tắm và một hành lang dài. Lúc về đây có Ngô Ngọc Diệp tận
tình giúp đỡ; nên những thông tin liên lạc thuở đó mới bắt đầu khởi đi từ
chốn nầy và ngày 2 tháng 4 năm 1978 chúng tôi làm lễ An Vị Phật, có mời
Đại Đức Thích Minh Tâm từ Paris tham dự. Lúc ấy Thầy vẫn còn là Đại Đức,
đến năm 1983 giới đàn Thiện Hòa ở Mỹ mới tấn phong lên Thượng Tọa và tháng
12 năm 1998 được tấn phong lên Hòa Thượng tại chùa Khuông Việt ở Na Uy.
Về sinh hoạt lễ An
Vị Phật độ chừng 30 người. Có vài vị từ Pháp tháp tùng Hòa Thượng Minh Tâm
sang. Còn bao nhiêu là anh em Sinh viên Việt Nam đang sinh sống tại
Hannover và có một ít người tỵ nạn đến từ Hildesheim tham dự. Lúc đó Ngô
Ngọc Diệp làm tổng khậu, có nghĩa là bao dàn từ trên chánh điện như đánh
chuông mõ cho đến nhà bếp như nấu nướng, dọn dẹp v.v...
Sinh hoạt Phật sự
tại Niệm Phật Đường hồi đó còn lỏng lẻo, yếu ớt, chậm chạp chỉ có mấy Thầy
trò. Thỉnh thoảng Trâm từ Kiel cũng có ghé về để sinh hoạt chung, rồi Thầy
trò kéo nhau đi Berlin, Dortmund hoặc Stuttgart để thuyết trình về tình
hình Phật Giáo tại Việt Nam qua sự đàn áp của người Cộng Sản. Mỗi tháng
vào chủ nhật thứ nhất và chủ nhật thứ ba vào lúc 11 giờ có lễ Phật định
kỳ, thuyết pháp và sau đó là cơm nước cũng như sinh hoạt chung và kể từ đó
đến nay (1978 - 2002) suốt gần 25 năm chùa Viên Giác đều sinh hoạt thường
xuyên như thế. Có lúc đông cả trăm người, nhưng cũng có lúc ít chừng 10
người, nhưng ít nhiều gì cũng cử hành lễ và chưa bỏ một lần lễ Phật định
kỳ nào cả. Nếu tôi có đi ra ngoại quốc thì ở nhà Ngô Ngọc Diệp thay thế để
làm chủ lễ.
Kể từ tháng 6 năm
1978 đến tháng 5 năm 1979, Ban Hộ Trì Tam Bảo đã kêu gọi bà con xa gần
đóng góp định kỳ hằng tháng tùy theo khả năng để trả tiền thuê Niệm Phật
Đường nơi tôi ở. Cứ kêu gọi hằng năm như thế và trong số 32 người đóng góp
đầu tiên ấy, nay vẫn còn tiếp tục hộ trì Tam Bảo. Quả là một sự giúp đỡ
không thể dùng lời nói để tạ ơn, mà năm sau (2003) Lễ Kỷ Niệm 25 năm Chùa
Viên Giác, tôi phải có những phần thưởng xứng đáng để tri ân những vị nầy.
Ngày nay cũng đã có
người đi xa, có người còn, có người mất và tôi ghi hết ra đây để cảm tạ sự
đóng góp một cách chân tình như thế cho sự trưởng thành của Phật Giáo Việt
Nam từ đó đến nay.
1. Văn Công Trâm, ở
Kiel, mỗi tháng 30 Đức Mã. Sau nầy ra trường Y khoa, anh ta đóng mỗi tháng
50 Đức Mã và mãi cho đến hôm nay vẫn còn tiếp tục. Đây là người bạn học cũ
cùng trường với tôi hồi còn Tiểu Học, em ruột của Sư Bà Diệu Tâm, anh ruột
của Nguyên Đạo Văn Công Tuấn và năm 1979 Trâm quy y với tôi, tôi cho pháp
danh là Thị Minh.
2. Nguyễn Thị Đẹp, ở
Neumünster. Chị nầy đóng mỗi tháng 10 Đức Mã và chỉ kéo dài chừng vài năm
là chấm dứt. Hiện bây giờ chị vẫn còn ở Neumünster vì trong danh sách nhận
báo Viên Giác chị ấy vẫn còn liên lạc với chùa và thỉnh thoảng có cúng
dường bất thường.
3. Nguyễn Thị Tư, ở
Kiel, đóng mỗi tháng 10 Đức Mã; nhưng cũng chỉ vài năm đầu rồi ngưng. Nghe
đâu bây giờ đã có chồng có con và vẫn ở tại Kiel.
4. Hồ Kim Lệ, ở
Kiel, đóng mỗi tháng 10 Đức Mã và cũng chỉ góp đâu độ 1, 2 năm đầu rồi
nghỉ. Họ là những người đến tỵ nạn ở Đức sớm nhất vào những năm 1976, 77
và nghe đâu bây giờ anh ta vẫn còn ở tại đó.
5. Đoàn Thị Mỹ Lộc,
ở Koblenz. Cô ta đóng mỗi tháng 20 Đức Mã và kéo dài đến năm 1980 thì hết.
Thỉnh thoảng có cúng dường bất thường gởi qua ngân hàng. Mới đây lễ Phật
Đản 2546 (2002) tôi có gặp cô ta và người chồng tên Giáo về chùa dự lễ.
Đúng là thời gian có đổi thay; nhưng tấm lòng với Đạo thì càng ngày càng
gắn bó nhiều hơn. Vì lẽ khi con người càng lớn thì dễ đi gần với niềm tin
Tôn Giáo của mình.
6. Lê Xuân Bình, ở
Koblenz, Người nầy chỉ hộ trì cho chùa một năm, mỗi tháng 20 Đức Mã và từ
đó đến nay không thấy liên lạc về chùa nữa.
7. Lê Văn Hồng, ở
Koblenz. Anh nầy hộ trì chùa mỗi tháng 20 Đức Mã và đóng góp chừng 3 hay 4
năm sau đó lại ngưng. Thỉnh thoảng cũng có về chùa.
8. Hồng Hoàng Sơn, ở
Koblenz. Anh nầy mỗi tháng đóng 20 Đức Mã và chừng vài năm thì nghỉ. Cho
đến nay vẫn không có liên lạc với chùa.
9. Trương Văn Giáo,
ở Koblenz, mỗi tháng đóng 20 Đức Mã và kéo dài trong nhiều năm. Nay vẫn
còn ở Koblenz và thỉnh thoảng có về thăm chùa.
10. Lê Thanh Bình,
Hannover. Anh nầy là Sinh viên du học trước 1975. Mỗi tháng đóng 20 Đức Mã
cho đến nhiều năm sau nầy. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Hannover thì về
Bremen để làm việc. Thỉnh thoảng có ghé thăm chùa lễ Phật.
11. Lâm Đăng Châu.
Anh nầy ở Hannover, mỗi tháng hỗ trợ 20 Đức Mã, đóng độ vài năm thì ngưng
và như trong phần đầu có đề cập, anh ta là một trong những ân nhân của tôi
trong giai đoạn lúc ban đầu khi mới đến xứ Đức nầy.
12. Ngô Ngọc Diệp, ở
Hannover. Anh nầy đã quy y với tôi vào lễ Vu Lan ngày 19 tháng 8 năm 1978
cùng với 2 người khác là Đoàn Thị Thu Hạnh và Nguyễn Đức Hiếu. Diệp tôi
cho pháp danh Thị Chơn; Hiếu cho pháp danh Thị Ân và Cô Hạnh tôi cho pháp
danh Thị Nhân. Diệp là người mà tôi mang ơn cũng nặng ngay từ lúc ban đầu.
Lúc ấy Diệp cũng còn Sinh viên, mỗi tháng hộ trì chùa 20 Đức Mã cho tới
khoảng 1992, 93 mới ngưng.
Dạo ấy, mỗi sáng
trước khi đi làm ở hãng Continental, Diệp thường ghé chùa để tụng kinh
Lăng Nghiêm với tôi, từ khi còn ở tại Kestnerstr. cho đến Eichelkampstr.
cũng vậy. Anh ta là một người đa tài, cái gì cũng có thể làm được, không
kể công, không trốn tránh trách nhiệm.
13. Lê Huy Cát,
Hannover. Anh nầy mỗi tháng giúp 20 Đức Mã độ chừng một vài năm sau thì
ngưng. Vì anh chị ấy dọn sang định cư bên Úc vùng Brisbanne nắng ấm.
14. Nguyễn Tiến Hội,
ở Hannover, có ghi tên trong số 32 người nầy, mỗi tháng đóng 10 Đức Mã;
nhưng không thấy hỗ trợ. Có lẽ vì hoàn cảnh gia đình. Nay vẫn còn ở
Hannover, là một võ sư của Vovinam Việt Võ Đạo.
15. Đạo Hữu Long, ở
Hildesheim, có ghi đóng mỗi tháng 30 Đức Mã và chỉ đóng một tháng 6 duy
nhất của năn 1978 rồi nghỉ.
16. Phạm Văn Phụng,
ở Hildesheim, đóng mỗi tháng 20 Đức Mã và hỗ trợ chừng vài năm sau thì
ngưng.
17. Nguyễn Ngọc Tuấn
và Nguyễn Thị Thu Cúc, ở Hannover. Đây là hai anh chị cũng có công rất
nhiều với Niệm Phật Đường ngay từ lúc ban đầu. Mỗi tháng đóng 20 Đức Mã
trong nhiều năm liên tục như vậy. Trong chương trước, tôi có đề cập đến
anh chị nầy rồi. Họ là những Sinh viên du học đến Đức từ năm 1968.
18. Lê Hữu Cơ, ở
Neuss. Mỗi tháng đóng 10 Đức Mã, được 3 tháng thì ngưng. Chẳng biết ông bà
nầy còn sống hay đã mất. Vì từ lâu không còn liên lạc nữa.
19. Ngô Tài Ba, ở
Hòa Lan, hứa cúng mỗi tháng 20 Đức Mã nhưng chưa đóng lần nào cả và từ đó
đến nay cũng chẳng có tin.
20. Phạm Bé, ở Hòa
Lan, cũng giống như vậy.
21. Đinh Thị Hợi, ở
Aachen, đóng mỗi tháng 20 Đức Mã trong nhiều năm như vậy và vị nầy chắc
nay không còn nữa. Vì lúc đó cũng đã lớn tuổi rồi.
22. Nguyễn Đức
Quyến, ở Aschaffenburg. Vị nầy đóng mỗi tháng 20 Đức Mã bắt đầu từ tháng 9
năm 1978 và kéo dài trong vài năm như thế. Nay thì gia đình vẫn còn ở tại
Aschaffenburg.
23. Vũ Văn Hà, ở
Pháp; ông ta sau nầy xuất gia pháp danh là Nguyên Lưu, đệ tử của Hòa
Thượng Minh Tâm, mỗi năm Bác hộ chùa Viên Giác bên nầy 600FF và liên tục
như thế đến khi Bác mất cách đây chừng 10 năm thì nghỉ. Bác là đệ tử xuất
gia rất trung thành với Hòa Thượng Minh Tâm, đã ở Pháp trên 50 năm và cuối
đời còn lại vào chùa để hộ đạo.
24. La Thành, ở
Herford. Vị nầy cũng đóng vài năm rồi nghỉ, mỗi tháng 20 Đức Mã và cho đến
nay không còn liên lạc gì cả.
25. Nguyễn Thanh
Tùy, ở Recklinghausen, mỗi tháng đóng 20 Đức Mã, bắt đầu từ tháng 10 năm
1978 và đóng mãi cho đến khi vị nấy mất mới thôi.
26. Phan Văn Trường,
ở Hannover, là Sinh viên du học trước 75, đóng mỗi tháng 10 Đức Mã độ 1
năm, sau đó di dân sang Mỹ và cho đến nay không còn liên lạc nữa.
27. Nguyễn Thị Hạnh,
ở Braunschweig, mỗi tháng đóng 20 Đức Mã trong nhiều năm như thế. Chị cũng
là Sinh viên du học trước 1975 và đã xong Đại Học. Mỗi năm nhân lễ Phật
Đản hay Vu Lan chị đều về chùa giúp khâu trong nhà bếp suốt hơn 20 năm như
vậy. Công đức thật không nhỏ.
28. Bùi Hữu Tường, ở
Münster, cũng là Sinh viên du học trước 1975, đã ra Bác sĩ và làm việc tại
Đức. Mỗi tháng thuở ấy anh ta đóng 10 Đức Mã liên tục trong nhiều năm như
vậy.
29. Vương Đắc Mẫn, ở
Kiel, nay là Bác sĩ ở Mỹ. Cũng là Sinh viên du học trước 75, chỉ ủng hộ
bất thường cho chùa chứ không đóng định kỳ, mặc dầu có ghi danh như thế.
30. Đoàn Thị Thu
Hạnh, ở Hannover, mỗi tháng đóng 20 Đức Mã và kéo dài trong nhiều năm như
thế. Trong Chương trước tôi đã có đề cập về cô nầy rồi.
31. Phạm Công Hoàng,
ở Bremen, là Sinh viên du học trước 1975; nay là Kỹ sư Hàng không làm tại
hãng ở Bremen. Mỗi tháng góp 50 Đức Mã và kéo dài từ năm 1978 đến nay chưa
nghỉ.
32. Trần Văn Trường,
ở Schweringhausen. Anh là gia đình tỵ nạn đến Đức rất sớm và sau đó sang
định cư tại Mỹ. Kể từ đó đến nay không còn liên lạc nữa.
Từ 1979 đến cuối năm
1980 có thêm vài vị đóng góp nữa như chị Nguyễn Thị Soan ở Kiel mỗi tháng
đóng 10 Đức Mã và có vài vị có ghi tên nhưng không hỗ trợ, có lẽ vì lý do
gia cảnh. Đó là 32 hóa thân ban đầu của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và nhờ mỗi
người một hạnh nguyện như thế mà ngày nay sau 25 năm ngôi chùa nầy đã đứng
vững vàng trong lòng xã hội Đức và là nơi nương tựa tinh thần của hằng 100
ngàn người tỵ nạn Việt Nam khi bỏ nước ra đi tìm tự do.
Tính trung bình mỗi
tháng như thế chùa Viên Giác tại Hannover số tịnh tài đóng định kỳ là 600
Đức Mã của 32 người đóng. Phải trả tiền nhà 180 Đức Mã, tiền điện, Gas,
nước, điện thoại v.v... độ chừng 120 Đức Mã nữa. Như vậy mỗi tháng dư độ
200 Đức Mã dùng làm quỹ chi dụng bất thường cho Niệm Phật Đường. Ví dụ như
mỗi khi có chư Tăng đến thăm phải cúng dường hoặc làm lộ phí di chuyển đi
đây đó v.v... Trong thùng phước sương hầu như không có đồng nào. Vì ai
cũng là Sinh viên hoặc người tỵ nạn mới đến Đức nên sự tiêu pha rất chừng
mực.
Vào ngày 5 tháng 2
năm 1979, tôi có viết một thư mời Phật Đản và năm đó địa phương Bá Linh đã
đóng góp phần văn nghệ cúng dường. Tổ chức tại Bethoven Saal của
Stadthalle Hannover. Có độ 400 người Việt và Đức về tham dự. Năm đó chính
quyền Tiểu Bang Niedersachsen có giúp tiền để thuê phòng và chở đồng bào
từ Friedland về tham dự lễ, ở qua đêm trong nhiều gia đình của Đức để trao
đổi làm quen, do Hội Hồng Thập Tự đảm trách việc nầy.
Năm 1979 nhằm Phật
Đản 2523 cũng là năm đầu tiên Hội Sinh Viên và Kiều Bào Phật Tử Việt Nam
tại Đức được ra mắt tại Hội Trường. Nghĩa là sau 6 tháng thành lập
(11.1978). Tất cả cái gì cũng mới mẻ và danh sách cúng dường lễ Phật Đản
năm đó của 19 người, đa phần đến từ Berlin tổng cộng là 195 Đức Mã. Số
tiền rất khiêm nhường; nhưng giá trị tinh thần thì không nhỏ. Vì đây là
lần đầu tiên ra mắt công chúng Đức. Lúc ấy người Đức rất quý mến người tỵ
nạn Việt Nam. Vì lẽ những người lớn tuổi họ đã hiểu nỗi khổ của thời Đệ
nhị Thế chiến (1939 - 1945) cũng như thời Đức Quốc Xã của Hitler sống khổ
cực như thế nào rồi; nên dễ thông cảm. Vì vậy chính quyền của Tiểu Bang
Niedersachsen mới dễ dàng đón nhận đầu tiên mấy ngàn người vào ngày 10
tháng 12 năm 1978 từ chiếc tàu Hải Hồng đang bị câu lưu ở Hồng Kông, ra đi
từ Việt Nam. Trong đó có mấy ngàn người đói khát, kể cả người già và con
trẻ.
Do đó, ông Ernst
Albrecht là vị Thủ Tướng Tiểu Bang đầu tiên của nước Đức đã kêu gọi cứu
trợ nhân đạo và lập tức nhân dân Đức hưởng ứng ngay. Ở đây xin chắp tay
cảm tạ ông cựu Thủ Tướng Tiểu Bang Niedersachsen trong thời gian ấy đã cưu
mang người tỵ nạn Việt Nam chúng tôi rất nhiều. Ngay như việc sau nầy vào
năm 1986, 87 đưa đơn xin phép xây cất chùa Viên Giác tại đường
Karlsruherstr. nầy nếu không có sự lưu tâm của ông, chắc rằng giấy phép
cũng còn lâu lắm mới nhận được.