Phật Giáo Với Con Người
Thích Như Điển
---o0o---
CHƯƠNG BỐN
Cái nhìn của người Á Châu đối với đạo phật
Đạo
Phật được truyền vào các nước Châu Á lần lượt từ các thế kỷ trước Thiên
Chúa giáng sinh, đến sau Thiên Chúa độ 500 năm. Trong 1.000 đầu tiên nầy,
sau khi Đức Phật nhập diệt, hầu như mọi dân tộc của Á Châu đều biết đến
Đạo Phật. Nếu ngày xưa cách đây 2.500 năm về trước, Đức Phật sanh ra tại
Âu hay Mỹ Châu, chắc chắn các dân tộc nầy đã trở thành Phật Tử rồi, không
phải chờ đợi đến ngày nay họ mới tìm hiểu đến giáo lý của Đạo Phật nữa.
Đây có lẽ do nhân duyên và có lẽ cũng do hạnh nguyện của Đức Phật, như
Ngài đã từng nói nhiều lần trong các kinh điển khác nhau rằng Ngài đã sinh
ra tại xứ Ấn Độ, một xứ Á Châu có nhiều giai cấp để cứu khổ độ sanh; nên
người Á Châu có cơ duyên tiếp xúc với Đạo Phật trước hơn các dân tộc Âu Mỹ
khác. Nếu ví Đạo Phật như một cây đại thụ, có gốc rễ mọc lên từ Á Châu,
thì nơi đây Âu và Mỹ Châu chính là những cành lá sum sê đang đơm hoa kết
trái. Vì thế cũng chẳng lấy làm lạ rằng Đạo Phật ở Á Châu ngày nay đa số ở
vào thế thủ, trong khi đó Đạo Phật tại Âu Châu đang vươn vai trổi dậy
trong những xứ văn minh cơ khí tại đây. Đó có lẽ là định luật bù trừ của
tạo hóa chăng?
Ngày xưa chư Tăng khi còn ở
trong nước, đa phần cũng chỉ lo nhiệm vụ cúng kiến, xây dựng chùa tháp và
hành trì giới luật mà thôi; nhưng ngày nay khi ra hành đạo tại các xứ Âu
Mỹ nầy, với ngần ấy hành trang vẫn không đủ để trang bị cho kiến thức của
mình khi đi làm Phật sự. Do vậy, chính những vị Tăng sĩ vẫn phải tự học
hỏi, trau giồi văn hóa và Phật học để ứng dụng vào trong cuộc sống của
mình, nhằm ảnh hưởng tha nhân. Người Phật Tử Á Châu cũng thế, khi họ bị
hỏi về Đạo Phật, họ cũng bí lối như thường, mặc dầu họ là những người Phật
Tử đã quy y lâu đời. Do vậy phong trào học Phật ngày nay lại nổi lên khắp
nơi, nhằm đáp ứng những nhu cầu cần thiết ấy cho những người Á Châu học
Phật.
Hỏi: Đạo Phật
thường hay lấy hoa sen để làm biểu hiệu. Vậy hoa sen có ý nghĩa gì?
Đáp: Hoa sen là một loại hoa mọc
lên từ bùn nhơ; nhưng tỏa ra hương thơm ngát nhẹ nhàng. Như thế ấy, chúng
sanh sanh ra trong cõi đời ơ trược nầy, mặc dầu tham, sân, si và ái nhiễm
buộc ràng; nhưng trong chúng sanh ấy, nếu có ai tu và giác ngộ thành Phật
được, thì cũng ví như hoa sen kia từ bùn nhơ nước đọng; nhưng vẫn tỏa ra
được hương thơm tinh khiết dịu dàng. Ngoài ra hoa sen còn có 5 đặc tính
sau đây, ít có loài hoa nào có được. Nên Đạo Phật đã lấy hoa sen tượng
trưng cho Tôn Giáo của mình.
Đặc tính thứ nhất là ở trong
cuộc đời vẩn đục nhưng không bị mùi đời làm ô nhiễm nội tâm cũng như ngoại
cảnh. Điều nầy cho ta thấy rằng: Mỗi chúng sanh đều có tánh Phật. Với tánh
Phật nầy nếu chúng sanh biết khổ công tu luyện thì sẽ thành Phật. Cũng thế
đó, mặc dầu ở trong bùn, nhưng hoa sen vẫn không bị nhiễm mùi bùn.
Đặc tính thứ 2 - nhân và quả
đồng thời. Không có một loài hoa nào trong khi ra hoa có quả như loài hoa
sen. Điều nầy chứng tỏ rằng trong nhân có quả, trong quả có nhân.
Đặc tính thứ 3 - nhân và quả
khác thời. Đây cũng là một điều đặc biệt của loài hoa sen. Không có một
loài hoa nào, khi ra hoa mà hoa không từ cành để thành hình được, ngoại
trừ hoa sen. Vì lá sen và hoa sen không cùng nhau một cành, mà cành và hoa
sen riêng biệt nhau. Đây gọi là nhân quả khác thời. Có nhiều loại nhân gây
ra trong đời nầy mà quả phải chờ trong nhiều năm tháng hoặc nhiều đời khác
nhau mới gặt được.
Đặc tính thứ 4 - hoa sen không
phải là loài hoa để trang sức. Người ta tặng nhau hoa hồng, hoa cẩm chướng
v.v... nhưng không mấy ai đem hoa sen để tặng nhau, mà hoa sen chỉ dành
riêng để cúng Phật. Ý nói về sự cao thượng của loài hoa nầy.
Đặc tính thứ 5 của loài hoa sen
là ong bướm không bay vào. Ý nói hoa sen rất trang nghiêm, không lả lơi,
mời gọi. Đây chính là đặc tính quân tử của loài hoa quý giá nầy.
Trên đây là 5 đặc tính của loài
hoa sen mà Đạo Phật vẫn hay dùng đến để tượng trưng cho đặc tính cao
thượng của con người. Phật sinh ra cũng đi trên hoa sen, Phật thành đạo
cũng ngồi trên tòa sen v.v... Đây là ý chính mà Phật Giáo hay lấy hoa sen
để tượng trưng vậy.
Hỏi: Người Phật Tử tại
gia nên tụng những kinh nào hằng ngày và ý nghĩa của những loại kinh nầy?
Đáp: Hằng ngày ở tại nhà quý vị
nên tụng kinh Cầu An Phổ Môn vào buổi tối, hoặc giả tụng kinh Tịnh Độ hay
Cầu Siêu mỗi khi trong gia đình có cúng giỗ. Nếu những kinh nầy đã tụng
thuần thục rồi, có thể tụng những loại kinh bộ như Thủy Sám, Lương Hoàng
Sám, Pháp Hoa v.v... tùy theo thời giờ chia ra mỗi lần tụng chừng 1 tiếng
đồng hồ và nhiều ngày tụng như thế sẽ xong một bộ kinh. Về ý nghĩa của các
kinh nầy khi đọc tụng sẽ hiểu. Tuy nhiên những ý chính hoặc những nghĩa lý
cao siêu hơn phải cần tham khảo riêng, không thể tìm hiểu ngay khi trì
tụng, vì thiếu thì giờ. Khi tụng đọc chỉ cần chú tâm vào câu kinh tiếng mõ
là đủ. Vì tụng có nghĩa là tập trung tư tưởng, khi tập trung tư tưởng cao,
sẽ được huân tập nhiều tư tưởng lành.
Đôi khi có những bài thần chú
không thể hiểu được; nhưng điều ấy cũng không cần thiết nữa. Vì khi trì
tụng các thần chú nầy, chính sự đọc tụng ấy sẽ huân tập cho chúng ta có
một nội lực rất thâm hậu.
Hỏi: Trước khi hành lễ,
thường Phật Tử lạy 3 lạy. Xin cho biết lý do về việc lễ 3 lễ nầy.
Đáp: Lạy thứ nhất là lạy tất cả
chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai cùng với giáo pháp và chư Tăng.
Lạy thứ 2 là lạy Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, các vị Bồ Tát như Văn
Thù, Phổ Hiền v.v.. Lạy thứ 3 là lạy Đức Phật A Di Đà, cùng 2 vị Đại Bồ
Tát Quan Âm, Thế Chí cũng như Ngài Địa Tạng Vương.
Chúng ta lễ Phật vì cung kính
cái đức hạnh của chư Phật mà ta lễ. Lễ Phật cũng là dịp để chúng ta hạ
mình xuống, dẹp đi cái bản ngã cống cao, tự mãn. Cúi mình xuống cũng là để
nhìn sâu vào nội tâm của mình. Lạy Phật cũng có nghĩa là lễ bái cầu nguyện
cho Phật tánh của mình được trưởng dưỡng như chư Phật dạy. Đó chỉ là 3 lễ
đầu tiên. Nếu là nghi thức sám hối gồm cả trăm lạy. Nghi thức Ngũ bách
danh (500 lạy), Tam thiên Phật danh (3.000 lạy), Vạn Phật (hơn 11.000 lạy)
v.v... và v.v... tựu chung lạy Phật để thể hiện lòng mình đối với tự tánh
của mình và để thể hiện sự cung kính đối với chư Phật và chư vị Bồ Tát.
Hỏi: Sau khi chết thân
trả về cho tứ đại. Vậy thức nào còn và thức nào mất?
Đáp: Câu hỏi nầy người Âu Châu
cũng thường hay hỏi, như đã trả lời phía trên; nhưng ở đây có thể đi sâu
hơn một phần nữa. Trong thân xác chúng ta có hai phần. Một phần thuộc về
tâm linh và một phần khác thuộc về hình tướng. Phần tâm linh thì không
thấy được nên rất khó biết sự mất còn. Duy chỉ có phần hình thức có thể
ngắm nhìn, sờ mó được; nên chúng ta có thể theo dõi các hiện tượng biến
đổi của vật lý ấy. Nhưng chúng ta biết chắc một điều ngoài thể xác, tâm
linh không thể tồn tại và khi thể xác tồn tại cũng không thể thiếu sự hiện
hữu của tâm linh được; nên chúng ta có thể nói rằng: ngoài A không có B và
ngoài B không có A là vậy. A tồn tại trong B và B cũng hiện hữu trong A.
Nếu cái nầy thay đổi thì cai kia cũng thay đổi. Thức hay Sắc cũng phải
thay đổi tùy theo từng trường hợp của hiện tượng vật lý biến đổi. Khi
chết, tất cả các chất thuộc về đất, nước, gió và lửa tan biến; nhưng Thức
thì thay đổi vị trí để đi đầu thai hay nói đúng hơn là đi nương tựa vào
nơi khác, cũng giống như nước trở về nương với nước, gió trở về nương với
gió, thì Thức cũng sẽ nương theo những hành nghiệp của mình đã tạo ra
trong kiếp quá khứ mà lãnh thọ cho kiếp vị lai.
Hỏi: Thông thường giữa
thời công phu khuya quý Thầy thường cho lạy xen kẽ vào những thời khóa
tụng ấy. Như vậy những lạy ấy là những lạy gì?
Đáp: Sau khi kinh hành, nhiễu
Phật niệm danh hiệu Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, nếu là ngày rằm hay mồng
một, nhằm ngày Bố Tát (uposatta) của chư Tăng, tức lễ tụng giới, quý Thầy
hay lạy chừng 30 lạy. Đó là nghi lễ chúc tán thù ân. Nghĩa là tán dương ân
đức của chư Phật, chư vị Thánh Tăng, các vị Tổ Sư, chư vị truyền thừa Phật
pháp, các vị Hòa Thượng làm giới sư truyền giới cũng như Yết Ma, Giáo Thọ
và các vị Tôn Chứng Tăng Già. Ngoài ra còn lạy 4 ân nặng trong những ngày
nầy, như ân quốc gia, ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, ân dạy dỗ của
Thầy Tổ và ân của đồng loại.
Nếu là ngày thường, không phải
rằm hay mồng một chư Tăng cũng cho lạy Phật sau khi đi kinh hành; nhưng ít
hơn. Đó là lạy về công hạnh tu hành của Đức Bổn Sư từ khi sơ sanh đến lúc
nhập Niết Bàn và lạy danh hiệu của 4 vị Thánh. Đó là Ngài Văn Thù, Phổ
Hiền, Quan Âm cũng như Địa Tạng.
Hỏi: Ai tin theo Phật,
đều phải quy y Tam Bảo, hay chỉ cần tin tâm của mình là đủ. Tự mình làm
lành lánh dữ là mình thấy tốt rồi, cần gì phải hình thức, mà trong lòng
mình không biết tu, không biết lánh dữ, làm lành, cố chấp, vị kỷ v.v...
Đáp: Tam Bảo là ruộng phước,
chúng ta cần nương vào đó để tín tâm được phát sanh. Quy y là sự trở về
nương tựa với những giá trị cao cả đó. Cũng giống như trường học là nơi
đào tạo con người. Nếu không có học đường và Thầy dạy cho mình học, khó ai
có thể thành người hữu dụng cho xã hội. Thỉnh thoảng cũng có vài người
không cần đi học vẫn biết chữ, cũng có nhiều người không cần tu vẫn chứng;
nhưng số nầy là số đặc biệt, trong hằng triệu người mới có một người. Vì
thế sự quy y và giữ giới rất cần cho người mới bước vào cửa Đạo, nhằm giữ
gìn tín tâm của mình trên con đường tìm về sự giải thoát.
Tâm của chúng sanh luôn thay
đổi. Lúc vui, lúc buồn, lúc giận, lúc hờn, thương, ghét v.v... vì vậy tự
mình khó kiểm soát được tâm của mình. Do đó quy y và giới luật chính là
một cái kiếng chiếu hậu để cho chúng ta nhận ra lỗi lầm của chính mình.
Nếu không quy y và biết về giới luật thì tự mình khó thấy sự sai lầm được.
Hỏi: Tại sao khi niệm
Phật cần phải lần chuỗi; ý nghĩa như thế nào? Sao có chuỗi dài, chuỗi
ngắn?
Đáp: Chữ niệm có nghĩa là nhớ
nghĩ. Thông thường tâm ta hay suy nghĩ vẩn vơ, phải trái, hơn thua, được
mất, do đó dễ quên đi những gì đã làm và đã nói. Vì vậy khi nhớ nghĩ đến
Phật phải cần đến tràng hạt để giúp cho tâm mình có nơi nương tựa, đỡ sai
lầm, khi đã thuần thục rồi nhiều khi không cần đến tràng hạt nữa; nhưng
lúc ban đầu tràng hạt rất cần cho những người mới bước vào cửa đạo. Tràng
hạt có loại 18 hạt, 108 hạt v.v... Tất cả đều lấy 6 căn, 6 trần và 6 thức
làm chuẩn. Mỗi loại 6 sanh ra 3 cảnh giới của đối tượng tức thành 18.
Trong 18 đối cảnh ấy nhân với 6 lần thuộc về căn, trần hay thức tổng cộng
là 108. Hay có nhiều nơi lấy 18 đối cảnh ấy nhân cho 6 lần hồng danh "Nam
Mô A Di Đà Phật" sẽ ra 108 lần. Đây chỉ thuộc về hình tướng. Khi đã niệm
quen rồi thì niệm niệm tương tục, không thay đổi, lúc ấy không cần đến số
lượng 18 hay 108 nữa mà niệm cho đến khi nào tiến đến giai đoạn vô niệm
mới thôi.
Hỏi: Theo đạo Phật, ái
dẫn đến phiền não, luân hồi. Muốn hết phiền não phải diệt ái. Trong khi
cha mẹ, anh em đau khổ, làm sao chính mình không đau khổ được. Làm sao cho
hết đau khổ, khi vẫn còn yêu thương cha mẹ và anh em. Yêu thương nầy có
phải là ái mà theo Đạo Phật biểu phải diệt không?
Đáp: Thập Nhị Nhân Duyên là 12
mắc xích, làm cho chúng sanh bị luân hồi sanh tử nhiều đời nhiều kiếp.
Trong đó vô minh và ái dục là hai điều căn bản của luân hồi; nhưng vô minh
thì khó đoạn trừ, chỉ có ái dục là dễ hơn cả. Tuy nhiên không phải ai cũng
có thể thực hành được. Nếu ai muốn sớm dứt mê mờ trở về con đường giải
thoát thì hãy sớm cắt đứt dây ái ân. Còn ai đó nếu bị nhân duyên ràng buộc
bởi sự yêu thương của gia đình, chồng vợ thì cũng không sao. Nếu kiếp nầy
không giải thoát được thì chờ kiếp khác. Nơi đạo Phật không có sự ép buộc
để chỉ phải làm trong một đời nầy. Việc nầy hoàn toàn tự giác, muốn thoát
ra khỏi biển sanh tử luân hồi, chính mình phải tự chọn, không ai có thể
thay thế cho mình được. Việc yêu thương cha mẹ, anh em hay chồng vợ v.v...
đều thuộc về ái dục. Nếu muốn đoạn ái dục để bước vào con đường giải
thoát, tự mình phải chọn lựa lấy để mà đi.
Hỏi: Hai câu: "Nhứt cú
Đi Đà vô biệt niệm. Bất lao đàn chỉ đáo Tây Phương" là nghĩa gì?
Đáp: Trong 48 lời nguyện của Đức
Phật A Di Đà, Ngài có phát nguyện rằng: nếu có chúng sanh nào đó ở thế
giới Ta Bà nầy trước khi lâm chung mà chí tâm niệm đến một câu danh hiệu
của Ngài thì Ngài sẽ cùng với Quan Âm, Thế Chí Bồ Tát đến tại nơi nầy để
tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc. Nên 2 câu nầy cũng diễn tả lên ý nghĩa ấy.
"Nhứt cú Di Đà Vô Biệt Niệm"
nghĩa là một câu Di Đà khi niệm không tán loạn thì chỉ trong giây lát có
thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc vậy. Đó là câu: "Bất lao đàn chỉ đáo
Tây Phương".
Có nhiều người bảo: Cõi Tây
Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà xa xôi trong muôn vạn dặm làm sao chỉ
trong một khoảnh khắc có thể sanh về đó được?
Việc sanh về thế giới cực lạc
cũng giống như chúng ta nằm trong cơn mộng mà thôi. Nhiều đêm thân thể
chúng ta ở Âu Châu; nhưng tâm ta phiêu bồng đi đến nhiều thế giới khác như
Mỹ Châu, Á Châu, Úc Châu v.v... hay nhiều khi thần thức của chúng ta còn
dạo chơi ở những cõi khác nữa. Khi thức dậy vẫn thấy còn ở Âu Châu; nhưng
chỉ cần trong một cơn mơ mà ta đã đi qua mấy chục ngàn cây số thì Cực lạc
cũng vậy. Tuy xa nhưng rất gần, ngược lại tuy gần nhưng cũng rất xa.
Hỏi: Trong nghi thức
Mông Sơn Thí Thực tụng vào buổi chiều tại mỗi chùa, trong ấy có câu: "Tự
tánh chúng sanh thệ nguyện độ, tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn" là nghĩa
như thế nào?
Đáp: Nếu đọc thêm đoạn trên nữa,
chúng ta sẽ có một bài kệ như sau:
"Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ
Phần não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành.
Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ
Tự tánh phiền não thệ nguyện
đoạn
Tự tánh pháp môn thệ nguyện học
Tự tánh Phật đạo thệ nguyện
thành".
Bốn câu trên là 4 lời đại nguyện
của Ngài Phổ Hiền. Bốn câu dưới tương truyền là của Ngài Lục Tổ Huệ Năng.
Tổ thứ 6 Thiền Tông của Trung Quốc.
Bốn câu trên có nghĩa tiếng Việt
là:
"Chúng sanh không số lượng, thề
nguyện đều độ khắp; phiền não không cùng tận, thề nguyện đều dứt sạch;
Pháp môn không kể xiết, thề nguyện đều tu học; Phật đạo không gì hơn, thệ
nguyện được viên thành.
Mỗi chúng sanh đều có tự tánh,
thề nguyện đều độ khắp. Phiền não đều do tự tánh mà ra, thề nguyện đều dứt
sạch, Pháp môn đều từ tự tánh mà có, thề nguyện đều tu học. Phật đạo đều
có tự tánh, thề nguyện được viên thành.
Trong Mông Sơn Thí Thực phần
đầu diễn tả về cảnh giới của Hoa Nghiêm như câu: "nhược nhơn dục liễu
tri, tam thế nhứt thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhứt thiết duy tâm
tạo". Nghĩa là: "mọi người đều nên biết, tất cả 3 đời của chư Phật,
đều quán sát về tánh pháp giới là tất cả đều do tâm tạo". Rồi sau đó là
thần chú rút ra từ nghi thức Du Già chẩn tế cô hồn để tế độ cho các vong
linh còn chìm đắm nơi cảnh khổ đau của địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Vì
vậy các vị Bồ Tát và các vị Tổ Sư đều có tâm nguyện muốn cứu độ họ, để
nương nhờ vào Phật lực mà thác sanh về những thế giới an lành hơn.
Hỏi: Làm sao để một
người có thể phát tâm đi xuất gia?
Đáp: Xuất gia là việc lớn. Nó
không đơn thuần. Có nhiều người mong muốn nhưng cha mẹ hoặc vợ hay chồng
lại không muốn. Ngược lại có nhiều lúc gia đình mong muốn mà chính mình
lại chưa phát khởi được thiện tâm. Vả chăng việc xuất gia là do nhân duyên
và vì có căn rễ nhiều đời đã gieo trồng duyên lành với Phật pháp nên kiếp
nầy sinh ra mới được xuất gia học đạo.
Khuyến khích một người đi xuất
gia học đạo được công đức rất lớn; nhưng điều quan trọng là chính đương sự
phải tự phát nguyện xuất gia thì con đường đi còn lại mới vững chắc được.
Tôi vẫn hay ví việc xuất gia như một người nấu cơm, như câu chuyện sau
đây:
Thông thường trong nhà có người
giúp việc, lo cho mình miếng cơm, đồ uống. Một hôm nọ người giúp việc lỡ
tay nấu cơm không chín, khi dọn cơm lên mình chê bai đủ điều. Rồi một hôm
nọ người giúp việc bận công việc ở xa không thể nấu cơm cho mình được. Do
vậy, tự tay mình phải nấu cơm. Vì không có kinh nghiệm, nên nấu cơm không
chín, khi dọn lên ăn rất ngon. Vì chính tự tay mình nấu. Việc xuất gia
cũng giống như người nấu cơm, như ví dụ đã vừa được nêu bên trên. Tuy
nhiên việc trợ duyên để một người xuất gia tu hạnh giải thoát là một công
đức không nhỏ. Nhưng trước khi xuất gia nên phát tâm bồ đề để được lợi lạc
cho chính bản thân mình cũng như cho những người đi sau trong mai hậu.
Hỏi: Làm thế nào để dứt
bỏ hết tham sân si ngã mạn trong đời sống gia đình cũng như ngoài xã hội?
Đáp: Tham, sân và si là 3 căn
bản phiền não làm cho con người mãi trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử.
Đây không phải là một vấn đề đơn thuần, mà là một chủng tử đã huân tập từ
nhiều đời nhiều kiếp, không phải đơn giản để chỉ dứt bỏ trong một đời. Nếu
muốn dứt trừ tham sân si, phải hành trì giới định huệ cũng trong nhiều
đời, nhiều kiếp mới mong trừ sạch được cội rễ nầy. Khi thực hành giới định
và huệ cần phải tinh tấn và chuyên cần, không thối thác đạo tâm trên con
đường tu học thì mới có kết quả. Ngã mạn là một vấn đề khác không liên
quan nhiều đến tham sân si, nó cũng là loại gốc rễ của tội lỗi thuộc về
trạng thái của tâm linh. Nếu ai dứt bỏ được hết, tức vô minh đã trừ diệt;
nên sự giác ngộ giải thoát có thể thực hiện trong đời nầy. Nếu ai không
thể thực hiện trong một đời được, thì phải cần nhiều thời gian để gột rửa.
Nhanh hay chậm là tùy thuộc vào mỗi cá nhân hành trì mà thôi. Muốn gia
đình được êm đẹp, muốn xã hội được an vui thì mỗi cá nhân phải tự tu tĩnh
thân tâm của mình thì cuộc sống mới thanh thoát hơn.
Hỏi: Bổn phận của một
người Phật Tử tu học tại gia ngoài việc tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền,
lễ bái hằng ngày có cần đòi hỏi thêm việc gì nữa không để sự tu tập ngày
càng tinh tấn hơn.
Đáp: Tụng kinh, niệm Phật, ngồi
thiền, lễ Phật là 4 công năng sinh động của người Cư sĩ tại gia cũng như
xuất gia. Chính nhờ những việc tu học như thế mà cái đức được phát sanh.
Cái đức nầy không do sự cầu xin mà có. Mà chính do từ sự tu học mà ra. Cái
đức nầy sẽ phát sinh ra trí tuệ. Trí tuệ giống như một ngọn đèn. Nếu chúng
ta đem ngọn đèn nầy chuyền ánh sáng qua ngọn đèn khác thì ánh sáng kia
càng ngày càng được sáng tỏ hơn. Nếu lỡ tắt một hai ngọn, ánh sáng ấy vẫn
không bị suy giảm.
Ngoài 4 công việc quan trọng
trên, người Phật Tử cần phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định và trí tuệ cũng cần phải hành trì nữa. Đây cũng là con đường của Bồ
Tát mà chúng sanh cũng cần phải thực hành. Bố thí sẽ sinh ra được cái
phước hữu lậu, là đời nầy hay đời sau sẽ giàu có an vui. Nhưng chúng ta
phải hiểu rằng, cái phước giống như cây đèn cầy, cháy mãi rồi một ngày nào
đó cây đèn kia cũng phải hết. Vì vậy, là Phật Tử tại gia nên tu học cả hai
phương diện về tu phước cũng như tu huệ; nên gọi là phước huệ song tu.
Hỏi: Trong Tịnh Độ Tông,
pháp môn niệm Phật là một pháp môn cho tất cả Phật Tử xuất gia cũng như
tại gia. Muốn đạt đến chỗ "nhất tâm niệm Phật" tràng hạt có phải là một
phương tiện cho sự định tâm không? Tại sao phải lần chuỗi? Tràng hạt có từ
thời nào?
Đáp: Niệm có nghĩa là nhớ nghĩ
hay tập trung tư tưởng. Ban đầu hành giả phải cần đến phương tiện như
tràng hạt, tượng Phật v.v... để làm chuẩn cho việc niệm Phật cũng như quán
tưởng đến Đức Phật; nhưng khi đã thuần thục rồi - nghĩa là khi sự niệm
Phật đã nhập tâm rồi thì những phương tiện ấy không cần đến nữa-. Sự lần
chuỗi giúp cho chúng ta phương tiện để định tâm, tuyệt nhiên không phải là
mục đích của sự nhứt tâm.
Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài
đã dạy về pháp môn niệm Phật như quán tượng, quán tưởng, trì danh niệm
Phật v.v... thuở bấy giờ có lẽ không dùng đến tràng hạt; nhưng khi Phật
Giáo Đại Thừa được phát triển từ Ấn Độ sang Trung Hoa do các Ngài Long
Thọ, Mã Minh, rồi các vị Tổ Sư tại Trung Hoa đã vì phương tiện mà chế ra
tràng hạt để việc trì danh niệm Phật được dễ dàng hơn chăng? Nhờ có tràng
hạt mà người niệm Phật có thể biết được số lượng cũng như thời gian trong
khi hành trì.
Hỏi: Cõi Tây Phương có
người nữ không?
Đáp: Cõi Tây Phương Cực Lạc do
Đức Phật A Di Đà làm Giáo chủ được gọi là cõi "phàm thánh đồng cư Tịnh
Độ". Có nghĩa là cả người phàm trước khi lâm chung nếu nhứt tâm niệm Phật,
cũng có thể vãng sanh về nước Cực Lạc; đã là phàm thì chắc chắn cũng có
người nữ; nhưng khi đã về được Cực Lạc rồi thì thân nữ sẽ hóa thành thân
nam. Bởi lẽ trong kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng như trong 48
lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, Ngài điều khẳng định rằng trong cõi nước
của Ngài không có đàn bà và không có 3 đường dữ như địa ngục, ngạ quỷ và
súc sanh v.v...
Từ cõi tiên trở xuống cõi người,
thân người nữ vẫn còn hiện hữu, vì trong cõi dục và cõi sắc cần có sự hiện
hữu của nữ giới; nhưng khi lên đến cõi vô sắc và cõi của chư vị Bồ Tát và
chư Phật thì các thức tự biến hóa, nên thân người nữ không cần thiết trong
việc sinh sản nữa; nên tất cả tư tưởng và hình tướng đều thể hiện hình nam
nhơn, nằm trong ý nghĩa nầy.
Giữa nữ và nam không sai biệt
nhau về Phật tánh mà chỉ sai biệt nhau về hình thức. Vì thế, khi đã thành
Phật hay về cõi giải thoát rồi thì không có chú ý về hình tướng nữa mà chỉ
quan trọng nơi tâm thức thôi.
Hỏi: Tịnh Độ Tông là gì?
Cách tu và hệ phái nầy khác với Thiền Tông, Mật Tông ra sao?
Đáp: Khi Đức Phật còn tại thế,
Ngài đã dạy vô lượng pháp môn cho chúng sanh thuở bấy giờ. Mục đích để chỉ
bày và dẫn dắt mọi người bỏ bờ mê trở về bến giác. Đây là bản hoài chính
của chư Phật. Thuở Ngài còn tại thế, tùy theo từng hoàn cảnh, trình độ của
người nghe khác nhau mà Ngài phương tiện để nói pháp. Cho đến sau khi Ngài
nhập diệt 100 năm tinh thần tông phái vẫn chưa có gì rõ ràng. Nếu có thuở
bấy giờ cũng chỉ chia ra làm hai nhóm. Một nhóm bảo thủ, muốn giữ giới
luật như thời Phật còn tại thế. Nhóm nầy gọi là Hinayana hay Tiểu Thừa
Giáo và một nhóm khác đông người hơn bảo rằng phải thay đổi trong cách ăn
uống để phù hợp với thời gian và phái nầy duy trì thay đổi mãi cho đến thế
kỷ thứ nhất về phần tư tưởng cũng như triết học; nên Đại Thừa Giáo đã được
hình thành.
Khi đạo Phật được truyền sang
Trung Hoa vào đầu kỷ nguyên thì tại Trung Hoa cũng chưa hình thành các hệ
phái rõ rệt, mãi cho đến đời Đường thuộc thế kỷ thứ 7, thứ 8 sau Thiên
Chúa, đây là thời kỳ cực thịnh của Phật Giáo Trung Hoa nên các vị chuyên
về Thiền muốn thành lập một Tông riêng, Tịnh Độ một tông riêng, Mật Tông
một tông riêng, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Luật Tông v.v... Có tất cả 10 Tông
được chuyên môn hành trì pháp môn của Đức Phật đã dạy.
Tịnh Độ Tông do Ngài Huệ Viễn
lập tông, đã khai sáng ra nền đạo nầy. Tông nầy lấy pháp môn niệm Phật làm
nền tảng của việc tu học và phương pháp để được nhập môn là lấy tín nguyện
và hạnh làm pháp môn thực hành và mục đích là cầu vào tha lực của Đức Phật
A Di Đà để khi lâm chung được tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Thiền Tông do Ngài Bồ Đề Đạt Ma
từ Ấn Độ mang sang Trung Hoa vào đời nhà Lương vào thế kỷ thứ 6 và Tông
nầy phát triển mạnh tại Trung Quốc cũng như các nước khác trên thế giới
mãi cho đến ngày nay. Tông nầy lấy tâm làm chủ. Khi nào tham thiền ngộ
được chơn tánh, lúc ấy sẽ thành Phật. Tông nầy nương vào tự lực của mình
để được giải thoát. Hình thức của tha lực rất ít thấy nơi Tông nầy.
Mật Tông lấy sự trì chú làm căn
bản trong khi tu hành. Ngài Đại Nhật Như Lai là Giáo chủ của Tông nầy.
Ngoài ra Ngài Ti Lô Giá Na Phật cũng được Tông nầy thờ phượng và lễ bái.
Cả thân mật, khẩu mật và ý mật được đồng nhứt thể, thì Như Lai tánh sẽ
hiển bày.
So ra 3 Tông phái nầy mỗi Tông
đều có một cách hành trì khác nhau; nhưng tựu chung tất cả cũng đều đưa
chúng sanh về cảnh giới giải thoát của sanh tử luân hồi và của khổ đau tục
lụy.
Hỏi: Làm thế nào để áp
dụng Đạo Phật vào trong cuộc sống hằng ngày của một Phật Tử tại gia, mặc
dầu sự phát tâm bồ đề vẫn có; nhưng những ràng buộc trong cuộc sống gia
đình vợ chồng, con cái và trong xã hội với công ăn việc làm, liệu có thể
thành Phật được không?
Đáp: Đức Phật dạy rằng tất cả
chúng sanh đều có tánh Phật. Với Phật tánh nầy chúng ta sẽ thành Phật. Bất
luận là nam hay nữ, không có sự phân chia trong trường hợp nầy. Tuy nhiên
nhanh hay chậm là tùy theo mỗi người tinh tấn đến đâu. Con đường sanh tử
rất dài, mà con đường giác ngộ cũng không ngắn. Cũng có lắm người tu chỉ
trong một kiếp rồi ngộ trong một thời gian ngắn, không cần ở kiếp thứ hai;
nhưng cũng có lắm người cần đến kiếp thứ 500 hay cho đến 1.000 kiếp mới
thành Phật được. Cõi Ta Bà nầy chỉ là cõi tạm. Mọi người đều vì sự sống mà
có sự va chạm với nhau, chiến tranh giết chóc, hận thù nên tâm từ bị giảm,
mà tham sân si ái dục càng tăng, do đó rất khó thành Phật trong kiếp nầy,
nếu chúng ta không dụng tâm chín chắn.
Hỏi: Hiện nay kinh sách
và kinh tụng có rất nhiều danh từ Hán-Việt, nên rất khó hiểu cho số đông
Phật Tử, nhất là giới thanh niên, đọc thấy không thấu triệt. Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Hải Ngoại có dự định Việt hóa các kinh sách ấy không?
Đáp: Tất cả những sách viết về
Phật Giáo bằng tiếng Việt hầu như đã viết rất thoát nghĩa. Đôi khi vẫn còn
một ít danh từ Hán-Việt. Vì lý do dễ hiểu là trong hơn 1.000 năm Việt Nam
đã lệ thuộc phương Bắc nên đa số các danh từ Hán-Việt nầy cũng hay dùng
đến, mãi cho đến gần 1.000 năm sau, người Việt vẫn không thể không dùng
các chữ Hán trong văn chương, ngôn ngữ, học thuật, triết học được. Vì vậy
ai muốn nghiên cứu sâu về Đạo Phật ắt phải tra cứu nhiều hơn, lâu ngày sẽ
thuần thục.
Riêng phần kinh tụng còn rất
nhiều bài kinh bằng chữ Hán hoặc phiên âm chữ Phạn. Tuy nhiên cũng có một
số bài đã được dịch thoát như Bát Nhã, Khể Thủ, Quy Mạng ra tiếng Việt;
nhưng khi tụng âm tiếng Việt, ý nghĩa nghe không thâm trầm bằng âm chữ
Hán; nên một số Chùa ở ngoại quốc cũng như trong nước vẫn còn dùng các bản
kinh chữ xưa lẫn nay. Đây có thể gọi là thời gian chuyển tiếp; trong tương
lai thế hệ trẻ có thể xử dụng chỉ một bản kinh tiếng Việt cũng đầy đủ rồi.
Ngôn ngữ là nếp sống cao của
cuộc sống tâm linh. Vì vậy nếu ngôn ngữ càng phong phú chứng tỏ rằng cuộc
sống tâm linh rất đa dạng. Vì vậy những nhà học Phật cần tra cứu nhiều hơn
thì nghĩa lý mới sáng tỏ hơn.
Hỏi: Làm cách nào để dẹp
được tâm sân hận khi có người làm cho mình giận?
Đáp: Sở dĩ mình giận người đối
diện, vì mình chấp vào lời nói của người ấy. Điều thứ hai không kém phần
quan trọng hơn là mình nghĩ mình bị xúc phạm, chạm đến tự ái. Khi nào mình
xem lời nói của đối phương là điều không có thật; nó chỉ là một sự giả
danh mà có. Khi nào mình tự dẹp bỏ được sự chấp trước nơi tâm thức của
mình, thì lúc ấy tham sân si của mình sẽ khó mà hiện diện nơi tâm thức của
mình. Sau đây là một câu chuyện đã xảy ra khi Đức Phật còn tại thế. Xin kể
lại để chúng ta rút kinh nghiệm từ cái nhìn siêu việt của Đức Phật.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn
bà ngoại đạo, không muốn đạo của Đức Phật càng ngày càng được dân chúng
tin theo; nên bà ta theo một mật lệnh nào đó, ngày đêm đến trước vị Giáo
chủ của Đạo Phật là Đức Thích Ca để tìm cách chửi mắng Ngài. Ngày đầu tiên
bà ta chửi mỏi miệng rồi nghỉ; đến ngày thứ 2 bà ta cũng bắt đầu bằng sự
chửi rủa bâng quơ và đến ngày thứ 3, bà vẫn chửi như trước; nhưng sức đã
kiệt, mà Đức Phật, một bậc đại giác ngộ đã chả thốt nên một lời. Đoạn bà
đến trước Đức Phật gần hơn để hỏi Ngài rằng:
- Tôi hỏi ông là người hay sỏi
đá?
- Ta là người; nhưng khác với
mọi người. Đức Phật trả lời thế.
- Vậy ông có nghe những lời của
tôi chửi mắng ông trong 3 ngày nay không?
- Ta có nghe, nhưng diều ấy
không thuộc về ta. Đức Phật từ tốn trả lời thế. Sau đó Đức Phật hỏi lại bà
ta rằng:
- Ví dụ như nhà bà có đám giỗ,
sau đó đem một số mâm cỗ nào cơm, canh, rau, thịt đến biếu người hàng xóm.
Nhưng người hàng xóm không nhận món cỗ biếu kia, vậy mâm cỗ ấy sẽ thuộc về
ai?
- Thì thuộc về người hàng xóm,
chứ thuộc về ai nữa. Người đàn bà trả lời thế.
- Cũng như vậy đó! những gì nhà
ngươi đã mang lại chửi mắng 3 ngày nay; nhưng cái đó không thuộc về ta,
vậy xin trả lại cho người.
- Người đàn bà há hốc mồm trước
một bậc siêu phàm như thế.
Đúng là một câu chuyện mà trên
thế gian nầy có một không hai. Vì thông thường chúng ta hay ăn miếng trả
miếng, không bao giờ nhường nhịn lẫn nhau. Vì vậy nên mới có sân hận triền
miên và chiến tranh loạn lạc. Còn những bậc Đại Giác Ngộ thì khác xa những
người tầm thường của nhân thế.
Hỏi: Theo quan điểm của
Phật Giáo, con người có nguồn gốc từ đâu? và theo thuyết tiến hóa của
Darwinn trái với quan điểm của Phật Giáo như thế nào?
Đáp: Đạo Phật quan niệm rằng mỗi
chúng sanh sanh ra trong thế giới nầy vì do nhân duyên và nghiệp lực mà
có, rồi chính do nhân duyên và nghiệp lực xoay chuyển mà tồn tại rồi mất
đi. Con người có mặt trên quả địa cầu nầy từ vô thỉ. Ngày nay khoa học vẫn
chưa xác định chính xác là loài người xuất hiện vào mấy trăm triệu năm về
trước và vẫn chưa có kết luận cuối cùng. Dần dà thuyết của Đạo Phật lại
tương ứng với khoa học nhiều hơn.
Thuyết 12 nhân duyên của Đạo
Phật đã nói lên rõ ràng về nguồn gốc của vũ trụ và nguồn gốc của con
người. Darwinn nghĩ rằng loài người là những động vật từ khỉ biến hóa
thành; nhưng ở đây và bây giờ nhiều nhà khoa học đã khám phá ra rằng khỉ
thông minh hơn những loài động vật khác và gần với loài người nhất; nhưng
vẫn chưa hẳn là hoàn toàn đúng. Vì ngày nay có nhiều chú khỉ vẫn chưa
thành người và cũng có lắm người vẫn còn tư tưởng của khỉ. Điều nầy chỉ
chứng thực với sự luân hồi chứ không thích hợp với thuyết tiến hóa của
Darwinn. Vì lẽ một bên thì chủ trương rằng do nghiệp mà có, còn một bên
khác chủ trương rằng do một vật có sẵn hay một đấng sáng tạo tạo thành.
Điều nầy thấy rất ít tồn tạo trong giáo lý của Đạo Phật.
Hỏi: Nhân loại tiến bộ
do lý trí. Nhưng đã dùng lầm đường nên nay đã hủy hoại thiên nhiên. Vậy
làm sao để dùng lý trí một cách xác thực hơn?
Đáp: Trong chúng sanh có 2 phần.
Một phần thuộc về tâm thức (lý trí) và một thuộc về thể xác (vật chất).
Hai vấn đề nầy bổ sung và cộng hưởng với nhau. Cái nầy sẽ không tồn tại
được, nếu không có cái kia. Con người thường hay ỷ vào lý trí của mình nên
mới đi sát hại thiên nhiên và muốn cho thiên nhiên cung phụng cho loài
người đủ mọi tiện nghi vật chất; nhưng họ không ngờ rằng, chính vì sự sát
hại thiên nhiên đó, như phá rừng, thử bom nguyên tử, giết hại các súc vật,
cây cỏ v.v... đã làm cho môi sinh trở nên ô nhiễm. Chính loài người đã bị
sự ô nhiễm nầy làm nên bịnh tật khó chữa trị. Vậy điều căn bản là loài
người hãy biết dừng lại nơi nào để được bảo vệ cho cả hai. Đó chính là sự
thể hiện của lý trí. Nếu không biết tự dừng lại thì chính loài người cũng
không còn tồn tại lâu dài hơn trên quả đất nầy nữa, mà thiên nhiên cũng
không thể bảo vệ con người, khi con người quá tàn nhẫn với thiên nhiên.
Hỏi: Đạo Phật có nói về
nhân quả và nhân duyên. Hai chữ nhân đó có là một chữ và một nghĩa không?
Liên hệ giữa 2 thuyết đó như thế nào?
Đáp: Nhân ở đây có nghĩa là
nguyên nhân; quả có nghĩa là kết quả; duyên có nghĩa là tùy thuộc vào. Hai
chữ nhân nầy nếu viết bằng chữ Hán, có ý nghĩa giống nhau. Nhưng thế nào
là nhân duyên và thế nào là nhân quả? Ví dụ một người đem hạt bầu để gieo
và sau 4 tháng thì hái trái. Đó là nhân quả, với cái nhân đem ương hạt bầu
và qua thời gian ngắn 4 tháng lại gặt được quả bầu; nhưng cái duyên để có
được trái bầu là nhờ vào phân, nước, thời tiết và công lao chăm sóc của
người trồng. Cái duyên nầy rất quan trọng. Nhiều khi cái nhân tốt; nhưng
thiếu trợ duyên thì quả sẽ sinh ra trái xấu. Hai thuyết nầy liên quan rất
chặt chẽ như hình với bóng. Nếu hình ngay thì bóng thẳng, hình vẹo thì
bóng cong. Đơn giản thế thôi. Nhưng rất quan trọng. Cũng có nhiều nhân gây
ra trong đời nầy nhưng mãi đến nhiều đời sau mới gặt; hoặc giả cũng có
nhiều loại quả phải chờ đến nhiều kiếp sau mới sinh trưởng vì lệ thuộc bởi
duyên và nghiệp mà mỗi loại nhân đã gây ra. Tựu chung, nếu nhân tốt và
duyên tốt thì sẽ sinh ra quả lành. Nếu một trong ba yếu tố ấy không bổ
sung cho nhau thì kết quả sẽ sinh ra khác.
Hỏi: Nhân duyên chuyển
biến sinh ra mọi vật. Vậy có đúng là bản thể của nhân duyên là biến chuyển
không? Và sự biến chuyển đó rất là vô tận, rộng lớn? Nếu cái biến chuyển
đó phức tạp như thế, làm sao chúng ta có thể định trước được (Tây Phương
có phép tính xác xuất). Làm sao chúng ta ảnh hưởng và thay đổi được nhân
duyên để hướng về cái tốt đẹp hơn?
Đáp: Nếu nói bản thể của nhân
duyên là sự biến chuyển cũng không hoàn toàn đúng. Ví dụ muốn có trái mít
phải trồng hạt mít, mà ở sự tác ý đem trồng hạt mít, cái nhân duyên nầy
nằm nơi A Lợi Da Thức của con người. Đó là tâm vương. Tâm là chủ của tất
cả vạn pháp và pháp sẽ biến hóa vô cùng. Lối tính xác xuất là lối tính hữu
hình, đem cái hữu hình để đo lường cái vô hình là điều khó thực hiện. Một
ví dụ khác có thể hiểu được điều nầy như sau: Một hôm nọ có một người bạn
đến rủ mình đi chơi; nhưng vì đã định đi Chùa trước, nên trả lời rằng: Hôm
nay tôi không đi chơi với anh được. Vì tôi sẽ đi Chùa. Vậy thì cái gì làm
cho mình không đi chơi và cái gì làm cho mình đi Chùa? Tất cả đều do tâm
làm chủ và tâm sai khiến. Nếu chuyển tâm được thì cảnh sẽ chuyển được.
Thông thường vì thiếu trí tuệ (chứ không phải thiếu thông minh) nên chúng
ta để cảnh chuyển tâm; nên mới có kết quả trái ngược. Nếu tâm chuyển được
cảnh thì đó là một xác xuất rất cần thiết và đứng đắn nhất để hướng về cái
tốt đẹp hơn. Tất cả đều do mình làm chủ và do mình chịu trách nhiệm với
việc làm của mình. Nhân duyên chỉ là một việc lệ thuộc bởi tâm; nếu tâm
vững vàng thì nhân duyên sẽ thay đổi theo tâm và phải nương vào tâm để tồn
tại và phát triển. Ác hay thiện, tà hay chánh, chơn hay ngụy, tốt hay xấu
v.v... tất cả cũng đều do tâm mình tạo tác mà thành. Nên trong kinh Hoa
Nghiêm có câu: "Tất cả đều do tâm tạo" cũng từ ý nghĩa nầy.
Hỏi: Ai cũng có tâm Phật
và có cơ hội thành Phật. Ở trong đời mạt pháp nầy đã có ai chứng thành
Phật quả chưa?
Đáp: Đức Phật dạy rằng: Tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh. Vì vậy, ai cũng có thể thành Phật. Thời gian
lâu hay mau lệ thuộc nơi sự hành trì của chúng sanh đó. Thời chánh pháp vì
có Phật ra đời nên đã có nhiều người chứng quả A La Hán, hoặc Bồ Tát;
nhưng thời mạt pháp cũng không phải là không có, chỉ ít hơn thời chánh
pháp và tượng pháp thôi. Ví dụ Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng chẳng hạn.
Ngài là hóa thân của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, chứng đạo ngay trong cuộc
sống nầy và còn nhiều vị hiển thánh khác nữa; nhưng những vị nầy ít xuất
hiện, nên chúng ta không thấy, chứ không phải là không có.
Ở Việt Nam có Hòa Thượng Quảng
Đức, sau khi thiêu xác, quả tim vẫn còn, mặc dầu lửa đốt đến 4.000 độ tim
vẫn không cháy. Đó không phải sự chứng đạo là gì. Hoặc giả hai vị Thiền sư
Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường sau khi chết, nhục thân vẫn còn nguyên vẹn.
Đã hơn 100 năm trôi qua; nhưng tư thế ngồi kiết già để thị tịch, quả là có
một không hai trong thời kỳ mạt pháp nầy.
Nhân duyên là một yếu tố không
kém phần quan trọng trong khi tu hành. Vì vậy cầu nguyện cho chướng duyên
đừng đến trong khi phát tâm cầu đạo không phải là điều không cần thiết.
Hỏi: Khi hành giả niệm
Phật, tọa thiền cần dụng công như thế nào cho đúng?
Đáp: Khi niệm Phật, miệng niệm
danh hiệu Phật, tâm luôn nhớ nghĩ đến Phật, cố gắng đừng cho gián đoạn,
niệm thành tiếng hay niệm thầm cũng được; nhưng điều cốt yếu là phải rõ
ràng, thành tâm và tự chủ. Pháp môn niệm Phật rất cần thiết cho người sống
cũng như kẻ mất. Vì thế chư Phật, chư Bồ Tát và chư Thánh Tăng đều phát
nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.
Tọa thiền cũng cần có chánh
niệm. Muốn chánh niệm được liên tục phải cần quán sát hơi thở cho đến khi
thuần thục. Không nên cho gián đoạn sự suy niệm về hơi thở về vô thường,
khổ, không và vô ngã. Tất cả những phép quán nầy sẽ làm trợ duyên cho việc
hành đạo. Thế ngồi phải ngay thẳng. Khi nào tâm tán loạn thì hãy buông xả,
không nên cố gắng quá sức, đầu óc sẽ bấn loạn và tâm mình không thanh tịnh
thì không thể điều hòa thân cũng như tâm. Trong trạng thái như vậy nên
nghỉ ngơi vẫn hơn.
Hỏi: Trong khi dụng công
có phải nên gặp Phật diệt Phật, gặp ma diệt ma không?
Đáp: Ở giai đoạn đầu thường thấy
những hôn trầm và tán loạn. Đây có thể gọi là ma chướng. Chúng ta nên loại
trừ chúng ra khỏi tâm mình. Đây gọi là ma phiền não. Khi ngồi thiền được
thuần thục, các cảnh giới khác hiện ra nơi tâm mình, cũng không nên chấp
trước vào đó. Vì tất cả những cảnh nầy đều giả danh chứ không phải là thực
tướng; nhưng vì thức chấp ngã cho rằng có thật; nên hành giả hay bị lầm là
vậy. Vì thế, nói gặp Phật diệt Phật là vậy. Mà dẫu cho có gặp Phật trong
khi ngồi thiền cũng nên buông xả đi. Vì lẽ ta chưa chứng đạo; nên những
cảnh ấy không do trí tuệ mà có, chỉ do sự mơ ước được gặp Phật, nên có
Phật mà thôi.
Hỏi: Khi trì chú có cần
điều kiện gì không?
Đáp: Trì chú cũng là một công
năng tu tập giúp hành giả định tâm được dễ dàng. Mặc dầu những thần chú, ý
nghĩa chúng ta không hiểu biết; nhưng mỗi một vị Phật, một vị Bồ Tát có
một mật hạnh khác nhau. Khi hành mật hạnh tức đã dung thông ba cõi; trong
mật chú ấy đã đầy đủ sức gia trì. Công đức thật không nhỏ.
Khi trì chú tụng kinh thì nên ăn
chay, việc trì chú tụng kinh mới hiệu nghiệm hơn như trong kinh Địa Tạng
đã dạy. Ngày thường không phải là rằm hay mồng một cũng có thể trì chú
tụng kinh được, tuy nhiên phước báu không bằng những ngày ăn chay, cữ ngũ
vị tân và không ăn thịt của chúng sanh.
Hỏi: Sự khác biệt giữa
trí tuệ và trí huệ cũng như trí huệ bát nhã như thế nào? Xin cho thí dụ.
Đáp: Nếu viết chữ Hán thì chữ
trí tuệ và trí huệ giống nhau và ý nghĩa cũng không có gì khác nhau cả. Vì
âm tiếng Việt có hai cách đọc là tuệ và huệ nên có nhiều người nghĩ rằng
nghĩa khác, chứ thật ra không khác. Chữ trí tuệ bát nhã ghép chung như vậy
không đúng. Chữ bát nhã dịch từ tiếng Phạn Pjragna cũng có nghĩa là trí
tuệ. Có thể nói Pjragna riêng biệt với chữ trí tuệ và hai từ nầy không cần
đi chung nhau. Vì như thế sẽ trở thành điệp ngữ.
Muốn tu chứng trí tuệ phải giữ
giới và thiền định. Có giữ giới thì tâm mới an tịnh và có thiền định thì
tâm mới lắng sâu xuống để gạn lọc những phiền não của cuộc đời. Người có
trí tuệ không phải là người thông minh, mà là người biết được nguồn gốc
của sự khổ đau và phương pháp diệt khổ để đi đến sự an lạc tự tại. Nếu ai
biết nhận chân ra giá trị đó, tức người có trí tuệ.
Hỏi: Sự khác biệt giữa
tâm đối với thân theo nghĩa trong kinh và tánh đối với tướng như thế nào?
Đáp: Tâm tượng trưng cho tinh
thần không có hình tướng; thân tượng trưng cho vật chất, sắc trần, có hình
tướng, trông thấy và sờ mó được. Tánh là chiều sâu thẳm của tâm, là căn
nguyên của thiện và ác. Tướng là mặt nổi của tâm; những gì tánh móng động
thì tâm sẽ sanh khởi. Ví dụ như phiền não chẳng hạn. Những gì thể hiện nơi
hành động vui, buồn, giận hờn, thương ghét v.v... tất cả đều bắt nguồn từ
tánh rồi chuyển qua tâm để nổi lên bên trên, do đó ta có thể cảm nhận được
những sự thể ấy.
Tâm và thân, tánh và tướng nương
nhau mà tồn tại như hình với bóng. Nếu cái nầy thay đổi thì cái kia cũng
bị ảnh hưởng, và ngược lại cũng thế, cả ảnh hưởng xấu lẫn ảnh hưởng tốt.
Sự luân hồi sanh tử từ đây mà phát sanh rồi chuyển qua nghiệp để đi đầu
thai trong vạn nẻo đường trần.
Hỏi: Phát tâm thành Phật
đạo và nguyện độ chúng sanh là hai hay là một thực thể?
Đáp: Sự phát tâm để thành Phật
là căn bản của sự tu hành; nhưng nguyện trở về cõi Ta Bà để độ sanh hay
không là do tâm nguyện của Bồ Tát hạnh. Nếu là A La Hán thì các vị nầy chỉ
muốn chứng nhập Vô Dư Niết Bàn rồi ở mãi trong cảnh tịch diệt ấy, chứ
không rời bỏ chánh niệm. Chỉ những vị Bồ Tát, nếu có phát nguyện độ sanh,
chính quý vị nầy sẽ đầu thai trở lại để cứu khổ muôn loài. Điều nầy không
bắt buộc. Tùy theo hạnh nguyện của mỗi người mà thành.
Hỏi: Phát tâm và nguyện
để thành Phật và "tu bất cầu đắc", hai câu nầy có trái nghĩa hay không?
Đáp: Khi còn đau khổ thì con
người muốn giải thoát khỏi sự phiền não. Nhưng khi đã được giải thoát rồi
thì cầu chứng đắc cũng bằng thừa; nên câu nầy có nghĩa là khuyên nhắc
chúng ta phải mau đổi hướng để lên bờ giải thoát vậy. Nếu chưa giải thoát
thì chắc chắn vòng luân hồi vẫn còn kiểm soát tâm thức của mình. Đúng ra
tu thì khôngcầu chứng. Đây cũng là tinh thần của Kim Cang và Bát Nhã. Vì
đã dụng công ắt có ngày sẽ thành công. Quả vị ấy tự nhiên đến chứ không
cần cầu. Nhưng sự cầu ở đây có nghĩa là cầu giải thoát, chứ không phải cầu
lợi lạc về phương diện vật chất riêng tư cho mình thì không có lỗi lầm gì
cả.
Hỏi: Dưỡng tâm như
dại là tuyệt xảo
Học tới như
ngu mới diệu kỳ.
Đây có phải là tiếng
không của tâm linh không?
Đáp: Đây là hai câu đối để định
nghĩa về sự dại và ngu trong cuộc đời. Chữ dại ở câu trên không có nghĩa
là dại khờ, mà dại ở đây có nghĩa là hoàn hảo và chữ ngu ở câu dưới cũng
không phải là người không có trí, mà chữ ngu nầy có nghĩa là không còn
biết gì nữa, gần giống như chữ vô học nơi ý nghĩa của A La Hán vậy.
Đức Phật cũng thường hay dạy
rằng: Người trí mà biết mình là trí, kẻ ấy là kẻ ngu. Người ngu biết mình
ngu thì kẻ ấy mới thật là trí.
Hai câu trên nói về sự đối đãi
của tâm và sự học hỏi trong cuộc sống; chứ chưa thoát ra khỏi sự chấp có
và chấp không; nên chưa thể hiện trọn vẹn tinh thần không của Bát Nhã.
Không của Bát Nhã là không nương vào hình tướng cũng như âm thanh và màu
sắc để có được tất cả những diệu dụng của chơn tâm.
Hỏi: Hai nhóm từ:
"phản quan tự kỷ" và "trở về chân tâm" có khác nghĩa nhau không? Nếu khác
thì khác ở điểm nào?
Đáp: Nếu giải thích từng chữ một
theo nghĩa tiếng Việt thì như sau: Chữ phản có nghĩa là trở lại, quan là
xem, thấy, nhìn; tự kỷ là chính mình. Câu nầy dịch chung có nghĩa là là
"nhìn ngược lại chính mình". Còn câu trở về chân tâm cũng có nghĩa là trở
về với chính mình vậy. Con đường đến Đạo Phật là con đường trở về với
chính mình. Nếu mình không làm chủ được mình thì sự tu học chưa dụng công
đầy đủ. Nếu chỉ đi tìm cầu phía bên ngoài và nội tâm thì không lo kiểm
soát bởi chính mình thì sự tu học ấy thiếu đi chiều sâu và sẽ không đạt
đến kết quả.
Hỏi: Chúa Giê-Su có
nói với con chiên của Ngài rằng: "Các con hãy yêu thương Chúa và người
khác như chính yêu thương mình vậy". Từ "yêu thương" của Chúa Giê-Su nói
có khác với từ "từ bi" của Đạo Phật không? Nếu khác thì khác ở điểm nào?
Đáp: Đạo Chúa có chữ "bác ái".
Đạo Phật có chữ "từ bi". Chữ "bác" có nghĩa là rộng khắp, "ái" có nghĩa là
yêu thương. Chữ "từ" có nghĩa là lòng nhân của con người, "bi" có nghĩa là
vì tình thương mà cứu giúp. So ra hai chữ vẫn có sự khác biệt. Tuy nhiên
việc hành trì lệ thuộc vào mỗi động tác của công việc thì đúng hơn. Ví dụ
Chúa vì chuộc tội cho nhân sinh nên chịu đóng đinh. Phật vì cứu khổ cho
chúng sanh; nên đã xả bỏ tất cả những gì riêng tư của chính mình để đi tìm
đường cứu khổ.
Tất cả mọi danh từ đều có tính
cách đối đãi với nhau. Điều quan trọng nơi đây là hành động thể hiện việc
làm ấy, chứ không phải hình thức rao nói việc làm.
Hỏi: Trong Đạo Phật
tại sao rất nghiêm khắc đối với những người không giữ đúng giới luật?
Nhưng trong pháp môn niệm Phật thì cho rằng dầu tốt hay xấu, khi lâm chung
nếu nhứt tâm niệm sẽ được Đức Phật trợ niệm vãng sanh. Sự khác biệt giữa
hai việc nầy ra sao?
Đáp: Giới được dịch là biệt giải
thoát, là hàng rào ngăn cản tội lỗi. Nếu ai giữ trọn các giới cấm thì tư
cách của người đó trang nghiêm thanh tịnh, sẽ được lợi lạc cả tâm linh lẫn
hình tướng. Nhưng nếu giữ không tròn, tự người đó chịu lỗi, chứ người khác
không chịu thay cho mình. Vì vậy sự sám hối cần phải thể hiện nhiều hơn
khi có lỗi, chứ không phải bị trừng phạt bởi một ai cả, ngoại trừ chính
mình.
Đức Phật A Di Đà là tha lực.
Ngài sẽ dìu chúng ta vào cõi bất sanh, bất diệt. Nhưng khi vào đó rồi thì
phải tự tu thì hòn đá nghiệp kia mới tan đi từ từ cũng giống như tội lỗi
của mình phải tự sám hối vậy. Tuyệt nhiên Đức Phật A Di Đà sẽ không làm
cho mình hết tội, ngoại trừ chính mình phải tự tu. Chỉ một điều duy nhất
được lợi lạc là, khi sanh về thế giới Cực Lạc không còn bị tái sanh trong
vòng luân hồi sanh tử nữa. Điều ấy đã minh xác được qua lời nguyện của chư
Phật để chúng ta vững lòng mà tu tiếp vậy.
Hỏi: Một người thường
đi Chùa, lạy Phật, ăn chay, làm công quả Chùa, ai nhìn vào cũng nói người
đó là một Phật Tử thuần thành. Nhưng khi học giáo lý thì không tham dự,
không đọc kinh sách, không nghe băng giảng. Khi xúc sự ồn náo thô tháo,
chấp chặt. Xin định nghĩa rõ, thế nào là một Phật Tử thuần thành, đúng
nghĩa. Thân, miệng, ý cần hợp nhất hay không?
Đáp: Mỗi chúng sanh đi vào đời
nầy bằng một loại nghiệp khác nhau. Lành, dữ, thiện, ác đều có sai khác.
Vì do chúng sanh đã tạo ra trong nhiều đời nhiều kiếp, trong hiện tại chỉ
là kết quả của những gì đã tạo ra trong quá khứ, nên quả của chúng sanh
trong kiếp nầy cũng không đồng nhau. Vì thế Đức Phật có chế ra 5 giới cho
người tại gia. Nếu ai giữ tròn 5 giới thì đời nầy và đời sau luôn luôn
được mọi người kính trọng, thân trang nghiêm, tướng lưỡi rộng dài, hay nói
ra những lời chân thật và được mọi người tin cẩn. Nếu ai không giữ tròn
được 5 giới, đương nhiên có chỗ khiếm khuyết, do đó không được sự hộ trì
của chư thiên, hộ pháp và ngay cả loài người. Một người có quy y Tam Bảo
và thọ trì ngũ giới được gọi là một người Phật Tử chân chính. Điều nầy
khác với một Phật Tử thuần thành. Người nầy cũng có thể đã quy y mà cũng
có thể chưa quy y. Người nầy hay đi Chùa làm phước, làm công quả v.v...
biết rõ giáo lý căn bản của Đạo Phật.
Có những người chỉ ham tu phước
như cúng dường xây chùa, hộ trì Tăng Ni tu học v.v... nhưng ít tham gia
những buổi thuyết pháp hoặc nghe kinh giảng, vì điều kiện gia đình của họ
không đủ thì giờ chẳng hạn. Vì vậy cũng không nên trách họ, vì họ chưa có
điều kiện đó thôi. Nếu chỉ tu phước thì đời sau sẽ hưởng được phước còn
huệ thì không. Vì vậy chư Tổ vẫn thường hay khuyên là nên có đầy đủ phước
huệ song tu là vậy.
Cũng có người chỉ tu huệ; ngược
lại khi nhờ làm phước việc gì đó thì không làm mà còn chê bai, coi thường
v.v... cả hai thái độ ấy đều không phải là một người Phật Tử thuần thành.
Vậy là Phật Tử phải cần nên giữ thân khẩu ý cho thanh tịnh học hỏi kinh
luật luận, để khi hữu sự xảy đến, nên áp dụng đúng theo lời Phật dạy thì
công đức của người ấy không nhỏ. Chúng ta cũng không nên thấy người khác
làm hoặc không làm mà sinh thối tâm. Việc nầy lệ thuộc nơi mỗi cá nhân và
chính mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm việc của mình làm và không ai chịu
thay cho ai được cả.
Hỏi: Trong kinh Phật
dạy: "ba nghiệp hằng thanh tịnh". Tức ba nghiệp thân khẩu và ý. Nhưng
thanh tịnh như thế nào? Xin giải cho biết về sự thanh tịnh của từng
nghiệp.
Đáp: Chúng sanh sanh ra trong
đời mạt pháp nầy phước mỏng mà nghiệp dày, tội nhiều mà phước ít, chướng
nhiều mà huệ mỏng. Vì thế, tu hành trong thời mạt pháp nầy để gạn lọc thân
tâm không phải là điều đơn thuần. Nhưng cũng không phải là không có người
làm được.
Chữ thanh tịnh ở đây có nghĩa là
gạn lọc. Cũng giống như gạn đục khơi trong vậy. Thân, khẩu, ý chúng ta
cũng giống như một ly nước vậy. Làm cho ly nước đục thì dễ; nhưng làm cho
ly nước trong phải cần dụng công thật tinh vi. Nhưng nước trong cũng không
có nghĩa là không còn bụi bặm nữa. Bụi nằm ngay dưới đáy ly, hay ở tận
cùng nơi tâm thức, chờ ngày tâm mình chao đảo thì bụi kia lại nổi lên lại.
Do đó, muốn sự thanh tịnh được dài lâu vĩnh cửu thì phải dụng công bằng 4
phương pháp: tụng kinh, trì chú, tọa thiền và lễ bái. Đây là 4 chất xúc
tác lớn để làm cho tâm được thanh tịnh và 4 chất nầy là những tia phóng xạ
cực mạnh, đẩy lui đi tất cả những bụi bặm đóng dưới đáy ly kia, hay nói
khác hơn là làm tiêu trừ phiền não, ma chướng tham sân si để giới định huệ
được bừng sáng dậy. Ăn thua nơi dụng công, nếu sự dụng công triệt để thì
nghiệp nào dầu lâu đời lâu kiếp có căn sâu từ trong vô lượng kiếp vẫn có
thể cắt đứt được như thường. Điều quan trọng nằm ở tâm ta, chứ không nằm
phía bên ngoài.
Hỏi: Trong tương lai
Phật Giáo Việt Nam sẽ như thế nào?
Đáp: Câu hỏi nầy phải chia ra
làm hai phần để trả lời. Một phần ở trong nước và một phần ở ngoại quốc.
Phần trong nước: Sau hơn 20 năm
người Cộng Sản nắm quyền (1975-1996) mọi sự tự do Tôn Giáo đều bị cấm
đoán, cũng giống như trường hợp của Tây Tạng, chính quyền chỉ cho Phật
Giáo hay các Tôn Giáo khác do chính quyền lập ra hoạt động dưới sự kiểm
soát của nhà nước và quyền quyết định sinh hoạt, diễn giảng v.v... đều
thuộc về nhà nước chứ không thuộc về Giáo Hội. Về mặt chính trị lúc nào
cũng có hai phía để đương đầu: một bên tuyên truyền và một bên phản tuyên
truyền. Bên nào cũng có lợi mà bên nào cũng có hại cả. So ra trên mặt nổi,
Phật Giáo vẫn còn tồn tại; nhưng đi sâu về vấn đề phát triển thì tại Việt
Nam trong hiện tại chiều sâu không có, chỉ duy trì vấn đề lễ bái là nhiều.
Tuy có một vài Phật Học Viện vẫn được mở cửa, tiếp nhận Tăng sinh; nhưng
cả một nước Việt Nam mà không có hơn 10 trường Đại Học Phật Giáo thì quả
là điều khiêm tốn vô cùng. Tuy nhiên người Cộng Sản cũng không thể nào
tiêu diệt được niềm tin của quần chúng Phật Tử đối với Phật Giáo nói riêng
hay các Tôn Giáo khác nói chung. Họ chờ ngày tự do, sẽ phát triển lại,
giống như người Phật Tử miền Bắc đã chịu đựng mấy mươi năm nay, bây giờ họ
bắt đầu thể hiện tinh thần học Phật bằng nhiều phương diện khác nhau.
Còn Giáo Hội truyền thống tuy bị
trù dập, đàn áp, khống chế, bắt bớ, giam cầm; nhưng với những vị lãnh đạo,
đây chỉ là chướng duyên như bao chướng duyên khác trong cuộc sống cần phải
đấu tranh và chống đỡ lại và chờ ngày đẹp trời sẽ có cơ phục hoạt.
Đối với Phật Giáo Việt Nam tại
ngoại quốc ngày nay, càng ngày sự học Phật của người Phật Tử càng tiến bộ
hơn. Với 2 triệu người hiện có mặt khắp nơi trên thế giới, đa số là Phật
Tử, với sự hiện diện của hơn 400 ngôi Chùa và 400 Tăng Ni hiện hành đạo
khắp đó đây là một gia bảo rất lớn cho những thế hệ đi sau, họ sẽ kế tục
để thừa hành những công việc của những thế hệ đi trước đã làm. Có một số
Phật Học Viện, Tu Viện đã và đang đào tạo các Tăng Ni sinh nề nếp, sống
đời đạo hạnh, lo tu học và phục vụ con người trên nhiều bình diện văn hóa,
xã hội từ thiện, triết học v.v... Đây là một niềm vui và từ đó người Phật
Tử Việt Nam cũng như người ngoại quốc sẽ có thêm phần lợi lạc về vấn đề
tinh thần.
20 năm trong một thế kỷ là ngắn;
nhưng với 1.000 hay 2.000 năm sau nữa, đây là bước căn bản để mang Đạo vào
Đời cho các thế hệ mai sau. Nếu nền tảng nầy vững chắc thì các lâu đài sẽ
được xây dựng trong nay mai trên nền móng tâm linh ấy sẽ được phát triển
không ngừng nghỉ. Đây là một điều rất quan trọng và cần thiết cho Cư sĩ
tại gia lẫn người xuất gia.
Hỏi: Theo tinh thần
Đại Thừa, chúng sanh phát bồ đề tâm, lập nguyện thượng cầu Phật đạo, hạ
hóa chúng sanh. Còn theo tinh thần Tiểu Thừa có phải chúng sanh cũng phải
phát tâm, lập nguyện dứt đoạn các phiền não cầu giải thoát, chúng ta có
được dùng chữ phát bồ đề tâm để chỉ cho tinh thần Tiểu Thừa hay không?
Đáp: Chữ Bồ Đề Tâm dịch sát
nghĩa là tâm giác ngộ. Chữ giác ngộ gồm có 3 nghĩa là tự mình giác ngộ cho
mình, sau khi được giác ngộ rồi, đem sự giác ngộ ấy cho chúng sanh. Điều
này gọi là giác tha. Nếu muốn tiến lên quả vị Phật Bồ Tát của Đại Thừa
phải phát tâm dõng mãnh hơn nữa, khi nào làm tròn hai công hạnh tự giác và
giác tha thì quả vị mới tròn đầy. Đây gọi là phát đại thừa tâm để cầu
thành Phật quả.
Tiểu Thừa khác với Nguyên Thủy
Phật Giáo, xin đừng hiểu lầm. Tiếng Sanscrit gọi Tiểu Thừa là Hynayana, mà
Nguyên Thủy gọi là Theravada. Tiểu Thừa Giáo vẫn cầu giác ngộ; nhưng đa
phần các vị A La Hán của Thánh quả nầy khi đã chứng nhận được địa vị vô
sanh rồi, thường hay ở luôn nơi Niết Bàn và ít có phát nguyện trở lại Ta
Bà để độ sanh. Do đó phát bồ đề tâm của Đại và Tiểu Thừa có sự khác biệt
nhau như thế.
---o0o---
Mục Lục |
Phần 1 |
Phần 2 |
Phần 3 | Phần 4