Phật Giáo Với Con Người
Thích Như Điển
---o0o---
CHƯƠNG HAI. (2f)
Tinh thần Phật Giáo
đối với các dân tộc Á Châu và Âu Mỹ
Bây giờ
chúng ta thử
điểm
một
vòng về
sự
sinh hoạt
cũng
như ảnh
hưởng
của
Phật
Giáo tại
các châu lục
khác như Mỹ
Châu và Úc Châu
để
chúng ta có một
cái nhìn chính xác hơn.
Tuy Mỹ
và Úc là hai
châu lục khác nhau, nhưng
sự hình thành về
địa
lý và nhân chủng
gần
giống
nhau, cũng
chỉ
mới
200 năm lập
quốc
và các châu lục
nầy
mang đầy
đủ
ý nghĩa
của
nó là một
Hợp
Chủng
Quốc
Hoa Kỳ,
có nhiều
sắc
dân đến
sinh sống
nơi đây.
Úc cũng vậy.
Úc là độc
quyền
của
người
Anh cai trị;
nhưng trong
thế kỷ
thứ
20 nầy
ngoài người
Âu Châu định
cư tại
đó,
còn có nhiều sắc
dân của
Á Châu đến
vùng nầy
để
sinh sống.
Khi người
di dân ra đi định
cư ở
một
xứ
nào là họ
mang theo một
gia bảo
tinh thần
rất
to lớn.
Đó
là niềm tin vào một
tôn giáo. Như
người Thiên Chúa Giáo hoặc
Tinh Lành Giáo
đến
Mỹ
Châu, người
theo Anh giáo
đến
Úc và người
Phật
Tử
đến
từ
Á Châu họ
cũng
đã
mang đạo Phật
vào châu lục
nầy.
Nhân cuộc
cách mạng
Tân Hợi
năm 1911 ở
Trung Hoa cũng
đã
có một số
nhà Sư và Phật
Tử
sang định
cư tại
Hoa Kỳ,
hoặc
một
số
người
Nhật
đến
sinh sống
tại
Hawaii chẳng
hạn.
Bước
ban đầu
của
người
định
cư chỉ
là bước
đi rất
nhỏ,
ngắn.
Vì những
thế
hệ
đi trước
nầy
cốt
làm sao hội
nhập
vào đời
sống
tại
bản
xứ,
sau đó
nhờ thế
hệ
con cái của
họ
triển
khai thêm. Một
hai mươi năm
là con số không
đáng
kể. Việc
phát triển
tôn giáo phải
kể
hằng
bao nhiêu thế
kỷ.
Tuy nhiên Hoa Kỳ
và Úc Châu là hai châu lục
mà văn minh
cơ giới rất
tiến
bộ,
kỹ
nghệ
phát triển
mạnh.
Do đó
việc phát triển
các tôn giáo cũng
theo đà
đó
mà tồn tại,
mà thay đổi
v.v... Người
Mỹ
và người
Úc lúc ban đầu
có lẽ
cũng
rất
bỡ
ngỡ
với
nền
văn hóa Đông
Phương xa lạ
ấy;
nhưng dần
dà họ
quen biết
Phật
Giáo qua sách vở
hay bạn
bè, hoặc
giả
qua những
buổi
thuyết
giảng
của
những
vị
Đại
Sư danh tiếng.
Cũng
có một
số
người
Mỹ
người
Úc đến
Nhật
Bản,
Việt
Nam, Đại
Hàn, Tích Lan, Thái Lan
để
học
đạo
và từ
đó
họ trở
lại
quê hương của
họ
tìm cách phát huy nền
Đạo
Học
Đông
Phương nầy. Ví dụ
một
người
Mỹ
mang tên Scott là người
Phật
Tử
rất
có công đối
với
Phật
Giáo thế
giới
ngày nay. Nguyên nhân
được
kể
lại
như sau:
Vào những
năm cuối
thế
kỷ
thứ
19, sau khi
đọc
một
vài tác phẩm
về
Phật
Giáo Tích Lan
ở
Mỹ,
sau đó
ông ta có ý đến Tích Lan
để
du lịch
và làm quen với
Phật
Giáo. Lúc bấy
giờ
người
Anh đang cai
trị tại
Tích Lan; nên mọi
sự
tự
do của
Tôn Giáo đều
bị
cấm
đoán. Ông là
người
đứng
ra xuất
bản
báo chí tiếng
Anh và tạo
ra các trường
học
cho con em Phật
Tử
học.
Điều
quan trọng
nhất
mà thế
giới
ngày nay vẫn
còn nhắc đến
là ông đã
có công giới thiệu
năm màu ngũ
sắc
hào quang của
Đức
Phật
làm thành một
lá cờ
Phật
Giáo. Những
năm đầu
của
thế
kỷ
20, cờ
nầy
được
bay phất
phới
tại
các chùa Phật
Giáo ở
Tích Lan, mãi cho
đến
năm 1950 lá
cờ nầy
các quốc
gia Phật
Giáo công nhận
là lá cờ
của
Phật
Giáo Thế
Giới.
Một
người
Mỹ
đã
có công chấn chỉnh
lại
nền
Phật
Học
của
Tích Lan qua mối
từ
tâm của
mình; sau đó
ông ta cũng
đã
quy y theo Phật Giáo và
cuối
đời
ông đã
gởi xác mình tại
xứ
Ấn Độ.
Ngày nay tại
Mỹ
các trường
Đại
Học
nổi
tiếng
như Haward,
Berkley đều có phân khoa
Phật
học
hoặc
Tôn Giáo tỷ
giảo
học.
Còn các Đại
Học
khác khắp
nơi trên nước
Mỹ
cũng
có mở
phân khoa Tôn Giáo, trong
đó
có dạy về
Phật
Giáo. Phật
Giáo đi đến
Âu cũng
như Mỹ,
Úc đầu
tiên là ảnh
hưởng
đến
tầng
lớp
trí thức,
sau đó
mới
đến
người
dân. Điều
nầy
hầu
như trái ngược
hoàn toàn với
Á Châu, khi
Đạo
Phật
đến
các xứ
nầy
từ
Ấn
Độ
là thâm nhập
vào giai cấp
nông dân trước,
sau đó
mới
đến
giai cấp
quan lại
vua chúa. Sự
khác nhau nầy
có lẽ
do thời
đại
và thể
chế
mà có. Ngày xưa muốn
đến
cửa
quan không phải
đơn giản.
Còn ngày nay những
gì xảy
ra trong đất
nước,
qua hệ
thống
thông tin, quan chức
phải
nắm
rõ trước
tiên, có lẽ
vì thế
mà mới
có sự
sai biệt
nầy.
Tam Tạng
kinh điển
Đại
Thừa
bản
Đại
Chánh tân tu
Đại Tạng
kinh đã
và đương phiên dịch ra
tiếng
Anh tại
Đại
Học
Berkley bởi
các nhà nghiên cứu
học
giả
người
Mỹ,
Nhật,
Trung Hoa. Nếu
Tam Tạng
nầy
được
dịch
ra tiếng
Anh xong thì
đây
là thành quả to lớn
của
Phật
Giáo Đại
Thừa
nói riêng và Phật
Giáo trên thế
giới
nói chung. Từ
tiếng
Anh nầy,
các nước
khác trên thế
giới
theo Đại
Thừa
có thể
phiên dịch
lại
ngôn ngữ
của
nước
họ
một
cách dễ
dàng hơn.
Riêng Phật
Giáo Việt
Nam cũng
đã
đóng
góp không nhỏ cho nước
Mỹ
qua các vấn
đề văn
hóa, giáo dục, tôn giáo,
học
thuật
v.v... kể
từ
khi người
Mỹ
có liên hệ
với
Việt
Nam từ
năm 1963. Năm
1966 Cố Hòa Thượng
Thích Thiện
Ân, đậu
Tiến
sĩ
Văn chương ở
Đại
Học
Waseda, Nhật
Bản,
sau đó
Hòa Thượng về
Việt
Nam dạy
tại
trường
Đại
Học
Vạn
Hạnh
của Phật
Giáo ở
Sàigòn. Đến
năm 1966 qua
sự trao
đổi
Giáo sư giữa
các trường
Đại
Học
Việt
Nam và Mỹ,
Hòa Thượng
đã
được Viện
Đại
Học
Vạn
Hạnh
công cử
qua Hoa Kỳ
để
dạy
tại
các Đại
Học
ở
đây.
Sau đó
Ngài lập nên Quốc
Tế
Thiền
Viện
cho người
Mỹ
đến
tu tập
tại
Los Angeles, California.
Đã
có nhiều người
Mỹ
quy y và xuất
gia với
Hòa Thượng.
Hòa Thượng
cũng
đã
cho mở Viện
Đại
Học
Đông
Phương Oriental University cũng
ở
Los Angeles
để
dạy
về
Phật
Giáo và các phân khoa khác
ở
bậc
Cao Học
và Tiến
Sĩ.
Ngài là người
đầu
tiên đến
khai sáng Đạo
Phật
Việt
Nam tại
xứ
nầy.
Ngài cũng
đã
có tên trong Tự
Điển
Danh Nhân nước
Mỹ,
qua sự
đóng
góp trong vấn
đề
Văn hóa và
Tôn giáo của Ngài cho xứ
nầy.
Ngày nay tại
Hoa Kỳ
có khoảng
1.00.000 người
Việt
Nam và có khoảng
300 ngôi chùa được
thành lập
và 300 Tăng
Ni định cư
tại
đây.
Đa số những
vị
đi trước
năm 1975 đều
có bằng
cấp
Cử
Nhân, Cao Học
hoặc
Tiến
Sĩ.
Còn những
vị
đi tỵ
nạn
sau 1975 số
tốt
nghiệp
Đại
Học
tại
Mỹ
không nhiều.
Vì đây
là giai đoạn
đầu
để
hội
nhập
vào cuộc
sống
mới, nên phải
cần
rất
nhiều
thì giờ
cho vấn
đề
ổn
định
đời
sống
và trau giồi
sinh ngữ.
Mỗi
ngôi chùa là một
trung tâm văn
hóa của Phật
Giáo, nhưng
mới chỉ
đặc
biệt
cho Việt
Nam. Do đó
người Mỹ
cũng
khó hội
nhập
vào cuộc
sống
tâm linh với
người
Việt.
Không những
người
Việt
như vậy,
mà người
Đại
Hàn, Nhật
Bản,
Trung Hoa, Tây Tạng
họ
đều
giữ
riêng sắc
thái của
họ.
Nếu
người
Mỹ
muốn
theo Phật
Giáo nước
nào thì đến
chùa thuộc
nước
đó
để học
hỏi
giáo lý. Người
Mỹ
thì thích yên tĩnh.
Trong khi đó
người Á Châu chúng ta
tuy nhỏ
người;
nhưng ăn nói
to lớn, ít
để
ý đến
những
người
chung quanh, nên
đôi
khi cũng phiền
toái. Nhưng
tựu chung Phật
Giáo Tây Tạng
thành công nhất
tại
xứ
Mỹ,
khó có Phật
Giáo xứ
nào được
như vậy;
những
lý do như đã
được
đề
cập
trong Chương
nầy
ở
phần
của
Âu Châu.
Phật
Giáo Nam Tông
ở
Mỹ
không mạnh
lắm,
tuy có rất
nhiều
bậc
danh Tăng đến
từ
Thái Lan, Tích Lan, Miến
Điện
v.v... nhưng có lẽ
xứ
Mỹ
là xứ
mà đất
rộng
người
thưa, tiếng
nói giới
hạn
ấy
không thể
vang vọng
vào một
không gian to lớn
như ở
Hoa Kỳ.
Tại
San Francisco, khi Hòa Thượng
Tuyên Hóa lúc còn sanh tiền
đã
thành lập một
Đại
Học
Phật
Giáo lấy
tên là Pháp Giới
Đại
Học
(Dharma Realm University), các Sinh viên người
Mỹ
đến
đây
tu học cũng
đông.
Có người
đã
xuất gia, học
tiếng
Quang Thoại
và đang phiên
dịch Tam Tạng
kinh điển
bằng
tiếng
Trung Hoa ra Anh văn.
Họ tu cũng
rất
khổ
hạnh.
Một
ngày ăn rau
quả tươi
và một ngày
ăn đồ
có nêm gia vị.
Sống
rất
đơn giản;
nhưng tu học
rất
chuyên cần.
Ngủ
thì ngủ
ngồi
và mỗi
ngày ngồi
thiền
nhiều
tiếng
đồng
hồ.
Trong số
những
người
Mỹ
tu tại
Vạn
Phật
Thánh Thành nầy
có vài vị
đã
hành trì pháp môn tam bộ
nhứt
bái. Nghĩa
là bước
ba bước
lạy
một
lạy.
Đoạn
đường
đi từ
Los Angeles lên
đến
San Francisco, phải
mất
nhiều
tháng trời
hành trì lễ
bái mới
xong. Đây
cũng
để
thử
thách người
tu hành về
ý chí cũng
như nghị
lực.
Vì suốt
trong một
chặng
dài của
độc
lộ
để
đến
giải
thoát ấy,
hành giả
cần
phải
nhẫn
nhục
và tinh tiến
là hai đức
tính quan trọng
để
tôi luyện
thân cũng
như tâm của
con người.
Tại
Washington DC, nơi
thủ
đô
của Mỹ
quốc
cũng
có một
số
chùa viện
của
các nước
được
thành lập
nơi đây;
nhưng cũng chỉ
là những
nơi trao đổi
gặp
gỡ
cũng
như lễ
bái nguyện
cầu
của
người
đồng
hương, chứ
ch