Phật Giáo Với Con Người
Thích Như Điển
---o0o---
CHƯƠNG HAI. (2e)
Tinh thần Phật Giáo
đối với các dân tộc Á Châu và Âu Mỹ
Như từ
đầu
chúng ta thấy,
Phật
Giáo không đi
truyền giáo.
Đạo
Phật
cũng
không đi dụ
dỗ
người
khác bỏ
đạo
để
theo Đạo
Phật,
nên Phật
Giáo ngày nay là một
tôn giáo chỉ
đứng
hàng thứ
4 trên thế
giới
sau Thiên Chúa Giáo,
Ấn
Độ
Giáo và Hồi
Giáo. Ai muốn
vào đạo
thì cứ
tự
nhiên, ai không
muốn
ở
trong đạo
nữa
thì xin ra, không bị
gò bó bởi
một
luật
lệ
nào cả.
Nên gọi
Phật
Giáo là một
tôn giáo phóng khoáng cũng
không ngoa chút nào.
Ngày xưa người
Âu Mỹ
không tin có luân hồi.
Họ
tin rằng:
Chết
là hết.
Nếu
tin Chúa, sẽ
được
Chúa đưa về
Thiên Đàng.
Nếu không, sẽ
đi vào địa
ngục.
Người
tin Chúa, chỉ
có hai con đường
ấy
để
chọn;
nhưng theo
thống kê mới
đây
cho thấy hơn
40% dân Âu Mỹ tin rằng
có luân hồi,
sau khi chết
không phải
là hết
mà còn một
cái gì đó
hiện hữu
sau hơi thở
cuối
cùng. Điều
đó
cũng dễ
hiểu.
Vì khoa học
càng ngày càng tiến
bộ
thì ánh sáng chân lý của
Đạo
Phật
càng hiển
bày rõ ràng hơn. Hiện
nay (1996) tại
xứ
Đức
nầy
theo thống
kê của
Giáo sư
Martin Baumann trong quyển
Deutsche Buddhisten tái bản
năm 1995 có
khoảng 200 Hội
Phật
Tử
Đức
theo các Tông phái
Đại
Thừa
cũng
như Tiểu
Thừa.
Đây
là một thành quả
có được
sau 200 năm
Phật Giáo tại
Phương Tây.
Hy vọng giáo lý Phật
Giáo là một
toa thuốc
mới
sẽ
chữa
lành các căn bịnh
ung thư thời
đại
cho mọi
người
và từ
đó
Đạo Phật
ngày càng triển
khai ở
nhiều
phương diện
khác như văn
học, hội
họa,
âm nhạc,
điêu khắc,
nghệ
thuật
v.v...
Vậy
thì Phật
Giáo Việt
Nam đã
đóng
góp được gì cho xứ
Đức
nầy?
trong đó
kể cả
Người
Tỵ
Nạn
Việt
Nam ở
đây
và người
Đức
bản
xứ?
Những
người
Việt Nam
đến
Đức
trước
năm 1975 để
du học
độ
chừng
2000 Sinh viên. Cho
đến
năm 1978
chính phủ
Đức
mới
bắt
đầu
nhận
Người
Việt
Tỵ
Nạn
chính trị
từ
các trại
tỵ
nạn
Đông
Nam Á. Đến năm
1989 hai nước
Đức
Đông
Tây thống nhất,
số
người
Việt
từ
Đông
Đức và
Đông
Âu sang Tây Đức xin tỵ
nạn
độ
chừng
40.000 người
nữa.
Cho đến
nay, năm 1996
số người
cả
hai miền
Tây và Đông
Đức tổng
cộng
là 100.000 người.
60.000 người
từ
phía Tây là những
người
tỵ
nạn
chính thức
và đa số
ra đi từ
miền
Nam Việt
Nam, khoảng
80% là Phật
Tử.
Còn 40.000 đến
từ
Đông
Đức và
Đông
Âu đa dố xuất
thân từ
miền
Bắc
Việt
Nam. Họ
là những
người
sinh sau năm 1954 nên ít biết
về
Phật
Giáo là gì. Tuy họ
không là Phật
Tử;
nhưng cũng
không thể
gọi
họ
là những
người
thuộc
đạo
khác được.
Vì họ
vẫn đi chùa
và cúng lễ.
Ở
miền
Bắc
trong thời
gian Cộng
Sản
nắm
chính quyền,
họ
không cho tự
do tôn giáo, nên mọi
người
chỉ
đi Đền
hoặc
Miếu
để
lễ,
chứ
ít đi lễ
chùa; nên phong tục
và tập
quán giữa
hai miền
Nam Bắc
khác nhau rất
nhiều.
Tuy nhiên đây
cũng là
cơ hội,
khi nước
Đức
thống
nhất,
để
người
Việt
Nam giữa
Nam và Bắc
hiểu
nhau nhiều
hơn, cũng
giống
như người
Tây Đức
và Đông
Đức có cơ
hội hiểu
nhau sau 40 năm chia cắt
vậy.
Khi người
Việt
Nam đến
Đức
nầy
đa số
đã
chẳng mang theo
được
gì, ngoại
trừ
niềm
tin và ý chí cũng
như nghị
lực
để
hội
nhập
vào xã hội
mới
nầy.
Sau một
thời
gian làm quen với
cuộc
sống
nơi đây,
họ phải
nhớ
lại
cội
nguồn
và tôn giáo của
họ;
nên đã
tổ chức
thành từng
nhóm người,
thành lập
Niệm
Phật
Đường
để
lễ
bái nguyện
cầu
và thực
hành giáo lý của
Đức
Phật.
Đây
là động cơ
chính mà Giáo Hội Phật
Giáo Việt
Nam Thống
Nhất
- Chị
Bộ
tại
Đức
cũng
như Hội
Phật
Tử
được
thành hình và ngôi Chùa Viên Giác
đã
được hoạt
động
liên tục
từ
năm 1978 đến
nay qua hình thức
thuê mướn
cho đến
tạo
mãi vĩnh
viễn
như hiện
nay. Người
Việt
Nam tuy nghèo về
vật
chất
so với
người
bản
xứ;
nhưng rất
giàu về
tinh thần,
nên họ
đã
chung đụng cùng nhau
để
tạo
thành niềm
tin và cơ sở
tín ngưỡng
ấy.
Trong đó,
phải nói rằng
nếu
không có sự
giúp đỡ
của
chính quyền
Đức
về
mặt
vật
chất
cũng
như tinh thần
thì khó mà hội
nhập
nhanh như vậy.
Ngoài Chùa Viên Giác ra, tại
Đức
còn có các Chùa tại
Hamburg, Barntrup, Mönchengladbach, Aachen và các Niệm
Phật
Đường
tại
Berlin, München cũng
như Bremen và
7 Gia Đình
Phật Tử
cũng
đã
được thành lập
(Xin xem thêm quyển
Mười
Năm Phật
Giáo Việt
Nam tại
Đức
và quyển
Chùa Viên Giác của
cùng tác giả).
Riêng tôi đã
đến
Đức
từ
năm 1977 để
thăm bè bạn
nơi đây
và lúc ấy cũng
đã
chẳng nghĩ
rằng
phải
ở
lại
xứ
Đức
nầy
cho đến
ngày hôm nay,
đã
gần 20 năm
rồi. Có lẽ
đó
là do nhân duyên mà Phật
đã
bổ xứ.
Những
thành quả
mà ngày nay có
được
đều
do Tam Bảo
gia hộ
và sự
hỗ
trợ
hết
mình của
Phật
Tử
khắp
nơi mới
thành tựu
được.
Ở
trong cuộc
sống
nầy
có những
điều
rất
nghịch
lý. Có nhiều
điều
mình mong muốn
nhưng chả
thành tựu.
Ngược
lại,
có những
điều
không nghĩ
tới,
mà nhân duyên
đã
sắp
đặt
sẵn;
nên rồi
việc
đâu
cũng vào
đó.
Tôi là người nằm
trong trường
hợp
nầy.
Hai mươi năm
là một thế
hệ,
qua một
thời
gian ấy
cũng
đủ
dài để
thẩm
định
lại
giá trị
tâm linh của
cuộc
sống,
của
chính mình và của
những
người
chung quanh.
Đạo
Phật
của
người
Việt
Nam mang theo êm
đềm
đi vào xứ
Đức
nầy
bằng
con đường
chạy
loạn,
cũng
giống
như 18 thế
kỷ
trước,
khi các vị
Thiền
sư Trung Hoa
sang Việt Nam tỵ
nạn
như thế.
Mặc
dầu
Trung Hoa lúc bấy
giờ
đô
hộ Việt
Nam; nhưng
chính quyền của
Sĩ
Nhiếp
đương thời
không phải
là chính quyền
có ảnh
hưởng
mạnh
của
Phật
Giáo, nên đã
không giúp gì trong lãnh vực
tinh thần
nầy
cả.
Các nhà Sư
Trung Hoa và Phật Tử
đến
Việt
Nam thuở
bấy
giờ,
cũng
như cuối
thế
kỷ
thứ
20 nầy
người
Việt
Nam đã
đến tỵ
nạn
tại
xứ
Đức
nầy
vậy.
Tuy xứ
Đức
có giúp cho người
tỵ
nạn
Việt
Nam, nhưng xứ
Đức
là một
xứ
có nền
văn hóa lâu
đời
ảnh
hưởng
của
Thiên Chúa Giáo; nên họ
giúp đỡ
người
Việt
Nam với
tính cách nhân
đạo
mà thôi, chứ
không phải
giúp đỡ
để
truyền
đạo
tại
xứ
nầy
như các Linh
Mục Thiên Chúa Giáo vào
thế
kỷ
thứ
16, 17, 18 đã
đến Việt
Nam qua chính sách thực
dân của
Pháp. Tôi vẫn
thường
hay ví rằng:
Giáo lý của
một
Tôn Giáo giống
như bông hoa đẹp, hay một
vị
thuốc
hay để
chữa
bịnh
gầy.
Trong vườn
hoa tâm linh của
xứ
Đức
đã
nở nhiều
bông hoa rồi.
Giờ
đây
Phật Giáo mang
đến
cho họ
một
bông hoa khác, có hương
và sắc khác hơn
những loại
hoa cũ,
hòa chung vào với
vườn
hoa muôn màu kia,
để xây dựng
một
vườn
hoa tâm linh
đẹp
đẽ
hơn; chắc
xứ
Đức
cũng
không từ
chối.
Ngoài ra người
Đức
hay người
Âu Mỹ
lâu nay đã
dùng một loại
thuốc
duy nhất
để
chữa
bịnh
tâm linh, nay Phật
Giáo mang đến
một
loại
thuốc
khác mạnh
hơn và hiệu
nghiệm
hơn, vì vậy
nên có nhiều
người
Đức
muốn
thay đổi
thuốc
men, nhằm
để
chữa
lành thân cũng
như tâm bịnh
của
mình.
Trong 20 năm qua
người Việt
Nam đã
đóng
góp vào xã hội của
Đức
cũng
không ít, ví dụ
sự
làm việc,
sự
học
hỏi,
đóng
góp văn hóa, tôn giáo v.v... Đầu
tiên những
người
Việt
Nam chịu
ơn của
chính phủ
Đức
để
đi học,
sau khi thành tài, họ
vào giảng
dạy
trong các trường
của
Đức
hay làm trong các hãng xưởng
v.v... kể
ra nước
Đức
không phải
là xứ
di dân; nên cánh cửa
không mở
như Mỹ,
Canada hoặc
Úc; nhưng Đức
có thể
trở
thành một
xứ
đa văn hóa
khi có 8% dân số là người
ngoại
quốc
sống
tại
xứ
nầy.
Chỉ
trừ
người
nào già yếu,
không thích nghi vào xã hội
Đức
mới
xin tiền
xã hội
để
sống;
ngoài ra rất
ít người
Việt
Nam muốn
ngồi
không ngửa
tay xin tiền
xã hội
cả.
Vì họ
quan niệm
rằng:
Có làm có ăn và phải
có bổn
phận
đóng
thuế cho chính phủ
nữa.
Những
người
thợ
tuy không đóng
góp được gì nhiều
cho xã hội
nầy;
nhưng nếu
không có họ,
nền
kinh tế
của
Đức
cũng
không thể
phồn
thịnh
như ngày hôm
nay. Đa số người
tỵ
nạn
lúc ban đầu
phải
nhờ
vả
vào tiền
trợ
cấp
của
chính phủ.
Bởi
lẽ
họ
phải
làm quen với
đời
sống
nơi đây.
Vả lại
ngôn ngữ,
tập
quán v.v... chưa thành thạo
thì không thể
đi tìm việc
làm được.
Một
thế
hệ
20 năm của
người
Việt
Nam đã
trôi qua. Vấn
đề
hội
nhập
xem như đã
lui về dĩ
vãng. Bây giờ
đây
còn lại là vấn
đề
của
những
thanh thiếu
niên sinh ra và lớn
lên tại
xứ
nầy.
Đối
với
thế
hệ
trẻ,
họ
không có vấn
đề
với
người
bản
xứ;
nhưng ngược
lại
đối
với
gia đình
và cố quốc
lại
có vấn
đề.
Vì họ
có thể
nói tiếng
Đức
giống
người
Đức,
suy nghĩ
cũng
như người
Đức;
nhưng ngược
lại
họ
lại
sớm
quên cội
nguồn,
văn hóa và
ngôn ngữ tiếng
mẹ
đẻ