Phật Giáo Với Con Người
Thích Như Điển
---o0o---
CHƯƠNG HAI. (2d)
Tinh thần Phật Giáo
đối với các dân tộc Á Châu và Âu Mỹ
Trong chương hai nầy
phần
lớn
chúng tôi đã
trình bày cho quý vị hiểu
qua về
Phật
Giáo các nước
theo Đại
Thừa,
bây giờ
xin mời
quý vị
khảo
sát qua ảnh
hưởng
của
Phật
Giáo đối
với
con người
qua các xứ
Phật
Giáo Tích Lan, Miến
Điện,
Thái Lan, Lào, Cam Bốt
v.v... Lẽ
ra phải
đi vào nội
dung từng
nước
một;
nhưng các nước
Phật
Giáo Nam Phương đều dùng ngôn ngữ
Pali là ngôn ngữ
chính, do đó
có nội dung hành
đạo
gần
giống
nhau, trong khi các nước
theo Phật
Giáo Đại
Thừa,
mỗi
nước
dùng một
ngôn ngữ
riêng, nên Đạo
Phật
tại
đó
cũng bị
ảnh
hưởng
ít nhiều
với
nền
văn hóa tại
xứ
đó,
khi Đạo Phật
được
truyền
vào.
Nam Phương Phật
Giáo là những
quốc
gia giữ
được
nguyên vẹn
tinh thần
truyền
thống
kể
từ
thời
Đức
Phật
còn tại
thế
cho đến
ngày nay, nhất
là khi Phật
Giáo được
truyền
thẳng
từ
Ấn
Độ
qua Tích Lan vào thời
vua A Dục
và sau đó
tiếp tục
truyền vào
các nước
Đông
Nam Á Châu khác. Tại
đây
chư Tăng và ngay cả Phật
Tử
có thể
tụng
chung cùng một
ngôn ngữ
Pali khi hành lễ..
Trong khi đó
các xứ theo
Đại
Thừa
Phật
Giáo thì không có thể
làm như thế
được.
Cho đến
ngày nay chư
Tăng các nước Nam Phương
Phật Giáo vẫn còn
đi khất
thực
hằng
ngày và mỗi
ngày chỉ
ăn một
bữa
trưa. Mỗi
năm đều
có an cư kiết
hạ
vào 3 tháng mùa mưa.
Đời sống
chư Tăng vẫn
3 y và 1 bình bát,
đi chu du giáo hóa
khắp nơi.
Họ thực
tập
thiền
định
và sống
đời
tĩnh
thức.
Việc
tu gieo duyên
như là bổn
phận
của
một
người
nam trong một
thời
gian ngắn
từ
3 tuần
lễ
đến
3 năm được
thịnh
hành tại
Thái Lan, Lào và Cam Bốt.
Đây
cũng là một
cơ hội
tốt
để
mọi
người
hành trì giáo lý của
Đạo
Phật.
Người
Phật
Tử
tại
gia thường
áp dụng
Tam Quy Ngũ
Giới,
Tứ
Diệu
Đế,
Bát Chánh Đạo
và Thập
Nhị
Nhân Duyên vào trong cuộc
sống
hằng
ngày. Vì vậy
đi đến
các xứ
nầy,
tuy thấy
họ
nghèo nàn hơn các xã hội
vật
chất
Âu Mỹ;
nhưng tâm hồn
ai cũng
rạng
rỡ
vui tươi. Nụ
cười
nào cũng
tròn xoe trên đôi
gò má, nam cũng như
nữ, khi giao tế
với
những
người
chung quanh.
Đây
cũng là một
trong những
cách sống
của
Đạo
Phật,
thà an bần
lạc
đạo,
còn hơn là
giàu sang mà không có được
một
nụ
cười.
Tiền
bạc
vốn
là phương tiện
của
cuộc
sống,
chẳng
phải
là mục
đích
của con người.
Vả
lại
tiền
bạc
cũng
không mua được
hạnh
phúc và sự
an lạc
của
tâm hồn.
Chỉ
có những
người
sống
đúng
tinh thần của
Đạo
thì kẻ
ấy
sẽ
được
an nhiên tự
tại.
Các xứ
Nam Tông Phật
Giáo, chùa viện
là nơi đào
tạo tăng
tài và trong khuôn viên chùa lúc nào cũng
có trường
học
cho dân trong làng
đến
học,
từ
lớp
thấp
cho đến
lớp
cao. Trong khi
đó
chư Tăng là những giáo sư
về tâm linh lẫn
ngôn ngữ
và thế
học
cho người
đời.
Chư Tăng hiến
dâng sở
tu sở
học
của
mình cho quần
chúng Phật
Tử.
Người
tại
gia có cơ hội
làm ăn, buôn
bán, nên họ
đã
sẵn sàng cung phụng
cúng dường
vật
chất
lên chư Tăng.
Như vậy giữa
đời
sống
tinh thần
và đời
sống
vật
chất
có cơ hội
gắn
bó nhau. Dĩ
nhiên một
trong hai lãnh vực,
mỗi
bên phải
chấp
nhận
lấy
một,
không ai có thể
trọn
vẹn
cả
hai lãnh vực
cùng một
lúc. Người
Tăng sĩ
không thể
làm nhiệm
vụ
của
người
Cư sĩ
và ngược
lại
cũng
thế.
Có nhiều
người
bảo,
cứ
theo Phạt
Giáo Nam Tông mãi như
vậy, kinh
tế không phát triển
phồn
vinh như các
xứ Phật
Giáo Bắc
Tông. Điều
nầy
chưa hẳn
đúng.
Vì ngày nay Thái Lan cũng
đang phát
triển mạnh
và nước
nầy
cũng
theo Phật
Giáo Nam Tông. Hoặc
giả
nay mai Miến
Điện
và Tích Lan cũng
trên đà
phát triển
ấy.
Điều
ấy
chứng tỏ
rằng
văn hóa của
Phật
Giáo không phải
cản
trở
sự
phát triển
của
nhân loại,
mà Phật
Giáo giống
như một
dòng nước,
chảy
đến
đâu
sẽ hội
tụ
đến
đó
để khế
hợp
với
hoàn cảnh
tại
mỗi
nơi.
Đứng
trên quan điểm
của
Phật
Giáo Nam Tông, họ
nhìn Bắc
Tông đều
sai với
nguyên tắc
ban đầu
của
Đức
Phật
đã
đặt ra, vì phương
tiện mà
đã
sửa
đổi
phần
nội
dung của
giáo lý. Trong khi
đó
đứng trên quan niệm
của
Phật
Giáo Bắc
Tông thì thấy
rằng
Nam Tông bảo
thủ,
không chịu
khế
hợp
với
căn cơ của
chúng sanh để
phát triển
xã hội
và nhất là vấn
đề
tâm linh của
con người.
Nhìn từ
phía nào thì nó cũng
đều
có cái đúng,
cái sai của nó, do vấn
đề
hoàn cảnh,
địa
phương hay tập
tục
gây nên; nhưng chúng ta cũng
chớ
quên một
điều
là giáo lý của
Đạo
Phật
là vì con người
mà tồn
tại,
chứ
không phải
tồn
tại
vì sự
cá biệt
nầy
hay cá biệt
khác của
mỗi
quốc
gia. Giờ
đây
đã
nhiều lần
trên diễn
đàn
của Hội
Nghị
Phật
Giáo Thế
Giới
các nhà lãnh
đạo tinh thần
của
hai phái Đại
Thừa
và Tiểu
Thừa
đều
gọi
chỉ
có một
Thừa.
Đó
là Bouddhayana (Phật Thừa)
chứ
không còn Đại
hoặc
Tiểu
nửa.
Cũng
có nhiều
đề
nghị
đáng
ghi nhớ là: Tất
cả
chư Tăng Nam
Tông nên ăn chay và phía Bắc
Tông nên mặc
y nguyên thủy.
Nếu
Thế
Giới
Phật
Giáo chấp
nhận
được
điều
nầy,
quả
là điều
rất
lợi
ích và thiết
thực
cho Thế
Giới
Phật
Giáo ngày mai, nhìn
đâu
đâu
cũng chỉ
thấy
một
bóng y vàng và cùng với
tha nhân đồng
loại
tôn trọng
sự
sống
của
các sinh vật
khác bằng
lòng từ
bi, nên không
ăn thịt
của
chúng, dầu
cho đó
là loại tam tịnh
nhục,
như thời
Phật
còn tại
thế
đã
cho phép chư Tăng dùng đến.
Đạo
Phật
đã
gắn liền
với
vận
nước
của
các dân tộc
nầy
từ
hơn 20 thế
kỷ
qua, nên mỗi
bước
đi, nhịp
thở
của
dân tộc
cũng
là mỗi
tiến
trình chuyển
tiếp
của
Phật
Giáo đối
với
sự
sống
còn của
mỗi
dân tộc
Nam Phương.
Ngày nay mặc dầu
tại
Đông
Nam Á Châu có nhiều xứ
Phật
Giáo không còn là quốc
giáo nữa,
mà có nhiều
người
đã
bỏ Phật
Giáo để
làm tín đồ
của
các tôn giáo khác.
Điều
ấy
nói lên sự
tự
do, mở
cửa
và tự
do tín ngưỡng
của
con người,
chứ
quyết
rằng
chẳng
phải
Đạo
Phật
không còn hấp
dẫn
với
con người
nữa,
nên người
ta mới
theo đạo
khác. Phải
nhìn lại
bối
cảnh
lịch
sử
về
chính sách thực
dân địa
của
Phương Tây đối
với
các xứ
Đông
Nam Á Châu nầy thì ta hẳn
rõ.
Việt
Nam là một
quốc
gia mà ảnh
hưởng
được
cả
hai nền
văn hóa Phật
Giáo Bắc
Phương cũng
như Nam
Phương. Vậy chúng ta thử
khảo
nghiệm
xem Phật
Giáo đã
đóng
góp gì cho dân tộc nầy
trong suốt
dòng lịch
sử
mấy
mươi thế
kỷ
qua ?
Có 2 giả
thuyết
cho rằng
Phật
Giáo Việt
Nam phần
lớn
được
truyền
sang từ
phương Bắc
kể từ
thời
Bắc
thuộc
lần
thứ
nhất
do các vị
Sư người
Trung Hoa mang sang; nhưng
cũng có thuyết
cho rằng:
Các nhà Sư Ấn
Độ
di chung với
các thương
thuyền của
người
Ấn
trước
khi qua buôn bán với
Trung Hoa thì những
vị
Sư nầy
đã
ghé qua Việt Nam. Nên có
thể
nói rằng
Phật
Giáo đến
Việt
Nam trước
khi đến
Trung Hoa. Đây
có thể cũng
là một
giả
thuyết,
còn đúng
hay sai, nhiều người
sẽ
tìm kiếm
thêm nữa.
Khi các vị
Sư Ấn
Độ
đến
đây
có lẽ họ
nghĩ
rằng
chỉ
ghé qua Việt
Nam để
dừng
chân thôi; nên những
năm tháng đầu
tiên họ
đã
chẳng xây dựng
một
cơ sở
nào để
lại
xứ
Giao Chỉ
lúc bây giờ,
mà chỉ
thấy
ảnh
hưởng
của
Phật
Giáo Trung Hoa mạnh
hơn, có lẽ
do sự
đô
hộ của
người
Trung Hoa mà dân tộc
Việt
ảnh
hưởng
văn hóa Hán
nhiều hơn,
nên dễ chấp
nhận
những
tư tưởng
và học
thuật
đến
từ
phương Bắc
chăng? Còn
Phật Giáo
đến
từ
Ấn
Độ
còn xa lạ
với
ngôn ngữ
cũng
như phong tục
tập
quán của
người
Việt
Nam thì phải
?
Nhưng dầu
đến
từ
phương nào đi
chăng nửa thì Phật
Giáo Việt
Nam cũng
đã
đóng
góp cho dân tộc Việt
Nam rất
nhiều
qua các thời
kỳ
dựng
nước
và giữ
nước
trong suốt
dòng lịch
sử
của
18 thế
kỷ
qua. Những
thế
kỷ
đầu
khi Phật
Giáo mới
vào Việt
Nam cũng
chưa có gì
khởi sắc;
nhưng điều
đặc
biệt
ở
đây
là nhân dân Việt Nam cũng
đã
chấp nhận
tư tưởng,
nghi lễ
của
Phật
Giáo một
cách dễ
dàng. Vì lẽ
nền
tôn giáo ấy
không phản
lại
những
gì mà dân tộc
Việt
Nam lúc ấy
đang tôn thờ.
Đó
là đạo làm người;
có bổn
phận
phải
hiếu
thuận
với
cha mẹ
và giữ
đúng
lễ nghĩa
với
anh em, bà con thân thuộc.
Đi xa hơn nữa,
dân Giao Chỉ
lúc bấy
giờ
chỉ
thờ
những
vị
thần
như: Thần
núi, Thần
sông, Thần
biển,
Thần
lửa,
v.v... Đây
cũng là những
tôn giáo cổ
truyền
của
các dân tộc
thời
tiền
sử
vậy.
Họ
sống
và tin rất
đơn thuần
vào những
đấng
chúa tể
của
mỗi
loài để
họ
an tâm mà làm
ăn sinh sống.
Trong khi đó
Phật Giáo cũng
mang đến
cho họ
một
sự
an lạc
của
nội
tâm; nên họ
đã
chấp nhận
Phật
Giáo một
cách đơn thuần
như các loại
thần
vừa
kể.