Phật Giáo Với Con Người
Thích Như Điển
---o0o---
CHƯƠNG HAI. (2c)
Tinh thần Phật Giáo
đối với các dân tộc Á Châu và Âu Mỹ
Sau khi khảo
sát về
Phật
Giáo đối
với
dân tộc
Nhật
Bản,
giờ
đây
chúng ta tìm hiểu sang nước
bên cạnh.
Đó
là Đại Hàn.
Sau đệ
nhị
thế
chiến
(1939-1945),
Đại
Hàn cũng
bị
chia đôi
như Việt Nam
(1954-1975). Miền
Nam Đại
Hàn theo chế
độ
dân chủ.
Miền
Bắc
Đại
Hàn theo chế
độ
cộng
sản.
Cả
hai miền
trước
thế
chiến
vẫn
chỉ
là một
như Việt
Nam thuở
nào. Ngày xưa
Đại Hàn cũng
ảnh
hưởng
văn hóa Trung
Hoa rất mạnh;
nên tất
cả
các học
thuật,
tư tưởng,
giáo dục
v.v... và nhất
là tôn giáo đã
chi phối xứ
nầy
và ngay ngày hôm nay văn
tự của
Đại
Hàn và Nhật
Bản
dùng đến
50% tiếng
Trung Hoa. Chỉ
có Việt
Nam là được
thoát xác, kể
từ
khi chữ
quốc
ngữ
được
thịnh
hành vào đầu
thế
kỷ
thứ
20 nầy.
Khi Đạo
Phật
được
du nhập
vào Đại
Hàn từ
thế
kỷ
thứ
3 qua ngõ Trung Quốc,
Đạo
Phật
đã
phát triển một
cách cực
thịnh
ở
những
thế
kỷ
thứ
10, 11, 12 và
để
từ
đó
đến những
thế
kỷ
thứ
17, 18, 19 lại
đi xuống
đến
bây giờ;
Đến
thế
kỷ
thứ
20 nầy
hầu
như vị
trí của
Phật
Giáo còn ảnh
hưởng
rất
ít đối
với
người
dân Đại
Hàn. Có dịp
thăm các
chùa, tu viện Phật
Giáo Đại
Hàn như
Tondosa (Thông Độ tự),
Bukkoksa (Phật
Quốc
tự),
Heiinsa (Hải
Ấn
tự)
phải
thành thật
nói rằng
Trung Hoa, hay ngay cả
Nhật
Bản
chưa có ngôi
chùa nào tiêu biểu
được
như thế.
Vì các chùa nầy
đều nằm
trên núi cao, mà cách năm
bảy trăm
năm về trước,
với
chỉ
sức
người,
người
ta đã
xây dựng
được
như vậy.
Quả
là điều
đáng
tán thưởng vô cùng.
Đây
có lẽ do hậu
ý của
những
vị
Thiền
sư ngày xưa,
sống xa mùi tục
lụy, phú quý vinh hoa,
chỉ
muốn
vui với
cỏ
cây hoa lá và rời
xa chốn
thị
thành để
tâm cũng
như thân được
thanh tịnh.
Và chính cũng
nhờ
những
vị
Thiền
sư nổi
tiếng,
nên dầu
núi cao muôn ngàn hiểm
trở,
người
Phật
Tử
vẫn
tìm đến
để
quây quần
học
đạo.
Còn bây giờ
nếu
ai đó
có dịp
đi Đại
Hàn, khi đến
thành phố
tham quan, chỉ
thấy
toàn là thánh giá chứ
ít thấy
chự
Vạn
của
Phật
Giáo. Điều
đó
chứng tỏ
rằng
không phải
vì người
Đại
Hàn mến
đạo
Chúa hơn đạo
Phật
nên theo, mà vì lẽ
xã hội
phát triển,
con người
ít thì giờ
hơn, họ
thích trong một
số
thời
giờ
nhất
định
phải
làm một
số
việc
nhất
định;
vì vậy
thành phố
là nơi tiện
lợi
nhất
để
họ
đi lễ
bái nguyện
cầu,
mà chùa chiền
ở
đây
không có, bắt buộc
họ
phải
đi nhà thờ
để
tâm họ
được
an hơn. Điều
nầy
có thể
nói lên được
cái không thức thời
của
Phật
Giáo Đại
Hàn. Đức
Phật
đã
vì sự
đau khổ
của
chúng sanh mà thị
hiện
ra đời
nầy,
thì Phật
Giáo Đại
Hàn cũng
phải
vì sự
phát triển
của
đất
nước
mà phải
mang đạo
vào đời
mới
đúng
chứ? hay họ
sợ
như Nhật
Bản?
Bề
nào thì lợi
hại
cũng vẫn
có; nhưng điều
căn bản
là cái nào thuận
lợi
hơn thì phải
chấp
nhận
trước.
Có một
vài Đại
Học
Phật
Giáo tại
Đại
Hàn ngày nay trong phân khoa Phật
Học
chỉ
còn chừng
10 Sinh viên ghi tên học.
Trong khi đó
các phân khoa khác của
Đại
Học
nầy
lại
giảng
dạy giống
như ở
các đại
học
bình thường.
Điều
nầy
đối
với
những
người
Phật
Tử
là một
việc
đáng
buồn; nhưng
không biết tại
sao chư Tăng
Đại Hàn không làm một
cuộc
cách mạng
để
sửa
đổi
những
sự
biến
thái nầy?
đâu
phải
Đại
Hàn không có người
tài? Riêng tôi
đã
có dịp
đi Đại
Hàn vào năm
1993 và đã
thăm nhiều Phật
Học
Viện
của
Tăng cũng
như Ni. Nơi đây
đào
tạo cả
hằng
trăm, hàng
ngàn Tăng Ni sinh có bằng
cấp
Đại
Học;
nhưng sau khi
tốt nghiệp
xong không biết
họ
đi đâu
và họ làm gì? Tại
sao tệ
trạng
tâm linh của
xã hội
Đại
Hàn lên cao như
thế mà Phật
Giáo đã
chẳng có một
tiếng
nói nào?
Các xứ
Phật
Giáo Á Châu trong hiện
tại
đã
thay đổi vị
trí của
mình và nhiều
dân tộc
ở
Á Châu như
Phi Luật Tân không còn
giữ
bản
sắc
của
mình là một
quốc
gia Á Châu nữa.
Nền
văn hóa của
quốc
gia nầy
gần
như Âu Châu.
Còn Đại Hàn, nếu
chư Tăng và
Phật Tử
tại
xứ
nầy
nếu
không thức
thời,
chắc
chắn
vị
trí của
Phật
Giáo không còn
ảnh
hưởng
nữa
đối
với
nhân dân cũng
như chính
quyền như
những thời
xa xưa nữa.
Bù vào đó
các xã hội Âu Mỹ
cũng
đã
thay đổi niềm
tin. Phật
Giáo đang bắt
đầu
mọc
rễ
tại
nơi đây
và đẩy lùi
đi những
tín điều
cực
đoan của
những
tôn giáo khác. Hay
đây
là một sự
hoán cải
tâm linh của
vũ
trụ?
Tôi không cho rằng
tôn giáo nào tốt
hơn tôn giáo
nào cả. Chỉ
có con người
làm xấu
đi, chứ
bản
thể
của
Đạo
thì không xấu
mà cũng
chẳng
phải
không tốt.
Ngược
lại
Đài
Loan là một
đảo
quốc
rất
nhỏ
nhưng Phật
Giáo phát triển
rất
mạnh,
nhất
là từ
khi Tưởng
Giới
Thạch
đã
đến
đây
từ năm
1949. Trước khi ông Tưởng
Giới
Thạch
và Quốc
Dân Đảng
chạy
sang đây,
tại
đảo
quốc
nầy
cũng
đã
có các sắc dân
địa
phương sinh
sống. Kể
từ
đó
đến nay gần
50 năm xây dựng
thể
chế
dân chủ
tại
xứ
nầy,
Đài
Loan trong hiện tại
là một
trong những
nước
có nguồn
ngoại
tệ
dự
trữ
của
quốc
gia lớn
nhất
thế
giới.
Vì đâu
họ có
được
lợi
thế
nầy?
Có lẽ
vì nhờ
mất
mát hết
tất
cả,
chỉ
chạy
sang đây
bằng hai bàn tay trắng
từ
lục
địa
Trung Hoa, nên họ
phải
cố
gắng
tạo
dựng
cho họ
một
thế
đứng
tại
đảo
quốc
nầy
chăng? Đài
Loan ngày nay không còn là Đài
Loan của 30 năm
trước nữa,
mà là một
Đài
Loan tiến bộ
về
mọi
mặt
của
kỹ
thuật.
Song song đó
Phật Giáo
đã
phát triển một
cách nhịp
nhàng với
sự
tiến
bộ
của
khoa học
xứ
nầy.
Người
Đài
Loan tin vào phước
đức,
nên sự
cúng dường
vào chùa của
họ
để
cầu
phước
rất
nhiều.
Nhờ
đó
mà chùa chiền, tự
viện
mọc
lên vô số
kể
tại
đảo
quốc
nầy.
Có chùa lớn
hơn cung vua,
ví như chùa Phật Quang Sơn
ở
Đài
Nam và một số
chùa khác ở
Đài
Trung và Đài
Bắc. Các chùa
đều
có các Phật
Học
Viện
hay Đại
Học
và Trung Học
Phật
Giáo. Có các trường
cho cô nhi, có nhà
dưỡng lão cho những
người
già cả
và có nhà thương
thí để giúp
đỡ
cho những
người
nghèo. Hoạt
động
xã hội
của
Phật
Giáo tại
Đài
Loan cũng rất
tích cực.
Có nhiều
đoàn thể
cứu
tế
giúp đỡ
thế
giới
bên ngoài như thiên tai, bão lụt,
hạn
hán, núi lửa,
động
đất
v.v... Phật
Giáo tại
xứ
nầy
đã
xứng
đáng
tạo dựng
được
những
môi trường
cứu
tế
ấy
để
Phật
Tử
có nơi chốn
mà thể
hiện
lòng từ
bi của
họ.
Trụ
sở
của
Hội
Phật
Giáo Tăng Già
Thế Giới
hiện
đóng
tại
đây
và có lẽ trong những
năm tháng tới
vẫn
còn đóng
tại
đây
mãi, vì sự phát triển
Phật
Giáo tại
xứ
nầy;
nhưng có điều
đặc
biệt
tại
Đài
Loan giới nữ
xuất
gia nhiều
hơn giới
nam; nên chùa nào Ni cũng
đông hơn
Tăng, mặc dầu
chùa đó
do vị Tăng
trụ trì.
Điều
nầy
đúng
hay sai, tốt hay xấu
hãy để
cho thời
gian trả
lời.
Nhưng nhìn chung, sự
phát triển
của
Phật
Giáo Đài
Loan trong hiện tại
chỉ
nhằm
vào việc
tu tạo
phước
đức
hơn là kiến
tạo
cho một
xã hội
Đài
Loan có sự tu học
giải
thoát trong ánh sáng trí huệ
của
Đức
Phật.
Nếu
người
Phật
Tử
chỉ
chú trọng
ở
một
phương diện
tu phước
để
giàu có, còn quên tu huệ
để
được
giải
thoát, quả
là điều
thiếu
sót vô cùng.
Âu Mỹ
ngày nay sở
dĩ
biết
đến
Phật
Giáo nhiều
là nhờ
có sự
hiện
diện
của
Phật
Giáo Tây Tạng.
Vậy
chúng ta thử
tìm hiểu
về
ảnh
hưởng
của
Phật
Giáo tại
xứ
nầy.
Đạo
Phật
truyền vào Tây Tạng
đến
nay độ
khoảng
1.400 năm lịch
sử.
Từ
thế
kỷ
thứ
6 đến
nay Tây Tạng
đã
phát triển trong quốc
gia của
mình. Kể
từ
đầu
thế
kỷ
thứ
20 một
số
các nhà học
Phật
Âu Châu tới
nghiên cứu
Phật
Giáo tại
xứ
nầy,
sau đó
về nước,
mang theo một
ít kinh sách giáo lý của
Mật
Giáo Tây Tạng.
Cánh cửa
của
Tây Tạng
đã
hé mở và một
số
các học
giả
Tây Phương có
thể len lõi vào cõi tâm
linh cao rộng
ở
xứ
huyền
bí trên dãy Hy Mã Lạp
Sơn nầy.
Đặc
biệt
năm 1949 khi
Trung Hoa xâm lăng Tây Tạng,
Đức
Đạt
Lai Lạt
Ma đã
lưu vong sang Ấn
Độ
(1959) thì ảnh
hưởng
của
Phật
Giáo của
Tây Tạng
đối
với
thế
giới
càng ngày càng
được
biết
đến
nhiều
hơn.
Phật
Giáo Tây Tạng
chuyên về
trì chú và đi
sâu vào trí tuệ bát nhã
và các bộ
luận.
Nhưng điều
đặc
biệt
hơn là Phật
Giáo Tây Tạng
đã
giải thích cũng
như ứng
dụng
sự
tái sanh một
cách linh hoạt
rõ ràng hơn các xứ
Phật
Giáo khác. Tái sanh sau khi chết
là điều
Đứ