Phật Giáo Với Con Người
Thích Như Điển
---o0o---
CHƯƠNG HAI. (2b)
Tinh thần Phật Giáo
đối với các dân tộc Á Châu và Âu Mỹ
Sau đây
là sự phát triển
của
Phật
Giáo tại
Nhật
Bản.
Nhật
Bản
trong hiện
tại
thế
giới
phải
nghiêng mình. Lý do
đơn giản
là người
Nhật
đã
tự chiến
đấu
để
ra khỏi
nghèo đói,
nhất là sau thời
đệ
nhị
thế
chiến
họ
đã
thua trận. Có nhiều
người
bảo
rằng:
Sở
dĩ
người
Nhật
được
như ngày hôm
nay là nhờ tinh thần
tự
quyết
của
dân tộc,
tự
tồn
của
dân sinh; nhưng
cũng có nhiều
người
bảo
rằng:
Người
Nhật
đã
nhờ chiếc
nôi văn hóa
của Phật
Giáo bảo
bọc.
Có lẽ
cả
hai lý luận
ấy
đều
đúng.
Nếu chỉ
đứng về
một
phương diện
để
nhìn một
cách phiến
diện
thì không còn là người
Nhật
và nước
Nhật
ngày hôm nay nữa.
Kỹ
nghệ
hóa từ
thời
vua Minh Trị
Duy Tân (Meiji Ishin) 1868
đến
nay gần
150 năm, nước
Nhật
ngày nay đã
qua mặt Mỹ
Châu và Âu Châu về
vấn
đề
kỹ
thuật
và hiện
là một
người
anh cả
xứng
đáng
của Á Châu. Người
Nhật
biết
giữ
cái cũ
và chấp
nhận
cái mới
một
cách dễ
dàng. Họ
học
hỏi
văn minh Âu
Mỹ, nhưng
gạn lọc
lại
để
hòa đồng
với
văn minh của
họ.
Họ
cũng
chế
tạo
xe hơi, học
hỏi
từ
kỹ
thuật
của
Tây Phương
vào thế kỷ
thứ
19; nhưng thế
kỷ
20 nầy
là xe hơi của
Nhật.
Phật
Giáo ngày nay tại
Nhật
có chừng
70 Đại
Học
và vô số
trường
Trung Học,
Tiểu
Học,
Ấu
Trỉ
Viên, Cô Nhi Viện,
trại
dưỡng
lão, khách sạn,
trung tâm thương
mại v.v... Có nhiều
người
thích Nhật
nhưng cũng
có lắm
người
không. Không phải
vì vấn
đề
ganh tị
cá nhân hay sự
phát triển,
mà sự
khác biệt
về
địa
lý cũng
như phong tục
tập
quán. Ngôn ngữ
dẫu
khó đến
đâu
đi chăng nữa, người
ta có thể
học
hỏi
và làm quen
được;
nhưng phong
tục tập
quán thì mỗi dân tộc
đều
tự
hào về
mình và họ
cố
bám giữ
lấy.
Nếu
đánh
rơi mất phần
nầy,
xem như bị
đồng
hóa, có lẽ
vì thế
mà người
Nhật
cũng
có một
thế
đứng
riêng của
họ
cũng
nên. Họ
là một
dân tộc
thuộc
đảo
quốc;
nên cũng
dễ
thâu nhận
vào mà khó chi phát
ra, vì vấn
đề
địa
lý, nhân chủng
của
quốc
gia nầy.
Ví dụ
như, khi thế
giới
thấy
những
trận
động
đất
kinh hồn
tại
Kobe ở
Nhật
Bản
năm 1995 vừa
qua, ai cũng
nghĩ
là không ai dám
đến
định
cư vùng nầy
nữa;
nhưng điều
ấy
đã
lầm.. Ngày nay những
ngôi nhà hiện
đại
vẫn
được
mọc
lên nơi đó.
Họ phải
chấp
nhận
để
sống
còn, vì họ
là người
Nhật.
Chỉ
đơn giản
vậy
thôi. Có ai trong chúng ta có thể
nghĩ
rằng
một
thước
vuông đất
tại
Shinjuku mua
để cất
nhà từ
100.000 đến
200.000 US$. Còn muốn
rẻ
hơn, vào
trong núi tìm, ít nhất cũng
3.000 US$ một
thước
vuông và nơi động
đất
tại
Kobe vừa
rồi,
giá cũng
không dưới
vài chục
ngàn US$ một
thước
vuông. Đúng
là: tấc
đất
tấc
vàng. Người
Nhật
cũng
có thể
đi ra ngoại
quốc
để
lập
nghiệp;
nhưng rồi
họ
cũng
trở
về cố
hương, vì họ
không thể
bỏ
quê cha đất
tổ
của
họ.
Điều
nầy
cũng
giống
như người
Trung Quốc,
mặc
dầu
mấy
đời
con cháu của
họ
được
sinh trưởng
ra ở
ngoại
quốc;
nhưng họ
không bao giờ
để
cho con cái họ
quên tiếng
mẹ
đẻ
của
họ
và bao giờ
cũng
hướng
về
Trung Quốc
là nơi cố
quốc
của
nhiều
người
và nhiều
đời.
Người
Nhật
Bản
cũng
là một
trong các dân tộc
Á Châu nên cũng
cùng quan điểm
ấy.
Khi xã hội
phát triển
thì các tệ
nạn
khác của
xã hội
cũng
phát triển
theo; nên đã
làm hoen ố
đi phần
nào văn minh
của xứ
Nhật
nói riêng, cũng
như nói chung
khắp nơi
trên thế giới;
nhưng cái
thiện bao giờ
cũng
phải
thắng
cái ác. Lúc bây giờ
thì sự
thật
lại
hiển
bày. Cũng
như thế
ấy,
suốt
hai ba nghìn năm
qua, các tôn giáo chơn chánh vẫn
còn tồn
tại
cho đến
ngày hôm nay, còn các
chủ nghĩa,
thay đổi
không biết
bao nhiêu là chính quyền.
Các thế
lực
chính trị
thay đổi
từ
lúc đời
sống
kinh tế
tập
thể
sơ khai, đến
thời
kỳ
đồ
đồng,
đồ
đá;
rồi
đến
các chế
độ
quân chủ
độc
tài, đến
cộng
sản,
dân chủ
pháp trị
v.v... rồi
đây
còn thể chế
nào xuất
hiện
nữa
thì không ai biết
được;
nhưng thế
giới
luôn đổi
thay, vì tánh bất
ổn
của
nó. Tự
thể
của
chính trị
là một
sự
thay đổi;
nên không thể
so sánh với
sự
phát triển
của
tôn giáo được.
Tôn giáo quý trọng
ở
lãnh vực
tinh thần,
bảo
gọc giữ
gìn những
cái gì cũ
kỹ.
Trong khi đó
khoa học và chính trị
thì ngược
lại,
cái gì càng mới
càng được
ưa chuộng.
Nếu
hai điều
nầy
bổ
sung được
cho nhau thì thế
giới
có thể
phát triển
gần
giống
như một
mô hình của
nước
Nhật
trong hiện
tại.
Trên đây
chỉ
là một
ý niệm
nhỏ
về
sự
phát triển
của
nước
Nhật
ngày nay. Bây giờ
chúng ta thử
đi sâu vào cội
nguồn
căn rễ
của
xứ
nầy
từ
những
ngày đầu
tiên khi Đạo
Phật
mới
đến
đây,
xem thử Phật
Giáo đã
đóng
góp như thế nào cho xứ
nầy?
Nhật
Bản
ngày xưa cũng
ảnh
hưởng
văn hóa của
Trung Hoa như
Việt Nam và
Đại
Hàn đã
ảnh hưởng.
Vì vậy
Phật
Giáo đến
xứ
nầy
bằng
chính người
Trung Hoa buôn bán bằng
thương thuyền
với
Nhật
Bản;
nhưng cũng
có sử
liệu
cho rằng:
Phật
Giáo đến
nước
Nhật
qua ngõ Đại
Hàn. Nhưng
giữa thế
kỷ
thứ
5, thứ
6, Đại
Hàn cũng
giống
như Việt
Nam, đều
dùng chữ
Hán để
giao dịch
hằng
ngày; nên có thể
nói rằng
Phật
Giáo Đại
Hàn cũng
đã
ảnh hưởng
rất
sâu đậm
của
nền
văn hóa Trung
Quốc. Ngoài ra cũng
có một
số
quý vị
Tăng sĩ
Nhật
Bản
qua thẳng
Trung Quốc
để
học
đạo,
sau đó
mang giáo lý nầy về
truyền
bá lại
cho nước
Nhật,
trong đó
có Ngài Dogen là một
trong những
Thiền
Sư thuộc
Tào Động
Tông lúc bấy
giờ.
Đạo
Phật
đến
nước
Nhật
cũng
như Đạo
Phật
đến
Trung Quốc
thuở
xưa. Vì lẽ
văn hóa của
Phật
Giáo hòa nhập
vào văn hóa
của dân tộc
nên người
Nhật
cũng
đã
chấp nhận
Phật
Giáo một
cách dễ
dàng.
Các vị
Thiền
sư Nhật
Bản
qua Trung Quốc
học
Thiền
và Tịnh
Độ
cũng
như Mật
Giáo. Đây
là 3 môn phái chính của
Phật
Giáo Đại
Thừa.
Ngoài ra Hoa Nghiêm Tông, Pháp Tướng
Tông, Thành Thật
Tông v.v... cả
10 Tông phái của
Trung Hoa đương thời
cũng
đã
được truyền
sang Nhật
Bản.
Ngoài những
giáo lý căn
bản nầy
học
được,
các vị
Thiền
sư Nhật
còn học
võ đạo,
kiếm
đạo,
thơ đạo,
trà đạo
và nhất
là nghệ
thuật
biến
chế
suối
nước
nóng thiên nhiên
để
chữa
bịnh
cho dân chúng cũng
rất
thành công thuở
bấy
giờ
và ngay cả
bây giờ.
Trung Hoa cũng
có trà đạo,
thơ đạo
và võ đạo;
nhưng những
loại
nầy
khi du nhập
vào Nhật
Bản
nó đã
biến thành của
người
Nhật,
chứ
không còn của
Trung Hoa nữa.
Đây
là cách hấp thụ
tài tình của
người
Nhật,
để
không trở
thành kẻ
lai căn, mất
gốc
và nhất
là đánh mất
đi nền
văn hóa cá
biệt của
mình. Đây
là sự thành công rất
lớn
của
Phật
Giáo cũng
như dân tộc
Nhật
Bản
mà trên thế
giới
ít có dân tộc
nào làm được.
Những ngày tháng
phôi thai của Phật
Giáo mới
truyền
vào đã
được quần
chúng hấp
thụ
một
cách nhanh chóng trong thế
kỷ
thứ
6, để
chỉ
cần
một
thế
kỷ
sau, ảnh
hưởng
của
Đạo
Phật
đã
lan rộng vào chốn
cung đình.
Trên từ vua quan, hoàng
hậu,
thứ
phi, dưới
đến
bàn dân thiên
hạ. Tất
cả
đều
quy ngưỡng
về
Phật
Giáo. Đó
là thời Thánh
Đức
Thái Tử
(Sotoku Taishi) trị
vì vào thế
kỷ
thứ
7 tại
Nhật
Bản.
Vị
vua nầy
đã
áp dụng ngũ
giới
của
nhà Phật
vào hiến
pháp để
trị
dân, giống
như vua A Dục
đã
làm tại
Ấn
Độ
cách đó
1.000 năm về trước.
Mỗi
ngày nhà vua quay về
hướng
đông
lạy 7 lạy
để
tôn kính 7 vị
Phật
trong quá khứ,
trước
khi lâm triều.
Thời
nầy
các vị
Tăng sĩ
cũng
được
mời
tham dự
các công việc
quốc
sự.
Vì lẽ
thuở
bấy
giờ,
trong dân chúng Tăng
sĩ là từng
lớp
được
trọng
vọng
nhiều
nhất
sau các bậc
quan quyền.
Không phải
vì họ
có địa
vị,
chức
tước,
phẩm
quyền,
mà vì họ
có học.
Tam Tạng
kinh điển
bằng
chữ
Hán, nếu
học
cho hết
được,
đây
cũng là một
đại
tác phẩm
văn hóa cho
cuộc sống
tâm linh, mà các vị
Sư Tăng là
những người
tiêu biểu.
Vả
lại
cuộc
sống
thanh bần
của
các Ngài cũng
đã
làm cho nhân dân cũng như
triều
đình
khâm phục; nên nhờ
thế
mà Phật
Giáo có một
chân đứng
rất
vững
chải
trong cuộc
sống
tâm linh của
mọi
người.
Các Ngài tuy có quyền
uy trong chính quyền
với
tư cách là cố
vấn
cho nhà vua; nhưng các Ngài không tham danh vọng;
tính thoát tục
đó,
đã
là một bài học
cao quý và đáng
tin tưởng cho mọi
người
rồi.
Đạo
Phật
phát triển
mạnh
nhất
có thể
nói là thời
của
Thánh Đức
Thái Tử
trị
vì và ngày nay nếu
có ai đó
đến Nhậ