HẠNH PHÚC CHÂN THƯỜNG
THE ART OF HAPPINESS
Đức Đạt Lai
Lạt Ma
Bác Sĩ
Howard C. Cutler
Nguyên Dực chuyển
ngữ
---o0o---
PHẦN 3. CHUYỂN HÓA
ĐAU THƯƠNG
Chương 8
ĐỐI DIỆN
VỚI KHỔ NÃO
Lúc
đức Phật còn tại thế, có một người đàn bà tên là Kisagotami đã vô cùng
đau khổ khi đứa con trai duy nhất của bà tử nạn. Bà chạy hết người này
đến người kia với hy vọng tìm ra thuốc cải tử hoàn sinh cho đứa con. Bà
nghe người ta nói đức Phật có thứ thuốc đó. Kisagotami tìm đến, đảnh lễ
đức Phật rồi nói :
"Ngài
có biết thuốc gì để cứu sống con tôi ?"
"Ta
có thể chế được thuốc ấy." Đức Phật trả lời: "Nhưng ta cần một ít hương
liệu"
Người
đàn bà như thoát nạn vội hỏi: "Ngài cần những gì ? "
"Bà
hãy kiếm cho ta một ít hột mù tạc."
Người
đàn bà cam đoan sẽ kiếm ra và vội vã chạy đi. Nhưng đức Phật nói thêm :
"Hột
mù tạc mà ta muốn phải được lấy từ một gia đình chưa hề có con cái, vợ
chồng, cha mẹ, hay người giúp việc bị chết."
Người
đàn bà chấp nhận yêu sách đó và bắt đầu đi từ nhà này sang nhà khác để
kiếm hột mù tạc. Nhà nào cũng sẵn lòng cho Kisagotami một ít hột mù
tạc, nhưng khi hỏi thăm thì bà ta không tìm ra một gia đình nào không có
người chết: không cha mẹ thì vợ chồng, không con cái thì người giúp
việc.
Trực
ngộ được rằng không phải chỉ có mình bị khổ não, người đàn bà buông xác
con và quay lại tìm đức Phật. Bậc Đại Giác vỗ về: "Bà tưởng chỉ một mình
bà mất con? Luật sinh tử nói rằng không có gì trường cửu trên thế gian
này cả."
Cuộc tìm
kiếm của Kisagotami đã khiến bà hiểu rằng không một ai trên cõi đời này
tránh được khổ đau và mất mát. Khổ nạn ấy không phải của riêng bà. Hiểu
được điều đó, không phải người ta sẽ không khổ đau khi bị mất mát nhưng
nỗi đau khổ sẽ giảm thiểu rất nhiều khi chúng ta chấp nhận sự thật buồn
bã đó của cuộc đời.
Mặc dù
đau đớn và khổ não là một hiện tượng có tính cách toàn cầu của loài
người, con người vẫn không muốn chấp nhận chúng. Nhân loại đã tìm ra
không biết cơ man nào là những phương pháp để tránh đau đớn và khổ não.
Có khi người ta dùng những hình thức ngoại vi như hóa chất chẳng hạn để
xoa dịu hoặc ngăn chận những cảm giác này. Chúng ta cũng có những khả
năng nội tại, những phòng thủ tâm lý để chống lại đau khổ. Tình trạng
ngất xỉu cũng được coi là một cách thức chống lại đau đớn của thể xác.
Trong một số trường hợp, những năng lực nội tại này khá sơ đẳng như khi
người ta cứ nhất định không nhìn nhận sự hiện diện của một khó khăn nào
đó, hoặc biết rằng mình đang gặp phải một vấn nạn nhưng lại tìm cách
tránh né, không nghĩ tới nó bằng cách buông thả vào những thú vui thế
tục. Cũng có khi người ta dùng phương pháp phóng chiếu: không chấp nhận
sự khổ não đó là của mình và tìm cách đổ lỗi cho người khác. Thông
thường nhất là đổ cho xếp lúc nào cũng tìm cách hành tội mình, tại bà
vợ/ông chồng lúc nào cũng chèn ép mình ...
Người ta
chỉ có thể tạm thời tránh né khổ đau. Nhưng giống như một căn bịnh không
được chữa trị (hoặc chữa trị không đúng cách: triệu chứng bên ngoài có
thể thuyên giảm nhưng gốc rễ bên trong vẫn còn nguyên) nó càng ngày càng
nặng hơn. Các dược chất có thể giúp chúng ta làm dịu cơn đau hoặc rượu
có thể giúp chúng ta quên đi niềm khổ não, nhưng nếu sử dụng lâu dài, sự
tàn phá của chúng đối với cơ thể vật lý cũng như cuộc sống xã hội của
chúng ta còn nguy hại gấp bội so với những đau đớn và khổ não mà chúng
ta phải chịu đựng lúc ban đầu. Các phương thức phòng thủ tâm lý nội tại
của chúng ta như từ chối chấp nhận sự thật, đè nén cảm giác ... cũng
giúp chúng ta chịu đựng một thời gian, nhưng chúng không thể làm
cho các đau đớn và khổ nạn biến mất.
Bố của
Randall qua đời vì bịnh ung thư đã được hơn một năm nay. Randall rất gần
gũi với bố và mọi người đã hoàn toàn khâm phục khi thấy Randall kềm chế
cảm xúc của mình trước cái chết của người cha. "Dĩ nhiên là tôi buồn
khổ. " Randall giải thích bằng một giọng khắc kỷ: "Tôi thương nhớ bố lắm
nhưng còn nhiều chuyện phải làm. Tôi không thể ngồi ì ra đó để khóc lóc,
tôi phải thu xếp đám tang, dàn xếp sự sản cho mẹ.... Cuộc đời vẫn phải
tiếp tục.... Không sao đâu, tôi khoẻ mà !" Tuy nhiên, không bao lâu sau
ngày giỗ đầu của bố, Randalll bắt đầu bị chứng trầm cảm khá nghiêm
trọng. Anh ta đến phòng mạch của tôi và giải thích: "Không thể hiểu được
do đâu mà tôi lại bị chứng bịnh này. Hiện giờ mọi chuyện có vẻ suông sẻ.
Tôi không nghĩ cái chết của cha tôi là nguyên nhân của căn bịnh. Cha tôi
mất hơn một năm rồi và tôi đã quen với cuộc sống mồ côi."
Chỉ xem
qua một ít triệu chứng, tôi đã tìm thấy nguyên nhân của chứng bịnh: Mặc
dù kềm chế được cảm xúc, tỏ được cho người ngoài thấy rằng mình vững
chãi, Randall chưa bao giờ thực sự đối diện với nỗi buồn khổ sâu đậm của
mình do sự ra đi của bố. Nỗi khổ đau thật ra cứ âm thầm lớn mạnh và cuối
cùng đã tạo ra chứng trầm cảm nghiêm trọng mà anh ta phải hứng chịu.
Trong trường hợp của Randall, vì nguyên nhân của căn bịnh khá rõ ràng
nên chúng ta có thể chú mục vào đấy để điều trị, thành thử anh ta mau
chóng phục hồi. Trong nhiều trường hợp khác, từ vô thức, người bệnh đã
nhất định không chịu đối diện với vấn đề, và căn nguyên của bịnh trạng
đã hằn sâu vào cá tính của bịnh nhân khiến cho việc chữa trị vô cùng
khó khăn. Ai trong chúng ta cũng đã có dịp biết một người bạn, người
quen, người thân nào đó đã tránh né vấn đề, tìm cách đổ lỗi cho người
khác trong khi thật sự chính họ là người có lỗi. Đây dĩ nhiên không phải
là phương pháp hữu hiệu để giải quyết những vấn nạn của đời sống và loại
người thường tìm cách tránh né những vấn nạn này cũng không tìm thấy
hạnh phúc trong cuộc đời.
Đức Đạt
Lai Lạt Ma đã phân tích rất tỉ mỉ sự khổ đau của kiếp người. Quan điểm
của Ngài cho rằng người ta có thể giảm bớt khổ đau bằng cách chấp nhận
khổ đau là một phần tự nhiên của đời sống và bằng cách can đảm trực diện
với chúng: "Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta không thể tránh khỏi
các khó khăn. Những khó khăn lớn lao nhất lại là những cái mà không ai
tránh né được như già yếu, bệnh tật và tử vong. Tìm cách lẫn tránh
chúng, không nghĩ đến chúng có thể giúp chúng ta thoát nạn trong chốc
lát, nhưng tôi cho rằng có một phương pháp hữu hiệu hơn: Bạn sẽ ở một vị
trí thuận lợi hơn, hiểu thấu bản chất thực sự các khó khăn của đời sống
hơn nếu bạn nhìn thẳng vào chúng. Trong một cuộc chiến đấu, nếu không
hiểu rõ bản chất và khả năng của kẻ địch, chúng ta sẽ hoàn toàn bị động
và nỗi khiếp sợ sẽ làm tê liệt chúng ta. Trái lại, nếu biết khả năng kẻ
địch đến đâu, vũ khí nào được chúng sử dụng ... thì chúng ta sẽ dễ dàng
chuẩn bị cho mình. Cũng thế, bạn sẽ đối phó dễ dàng hơn với những khó
khăn trong đời bằng cách nhìn thẳng vào chúng thay vì lẫn tránh chúng.
Phương
pháp giải quyết vấn đề này rõ ràng là hợp tình hợp lý, nhưng vì muốn đức
Đạt Lai Lạt Ma giải đáp tường tận hơn nên tôi hỏi: "Vâng, nhưng nếu
chúng ta trực diện với vấn nạn rồi không tìm được giải pháp nào thì làm
sao ?"
"Tôi vẫn
cho rằng tốt hơn nên trực diện với chúng" Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp lời tôi
với một tâm trạng hăng hái: "Giả dụ như anh cho rằng những chuyện như
tuổi già, nỗi chết là những chuyện tiêu cực, không ai muốn nói đến nên
chúng ta tìm cách quên chúng đi. Nhưng quên chúng thì chúng vẫn đến kia
mà ? Và nếu cứ tìm cách lẫn tránh, không chuẩn bị trước, khi chúng đến,
anh sẽ bị chấn động, bị sốc. Tuy nhiên, nếu đã dành thì giờ suy nghĩ về
những khổ nạn này, tâm trí chúng ta sẽ ở trong một trạng thái vững chãi
hơn rất nhiều khi những chuyện này xảy đến vì anh đã chuẩn bị, đã làm
quen, đã chấp nhận chúng.
"Do vậy
mà tôi cho rằng chuẩn bị tinh thần, làm quen với những khổ nạn mà mình
có thể gặp là điều hữu ích. Sử dụng phương pháp loại suy, nghiền ngẫm
các khổ nạn cũng giống như thực tập các hoạt động quân sự. Một người
chưa bao giờ nghe đến chiến tranh, súng nổ, bom rơi ... nếu phải giáp
mặt với chiến trường, chắc họ sẽ chết ngất vì sợ hãi. Nhưng nếu được
luyện tập thường xuyên, tâm trí chúng ta sẽ quen với những âm thanh của
bom đạn và nếu phải đối mặt với chiến trường, chúng ta sẽ ít bị hãi hùng
hơn."
Tôi ngắt
lời đức Đạt Lai Lạt Ma: "Đồng ý rằng làm quen với khổ nạn sẽ giảm thiểu
nỗi sợ hãi và lo lắng của chúng ta, nhưng tôi nghĩ rằng có những trường
hợp tấn thối lưỡng nan mà chúng ta không cách nào tránh khỏi. Trong
những tình huống như vậy, làm sao để người ta bớt lo âu ?"
Đức Đạt
Lai Lạt Ma hỏi: "Thí dụ như tình huống nào ?"
Tôi cân
nhắc một chút rồi đáp: "Lấy trường hợp một người đàn bà đang có thai
chẳng hạn. Kết quả các cuộc thử nghiệm cho thấy đứa bé bị khuyết tật khá
nặng về tâm thần hoặc thể chất. Do vậy người đàn bà rất sợ hãi và không
biết làm sao. Giả dụ như muốn tránh cho đứa bé phải sống một cuộc đời
đày đọa, người đàn bà có thể chọn giải pháp phá thai. Nhưng làm như vậy,
bà ta sẽ phải chịu đựng một sự đau khổ và mất mát lớn lao, đồng thời
phải mang mặc cảm phạm tội. Hoặc người đàn bà phó mặc cho định mệnh an
bài và sẽ cưu mang đứa bé nghĩa là phải gánh chịu một cuộc sống khổ não
cho cả mẹ lẫn con."
Đức Đạt
Lai Lạt Ma nghe tôi nói một cách chăm chú và đáp lại bằng một âm điệu
bâng khuâng: "Dù giải quyết theo quan điểm Tây phương hay dựa trên giáo
lý nhà Phật, người ta đều gặp rất nhiều khó khăn đối với những hoàn cảnh
khó xử như vậy. Trong thí dụ mà anh vừa đưa ra về một bào thai khuyết
tật, trong đường dài, không ai dám nói chắc rằng đâu là sai và đâu là
đúng. Dù bị khuyết tật, đứa bé có thể là một điều tốt cho người mẹ, cho
gia đình và cho chính bản thân nó nữa (nghịch duyên). Nhưng cũng có thể
nó là một gánh nặng mà một số người không cưu mang nổi về dài về lâu,
cho nên phá thai trong trường hợp này chưa hẳn là điều xấu. Nhưng ai có
quyền phán xét ? Rất khó nói. Theo quan điểm nhà Phật, những trường hợp
này nhiều khi cũng vượt khỏi phạm vi hành xử của chúng ta". Đức Đạt Lai
Lạt Ma ngừng một lúc rồi nói tiếp: "Có điều là niềm tin và quá trình lớn
khôn của người ta đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành quyết
định ..."
Chúng
tôi ngồi lặng yên. Sau cùng, đức Đạt Lai Lạt Ma lắc đầu rồi nói tiếp:
"Khi suy ngẫm về những khổ nạn mà con người phải gánh chịu, chúng ta có
thể sửa soạn tâm tư để đón nhận chúng ở một mức độ nào đó; tuy nhiên
đừng quên rằng sự sửa soạn trước như vậy không làm cho khổ nạn vơi bớt
đi. Sự sửa soạn tinh thần chỉ giúp chúng ta bớt sợ hãi, yên tâm hơn để
đón nhận chúng. Trở lại thí dụ về đứa bé khuyết tật, cho dù có sửa soạn
bao nhiêu đi nữa, chúng ta cũng phải chấp nhận một giải pháp nào đó cho
vấn đề, và bất cứ giải pháp nào cũng khó khăn cả."
Có một
âm hưởng buồn thảm trong giọng nói của đức Đạt Lai Lạt Ma tuy không phải
là vô vọng. Ngài ngừng nói, nhìn đăm chiêu qua khung cửa. Một phút sau,
Ngài tiếp: "Khổ não là một-phần-không-thể-tránh-được của cuộc đời mặc dù
khuynh hướng tự nhiên của chúng ta là không thích chúng. Nhưng nói một
cách tổng quát, tôi cho rằng con người không phổ quát hóa sự khổ đau
trong cuộc sống của chúng ta ...". Tự nhiên đức Đạt Lai Lạt Ma bật cười
và nói đùa: "Anh thấy không, khi kỷ niệm ngày chúng ta chào đời, ai cũng
nói 'Chúc mừng sinh nhật' trong khi thật ra, đó là ngày của những khổ
đau bắt đầu. Nhưng có ai nói chia buồn với chúng ta đâu ?
"Khi
chấp nhận khổ não là một phần của cuộc sống, chúng ta có thể bắt đầu
bằng sự khảo sát những nguyên nhân đưa đến tình trạng không hài lòng,
không hạnh phúc. Thông thường thì người ta cảm thấy vui vẻ nếu chúng ta
hay người thân của mình được tán dương, nổi tiếng, gặp hên... và ngược
lại, chúng ta cảm thấy buồn rầu nếu không nhận được những điều tốt đẹp
đó. Chúng ta cũng không vui khi đối thủ của mình gặp may như vậy. Tuy
nhiên, nhìn vào cuộc sống thường ngày, anh sẽ thấy có vô số những dữ
kiện đưa chúng ta đến tình trạng không hài lòng, bực bội, đau khổ ...
trong khi những nguyên nhân đưa đến sự vui vẻ, hạnh phúc lại tương đối
hiếm hoi. Đây cũng là một đặc điểm khác của đời sống mà chúng ta phải
chấp nhận dù thích hay không. Và vì đây là những thực thể của cuộc đời,
chúng ta phải thay đổi thái độ của mình đối với khổ đau. Thái độ của
chúng ta đối với khổ nạn ảnh hưởng sâu đậm đến phương thức ứng xử của
người ta khi những khổ nạn này xuất hiện. Thái độ thông thường của
chúng ta là không có thiện cảm và khoan nhượng đối với khổ não. Tuy
nhiên, nếu chúng ta có thể chuyển hóa thái độ của mình, chấp nhận một
quan điểm với nhiều khoan nhượng hơn, may ra, chúng ta sẽ dễ dàng hơn
trong việc chấp nhận những cảm giác bất toại nguyện, bất như ý, bất hạnh
của cuộc đời.
"Riêng
cá nhân tôi, phương cách hữu hiệu nhất để chấp nhận khổ đau là nhìn rõ
và hiểu thấu bản chất của ý niệm LUÂN HỒI,
do vô minh sai sử ... Khi gặp khó khăn hay đau đớn thể xác, người ta
thường có ý nghĩ rằng 'Ôi đau đớn quá, khổ não quá' . Đó là một cảm giác
chối bỏ, cảm giác cho rằng lẽ ra ta không phải chịu đựng như vậy. Nhưng
nếu cùng lúc đó, nếu nhìn vấn đề từ một góc độ khác để nhận thức rằng
những khó khăn, đau đớn đó là tự nhiên, là không tránh được thì cảm giác
chối bỏ sẽ giảm đi: Bạn không cảm thấy mình bị đày đọa, không phải là
tội nhân nữa. Khi đã hiểu và chấp nhận sự thật này, khổ não đối với
người ta chỉ là một cái gì tự nhiên, thông thường. Do vậy, khi nói về
những đày ải mà người dân Tây Tạng đang phải gánh chịu, một mặt,
người ta có thể bị chìm ngập, thúc thủ mà nghĩ rằng 'Làm sao lại có thể
như vậy được ?' Nhưng mặt khác, người ta có thể cho rằng người dân Tây
Tạng đang ở giữa biển trầm luân (đang trả quả) như hành tinh này đang
chơi vơi trong dãy thiên hà vậy.
"Vậy thì
cách nhìn đời của chúng ta đóng một vai trò quan trọng trong việc chấp
nhận khổ não. Nếu cho rằng khổ đau là tiêu cực, là thất bại, phải tránh
xa bằng mọi giá thì khi phải đối diện với khổ đau, chúng ta sẽ bị rối
loạn, không chấp nhận và có cảm giác chìm đắm, thúc thủ. Ngược lại, nếu
chấp nhận khổ đau là một phần tự nhiên của đời sống, chúng ta sẽ dễ dàng
chấp nhận những nghịch lý của cuộc đời. Không chịu khoan nhượng với khổ
đau, cuộc sống của chúng ta sẽ vô cùng khốn khó, sẽ như đêm dài vô tận,
không bao giờ chấm dứt."
Tôi nói:
" Nghe Ngài trình bày về khía cạnh khổ đau, không toại ý của kiếp người,
tôi có cảm tưởng đây là một cái nhìn yếm thế, khá nản lòng."
Đức Đạt
Lai Lạt Ma nhanh nhẩu khai thông vấn đề: "Khi đề cập đến tính chất bất
như ý trong cuộc sinh tồn, chúng ta nên hiểu rằng vấn đề này được nhắc
đến khắp nơi trong giáo lý nhà Phật, cho nên phải được hiểu một cách
đúng đắn theo bối cảnh Phật giáo. Nếu khổ não không được thông hiểu bằng
nhân sinh quan nhà Phật, tôi nghĩ rằng người ta sẽ hiểu lầm và đưa đến ý
niệm cho rằng đây là những ý tưởng bi quan, tiêu cực. Do đó, người ta
phải hiểu rõ lập trường của Phật giáo về toàn bộ ý niệm khổ đau. Chúng
ta sẽ dễ dàng tìm thấy trong những lần thuyết giảng trước công chúng,
đầu tiên, Đức Phật đã dạy về Tứ Diệu Đế, và trong bốn sự thật căn để
này, khổ đế được đề cập trước nhất: Sự hiện hữu của con người, tự bản
chất, là khổ đau.
Điều cần
ghi nhớ là sự quán sát khổ đau rất quan trọng vì con người có thể
tránh được đau khổ, chúng ta có thể có một sự chọn lựa khác. Bằng
cách khai trừ những nguyên nhân của khổ não, chúng ta có thể đạt được
tình trạng giải thoát, một tình trạng sinh tồn trong đó không có khổ
đau. Theo tư tưởng Phật giáo, những nguyên nhân của khổ đau là Vô Minh,
Tham Dục và Thù Hận. Đó là ba thứ độc dược của tâm thức. Trong Phật
giáo, những danh từ này có một ý nghĩa đặc biệt sâu rộng hơn. Như khi
nói vô minh, người ta không chỉ đơn thuần đề cập đến sự ngu dốt, không
thông hiểu trong đời sống thường nhật mà còn ngụ ý về nhận thức sai lầm
căn bản về bản chất của NGÃ (ta) và PHÁP (vạn hữu). Hoặc khi thấu hiểu
bản chất chân thật của sự vật, khai trừ những nguyên nhân đưa đến khổ
đau như tham dục và hận thù, tâm ta có thể đạt đến tình trạng thanh tịnh
nghĩa là không còn khổ não. Cũng theo quan điểm nhà Phật, suy ngẫm đến
cuộc sống bị khổ đau chi phối từng ngày sẽ thúc đẩy người tìm cách trừ
khử các nguyên nhân gây ra đau khổ. Vì nếu không có hy vọng, không có
khả năng tránh được khổ đau thì những suy ngẫm về đau khổ chỉ là những ý
tưởng bệnh hoạn, tiêu cực và hoàn toàn vô ích."
Nghe đức
Đạt Lai Lạt Ma giảng giải, tôi bắt đầu nhận ra rằng sự suy ngẫm về 'bản
chất khổ đau' có thể giữ một vai trò quan hệ trong việc chấp nhận những
buồn khổ không thể tránh được của cuộc sống. Hơn thế, nó có thể trở
thành một phương thức hữu hiệu để đặt lại những vấn nạn của cuộc đời vào
một vị trí thích hợp hơn. Tôi cũng nhận ra rằng khổ đau cần phải được
nhận thức trong một bối cảnh rộng lớn hơn, rằng nó là một phần của hành
trang tinh thần, đặc biệt là trong phạm trù Phật giáo, trong đó nói rằng
con người có thể tránh được khổ não nếu thanh lọc được tâm. Nhưng thay
vì suy nghĩ về những vấn đề triết học lớn lao, tôi lại thích tìm hiểu
xem đức Đạt Lai Lạt Ma đã ứng xử thế nào đối với những khổ đau ở tầm mức
cá nhân của Ngài như khi mất người thân chẳng hạn.
Khi
viếng thăm đức Đạt Lai Lạt Ma lần đầu tiên ở Dharamsala cách đây nhiều
năm về trước, tôi có dịp làm quen với Lobsang Samden, người anh của
Ngài. Tôi rất thích ông ta và cách đây ít năm, tôi đã rất xúc động khi
nghe tin ông ấy qua đời. Biết rằng ông ta và đức Đạt Lai Lạt Ma rất thân
thiết với nhau, tôi nói :
"Tôi
đoán rằng cái chết của ông Lobsang đã ảnh hưởng đến Ngài rất mãnh liệt
..."
"Vâng,
quả có vậy"
"Không
hiểu Ngài đã xử trí ra sao trong trường hợp ấy?"
"Dĩ
nhiên là tôi rất buồn khi nghe tin anh ấy mất" đức Đạt Lai Lạt Ma nói
như thì thầm.
"Và Ngài
đã ứng phó với cảm giác buồn rầu như thế nào? Ý tôi muốn nói là có cái
gì giúp Ngài vượt qua nỗi xúc động ấy?".
Đức Đạt
Lai Lạt Ma đáp với giọng đăm chiêu: "Tôi không biết. Cảm giác buồn rầu
bủa giăng lấy tôi trong vài tuần rồi dần dà bớt đi, nhưng tôi có cảm
tưởng hối hận ..."
"Hối hận
?"
"Vâng,
tôi ở xa lúc anh ấy mất. Nếu không phải đi xa, may ra
tôi có thể làm một vài chuyện gì đó để giúp anh ấy.
Do vậy mà tôi cảm thấy hối tiếc."
Suốt cả
đời quán chiếu về những khổ-đau-không-thể-tránh-được của nhân loại có
thể đã giúp đức Đạt Lai Lạt Ma rất nhiều trong việc chấp nhận nỗi đau
khi mất người thân nhưng không làm cho Ngài trở thành một người lạnh
lùng, vô cảm xúc. Điệu buồn trong giọng nói của đức Đạt Lai Lạt Ma cho
thấy Ngài vẫn là một con người chan chứa tình cảm. Nhưng đồng thời, vẻ
bộc trực và phong thái chân thành của Ngài cho thấy Ngài đã hoàn toàn
vượt lên trên tình trạng than thân trách phận hoặc bi phẩn ai oán. Cái
phong thái đã tạo ra một ấn tượng không thể nhầm lẫn được là Ngài đã sẵn
sàng chấp nhận những mất mát đó.
Ngày hôm
đó, buổi đàm luận của chúng tôi kéo dài đến chiều tối. Những vệt nắng
vàng xuyên qua khung cửa chắn, bò vào căn phòng đang chìm dần vào bóng
tối. Một bầu không khí u sầu bao phủ căn phòng và tôi hiểu rằng giờ nói
chuyện đã hết tuy tôi vẫn muốn hỏi thêm đức Đạt Lai Lạt Ma về những chi
tiết như Ngài có cách nào giúp người ta chống chọi với nỗi khổ đau khi
có người thân qua đời, chứ không chỉ đơn giản coi đó là một khổ đau
không tránh được. Tôi định hỏi thêm nhưng đức Đạt Lai Lạt Ma như bị phân
tâm và tôi thấy ánh mắt của Ngài có vẻ mệt mỏi. Cùng lúc đó, người thư
ký của Ngài bước vào phòng, nhìn tôi như báo cho biết rằng buổi đàm luận
đã kết thúc. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với giọng phân trần: "Có lẽ chúng ta
nên chấm dứt ở đây, tôi cảm thấy hơi mệt ..."
Ngày hôm
sau, trước khi tôi có dịp trở lại đề tài này trong phần đàm thoại, một
thính giả đã nêu lên thắc mắc này trong phần nói chuyện trước công chúng
của đức Đạt Lai Lạt Ma:
"Ngài có
đề nghị gì để giúp người ta đối phó lại những mất mát to lớn trong đời
như khi mất con chẳng hạn ?"
Bằng
giọng điệu đầy từ ái, đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: "Điều này tùy thuộc
phần nào vào niềm tin của đương sự. Nếu người ta có niềm tin vào sự tái
sinh thì một cách nào đó, nỗi đau buồn sẽ bớt gay gắt. Người ta sẽ được
an ủi đôi chút khi tin rằng con mình rồi đây sẽ được tái sinh. Đối với
những người không tin tưởng vào ý niệm tái sinh, cũng có vài cách đơn
giản để giúp đỡ họ. Trước hết, họ có thể suy nghĩ rằng nếu mình đau khổ
quá đáng tức là cứ để cho nỗi đau khổ bao trùm lấy mình ngày này qua
ngày khác, chẳng những họ sẽ bị suy sụp về tinh thần lẫn thể xác mà cũng
chẳng có ích lợi gì đối với người quá cố. Hãy lấy thí dụ về cá nhân tôi.
Tôi mất vị thầy đáng kính ngưỡng nhất, tôi mất mẹ và mất thêm một người
anh nữa. Khi họ qua đời dĩ nhiên là tôi vô cùng khốn khổ. Nhưng rồi tôi
liên tục suy tưởng rằng dù tôi có đau khổ bao nhiêu cũng không ích lợi
gì và nếu tôi thật lòng thương yêu họ, tốt hơn là tôi nên thực hiện
những ước mong của họ khi còn sống - và tôi đã thực hiện điều đó với tất
cả sức mình. Khi những người thân yêu nhất của mình quá vãng, tôi nghĩ
phương thức tốt đẹp nhất để nghĩ đến họ là giúp họ hoàn tất những ước
vọng lúc sinh tiền.
"Thoạt
tiên thì đau khổ và lo lắng là những cảm xúc rất tự nhiên khi xảy ra mất
mát. Nhưng nếu cứ để mình bị chìm ngập vì những cảm xúc này mà không tìm
cách kiểm soát chúng thì người ta có thể bị tình trạng chỉ còn quan tâm
đến mình, chỉ nghĩ đến mình. Trong hoàn cảnh này, người ta có cảm giác
rằng chỉ có mình bị đày đọa, khổ ải; và đây là bước đầu của chứng trầm
cảm. Nhưng trên thực tế thì hầu như bất cứ ai cũng đều trải qua kinh
nghiệm này. Thành ra, khi bị choáng ngợp vì khổ đau, chúng ta nên nhớ
rằng người khác cũng bị khổ đau như thế và lắm khi còn tệ hại hơn mình
nhiều. Hiểu được như vậy, người ta sẽ không còn cảm giác đơn chiếc, một
mình một thân trên đường đời mờ mịt. Và từ đó, chúng ta được an ủi phần
nào."
Mặc dù
đau đớn và khổ não không chừa một ai trên thế gian này, tôi nhận thấy
rằng ở phương Đông, người ta chấp nhận và khoan nhượng chúng dễ dàng
hơn. Một phần có thể là do niềm tin của họ nhưng cũng có lẽ là khổ đau
dễ nhận diện ở những quốc gia nghèo khó - như Ấn Độ chẳng hạn - hơn là
các nước phát triển. Đói khát, lầm than, bịnh tật và cả tử vong nữa là
những chuyện thông thường tại các xứ chậm tiến. Khi con người trở nên
già yếu và bệnh hoạn, họ không bị gạt ra ngoài lề xã hội, không bị gởi
đến nhà dưỡng lão, mà vẫn sống chung với cộng đồng, được bảo bọc bởi gia
đình. Cho nên người ta chứng kiến mỗi ngày tất cả những hình thái của
khổ đau, và vì vậy, họ dễ chấp nhận chúng, xem chúng là một phần tự
nhiên của cuộc đời.
Các quốc
gia Tây phương có khả năng giới hạn khá nhiều những đau khổ do đời sống
cơ cực gây ra nhưng đồng thời lại mất đi cái khả năng chống chọi với
những thứ khổ não khác. Những cuộc thăm dò của các nhà khoa học xã hội
cho thấy đa số quần chúng ở các quốc gia tiền tiến Phương Tây cho rằng
thế giới này là một cõi khá xinh đẹp để sinh sống, rằng cuộc đời tốt
đẹp vừa phải và rằng họ là những người tốt, đáng được thụ hưởng những sự
tốt lành của cuộc đời. Quan niệm này giúp người ta sống vui vẻ và khỏe
mạnh hơn nhưng đồng thời cũng khiến người ta khó chấp nhận khổ đau, hoạn
nạn hơn. Cũng trong chiều hướng này, một tai ương nhỏ cũng có thể gây ra
những tác động tinh thần to lớn, có thể làm cho người ta mất hẳn niềm
tin rằng thế giới này là một cõi xinh tươi, ân phước. Kết quả là sự đau
khổ trở nên nặng nề hơn, cô đọng hơn.
Không có
gì phải nghi ngờ rằng do sự phát triển của kỹ thuật, một cách tổng quát,
sự thoải mái về đời sống vật chất được cải thiện rất nhiều tại các xã
hội Tây phương. Cũng từ đó, nhận thức của con người đã thay đổi, rằng
khổ đau đã vơi bớt đi nhiều, và người ta không còn xem khổ não là một
bản chất căn để của kiếp nhân sinh. Ngược lại, người ta coi nó là một
cái gì bất thường, một cái gì sai quấy khá trầm trọng. Trong vài phạm
vi, đó là dấu tích của sự thất baị, một sự vi phạm vào quyền được sống
hạnh phúc của con người.
Cách thế
suy nghĩ này chứa đựng những nguy kịch tiềm ẩn. Nếu cho rằng khổ não là
một cái gì không tự nhiên mà đúng ra, chúng ta không phải chịu đựng thì
rồi ra, người ta sẽ tìm cách đổ tội cho kẻ khác khi phải đối diện với
khổ đau. Nếu tôi không được hạnh phúc thì chắc chắn tôi phải là nạn nhân
của một ai đó hay một cái gì đó, và quan niệm này khá phổ cập ở Tây
phương. Nguyên nhân gây ra thiệt hại thường là chính phủ, hệ thống giáo
dục, cha mẹ bạo hành, gia đình không hòa thuận, người phối ngẫu và ngay
cả bạn thân. Cũng có khi người ta quy lỗi về phía trong tức là chính
mình: Tôi không hoàn toàn bình thường, tôi là nạn nhân của bệnh tật, tôi
bị di truyền ... Nếu cứ nhìn vấn đề từ vị thế của một nạn nhân và đổ lỗi
cho một nguyên nhân nào đó thì nỗi thống khổ của chúng ta sẽ kéo dài vô
tận, và lúc nào chúng ta cũng sống trong bực tức, khó chịu và oán trách.
Dĩ
nhiên, mọi người đều mơ ước cái mục tiêu tối hậu là làm sao để thoát
khỏi khổ đau, và đó là hệ luận tất yếu khi chúng ta mong được hạnh phúc.
Cũng từ đó, thật là một điều hợp lý nếu người ta làm đủ mọi cách để tìm
cho ra những nguyên nhân khiến cho chúng ta bị đau khổ, cũng như áp dụng
tất cả những phương thức giúp chúng ta bớt đau đớn, làm khuây khỏa bớt
những nỗi thương tổn từ mọi cấp độ: Toàn cầu, xã hội, gia đình và cuối
cùng là bản thân. Nhưng đừng bao giờ quên rằng nếu không chịu chấp nhận
khổ não là một tình trạng tự nhiên của cuộc sống, nếu cứ sợ hãi, tránh
né và chối bỏ chúng thì không bao giờ người ta có thể loại trừ được cái
gốc rễ của khổ đau để bắt đầu một cuộc sống hạnh phúc.
Chương 9
TỰ TẠO KHỔ
NÃO
Khi đến phòng mạch của tôi lần đầu tiên, một người
đàn ông trạc độ trung tuần, dáng dấp quý phái trong bộ âu phục Armani
màu đen đắt tiền nhưng không phô trương, ngồi vào chiếc ghế với một
phong thái từ tốn tuy hơi e dè và bắt đầu cho tôi biết lý do tại sao ông
ta đến thăm tôi. Người đàn ông nói hơi nhỏ nhưng giọng điệu lại rất vững
vàng cẩn trọng và ông ta trình bày khá đầy đủ những điều tôi cần biết:
Tuổi tác, quá khứ, tình trạng gia cảnh, những khó khăn ...
"Đồ thứ đàn bà khốn nạn !" Bỗng nhiên ông ta la lên
với một giọng giận dữ: "Vợ tôi đó, tôi đã ly dị bả. Bả đã dối gạt tôi để
tư tình với người khác mặc dù tôi đã cung phụng cho bả không thiếu một
thứ gì. Đồ cái thứ phóng đãng ... đồ dâm phụ ..." Giọng nói người đàn
ông càng to hơn, giận dữ hơn và cay độc hơn trong suốt hai mươi phút
nhằm kết tội người vợ đã ly hôn của ông ta. Nhận thấy người đàn ông
không kềm chế nỗi cảm xúc của mình và với đà nay, ông ta có thể nói hằng
giờ mà không mệt. Vả lại, thời gian ấn định cho một lần xem bịnh đã gần
hết nên tôi nhắc khéo: "Đa số chúng ta đều rất khó khăn khi phải điều
chỉnh cuộc sống sau khi ly dị và tôi nghĩ rằng trong lần tới, chúng ta
sẽ có nhiều thì giờ hơn để nói về chuyện này ..."
Tôi hỏi thêm: "À này, thế ông ly dị được bao lâu rồi
?"
"Tháng năm vừa rồi là tròn 17 năm."
Trong chương Tám, chúng ta đã đề cập đến sự quan
trọng của việc chấp nhận khổ đau là một phần tự nhiên của cuộc sinh tồn.
Thường thì khổ não là chuyện không tránh được trong cuộc sống nhưng
nhiều lúc, chính chúng ta tạo ra khổ não cho mình. Chúng ta cũng biết là
nếu không chấp nhận khổ đau là chuyện tự nhiên của cuộc sống thì hậu quả
là ta sẽ có cảm tưởng mình là nạn nhân suốt đời của kẻ khác và đó là
nguyên nhân gây ra những cảnh đời nghiệt ngã. Nhưng chính chúng ta cũng
vô tình làm cho khổ nạn của mình thêm bi đát. Chúng ta thường kéo dài
những sầu muộn, giữ cho chúng sống hùng sống mạnh trong tâm trí chúng ta
bằng cách tưởng nghĩ tới chúng mỗi ngày. Chúng ta cũng lập đi lập lại
những mong ước mà chúng ta tưởng nếu có xảy ra thì hoàn cảnh đã đổi
khác, đã khá hơn - Nhưng những điều này thật ra không có - Tưởng nghĩ
đến những khổ nạn đã qua làm cho đời sống nhiều thêm chất bi thảm, làm
gia tăng sự thương hại của người chung quanh và chính chúng ta thì cứ
kéo dài một cuộc sống không hạnh phúc.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã giải thích về chuyện chính
chúng ta làm tăng thêm những khổ đau trong đời sống: "Con người có nhiều
cách để gia tăng cường độ khổ đau cũng như những bất ổn tinh thần mà
mình đang gánh chịu. Thông thường thì những khổ đau vật chất lẫn tinh
thần có thể xuất hiện một cách tự nhiên, nhưng chính cách ứng xử của
người ta làm cho chúng thêm bi thảm. Giả dụ như khi mình giận ghét một
ai đó, cảm giác này sẽ chẳng ăn nhằm gì nếu ta không để ý đến chúng.
Nhưng nếu cứ suy nghĩ, cứ vẽ vời về những bất công mà mình đang chịu,
những bất xứng mà người ta đang áp đặt cho mình (do mình phóng chiếu,
tưởng tượng ra chứ thực sự chưa chắc đã có) thì mối căm hận và thù ghét
sẽ đậm đặc hơn nhiều. Cùng một cách thế như vậy, khi ai đó 'hớp hồn'
mình, chúng ta cứ liên tục nghĩ đến những điều như làm sao mà chàng/nàng
lại xinh đẹp đến vậy, làm sao lại có người tốt đến thế ... Cứ vậy mà
chúng ta bị hớp hồn nhiều hơn, mê đắm nhiều hơn. Vậy thì rõ ràng là
chính chúng ta làm cho tình thế trở nên khó khăn hơn, nặng nề hơn
bằng cách liên tục tưởng nghĩ đến chúng.
"Chúng ta cũng thường gia tăng cường độ của đau đớn
và khổ não bằng thái độ quá nhạy cảm, phản ứng quá đáng với một chuyện
không quan trọng và đôi khi, cứ tưởng mọi chuyện đều nhắm vào mình.
Chúng ta có khuynh hướng làm cho sự việc trở nên quá quan trọng, thổi
phồng sự thật, trong khi chúng ta lại thờ ơ, hờ hững với những chuyện
quan yếu của cuộc đời, những chuyện có ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống
của mình do những hệ quả lâu dài của chúng.
"Nói rộng ra, tôi cho rằng tùy vào thái độ của mình
đối với hoàn cảnh mà chúng ta có bị đau khổ hay không. Lấy thí dụ như
anh biết ai đó nói xấu sau lưng mình. Nếu chúng ta phản ứng lại bằng cảm
giác bị thương tổn hay giận dữ thì chính chúng ta đã phá hủy sự bình yên
trong tâm hồn và tự mình chuốc vào thân cảm giác khổ đau. Cũng một hoàn
cảnh như vậy, nếu chúng ta tự chế được, coi sự vu khống đó chỉ như cơn
gió thoảng ngoài tai thì chúng ta sẽ không bị cảm giác thương tổn, đau
đớn. Vậy thì, tuy con người có khả năng tránh được hoàn cảnh khó khăn,
nhưng tùy vào cách thế ứng đối với hoàn cảnh đó, chúng ta có thể làm
tăng hoặc giảm mức độ đau đớn và khổ não của mình."
Chúng ta cũng thường làm gia tăng cường độ của đớn
đau và khổ não bằng thái độ quá nhạy cảm, phản ứng quá đáng với một
chuyện không quan trọng và đôi khi, cứ tưởng mọi chuyện đều nhắm vào
mình. Đó là những lời mà đức Đạt Lai Lạt
Ma đã dùng để diễn tả các nguyên nhân làm tăng thêm chất bi đát của khổ
nạn trong đời sống. Giới chuyên môn gọi đây là hiện tượng cá nhân hóa
khổ đau, một khuynh hướng thu hẹp tầm nhìn về phương diện tâm lý bằng
cách nghĩ (một cách sai lạc) rằng mọi chuyện xảy ra đều nhắm vào riêng
mình, chỉ để làm khổ mình.
Một tối nọ, tôi dùng cơm với một đồng nghiệp tại một
nhà hàng. Công tác phục vụ thực khách hôm đó có vẻ chậm chạp. Anh bạn
tôi bắt đầu cằn nhằn: "Nhìn kìa, gã bồi bàn chậm không chịu được. Tôi có
cảm tưởng như hắn cố tình làm lơ chúng ta". Mặc dù cả hai chúng tôi
không làm gì về chuyện này, người bạn đồng nghiệp vẫn tiếp tục than
phiền về công tác phục vụ của nhà hàng, rồi anh kéo qua thức ăn, chén
bát và gần như mọi thứ khác của nhà hàng mà anh không thích. Sau buổi
ăn, người bồi bàn đem đến hai phần tráng miệng miễn phí và giải thích
với giọng thành thật: "Tôi xin lỗi về sự chậm chạp trong công tác phục
vụ bữa nay vì chúng tôi không có đủ nhân viên. Một người làm bếp nghỉ
việc tối nay vì trong gia đình có người quá vãng, rồi thì một người bồi
bàn bị bịnh bất ngờ vào phút chót. Xin quý khách vui lòng tha lỗi...".
Khi người bồi bàn đã quay đi, anh bạn đồng nghiệp làu bàu với vẻ bực
bội: "Tôi vẫn không nghĩ là tôi sẽ trở lại đây nữa".
Đây chỉ là một thí dụ nhỏ cho thấy chúng ta đã 'đóng
góp' như thế nào vào sự khổ đau bằng cách tưởng mọi sự đều nhắm vào
mình. Trong buổi tối tôi vừa nói, kết quả của thái độ kể trên chỉ làm
buổi ăn mất vui. Nhưng nếu chúng ta cứ cư xử với mọi người, mọi chuyện
trong cuộc sống thường ngày bằng thái độ này, nó sẽ là đầu mối gây tạo
một cuộc sống vô cùng khốn khó cho chúng ta. Trên một bình diện rộng lớn
hơn, Jacques Lusseyran là một trường hợp rất đáng để ý về chứng thu hẹp
tầm nhìn trong phạm vi tâm lý. Lusseyran, bị mù từ năm lên 8, là sáng
lập viên của một nhóm chống đối trong trận đại chiến thứ II . Anh ta bị
quân Đức bắt và bị giam giữ tại trại tập trung Buchewald. Sau này, khi
hồi tưởng lại những kinh nghiệm đau thương trong trại, anh nói : "Lúc
đó, chúng tôi cho rằng nỗi bất hạnh đến với từng người trong chúng tôi
vì nghĩ rằng chúng tôi là trung tâm của vũ trụ, vì chỉ riêng chúng tôi
bị nhận lãnh sự đầy ải tàn nhẫn đến mức không chịu nổi. Niềm thống khổ
như nằm sâu trong da thịt, trong óc não của từng người."
NHƯNG
VẬY LÀ BẤT CÔNG
Trong đời sống thường nhật, những khó khăn cứ đều đặn
xuất hiện. Nhưng những khó khăn này không tự động gây ra khổ não. Nếu
chúng ta xử lý chúng một cách trực diện, chú tâm vào việc tìm kiếm một
giải pháp cho vấn đề, những khó khăn này đôi khi trở thành những thử
thách thú vị. Ngược lại, nếu nhìn vấn đề với cảm giác trời hành, thọ nạn
thì chúng ta đã thêm dầu vào lửa, làm tinh thần chúng ta thêm bất an và
làm gia tăng sự khổ não. Vậy là thay vì chỉ có một, chúng ta có đến hai
khó khăn. Chẳng những thế, cảm giác trên còn làm chúng ta tiêu hao ý
lực, phân tán sự chú ý của mình trong việc tìm kiếm một giải đáp cho khó
khăn nguyên thủy. Nêu lên những ý nghĩ này với đức Đạt Lai Lạt Ma vào
một buổi sáng, tôi hỏi: "Làm sao để chúng ta đối phó với ý tưởng 'bất
công' thường hành hạ mình mỗi khi có những vấn nạn xuất hiện trong đời
?"
Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: "Người ta có nhiều cách
thế để ứng đối với cảm giác rằng khổ nạn mà mình đang gánh chịu là bất
công. Chúng ta đã thảo luận về tầm quan trọng của việc chấp nhận khổ não
như là một phần tự nhiên của đời sống. Trong một cách thế nào đó, người
dân Tây Tạng đang ở trong một vị thế rất thích hợp để chấp nhận tính
thực tế của hoàn cảnh khó khăn hiện tại, vì họ sẽ cho rằng: "Đây là
nghiệp quả mà tôi đã gây ra trong quá khứ". Khi cho rằng vì mình đã gây
ra chướng nghiệp trong hiện đời hay tiền kiếp, người dân Tây Tạng sẽ dễ
dàng chấp nhận khổ nạn hơn. Trong quá trình định cư đầy khó khăn tại Ấn
Độ, chúng tôi cũng gặp những chuyện tương tự: Điều kiện sống vốn nghèo
nàn lại thêm con cái bị mù lòa, khuyết tật ... Thế mà rồi ra, những
người đàn bà đáng thương này cũng xoay sở được, chỉ đơn giản cho rằng:
"Đây là nghiệp chướng của chúng, tại số phần của chúng ..."
Đề cập đến NGHIỆP, có lẽ chúng ta nên nói rõ để tránh
những ngộ nhận mà người ta thường gặp phải khi khảo sát lý thuyết của
nghiệp. Người ta thường có khuynh hướng đổ mọi chuyện cho nghiệp để chạy
tội cho mình, tránh phải giải quyết vấn đề, phủi tay đối với trách
nhiệm. Chúng ta thường nghe: "Đây là nghiệp chướng của tôi nên không làm
gì được. Đành chịu vậy thôi". Đây là một ý niệm hoàn toàn sai lầm về
nghiệp vì dẫu rằng hiện tại là quả của duyên quá khứ, người ta vẫn có
thể chuyển đổi được tình thế hoặc giúp cho hoàn cảnh bớt đen tối, và
nguyên tắc này áp dụng cho tất cả mọi phương diện của đời sống. Người ta
không nên phủi tay, lẫn trốn trách nhiệm bằng cách đổ mọi chuyện cho
nghiệp. Theo nguyên nghĩa, Karma trong tiếng Phạn là 'hành động', 'tạo
tác'. Đã là hành động, tạo tác tức là đã có ý niệm năng động (chứ không
phải thụ động, chịu đựng). Hơn nữa, hành động và tạo tác cần phải có một
chủ thể. Trong trường hợp này chính là chúng ta (trong quá khứ). Vậy thì
cái gì sẽ quyết định tương lai của mình nếu không phải là chính chúng ta
bây giờ? Như vậy, quả vị lai mà chúng ta sẽ nhận lãnh hoàn toàn do
duyên hiện tại quyết định vậy".
"Do đó, không nên nhìn nghiệp bằng quan điểm thụ
động, một thứ tĩnh lực mà ngược lại, nghiệp là một quá trình chủ động -
Và chính chúng ta (chứ không phải một cái gì hay một ai khác) đã đóng
vai trò quyết định trong tiến trình tạo nghiệp. Hãy nói đến một chuyện
nhỏ nhặt như ăn uống chẳng hạn. Chúng ta cũng phải tìm thực phẩm, nấu
nướng, dọn bàn rồi mới ăn nghĩa là cả một chuỗi hành động, tạo tác nối
tiếp nhau để thực hiện một mục tiêu rất tầm thường."
Nghe đến đây, tôi ngắt lời: "Tôi đồng ý rằng với niềm
tin vào nghiệp duyên, người Phật tử có thể giảm thiểu cảm giác bị đối xử
bất công. Nhưng còn những người không tin vào thuyết nghiệp báo thì sao.
Đa số người Tây phương chẳng hạn ..."
Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: "Đối với những người tin
vào quan niệm cho rằng có Thượng đế, một Tạo Vật Chủ cũng dễ dàng hơn
trong việc chấp nhận những trái ngang của cuộc đời vì cho rằng đó là ý
muốn của Thượng đế. Trong những trường hợp tệ hại nhất, họ vẫn tin tưởng
rằng Thượng đế lúc nào cũng toàn năng, đầy khoan dung và vì vậy, không
ai biết được những ý muốn của Ngài phía sau những cảnh đoạn trường đày
ải này cả. Theo tôi, niềm tin này cũng giúp người ta rất nhiều trong
lúc phải trải qua những giai đoạn khó khăn trong đời".
Tôi hỏi tiếp: "Thế còn những người không tin vào
thuyết nghiệp báo lại cũng không tin vào ý niệm Thượng đế sáng tạo thì
sao?" Đức Đạt Lai Lạt Ma suy nghĩ một lúc rồi đáp: "Đối với những người
hoàn toàn không có niềm tin... thì có lẽ một giải đáp có tính cách khoa
học và thực tiễn có thể có ích. Các khoa học gia vẫn bảo rằng nhìn sự
vật một cách khách quan là điều rất quan trọng, nghiên cứu sự việc mà
không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc ... Với dự kiến như vậy, hãy nhìn vấn đề
với thái độ 'Nếu có cách nào để tranh đấu thì hãy tranh đấu để giải
quyết vấn đề dù bạn có phải vác chiếu ra tòa' và 'Còn nếu không có cách
nào để chiến thắng thì hãy quên nó đi'.
"Lý giải một vấn đề hay một hoàn cảnh khó khăn một
cách khách quan là điều quan trọng vì người ta thường tìm ra những
nguyên do khác ẩn náu phía sau hậu trường. Giả như bạn có cảm tưởng bị
đối xử bất công tại sở làm, có nhiều lý do mà bạn không ngờ tới đã khiến
xếp bạn hành xử như vậy: Bực bội vì một người nào đó, cãi nhau với vợ
sáng nay ... nghĩa là những chuyện thật ra chẳng ăn nhằm gì đến cá nhân
bạn cả, vì vô tình nên bạn phải "lãnh đủ" mà thôi. Dĩ nhiên là bạn vẫn
phải đối phó với hoàn cảnh xảy ra lúc đó nhưng ít nhất, với quan niệm
như vậy, bạn không bị cảm giác băn khoăn làm cho mình thêm bối rối".
Tôi hỏi: "Phương pháp khoa học này ngoài việc giúp
người ta lý giải vấn đề một cách khách quan, liệu có thể giúp người ta
khám phá ra họ đã "đóng góp" như thế nào vào vấn đề? Và có giúp họ giảm
bớt cảm giác "bất công" thường đi kèm theo những trường hợp nan giải.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp một cách rất nhiệt tình: "Có,
chắc chắn là nó giúp ích rất nhiều. Tổng quát mà nói, nếu lý giải những
hoàn cảnh khó khăn một cách vô tư và chân thật, chúng ta sẽ thấy rằng có
thể mình cũng đã dự phần bằng một cách nào đó. Trong cuộc chiến vùng
Vịnh, rất nhiều người đã qui trách cho Saddam Hussein. Sau này, trong
nhiều cơ hội, tôi đã cho thái độ đó là bất công và cảm thấy tội nghiệp
cho ông ta. Dĩ nhiên Hussein là một nhà độc tài, đã làm nhiều việc sai
khuấy; nên nếu chỉ nhìn câu chuyện một cách qua loa, ai cũng cho rằng
ông ta có tội: độc tài, chuyên chế và ngay cả đôi mắt ông ta trông cũng
có vẻ khiếp đảm. Nhưng nếu không có quân đội, Hussein sẽ chẳng hăm dọa
được ai, và nếu không có vũ khí tối tân, quân đội của Hussein cũng chẳng
làm ai lo ngại. Và tất cả những vũ khí hiện đại này không phải từ trên
trời rớt xuống. Cho nên nếu nhìn kỹ vấn đề, khá nhiều quốc gia trên thế
giới liên hệ đến cuộc chiến này."
Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp: "Vì thế, con người thường có
khuynh hướng đổ tội cho người khác, những nguyên nhân ngoại vi, về những
vấn nạn của chúng ta. Hơn thế, người ta còn tìm cách đổ vấy cho một
nguyên nhân duy nhất và sau đó tìm cách phủi tay, không nhận trách
nhiệm. Cho nên hễ ở đâu có tình cảm can dự vào thì ở đó có sự khác biệt
giữa sự thật xảy ra và sự thật mà người ta trình bày trước công chúng.
Trở lại cuộc chiến vùng Vịnh, dĩ nhiên Saddam Hussein là một nguyên
nhân, nhưng chúng ta còn có nhiều nguyên nhân khác nữa cũng không kém
phần quan trọng. Hiểu được nguồn cơn rành mạch như vậy thì người ta sẽ
không còn đổ lỗi cho một mình Hussein nữa và sự thật về cuộc chiến sẽ
hiển bày.
"Phương pháp xử lý này khiến người ta nhìn sự vật một
cách tổng thể, nhận thức rằng có nhiều biến cố cùng nhau tạo nên một
thực trạng. Thí dụ như trong vấn đề giữa chúng tôi và Trung quốc, cũng
có những nguyên nhân do chúng tôi gây ra. Theo tôi thì thế hệ hiện tại
cũng có dự phần nhưng chắc chắn là sự quan tâm không đúng mức của vài ba
thế hệ trước đã gây ra tình trạng hiện nay. Nói cách khác, người Tây
Tạng cũng có trách nhiệm phần nào trong cuộc chiến oan khốc này, và nếu
chỉ đổ lỗi hoàn toàn cho Trung quốc thì cũng khá bất công. Nhưng chúng
ta lại phải nói đến những mức độ khác nhau. Mặc dù chúng tôi cũng là một
nguyên nhân gây nên cuộc chiến, nhưng lỗi không hoàn toàn do ở chúng
tôi. Lấy thí dụ về việc người Tây Tạng chưa bao giờ cúi đầu khuất phục
trước áp bức của Trung quốc - họ luôn luôn chống đối. Do chính sách mới
của Trung quốc nhằm đưa một số lượng lớn lao người Hoa sang lập nghiệp ở
Tây Tạng với mục đích biến người Tây Tạng thành thiểu số, nên người Tây
Tạng bị chiếm chỗ, và phong trào tranh đấu cho tự do không còn hoạt động
hữu hiệu nữa. Trong trường hợp này, chúng ta không thể nói rằng sự chống
đối của người Tây Tạng là nguyên nhân gây ra tranh chấp".
Tôi lại hỏi tiếp: "Xét đến sự góp phần của mình vào
một hoàn cảnh nào đó, xin Ngài cho biết trong trường hợp rõ rệt không
phải lỗi của mình, hoặc mình chẳng dính dự gì cả dù một chút nhỏ xíu đi
nữa như khi có người nào đó dối gạt mình chẳng hạn ... thì chúng ta phải
làm sao?"
"Trong trường hợp này thì đầu tiên, dĩ nhiên là tôi
có cảm giác thất vọng. Nhưng ngay cả trong hoàn cảnh như vậy, nếu xem
xét cho kỹ, có thể tôi sẽ hiểu được rằng động lực thúc đẩy sự che đậy
thật ra không hoàn toàn xấu. Có thể ai đó không hoàn toàn tin tưởng nơi
tôi. Thành ra khi cảm thấy thất vọng vì một vấn đề gì đó, tôi cố nhìn sự
việc từ một góc cạnh khác: Người ta dấu tôi vì sợ tôi không giữ kín được
câu chuyện. Tánh tôi khá bộc trực và vì thế không thích hợp để người ta
nói cho tôi nghe về một chuyện gì đó. Người ta sợ tôi sẽ đem kể cho
người khác nghe và cuối cùng thì câu chuyện cần phải giữ kín không còn
kín nữa. Và nếu quả đúng như vậy thì chính tôi cũng có dự phần trong sự
dấu diếm đó".
Mặc dù những lời này do chính đức Đạt Lai Lạt Ma thốt
ra, tôi cũng có cảm tưởng rằng vấn đề hơi đi quá xa: Người ta không
thành thật với mình và mình lại cố tìm xem mình có dự phần trong chuyện
đó hay không. Tuy vậy, giọng nói của Ngài lại rất thành thật làm tôi có
cảm tưởng rằng đức Đạt Lai Lạt Ma đã áp dụng cách xử lý này trong đời
sống của Ngài để giải quyết những nghịch lý của cuộc đời. Đối với bản
thân chúng ta, sử dụng phương thức này trong cuộc sống không chắc lúc
nào cũng thành công. Nhưng theo tôi thì dù thành công hay không, sự
thành thật của chúng ta trong hoàn cảnh này cũng làm thay đổi lối suy
nghĩ chật hẹp theo thói thường, mà trong đó, cảm giác bị đối xử bất công
thường là nguyên nhân của những bất mãn lớn lao trong mọi người chúng ta
và cả toàn thể nhân loại.
MẶC CẢM
PHẠM TỘI
Vì là sản phẩm của một thế giới bất toàn nên tất cả
chúng ta đều bất toàn. Mọi người trong đời đều đã có dịp làm một cái gì
sai quấy. Có nhiều chuyện làm chúng ta hối hận: Hối hận về những chuyện
đã làm, hối hận về những chuyện đáng ra phải làm. Thật tâm hối cãi về
những sai quấy đã qua trong đời có thể giúp chúng ta đi đúng đường,
khuyến khích chúng ta sửa sai những lầm lẫn và cố gắng làm đúng trong
tương lai. Tuy nhiên, không nên để cho cảm giác hối hận làm mình bị
thoái hóa, dẫn đến mặc cảm tội lỗi quá độ khiến tâm trí lúc nào cũng bị
ám ảnh bởi cảm tưởng phạm tội, ghét bỏ chính mình. Chuyện này không có
ích lợi gì cả vì chỉ làm chúng ta thường xuyên tự hành hạ, tự đày ải
mình.
Trong một buổi nói chuyện trước đây, tôi có đề cập
vắn tắt đến cái chết của người anh ruột của đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi nhớ
lại rằng Ngài đã đề cập đến cái chết này với một vài tiếc nuối. Tôi tò
mò muốn biết đức Đạt Lai Lạt Ma đã ứng phó ra sao với cảm giác hối hận,
có thể là mặc cảm phạm tội nữa. Vì thế, tôi tìm cách trở lại vấn đề này
trong một buổi đàm luận khác và hỏi: "Khi đề cập đến cái chết của
Lobsang, Ngài có nói đến hối hận. Vậy Ngài có bao giờ hối hận về một
hoàn cảnh nào đó trong đời không?"
"Có chứ, thí dụ như tôi có biết một tu sĩ lớn tuổi ẩn
cư. Ông ta thường đến nghe tôi nói pháp. Tôi nghĩ rằng ông ta hiểu đạo
còn nhiều hơn tôi nữa, ông ta đến theo nghi thức mà thôi. Một ngày nọ,
ông ta đến và yêu cầu tôi thực hành một phép bí truyền cao cấp. Tôi nhẹ
nhàng nói cho ông ta biết bí phép này rất khó thực hành và thường thì
những người trẻ tuổi dễ tiếp nhận hơn. Theo truyền thống, người ta bắt
đầu thực tập lúc còn ở tuổi vị thành niên. Một thời gian sau, tôi được
biết vị tu sĩ này đã tự sát để tái sinh làm một người trẻ tuổi hầu có
thể thực tập bí phép này ..."
Khá sửng sốt vì chi tiết của câu chuyện, tôi nói:
"Trời đất ơi ! Thật khủng khiếp. Tôi đoán là Ngài đã rất khổ tâm khi
nghe ..."
Đức Đạt Lai Lạt Ma buồn bã gật đầu. Tôi nói tiếp:
"Rồi Ngài đối phó thế nào với cảm giác hối hận đó? Ngài làm sao để nguôi
ngoai ?"
Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi trầm tư yên lặng một lúc lâu
trước khi trả lời tôi :
"Tôi không quên được. Nỗi hối tiếc vẫn còn nguyên!"
Ngài
lại ngồi lặng yên trước khi tiếp tục: "Tuy rằng cảm
giác hối hận vẫn còn trong tôi nhưng nó không làm tôi cảm thấy nặng nề
hay trì trệ. Tôi không bị chúng tràn ngập, vây bủa. Tôi không để chúng
cản trở những hoạt động trong đời sống của mình ".
Nghe vậy, một lần nữa tôi lại ngạc nhiên đến sững
người trước sự kiện một con người trong lúc tình cảm đang bị chi phối
sâu đậm bởi thảm cảnh đang xảy ra lại có thể giữ cho mình không bị chìm
đắm bởi nỗi niềm tiếc hận hay hổ thẹn với chính mình. Sự kiện một con
người có thể chấp nhận hoàn toàn những giới hạn của mình, những nhược
điểm cũng như những nhầm lẫn trong các quyết định của mình, buồn khổ
nhưng không bi lụy vì thảm cảnh. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thực lòng hối
tiếc về chuyện xảy ra nhưng đồng thời vẫn giữ được phong cách bình tĩnh
và trang trọng. Mang bên lòng nỗi nhớ tiếc khôn nguôi nhưng vẫn không bị
chao đảo, tâm trí vẫn dõng mãnh để gánh vác việc đời.
Nhiều lúc tôi có cảm tưởng rằng cái năng lực giúp cho
đức Đạt Lai Lạt Ma không bị đắm chìm trong những mặc cảm tội lỗi một
phần do ở phong hóa của người Tây Tạng. Trong một lần nói chuyện với đức
Đạt Lai Lạt Ma về một người bạn học giả của Ngài, tôi nhớ Ngài đã cho
tôi biết rằng trong ngôn ngữ Tây Tạng, không có từ nào tương đương với
chữ 'phạm tội' trong Anh ngữ. Mặc dù có những tiếng có nghĩa như ăn
năn, hối tiếc nhưng đều hàm chứa ý tưởng cải thiện tình thế trong tương
lai. Không hiểu yếu tố phong hóa quan trọng đến thế nào trong lề lối suy
nghĩ của đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi vẫn cho rằng cách thế suy nghĩ của
chúng ta nếu được bổ sung bằng quan điểm của đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ khiến
cho mọi người tránh được những sầu khổ vô ích gây ra bởi hậu quả của
những mặc cảm lầm lỗi.
CHỐNG
ĐỐI ĐỔI THAY
Chúng ta có cảm giác phạm tội khi nghĩ rằng mình đã
làm một lỗi lầm không sửa chữa được. Cảm giác này trở nên nung nấu hơn
nếu ta nghĩ rằng những lầm lỗi đó sẽ bất diệt. Nhưng thực tế cho thấy
không có gì là bất biến nên nỗi đau đớn cũng suy khuyết theo thời gian
và vấn nạn rồi cũng sẽ biến mất. Đây là khía cạnh tích cực của sự đổi
thay. Mặt tiêu cực của vấn đề là con người chống đối lại sự thay đổi
trong hầu hết mọi phương diện của đời sống. Muốn thoát ly khỏi cảnh khổ,
trước hết, người ta phải tìm hiểu cái nguyên nhân tiên khởi: Tại sao
chúng ta không chịu đổi thay?
Nói về bản chất luôn-luôn-thay-đổi của đời sống, đức
Đạt Lai Lạt Ma giải thích: "Điều tối quan trọng là chúng ta phải tìm
hiểu những nguyên nhân, những cội nguồn của đau khổ, xem chúng xuất hiện
ra sao. Để bắt đầu, chúng ta phải hiểu được tính VÔ THƯỜNG, bản chất
ngắn ngủi, phù du của cuộc sinh tồn. Tất cả mọi thứ, mọi biến cố, mọi
hiện tượng đều "động", biến đổi trong từng giây phút - không một cái gì
"tĩnh". Suy nghiệm về sự tuần hoàn của máu huyết trong thân thể sẽ giúp
chúng ta chứng nghiệm điều này: Máu luôn luôn chảy, luôn luôn di động
nghĩa là không bao giờ đứng yên. Cái bản chất thay đổi, ngắn ngủi của
mọi hiện tượng là một cấu trúc gắn liền với cuộc sống. Và khi hiểu được
bản chất thay đổi không ngừng này, chúng ta sẽ hiểu rằng mọi sự không có
khả năng trường tồn, không có khả năng giữ nguyên hiện trạng. Do vậy,
tất cả mọi sự đều bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khác nghĩa là bất cứ một
giai đoạn nào đó trong đời dù vui vẻ sung sướng đến đâu cũng sẽ qua đi.
Trong nhà Phật, sự đau khổ do đổi thay gây ra được gọi là Hoại Khổ.
Ý niệm Vô thường giữ một địa vị cốt lõi trong tư
tưởng Phật giáo và quan niệm về vô thường cũng là điểm then chốt trong
cuộc hành trì Phật đạo vì hai mục tiêu. Về phương diện quy ước tức là
theo nghĩa thông thường trong cuộc sống hàng ngày, hành giả quán tưởng
về tính vô thường trong cuộc sống của chính mình: thực tại mong manh của
cuộc đời và chúng ta không bao giờ biết được khi nào mình sẽ chết. Khi
sự quán tưởng này đi chung với niềm tin rằng được mang thân người là một
cơ hội hiếm hoi trong cuộc trầm luân vô lượng kiếp, và chỉ khi mang thân
người, chúng ta mới có điều kiện tu chứng hầu ra khỏi khổ đau và sinh tử
thì sự phối hợp này sẽ giúp hành giả tăng trưởng quyết tâm trong việc tu
học, sử dụng thời giờ của cuộc sống một cách hữu hiệu nhất. Ở một mức độ
thâm diệu hơn, khi quán tưởng về những khía cạnh vi tế của vô thường,
bản chất phù du của mọi hiện tượng, hành giả sẽ từ từ khám phá ra chân
tính của sự thật. Từ hiểu biết này, chúng ta sẽ xua đuổi và dẹp tan được
vô minh tức là nguồn gốc uyên nguyên của mọi khổ não.
Như vậy, trong khi quán tưởng về vô thường có một ý
nghĩa vô cùng trọng yếu đối với Phật tử thì câu hỏi được đặt ra ở đây
là: Thế thì sự quán tưởng này có ứng dụng thực tiễn nào trong cuộc sống
thường nhật đối với những người không phải là Phật tử ? Nếu chúng ta
nhìn ý niệm vô thường từ quan điểm "động" như vừa đề cập ở trên thì câu
trả lời chắc chắn là có. Vì rằng dù chúng ta nhìn bằng cảm quan Phật
giáo hay bằng quan niệm Tây phương thì thực chất cuộc sống vẫn như nhau:
Luôn luôn thay đổi. Và nếu chúng ta không chịu chấp nhận sự thật này
hoặc tìm cách chống lại tính đổi thay của cuộc sống thì chính mình đã tự
lấp vùi mình trong vòng khổ não.
Chấp nhận đổi thay cũng là một yếu tố quan trọng giúp
chúng ta tránh được rất nhiều những khổ não tự tạo. Một thí dụ rất phổ
cập trong đời sống là chúng ta không chịu buông bỏ quá khứ. Nếu cứ bám
víu vào một sắc diện, một vóc dáng của một thời nào đó đã qua trong đời
hay cứ tưởng nghĩ về những điều mình đã làm được mà bây giờ không còn
sức làm nổi nữa thì đó là một cái đai khá vững chắc giữ cho mình không
được hạnh phúc khi lớn tuổi. Đôi khi, càng bám víu vào quá khứ, cuộc
sống của chúng ta càng trở nên méo mó, kỳ quặc.
Ngược lại, chấp nhận những đổi thay không tránh được
của cuộc đời, như là một nguyên tắc tổng quát, có thể giúp chúng ta đối
phó thích nghi với rất nhiều vấn nạn của cuộc sống. Chúng ta sẽ giữ một
vai trò chủ động hơn trong cuộc sống của chính mình, tránh được những lo
lắng, những bất ổn vốn là đầu mối của rất nhiều phiền phức. Thí dụ sau
đây cho chúng ta thấy tầm quan trọng của sự nhận thức về những đổi thay
của cuộc sống: một bà mẹ mang đứa con mới sinh vào phòng cấp cứu vào
khoảng 2 giờ sáng.
"Cháu bị làm sao vậy ?" Ông Bác sĩ chuyên về bịnh trẻ
con hỏi.
"Con tôi ! Cháu bị nghẹt thở hay sao ấy" Bà mẹ rên rỉ
trong nỗi lo sợ khiếp đảm: "Lưỡi cháu cứ thè ra ngoài. Làm như cháu muốn
ói ra, nhưng không có gì trong miệng cả"
Sau vài câu hỏi và khám sơ qua, vị Bác sĩ trấn an bà
mẹ: "Không có gì đâu, cháu bé ngày một lớn thêm và cháu bắt đầu nhận
biết những bộ phận trong cơ thể của mình. Cháu đang khám phá ra cái lưỡi
của nó."
Margaret, một phóng viên 31 tuổi là dẫn chứng về tầm
quan trọng của việc hiểu biết và chấp nhận những đổi thay về phương diện
liên hệ cá nhân. Cô ta đến phòng mạch và than phiền về cảm giác băn
khoăn mà cô nghĩ là do việc đổi thay cách sống sau khi ly dị.
"Tôi nghĩ rằng nếu nói được với một người nào đó sẽ
giúp tôi bớt lo lắng. Tôi muốn quên đi chuyện đã qua và trở lại cuộc
sống độc thân. Thật tình mà nói, tôi hơi bị kích động ..."
Tôi hỏi cô ta rằng vụ ly dị đã xảy ra trong hoàn cảnh
nào.
Margaret đáp:
"Theo tôi thì vụ ly dị đã xảy ra khá thân thiện,
không có tranh chấp. Tôi và ông ấy đều có việc làm khá tốt nên không có
vấn đề gì trong việc phân chia tài sản. Chúng tôi có một cháu trai nhưng
cháu chấp nhận chuyện chúng tôi ly dị một cách khá hiểu biết. Chúng tôi
chia nhau việc chăm sóc cháu và cũng không có gì trở ngại cả."
"Tôi muốn biết chuyện gì đã khiến hai ông bà ly dị?"
"À... Tôi cho rằng chúng tôi không còn yêu nhau nữa.
Tình cảm giữa chúng tôi dần dà phai nhạt và tôi không còn thích gần gũi
nhau như hồi mới cưới. Cả hai chúng tôi đều bận rộn vì công việc và có
vẻ như chúng tôi ngày càng rời xa nhau. Chúng tôi cũng đã thử vài buổi
về cố vấn hôn nhân nhưng không có kết quả. Chúng tôi ở với nhau mà như
là anh em chứ không phải vợ chồng. Sau cùng thì chúng tôi đồng ý chia
tay là giải pháp tốt đẹp nhất. Một cái gì đó đã không còn nữa ..."
Sau hai buổi nói chuyện để tìm hiểu về trường hợp của
Margaret, chúng tôi đồng ý để cô ấy tham dự một khóa trị liệu ngắn hạn
nhằm giảm bớt cảm giác băn khoăn và giúp cô ấy chấp nhận những đổi thay
vừa xảy ra trong cuộc sống. Nói chung, Margaret là một người đàn bà
thông minh và dễ điều chỉnh về phương diện tâm lý. Khóa trị liệu tỏ ra
hữu ích và Margaret đã chấp nhận trở lại với cuộc sống độc thân.
Mặc dù vẫn chăm sóc lẫn nhau, Margaret và người chồng
rõ ràng đã nhìn sự đổi thay về mức độ say đắm như là một dấu hiệu khiến
cho cuộc sống vợ chồng nên chấm dứt. Mọi người thường cho rằng khi đam
mê đã bớt vẻ nồng nàn thì chúng ta đã có vấn đề trong tương quan chồng
vợ và hơn nữa, khi một vài thay đổi nho nhỏ xảy ra, người ta thường tỏ
vẻ hoảng sợ, nghĩ rằng đang có vấn đề trầm trọng. Người ta cho rằng mình
đã lấy không đúng người, rằng người bạn đời của chúng ta thật ra không
phải là người trong mộng. Thế là những bất đồng hiện ra: Mình muốn được
âu yếm thì anh ấy tỏ ra mệt mỏi. Mình muốn đi xem một cuốn phim đặc biệt
nào đó thì cô ấy lại ra vẻ thờ ơ hay bận rộn. Chúng ta nhận ra những dị
biệt mà trước đây chẳng bao giờ để ý đến ... Rồi thì chúng ta đi đến
kết luận là tình yêu đã chết, rằng chúng ta không còn nhìn chung về một
hướng, không còn như xưa nữa, và có lẽ xa nhau là tốt nhất.
Rồi chúng ta phải làm gì? Các chuyên gia đã viết hàng
tá sách vở để khuyên chúng ta phải hành xử ra sao khi ngọn lửa đam mê và
tình cảm lãng mạn đã xuống cấp. Họ đưa ra hằng hà sa số đề nghị nhằm
thắp sáng lại ngọn lửa yêu đương: Sắp xếp lại thời khóa biểu hàng ngày
để dành ưu tiên cho tình yêu, dự tính những buổi ăn tối thật trữ tình
hay những cuối tuần đi chơi xa, ca tụng và tán dương người bạn tình, học
cách nói chuyện cho thật nhiều ý nghĩa, vân vân và vân vân. Đôi khi,
những khuyến cáo này tỏ ra hữu hiệu nhưng lắm khi, chúng chẳng ăn nhằm
gì. Nhưng trước khi tuyên bố chấm dứt mọi liên hệ, một trong những điều
vô cùng hữu ích là khi có thay đổi xảy ra, chúng ta hãy lùi lại một chút
để lượng định tình thế và hãy trang bị cho mình càng nhiều càng tốt
những hiểu biết về những dạng thức thông dụng của đổi thay trong mối
liên hệ.
Dòng đời cứ tiếp diễn. Chúng ta phát triển từ trạng
thái sơ sinh đến thời thơ ấu, từ thuở thành niên đến lúc bạc đầu và
chúng ta đều chấp nhận những đổi thay này như là một diễn biến tự nhiên
trong từng cá nhân. Mối liên hệ của chúng ta cũng là một tổng thể "sống"
và "động", nó bao gồm hai cá thể tương tác trong cùng một điều kiện
sống. Vì là một tổng thể "sống" nên cũng rất là tự nhiên khi nó phải
trải qua những giai đoạn khác nhau. Trong bất cứ mối liên hệ nào cũng có
những mức độ gần gũi khác nhau: thể xác, tình cảm và trí tuệ. Chung
đụng thân xác, chia xẻ tình cảm, trao đổi ý tưởng đều là những phương
tiện hợp pháp để chúng ta nối kết với những người thân yêu. Và cũng rất
bình thường khi những phương tiện này tăng rồi giảm, trồi rồi sụt. Có
khi chung đụng thể xác giảm xuống nhưng chúng ta lại gia tăng mức độ
chia xẻ tình cảm với nhau. Hoặc có khi không muốn trao đổi bằng lời mà
chỉ cầm tay nhau cũng đủ. Nếu nhạy bén với những chuyện này, chúng ta sẽ
rất hân hoan mà thụ hưởng tình trạng nở rộ của cảm giác đắm say ban đầu.
Hoặc trong trường hợp ngược lại, thay vì lo sợ hay bực tức, chúng ta có
thể tự tạo một vài kiểu mẫu nối kết mới, thích hợp hơn, thoải mái hơn để
tự do vui hưởng cuộc sống với người bạn đường.
Trong cuốn Intimate Behavior, tác giả Desmond Morris
cũng có đề cập đến những thay đổi tự nhiên về nhu cầu gần gũi của con
người. Ông ta cho rằng mọi người trong chúng ta đều trải qua ba giai
đoạn như sau: "Hãy ôm tôi", "Để tôi xuống" và "Hãy để tôi yên". Chu kỳ
này xảy ra từ những năm đầu tiên của cuộc sống: Thuở sơ sinh, lúc nào
đứa bé cũng cần được bao bọc, che chở. Đó là giai đoạn "hãy ôm tôi". Đến
lúc đứa bé bắt đầu khám phá thế giới chung quanh khi nó tập bò, tập đi
và đạt được vài trạng thái độc lập, tự quản tức là giai đoạn "để tôi
xuống". Mặc dù đây là sự phát triển thông thường nhưng không phải lúc
nào các giai đoạn này cũng đi xuôi về một hướng. Có khi đứa bé cảm thấy
lo sợ vì tách rời quá xa với người mẹ, chúng quay lại giai đoạn "hãy ôm
tôi" để tìm lại cảm giác vỗ về, an ủi. Khi trưởng thành, đứa bé chật vật
trong việc xác định bản ngã của mình và đây là giai đoạn rất quan trọng
trong cuộc sống, đó cũng là giai đoạn "để tôi yên". Mặc dù đây là thời
gian gây nhiều đau khổ cho các bậc cha mẹ, các chuyên gia nhận định rằng
đó là chuyện thông thường và cần thiết để một đứa bé chuyển từ thời trẻ
tuổi đến thành nhân. Xa hơn một bước nữa, người ta cho rằng có nhiều
tiểu giai đoạn phối hợp với nhau trong giai đoạn này. Những người trẻ
thường hay la lớn ở nhà rằng "Hãy để tôi yên" thì ngược lại, đối với bạn
bè hay đồng trang lứa, họ có thể lại cần đến cảm giác "hãy ôm tôi".
Đối với các tương quan của người lớn cũng vậy. Mức độ
gần gũi có khi được thay thế bằng mức độ xa cách và đây cũng là một chu
kỳ rất bình thường trong tiến trình tăng trưởng và phát triển của mối
tương quan. Để đạt được đầy đủ tiềm năng của một con người, chúng ta cần
phải dung hòa nhu cầu thân cận với người ngoài và nhu cầu phát triển độc
lập tính trong nội tâm. Có thế chúng ta mới lớn khôn và phát triển thành
một cá thể biệt lập.
Nếu hiểu được những giai đoạn phát triển như vậy là
tự nhiên và thông thường thì chúng ta sẽ không bị sợ hãi, không phản ứng
với cảm giác hốt hoảng khi những dấu hiệu rời xa, cách biệt xuất hiện
từ người bạn đường, mà chỉ coi đó như ngọn sóng rút ra để rồi lại ập vào
bờ bãi. Dĩ nhiên, cũng có khi tình trạng xa cách là dấu hiệu của những
rắc rối nghiêm trọng có thể dẫn đến đổ vỡ, và trong những trường hợp như
vậy, trị liệu tâm lý là chuyện cần thiết. Điều cần ghi nhận ở đây là
những dấu hiệu xa cách không phải lúc nào cũng tự động mang ý nghĩa tai
họa. Đôi khi chúng chỉ thuần túy là một thời khoảng trong chu kỳ tiến
hóa để rồi sau thời gian suy thoái, chúng lại làm cho mối liên hệ trở
lại nguyên trạng hay có khi trở thành tốt đẹp hơn.
Do vậy, thái độ chấp nhận, thông hiểu những sự thay
đổi tự nhiên đóng một vai trò quan trọng trong quan hệ tương tác với tha
nhân. Chúng ta có thể khám phá ra nhiều chuyển đổi sâu xa trong lúc
tưởng như sắp gặp tai họa và những chuyển đổi này có thể lại là một tụ
điểm để cho tình yêu chân chính đơm hoa kết trái. Mối liên hệ có thể
không còn thuần túy đam mê, không còn thần tượng hóa, tuyệt đối hóa
người yêu nữa mà thay vào đó, chúng ta bắt đầu hiểu rõ đối tượng, nhìn
đối tượng như một cá thể biệt lập với những ưu cũng như khuyết điểm
không khác gì chính chúng ta. Đây là một giai đoạn không thể thiếu vắng
nếu chúng ta muốn thiết lập một cam kết chân thành, một tình yêu chân
thật.
Nếu chấp nhận và thông hiểu những đổi thay này, cuộc
hôn nhân của Margaret có thể đã cứu vãn được: Mối liên hệ giữa hai người
đang dựa trên những yếu tố khác chứ không phải là đam mê, lãng mạn.
May mắn là câu chuyện của Margaret không chấm dứt ở
đây. Độ hai năm sau buổi trị liệu cuối cùng, tôi gặp lại cô ấy trong một
khu buôn bán (việc gặp lại các thân chủ cũ ở những nơi công cộng như vầy
thường làm những chuyên viên trị liệu như chúng tôi cảm thấy không mấy
thoải mái). Tôi hỏi:
"Sao? Lúc này cô thế nào?" Margaret vui vẻ đáp:
"Không thể nào tốt đẹp hơn nữa, chúng tôi đã trở lại
với nhau vào tháng rồi."
"Thế hả?"
"Vâng, rất tốt đẹp. Vì cùng chăm sóc cháu bé nên
chúng tôi vẫn gặp nhau thường. Lúc đầu hơi khó khăn ... Nhưng sau khi ly
dị thì những áp lực không còn nữa. Chúng tôi không trông đợi gì đối với
nhau và cùng nhận ra rằng chúng tôi vẫn còn yêu nhau. Dĩ nhiên, nhiều
chuyện không còn như lúc trước nữa nhưng chúng tôi không coi là quan
trọng nên chúng tôi rất vui vẻ với nhau. Thật hoàn toàn!"
Chương 10
CHUYỂN
HƯỚNG VIỄN TƯỢNG
Ngày
xưa có một triết gia Hy Lạp đã dạy đệ tử rằng mỗi khi bị người khác xúc
phạm thì hãy trả công cho họ và người đệ tử này đã thực hành lời giáo
huấn của sư phụ trong suốt ba năm. Sau khi mãn hạn, sư phụ nói với đệ tử
rằng: "Bây giờ thì con có thể đi Athens để học khôn". Khi đến Athens,
người đệ tử gặp một ông già từng trải đứng ở cổng thành. Ông ta lăng
nhục tất cả những ai đi ngang qua cổng. Người đệ tử lúc đi qua cũng
không tránh khỏi sự nhục mạ của ông già. Nhớ lại chuyện mình đã làm
trong ba năm qua, người đệ tử bỗng mỉm cười. Ông già hỏi: "Sao bị ta
lăng nhục mà nhà ngươi lại cười?". Người đệ tử đáp: "Suốt ba năm trời
tôi đã phải trả tiền để học chuyện đó và bây giờ lại được ông cho
không." Ông già nói: "Vào thành đi, tất cả là của ngươi đó".
Desert Fathers, những nhà tu khổ hạnh ẩn cư Cơ Đốc
Giáo vào thế kỷ thứ 4 sau công nguyên, là một giáo đoàn với những đặc
tính rất khác thường đã dùng mẫu chuyện trên đây để nói về giá trị của
những khó khăn và khổ ải trong đời sống. Nhưng "Thành phố của sự khôn
ngoan" đã mở ngõ cho người đệ tử trong câu chuyện trên không phải chỉ do
những khổ cực mà ông ta đã trải qua. Lý do khiến người đệ tử đối phó một
cách rất hiệu quả với những hoàn cảnh khó khăn là khả năng chuyển đổi
viễn tượng của mình, khả năng khiến ông ta có thể nhìn hoàn cảnh của
mình từ một quan điểm khác.
Khả năng chuyển đổi tầm nhìn được coi là một phương
tiện vô cùng mạnh mẽ và hữu hiệu để đối phó với những khó khăn của đời
sống. Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích như sau:
"Có được khả năng nhìn sự việc từ những viễn tượng
khác nhau là một điều rất bổ ích. Với khả năng này, người ta có thể dùng
một số kinh nghiệm hoặc bi kịch nào đó để phát huy tính tĩnh lặng của
tâm thức. Chúng ta nên nhớ rằng bất cứ một hiện tượng, biến cố nào cũng
đều có những khía cạnh khác nhau. Tất cả mọi chuyện đều có tính cách
tương đối. Thí dụ như trong hoàn cảnh mất nước của tôi. Dĩ nhiên đó là
một thảm nạn khủng khiếp nếu nhìn vào những đổ nát tang thương tại Tây
Tạng. Nhưng đồng thời, tôi cũng nhìn vấn đề dưới một góc cạnh khác, và
với địa vị một người tỵ nạn, tôi có một viễn tượng khác. Đại loại như
tôi không còn cần đến những nghi thức, lễ lạc như xưa nữa. Nếu mọi
chuyện vẫn như cũ, vẫn tốt đẹp thì trong rất nhiều cơ hội, người ta chỉ
giả vờ, làm cho có lệ. Nhưng khi đã trải qua hoàn cảnh hiểm nghèo thì
không ai có thì giờ để ngụy tạo nữa. Nhìn từ góc độ đó, thảm nạn vừa qua
cũng khá hữu ích cho tôi. Ngoài ra, tư cách tỵ nạn đã tạo cho tôi vô số
cơ hội để gặp gỡ nhiều người. Những người từ các truyền thống tín
ngưỡng, các tầng lớp xã hội khác nhau, những người mà nếu tôi vẫn còn
trong nước thì có thể không có cơ hội để gặp.
"Thông thường thì khi có những rắc rối xảy ra, tầm
nhìn của chúng ta bị thu hẹp lại. Làm như tất cả đều chú mục vào tâm
trạng lo lắng đối với vấn đề, làm như chỉ có mình phải chịu đựng khó
khăn. Tâm lý này có thể dẫn đến tình trạng chỉ nghĩ đến mình mà hậu quả
là vấn đề trở nên phức tạp hơn. Khi tình trạng này xảy ra, tôi nghĩ rằng
sự quan sát từ một góc cạnh rộng rãi hơn sẽ rất có ích như hiểu được
rằng rất nhiều người khác cũng trải qua những khổ nạn như mình hoặc còn
khổ hơn mình nữa. Phương pháp thay đổi cách nhìn này giúp chúng rất
nhiều trong những trường hợp bịnh hoạn, đau đớn. Dĩ nhiên là không dễ gì
tập trung ý tưởng để thực tập thiền quán khi những đau đớn thể xác dâng
lên nhưng nếu thực hành thuần thục sẽ giúp chúng ta so sánh mình với
những trường hợp tương tự chung quanh, quan sát nỗi khổ đau của mình từ
một góc cạnh khác của đời sống. Và điều này giúp ích chúng ta rất nhiều.
Ngược lại, nếu chỉ chú tâm vào chuyện đang xảy ra, chúng sẽ trở nên to
lớn hơn, nặng nề hơn hầu như không kiểm soát nổi. Khi mang nỗi khổ của
mình ra so sánh với một hoàn cảnh bi đát hơn, hiểm độc hơn, chúng ta sẽ
thấy rằng nỗi khổ của mình nhỏ bé hơn, dễ dàng hơn và do đó, dễ chịu
đựng hơn.
Trước một buổi đàm luận với đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi
vô tình gặp một người quen vốn là quản lý viên thiết bị tại chỗ làm cũ.
Trong thời gian thuê mướn cơ sở của ông ấy, chúng tôi không mấy hòa
thuận với nhau vì tôi tin rằng ông ta đã không cung cấp đúng tiêu chuẩn
dịch vụ săn sóc bệnh nhân để đổi lấy những lợi lộc tài chính. Tôi không
gặp ông ta đã lâu vậy mà cảm giác tức giận đột nhiên dâng lên khi tôi
tình cờ giáp mặt ông ấy. Khi vào đến phòng khách riêng của đức Đạt Lai
Lạt Ma trong khách sạn, tôi đã dịu xuống rất nhiều nhưng tâm trí vẫn
chưa hoàn toàn êm ả. Tôi nói với đức Đạt Lai Lạt Ma khi buổi đàm luận
bắt đầu:
"Giả như ai đó làm mình bực tức, phản ứng tự nhiên
của chúng ta là cảm giác sân hận nổi lên. Trong đa số trường hợp, cảm
giác giận dữ không chỉ dâng lên vào lúc đó mà kéo dài về sau, có khi rất
lâu về sau. Và mỗi khi nghĩ đến, cảm giác sân hận vẫn trở lại như lúc
câu chuyện xảy ra lần đầu. Xin Ngài cho biết chúng ta phải đối xử với
tâm lý này như thế nào? Đức Đạt Lai Lạt Ma gật đầu và nhìn tôi. Tôi có
cảm giác rằng Ngài biết tôi có lý do khi đưa ra câu hỏi này chứ không
chỉ thuần túy với mục tiêu thảo luận. Ngài đáp:
"Nếu nhìn vấn đề dưới một góc cạnh khác, chúng ta sẽ
thấy rằng người đã gây ra cảm giác bực bội cho mình cũng có những điểm
tốt, những mặt tích cực. Lại nữa, ngay chính hành vi làm chúng ta giận
dữ cũng có thể đã gây tạo cho chúng ta một vài cơ hội, vài điều mà bình
thường chúng ta không làm sao thấy được, ngay cả trong quan điểm của
chúng ta. Cho nên chỉ với một ít cố gắng, chúng ta có thể nhìn vấn đề từ
nhiều góc cạnh khác nhau. Đó là điều rất hữu ích".
"Nhưng trong trường hợp mặc dù đã cố gắng, chúng ta
cũng không tìm ra một điểm tốt đẹp hay một khía cạnh tích cực nào của
câu chuyện thì sao ?"
"Trong trường hợp như vậy, chúng ta phải cố gắng hơn.
Chúng ta phải cần thì giờ để tìm hiểu vấn đề từ những viễn tượng khác
nhau, những viễn tượng trực tiếp, chánh yếu chứ không phải giả tạo,
tưởng tượng. Đồng thời, chúng ta phải nhận xét một cách khách quan chứ
không để cho tình cảm làm sai lạc sự nhận xét. Thường thì khi thù ghét
một người nào, chúng ta cho họ xấu hoàn toàn, 100% tiêu cực - hoặc cùng
một cách thế tương tự, khi yêu thương một người nào, chúng ta cho họ
hoàn toàn tốt, 100% tích cực.
Nhưng cách nhìn đời như vậy không phù hợp với thực
tế, vì trong nhiều trường hợp, một người bạn rất thân thiết mà ta đối xử
như bát nước đầy cũng có thể vì một lý do nào đó làm phật lòng mình.
Hoặc một kẻ thù của ta nhưng thật lòng hối lỗi, cư xử hết sức tử tế với
mình thì không lý gì mình cứ quay lưng với họ. Cho nên không có ai hoàn
toàn xấu mà cũng chẳng có ai hoàn toàn tốt. Người thật xấu cũng có điểm
tốt và ngườt thật tốt cũng mang trong mình dăm ba khuyết điểm. Bởi vậy,
khi cho một người nào đó hoàn toàn xấu hay tốt thì chẳng qua đó là sự
phóng chiếu tâm lý của chính chúng ta, nghĩa là ta gán cho họ như vậy
chứ không phải là bản chất thật của họ.
"Tìm cái tốt trong những người xấu là điều hữu ích
nhưng chưa đủ. Chúng ta cần phải thường xuyên nhắc nhở mình, thường
xuyên thực tập phương pháp chuyển đổi tầm nhìn cho đến khi tâm lý của
chúng ta quen với cách sinh hoạt mới. Tổng quát mà nói, khi ở trong
hoàn cảnh khó khăn, chúng ta không dễ gì thay đổi quan điểm nếu chỉ áp
dụng một vài lần các tư tưởng mới. Muốn thay đổi, chúng ta phải kinh qua
một thời gian dài học hỏi, luyện tập để làm quen với quan điểm mới hầu
có thể đối phó hữu hiệu với hoàn cảnh khó khăn".
Giữ vững lập trường thực dụng của mình, đức Đạt Lai
Lạt Ma nói tiếp:
"Tuy
thế, nếu đã cố gắng bằng mọi cách mà chúng ta vẫn không tìm thấy một góc
cạnh tích cực nào trong hành động của một người nào đó thì có lẽ cách
tốt nhất là quên nó đi."
Cảm hứng về những lời thuyết giảng của đức Đạt Lai
Lạt Ma, tối hôm đó, tôi cố tìm cho ra vài "góc cạnh tích cực" về viên
quản lý nói trên với dữ kiện là ông ta không phải 100% xấu. Không mấy
khó khăn, tôi đã nhớ lại rằng ông ấy là một người cha rất thương con,
bằng mọi cách muốn cho con nên người. Và tôi cũng nhận ra rằng những lần
đụng chạm với ông ta đã dẫn tôi đến một quyết định tốt đẹp hơn: Tìm được
một địa điểm thuận lợi hơn nhiều cho công việc. Không phải những khám
phá này làm cho tôi trở nên thân thiện với ông ta, nhưng quả thực, chúng
làm tôi bớt ác cảm với viên quản lý mà không phải tốn nhiều công sức.
Sau này, đức Đạt Lai Lạt Ma còn thuyết giảng về một bài học sâu sắc hơn:
Làm sao để chuyển hóa thái độ của chúng ta đối với kẻ thù và làm sao để
quan tâm đến họ.
VIỄN
TƯỢNG MỚI ĐỐI VỚI KẺ THÙ
Phương pháp đầu tiên để chuyển hóa thái độ của chúng
ta đối với kẻ thù, theo đức Đạt Lai Lạt Ma, là sự phân tích có hệ thống
và hợp lý những phản ứng theo thói quen của chúng ta đối với những người
làm thiệt hại đến mình. Ngài nói:
"Ta hãy bắt đầu bằng cách xét qua thái độ đặc trưng
của mình đối với kẻ địch. Thông thường thì không ai trong chúng ta mong
cho kẻ thù gặp được những điều tốt đẹp, nhưng nếu họ bị đau khổ do những
hành động của ta thì liệu chúng ta có vui sướng gì không trong chuyện
đó? Hãy nghĩ cho kỹ về trường hợp này, liệu có gì đáng thương hơn thế?
Mang trong lòng cảm giác thù hận và những ước vọng xấu xa. Có thật chúng
ta ích kỷ, bất xứng đến như vậy?"
"Nếu áp dụng phương pháp rửa hận đối với kẻ thù,
chúng ta sẽ tạo ra một vòng lẩn quẩn vì khi chúng ta trả đũa, đối phương
sẽ không ngồi yên để chấp nhận. Họ sẽ phản ứng mạnh hơn, rồi chúng ta
cũng hành động như vậy để đáp lại và câu chuyện cứ thế ngày càng tệ hại.
Khi tình trạng này xảy ra ở cấp cộng đồng, những oán thù có thể kéo dài
qua nhiều thế hệ và hậu quả là cả hai phía đều bị thương tổn, cuộc sống
sẽ mất đi ý nghĩa tươi đẹp. Trong các trại tỵ nạn, các phe nhóm chống
đối lẫn nhau kéo theo cả trẻ con và đây là điều rất đáng buồn. Hận thù
giống như lưỡi câu của ngư phủ và điều quan trọng là chúng ta phải cố
gắng để đừng mắc câu.
"Cũng có khi người ta cho rằng những hận thù cao độ
giúp bảo vệ những lợi ích quốc gia, nhưng theo tôi thì đây là những ý
kiến tiêu cực và thiển cận. Ngược lại với quan điểm này là tâm lý hiểu
biết và bất bạo động".
Như muốn thử thách thái độ thường có của chúng ta đối
với kẻ thù, đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra một đường hướng mới có thể tạo ra
những tác động cách mạng trong đời sống con người. Ngài nói: "Trong đạo
Phật, thái độ của chúng ta đối với kẻ thù được xem xét khá cẩn trọng với
lý do thù hận là rào cản lớn lao nhất trong việc phát triển từ tâm và
hạnh phúc. Nếu chúng ta có thể gia tăng lòng kiên nhẫn, tâm khoan nhượng
đối với kẻ thù thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn rất nhiều: Lòng từ ái đối
với tha nhân sẽ tự nhiên phát tiết. Đối với hành giả đang khai triển tâm
thức, kẻ địch giữ một địa vị quan trọng. Như chúng ta đã thấy, từ ái là
tinh túy của đời sống tâm linh. Muốn thành công trong hạnh từ bi, người
ta không thể nào bỏ qua ý niệm khoan nhượng và nhẫn nhục. KHÔNG CÓ DŨNG
CẢM NÀO HƠN ĐƯỢC ĐỨC NHẪN NHỤC CŨNG NHƯ KHÔNG PHIỀN NÃO NÀO TỆ HƠN LÒNG
SÂN HẬN. Cho nên chúng ta phải nỗ lực tối đa để đừng bị vây bủa bởi cảm
giác thù hận đối thủ mà ngược lại, nên coi đây là cơ hội để mình thực
hành lòng khoan nhượng, chí nhẫn nhục.
"Thật
ra, kẻ thù là điều kiện cần thiết để thực hiện đức nhẫn nhục, vì thiếu
kẻ thù, khoan nhượng và kiên nhẫn sẽ không có điều kiện phát triển. Bạn
hữu hay tha nhân không cho chúng ta những cơ hội, cũng không thử thách
ta. Chỉ có kẻ thù mới giúp chúng ta có cơ hội vun bồi tính nhẫn nhục.
Bởi vậy, dưới nhãn quan này, chúng ta sẽ thấy kẻ thù là một vị thầy xuất
sắc mà chúng ta phải tôn trọng vì đã giúp chúng ta những cơ hội quý báu
để thực hành hạnh nhẫn nhục.
Trên thế gian này có vô số vô lượng nhân sinh nhưng
những người mà chúng ta có cơ hội tiếp xúc thì không là mấy. Và trong số
ít ỏi này, những người gây phiền lụy cho chúng ta lại càng ít hơn. Vì
hiếm hoi như vậy nên chúng ta phải trân quý họ. Cũng như vô tình tìm
thấy bảo vật chôn giấu trong nhà, chúng ta nên vui vẻ và cảm kích những
cơ hội quý báu mà họ đã tạo nên cho chúng ta. Muốn thành đạt trong công
tác hành trì nhẫn nhục và khoan nhượng tức là những điều kiện quan yếu
để chống lại cảm xúc tiêu cực, chúng ta phải phối hợp các cố gắng cá
nhân và các cơ hội do kẻ thù cống hiến."
"Dĩ nhiên là người ta vẫn có thể nghĩ rằng: 'Ơ hay,
tại sao mình phải tôn trọng kẻ thù, mang ơn về những cống hiến của họ vì
họ đâu bao giờ có ý định cung cấp những cơ hội quý báu này? Đâu bao giờ
có ý định giúp đỡ mình? Chẳng những họ không có ý giúp đỡ mà ngược lại,
họ còn chủ tâm ám hại mình nữa. Cho nên, thù ghét họ là điều thích đáng,
họ không xứng đáng được mình tôn trọng' . Thật ra chính cái tâm địa xấu
xa, cái chủ ý muốn ám hại mình của kẻ thù đã tạo ra những hành động độc
nhất đó. Vì nếu không có chủ tâm thì lắm khi, chúng ta cũng có thể thù
ghét mấy ông bác sĩ, coi họ như kẻ thù khi những vị này phải sử dụng
những phương pháp trị liệu đau đớn như mổ xẻ chẳng hạn. Nhưng tại sao
chúng ta không thù ghét mấy ông bác sĩ đã gây đau đớn cho ta? Phải chăng
vì hành động gây đau đớn đó xuất phát từ ý tưởng giúp đỡ thay vì hãm
hại? Vậy thì chính cái chủ ý gây đau khổ đã làm cho hành động của kẻ thù
trở nên độc nhất vì đã cống hiến cho chúng ta những cơ hội để thực hành
đức nhẫn nhục.
Đ