Đạo Phật
áp dụng trong đời sống hàng ngày
Thích Huyền Quang - Thích Nhất Hạnh
---o0o---
Sách này được viết ra trong mục đích đỡ bớt đôi phần mệt nhọc
cho quý vị giảng sư và quý vị cán bộ văn hóa xã hội của Giáo Hội Phật
Giáo. Chúng tôi đã y cứ vào huấn chỉ của quý vị lãnh đạo hai viện Tăng
Thống và Hóa Đạo để diễn giải cương lĩnh của nền Phật học nhập thế hiện
đại.
Cố nhiên dù có thiện chí đến đâu đi nữa chúng tôi vẫn còn
mắc phải nhiều thiếu sót sai lầm. Kính mong quý vị trong khi xử dụng
sách, bổ túc những thiếu sót và sai lầm đó cho, chúng tôi rất cảm tạ. Nếu
được quý vị gửi cho những lời chỉ giáo, chúng tôi sẽ có thể làm cho sách
thêm hoàn hảo trong ấn bản sau.
Giáo lý đạo Phật là giáo lý khế cơ và sách này không phải là
sách của muôn thời. Trong khoảng mười năm, cuốn sách này sẽ trải qua
nhiều thử thách, thay đổi, và chắc hẳn cương lĩnh giáo lý nhập thế sẽ được
trình bày dưới một hình thức thích hợp hơn nữa, và các bậc cao minh trong
Phật học giới sẽ cống hiến quần chúng những tác phẩm có giá trị lớn lao về
lượng cũng như về phẩm. Riêng chúng tôi, nếu cuốn sách này mà giúp đỡ quý
vị giảng sư và quý vị cán bộ Giáo Hội được muôn một nào thì đó đã là một
phần thưởng vô cùng quý giá rồi. Chúng tôi rất mong được nghe lời phê
bình xây dựng phát xuất từ kinh nghiệm của quý vị trong lúc trực tiếp làm
Phật sự.
THQ và TNH
-
Đạo Phật
Việt Nam Trong Quá Khứ
Đạo Phật Việt Nam trong quá khứ đã góp phần xây dựng con
người và xã hội Việt Nam. Đạo Phật được đưa vào nước ta vào khoảng cuối
thế kỷ thứ hai do những vị tăng sĩ và những thương gia Ấn Độ và Trung Á
tới Việt Nam bằng đường biển Ấn Độ Dương. Từ đấy tới cuối thế kỷ thứ sáu
các vị tăng sĩ và thương gia này liên tục tới Việt Nam. Và cộng tác với
họ, dân ta đã dựng chùa, xây tháp, thờ Phật và đọc kinh. Các kinh điển
thời đó hoặc bằng tiếng Sanskrit hoặc là bằng chữ Hán do những tăng sĩ Ấn
Độ dịch ra với sự cộng tác của những người Việt giỏi Hán tự. Vào cuối thế
kỷ thứ sáu, ở thủ đô Luy Lâu của nước ta đã có hai mươi ngôi chùa, hơn năm
trăm vị tăng sĩ và mười lăm bộ kinh đã được phiên dịch và lưu hành. Nước
ta hồi ấy là một trung tâm Phật Giáo, từ đó đạo Phật được truyền qua Trung
Hoa. Các tăng sĩ từ Ấn Độ sang thường lưu trú tại Giao Châu để hoằng hóa
một thời gian trước khi đi Trung Quốc. Từ đó tu sĩ Trung Quốc trên đường
hành hương Ấn Độ cũng thường ghé qua lưu trú tại Giao Châu.
Cuối thế kỷ thứ sáu, một vị tăng sĩ Ấn Độ tên Tỳ Ni Đa Lưu
Chi (Vinitaruci) sau khi vân du Trung Hoa, tới kinh đô Luy Lâu ở lại chùa
Pháp Vân và thành lập phái thiền tông đầu tiên tại nước ta gọi là phái TỲ
NI ĐA LƯU CHI. Vào đầu thế kỷ thứ chín, một vị thiền sư Trung Hoa tên là
Vô Ngôn Thông sang nước ta, trú tại chùa Kiến Sơ và thành lập phái thiền
tông thứ hai tại nước ta gọi là phái VÔ NGÔN THÔNG. Giữa thế kỷ thứ mười
một cùng với Tháo Đường Thiền Sư, vua Lý Thánh Tông thành lập một phái
thiền tông thứ ba gọi là phái THẢO ĐƯỜNG. Vào thế kỷ thứ mười ba, vua
Trần Nhân Tôn sau khi xuất gia, lập một phái thiền tông thứ tư nữa gọi là
phái TRÚC LÂM YÊN TỬ.
Các phái thiền tông này đã đóng góp rất nhiều trong công
trình xây dựng nền độc lập chính trị và văn hóa của nước ta. Phái TỲ NI
ĐA LƯU CHI đã hỗ trợ đắc lực cho các triều đại độc lập đầu tiên ở Việt Nam
là triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý. Pháp Thuận Thiền Sư và Vạn Hạnh Thiền
Sư là những vị cao tăng của phái này đã từng làm cố vấn văn hóa, chính trị
và quân sự cho các triều đình Việt và đem thế lực Phật Giáo hỗ trợ cho
việc xây dựng quốc gia. Khuông Việt Thiền Sư của phái VÔ NGÔN THÔNG cũng
đã phụ tá đắc lực cho vua Đinh Tiên Hoàng trong việc dựng nước. Đạo Phật
đã xây dựng cho đời Lý những triều đình có kỷ cương, có văn hóa, có pháp
chế. Kỷ cương, văn hóa và pháp chế này đã được xây dựng trên tinh thần Từ
Bi và Khoan Dung. Triều Lý có thể gọi là triều đình từ bi và khoan dung
nhất trong lịch sử Việt Nam, và điều đó là công của đạo Phật. Phái TRÚC
LÂM YÊN TỬ ra đời tại Việt Nam vào đầu triều Trần, là một tông phái thiền
Việt Nam hợp nhất các truyền thống thiền đã có từ trước. Những nhà lãnh
đạo của phái TRÚC LÂM như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Điều Ngự
Giác Hoàng, Pháp Loa Đại Sư và Huyền Quang Đại Sư… đã đóng góp rất nhiều
cho nền học thuật, tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Phật Giáo triều Trần
tiếp nối Phật Giáo triều Lý, đã giúp đỡ phát huy Nho Giáo và xử dụng triết
học hành động chính trị của Nho Giáo trong tinh thần vị tha và cởi mở của
Phật Giáo. Do đó cho nên Phật Giáo, Nho Giáo và Lão Giáo đã được hòa đồng
một cách rất tốt đẹp trong những thời đại hưng thịnh ấy của đất nước Việt
Nam. Đạo Phật đã đóng vai trò điều hợp và hóa giải giữa các thế lực tranh
chấp, góp phần xây dựng tinh thần dân tộc, bảo vệ nền độc lập quốc gia.
Đạo Phật đã ảnh hưởng tới đời sống tình cảm, tâm linh và trí thức của con
người Việt Nam, khiến cho người Việt tuy ham chuộng hòa bình nhưng vẫn tự
lực tự cường không để cho ai áp chế, tuy giữ gìn và quý trọng gia tài văn
hóa dân tộc nhưng vẫn cởi mở đón chào và thâu nhận những tinh hoa của các
nền văn hóa thế giới.
-
Đạo Phật
Việt Nam Trong Hiện Tại
Đạo Phật Việt Nam trong hiện tại tiếp tục xây
dựng con người và xã hội Việt Nam, đồng thời góp sức vào sự xây dựng cộng
đồng nhân loại. Cuộc chiến tranh kéo dài trên hai mươi năm đã tàn phá bao
nhiêu sinh mạng và tài sản của quốc gia Việt Nam. Không những thế, cuộc
chiến tranh còn gây căm thù nghi kỵ giữa người Việt với người Việt. Phật
Giáo Việt Nam trong hai mươi lăm năm qua đã đóng góp phần mình trong cuộc
tranh đấu cho chủ quyền đất nước và hòa bình dân tộc và người Phật tử Việt
Nam đã chịu chung gian lao nguy khó với đồng bào và đất nước. Để chống
lại sự tàn phá đất nước và sự tàn phá những giá trị con người, đạo Phật
Việt Nam đã nỗ lực giữ vững niềm tin của người Việt Nam nơi truyền thống
và khả năng tổng hợp văn hóa của truyền thống dân tộc, giữ cho xã hội
không tan nát vì phân hóa, hoài nghi và căm thù. Kêu gọi mọi người trở về
với truyền thống văn hóa dân tộc, đạo Phật Việt Nam chống lại mọi mưu toan
bên ngoài muốn xử dụng xương máu Việt Nam chống lại mọi mưu toan bên ngoài
muốn xử dụng xương máu Việt Nam để làm hàng rào phòng thủ của họ. Ðạo
Phật Việt Nam đồng thời cũng nhắm đến sự xây dựng xã hội Việt Nam về các
phương diện kinh tế, y tế và giáo dục để làm nền tảng vững chắc cho hòa
bình. Thế giới đang bị đặt trong tình trạng hiểm nguy: nạn nhân mãn, nạn
đói kém, nạn nhiễm độc và chiến tranh nguyên tử đang đe dọa số phận con
người Việt Nam cần sớm đạt tới hòa bình và kiểm soát được vận mệnh mình để
có thể góp phần hữu hiệu với các quốc gia khác trong việc đối phó với
những hiểm trạng kia. Một cộng đồng nhân loại trong đó người không bóc
lột người, ranh giới giữa các quốc gia chủng tộc không còn là nguồn gốc
của tranh chấp kỳ thị, đó cũng là mục tiêu mà Việt Nam nhắm tới.
-
Áp dụng
Đạo Phật trong đời sống mới
Người Phật tử Việt Nam nhìn rõ thực tại tâm lý, kinh tế và
xã hội của thời đại và áp dụng giáo lý đạo Phật một cách thông minh vào
đời sống mới, không bị ràng buộc bởi thành kiến và thói quen. Đức Phật là
một bực Đại Đạo Sư. Thâm hiểu những điều kiện tâm lý, kinh tế và xã hội
con người của thời đại ngài, Đức Phật đã truyền dạy những giáo lý thích
hợp với con người của thời đại ấy. Giáo lý của Đức Phật phù hợp với các
điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của con người cho nên được
gọi là một giáo lý KHẾ CƠ. Trong suốt lịch sử của Phật giáo, ta thấy xuất
hiện nhiều hệ thống giáo lý mới phát xuất từ Phật Giáo Nguyên Thỉ, như
giáo lý Tịnh Độ, giáo lý Thiền, giáo lý Duy Thức, giáo lý Thiên Thai.
Những giáo lý này vừa khế hợp với căn bản đạo Phật vừa khế hợp với những
điều kiện tâm lý và xã hội của con người đương thời. Phật giáo là một tôn
giáo không báo thù, biết cởi mở và khai phóng để mở rộng chân trời tương
lai. Tuy cởi mở, khai phóng và tiếp tục được truyền thống từ bi, khoan
dung, vô úy và giải thoát. Thái độ bảo thủ vì thói quen vì thành kiến và
cố chấp là một thái độ trái ngược với tinh thần cởi mở và tiến bộ của đạo
Phật. Người Phật tử không thể nhắm mắt làm theo tất cả những điều mà
người xưa đã làm, lấy cớ “xưa bày nay làm”. Người Phật tử phải xét xem
những điều do người xưa bày ra hiện còn có giá trị trong hoàn cảnh hiện
tại hay không. Nếu còn thì ta vẫn tiếp tục thi hành. Nhưng nếu những
điều ấy không còn giá trị nữa thì ta phải bỏ và tìm ra những điều khác
thích hợp với ta hơn. Ngày xưa khi còn tại thế Đức Phật và các môn đệ
cùng thời với ngài đã áp dụng pháp chế khất thực chẳng hạn. Ở các nước
Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, trong suốt mười thế kỷ, tăng sĩ ít khi thực
hành pháp chế tri bất khất thực đó, tại vì điều kiện phong thổ và tập quán
ở các nước này khác với Ấn Độ thưở xưa. Như thế không có nghĩa là Phật
Giáo các nước đó chống với Phật Giáo Ấn Độ. Như thế chỉ có nghĩa là Phật
Giáo tại các nước đó đã biết chuyển biến để khế hợp với những điều kiện
sinh hoạt tại các nước đó mà thôi. Lấy ví dụ ấy mà xét thì nếu ta muốn
cho đạo Phật có sinh khí, ta phải biết áp dụng đạo Phật một cách thông
minh vào những điều kiện sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội của đời sống
chúng ta. Đạo Phật không phải là của riêng của một số người ẩn dật nơi tư
viện. Đạo Phật là của mọi lớp người: của thiếu nhi, của thanh niên, của
phụ nữ, của lao động trí thức và lao động chân tay. Đạo Phật chỉ có sinh
lực khi nào giáo lý đạo Phật được áp dụng trong đời sống hàng ngày, trong
các lãnh vực giáo dục, y tế, chính trị, kinh tế, tổ chức, trong đời sống
cá nhân cũng như trong đời sống gia đình, quốc gia và xã hội. Người Phật
tử phải đặt những câu hỏi tương tự như sau đây: Trong một xã hội mà con
người bị lôi cuốn theo guồng máy kinh tế và chính trị đến nỗi con người
khó có thể bảo tồn tự do và nhân tính của mình, thì đạo Phật dạy con người
áp dụng thái độ nào và hành động những gì để khôi phục tự do và nhân tính
ấy? Đối với những cuộc chiến tranh diệt chủng và tàn phá sinh mệnh và giá
trị con người, đạo Phật dạy ta hành động thế nào? Trước hiểm họa mà nhân
loại đang phải đương đầu, đạo Phật dạy ta con đường nào để có thể tự cứu?
Nếu đạo Phật không trả lời được những câu hỏi như thế, thì ta không thể
nói rằng đạo Phật là đạo của sự sống. Kỳ thực, người Phật tử tin rằng
trong đạo Phật có hàm chứa những nguyên lý căn bản có thể trả lời được mọi
vấn đề của sự sống; và do đó, đem những nguyên tắc kia áp dụng vào đời
sống cá nhân và xã hội hiện tại ta sẽ tìm thấy những câu trả lời thích
hợp. Bản thân ta và sự sống của ta chính là môi trường thực nghiệm từ đó
được tìm ra những câu giải đáp, gọi là ĐẠO PHẬT ỨNG DỤNG. Những điều kiện
sinh hoạt tâm lý, kinh tế và xã hội luôn luôn thay đổi cho nên mỗi thời
đại và mỗi địa phương cần có một đạo Phật ứng dụng thích hợp. Thành kiến
và thói quen thường khiến cho người ta sợ hãi sự thay đổi và sự sáng tạo.
Đạo Phật là một đạo sống động, do đó cần sự đổi thay và sáng tạo liên
tục. Phật tử đừng để cho thành kiến và thói quen bó buộc. Phật tử cần
luôn luôn nhận định lại về sự sống để mà thực hiện những thay đổi và sáng
tạo cần thiết làm cho đạo Phật luôn luôn là một đạo sống động chứ không
khô chết trong những cái vỏ hình thức và thiếu sinh khí.
-
Con Người
Là Then Chốt
Đạo Phật được khai sáng bởi con người để phục vụ cho con
người. Đạo Phật lấy con người làm gốc. Tinh thần nhân bản của đạo Phật
được biểu lộ không những ở giáo lý đạo Phật mà còn ở thái độ và hành động
của người Phật tử. Đạo Phật do con người sáng lập để phụng sự cho con
người. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni) người sáng lập đạo Phật cách
đây 2500 năm không bao giờ tự cho mình là một vị trời hay một đấng thần
linh. Từ ngữ Phật (Buddha) chỉ có nghĩa là con người giác ngộ. Phật là
một con người đã giác ngộ chân lý (tự giác) và đem chân lý ấy giác ngộ cho
những kẻ khác (giác tha) để mong đạt tới sự nghiệp giác ngộ tràn đầy (giác
hạnh viên mãn). Trước khi tu đạo và thành Phật, Đức Thích Ca có tên là
Shiddharta, cũng đã có cha có mẹ và đã thành lập gia đình với công chúa
Gia Du Đà La (Yasodhara) và có một người con tên La Hầu La (Rahula). Trí
tuệ giác ngộ mà Phật đạt được không phải do nơi một vị thần minh nào trao
truyền mà do chính kinh nghiệm tâm linh của Phật chứng nhập.
Giáo lý đạo Phật chủ trương rằng con người chịu hoàn toàn
trách nhiệm về bản thân mình và xã hội mình, rằng con người có thể thay
đổi được bản thân và hoàn cảnh xã hội theo ý mình muốn. Những điều kiện
hiện tại của sự sống, những gì đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra đều do
hành động (nghiệp hay Karma) của mình tạo thành và thúc đẩy. Không có một
đấng thần linh nào có quyền năng cứu rỗi được con người. Phật tử, theo
lời Phật dạy, phải tự mình thắp đuốc lên mà đi. Con người phải tự cứu lấy
mình.
-
Nhân Cách
Phật Thích Ca
Đức Phật Thích Ca, người thành lập đạo Phật là một người đã
phát triển nhân cách mình đến mức độ tuyệt hảo. Nhân cách của đức Phật
Thích Ca còn quan trọng hơn cả giáo lý ngài dạy trong kinh điển, bởi vì
nhân cách ấy là giáo lý sống động do chính đời ngài phô diễn. Chính nhân
cách ấy đã hàng phục được bạo động, đã tạo được niềm tin, đã gây nên đoàn
kết. Chính nhân cách ấy đã hướng dẫn được giáo đoàn ngài lúc ngài tại thế
và còn tiếp tục hướng dẫn được giáo đoàn Phật giáo hàng mấy thế kỷ sau khi
ngài tạ thế. Được nhìn vào mắt Phật, được sống bên cạnh ngài và được
chiêm ngưỡng nhân cách ngài chắc hẳn là còn hiểu được ngài nhiều hơn là
học tập giáo lý ngài qua kho tàng kinh điển. Nhân cách của Phật làm sao
ta có thể diễn tả nổi? Tuy vậy, ta cũng có thể căn cứ trên giáo lý đạo
Phật để nói rằng nhân cách của Phật biểu lộ một trí tuệ lớn, một tình
thương lớn và một ý chí lớn. Tình thương lớn ấy gọi là ĐẠI BI
(Mahakaruna) được đi đôi với trí tuệ lớn gọi là ĐẠI TRÍ (Mahaprajna) và ý
chí lớn gọi là ĐẠI LỰC (Mahabala). Đạt đến mức độ tuyệt hảo của nhân cách
tức là đạt đến trình độ giác ngộ hoàn toàn, trình độ Phật, trình độ vô
thượng giác (giác ngộ cao nhất) mà phạn ngữ gọi là
ANUTTARA-SAMYAK-SAM-BODHI (a nậu lâu đa la tam miệu tam bố đề phiên âm
theo tiếng Hán Việt).
-
Trí Tuệ,
Từ Bi và Đại Lực
Mục đích của sự thực hành đạo Phật, do đó là để đạt tới nhận
thức sáng tỏ về thực tại (trí), tình thương rộng lớn với mọi người và mọi
loài (bi) và ý chí bền vững để thành tựu đại nguyện giúp đời (dũng). Đạo
Phật không phải là một tôn giáo chuyên thờ cúng cầu xin các vị thần minh.
Đạo Phật đòi hỏi người Phật tử thực hiện trí tuệ, tình thương và ý chí nơi
bản thân và ngoài xã hội. Đạo Phật đại thừa trình bày những nhân vật
gương mẫu của sự thực hiện đạo Phật như bồ tát Quan Thế Âm, bồ tát Văn Thù
Sư Lợi, bồ tát Phổ Hiền, và bồ tát Địa Tạng. Đó là những người Phật tử
lỗi lạc nhất, những người đang thực hiện tuệ giác đại trí, tình thương đại
bi và công tác đại hạnh. Bồ tát (Bodhisattva) có nghĩa là người đang thực
hiện sự nghiệp giác ngộ và độ sinh. Bồ Tát Quan Thế Âm là hình ảnh của
tình thương đại bi và công tác đại hạnh, lắng tai nghe tiếng kêu thương
của kẻ khổ đau mười phương mà có mặt để cứu độ (kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ
Môn). Bồ tát Văn Thù Sư Lợi là hình ảnh của tuệ giác đại trí và biện tài
vô ngại (kinh Duy Ma). Bồ tát Phổ Hiền và bồ tát Địa Tạng là hình ảnh của
hành động và đại nguyện để thành tựu sự nghiệp giác ngộ và cứu đời (kinh
Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền và kinh Địa Tạng). Tụng đọc những kinh điển nói
về các vị Bồ Tát ấy là để thâm hiểu về đạo Phật qua đời sống, trí tuệ và
hạnh nguyện của các vị ấy chứ không phải để cầu xin kể lể. Người Phật tử
cần thấy nơi hình ảnh của các vị bồ tát ấy những tấm gương sáng để noi
theo trong lúc học tập và thực hành đạo Phật. Đọc kinh suông và trì niệm
danh hiệu suông thì không đem lại chút lợi ích thiết thực nào.
-
Những Đạo
Lý Căn Bản
Đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý duyên khởi, tứ diệu
đế và bát chánh đạo. Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái
Phật Giáo, nguyên thỉ cũng như đại thừa. Giáo phái Theravada hiện giờ
thịnh hành tại các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia tự
nhận là gần với Phật Giáo thời Phật tại thế, gọi là Phật Giáo Nguyên Thỉ.
Giáo phái đại thừa hiện giờ thịnh hành tại Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản,
Triều Tiên cũng tự nhận là phù hợp với tinh thần Phật Giáo Nguyên Thỉ,
nhưng cho rằng ta phải thích nghi với những điều kiện sinh hoạt văn hóa và
kinh tế của từng thời đại và địa phương thì ta mới có thể nuôi dưỡng tinh
thần ấy được. Ở Việt Nam hai giáo phái Theravada và Đại Thừa, từ năm 1964
trở đi, đã được kết hợp cùng trong một giáo hội Phật giáo, gọi là GIÁO HỘI
PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT. Đây cũng là một điểm đặc sắc của đạo Phật
Việt Nam, bởi vì chính ở Việt Nam hai giáo phái Theravada và Đại Thừa được
kết hợp đầu tiên trong một giáo hội. Theravada nguyên là giáo phái do các
bậc trưởng lão trong giáo hội nguyên thỉ chủ trì, thuộc về thiểu số, còn
Đại Thừa phát sinh từ giáo phái Mahasanghika gọi là ĐẠI CHÚNG BỘ tức là
giáo phái của đa số những người trẻ trong Giáo Hội Nguyên Thỉ chủ trì, có
tinh thần cấp tiến và dung hợp nhiều hơn Đại Thừa (Mahayana) là con đường
hoặc cỗ xe lớn, chỉ cho sự hành đạo và cứu độ nhắm tới tập thể mà không
phải là cá nhân.
-
Duyên Khởi
Đạo lý duyên khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về
thế giới thực tại. Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh
thành và tồn tại. Không những các sự kiện thuộc thế giới nhân sự như
thành, bại, thịnh, suy mà tất cả những hiện tượng thuộc thế giới tự nhiên
như núi, sông, hoa, cỏ cũng đều vâng theo luật duyên khởi mà sinh thành,
tồn tại và tiêu hoại.
DUYÊN (Pratyaya) là những điều kiện. Sự sinh thành của một
cái bàn chẳng hạn, tùy thuộc ở những điều kiện như gỗ, cưa, đinh, búa,
người thợ mộc, vân vân… Vậy gỗ, cưa, đinh, búa, người thợ mộc là những
DUYÊN cần thiết cho sự phát sinh của cái bàn. Sự sinh thành của một đứa
bé cũng tùy thuộc ở những DUYÊN như tinh huyết của cha mẹ, thời gian thai
nghén, sức ấm vân vân… Sự sinh thành của một nền dân chủ cũng tùy thuộc ở
những DUYÊN như ý thức về quyền lợi và bổn phận của người dân, sự tranh
thủ chính trị, sự bảo vệ hiến pháp, vân vân… Bất cứ một hiện tượng nào
trong vũ trụ, tinh thần hay vật chất, đều do sự tập hợp của các DUYÊN mà
thành. Sự vật nương vào nhau mà sinh thành và tồn tại, không có sự vật
vào có thể tự mình sinh ra mình và tự mình tồn tại độc lập với những sự
vật khác. Đó là yếu lý duyên khởi của đạo Phật.
Có bốn loại DUYÊN cần được phân biệt. Thứ nhất là NHÂN
DUYÊN có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, ví như hạt lúa là nhân duyên
của cây lúa, gỗ là nhân duyên của cái bàn và đất sét là nhân duyên của cái
bình. Thứ hai là TĂNG THƯỢNG DUYÊN tức là những điều kiện trợ lực cho
nhân duyên, ví như phân bón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa trở
thành cây lúa, người thợ mộc và cây cưa là tăng thượng duyên cho khúc gỗ
trở thành cái bàn, nước và lò gốm là tăng thượng duyên cho đất sét trở
thành cái bình. Thứ ba là SỞ DUYÊN DUYÊN tức là những điều kiện làm đối
tượng cho nhận thức, như hình sắc phát sinh ra cái thấy, âm thanh phát
sinh ra cái nghe và tư tưởng phát sinh ra ý lự. Thứ tư là ĐẰNG VÔ GIÁN
DUYÊN tức là sự liên tục không gián đoạn cần thiết cho mọi sự phát sinh,
trưởng thành và tồn tại.
Luật nhân quả cần được quan sát và áp dụng theo nguyên tắc
duyên sinh mới có thể gọi là luật nhân quả đạo Phật. Theo đạo lý duyên
sinh, một NHÂN đơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một NHÂN
bao giờ cũng đóng vai trò QUẢ, cho một NHÂN khác.
Ta đã biết rằng hạt lúa là NHÂN của cây lúa. Nhưng ta cũng
đã biết thêm rằng nếu không có những tăng thượng duyên như đất, ánh sáng,
nước và thời gian thì hạt lúa không bao giờ trở nên cây lúa được. Vậy ta
kết luận: một nhân đơn độc không bao giờ có khả năng phát sinh ra quả. Do
đó ta có thể nói: Vạn vật trong vũ trụ nương nhau mà phát sinh; nên ta
không thể nói: (ví dụ) thái cực phát sinh ra vũ trụ. Tại sao? Bởi vì
thái cực và thần linh, nếu là những nguyên nhân đơn độc, làm sao có khả
năng phát sinh ra quả tức là thế giới? Do đó, thuyết thái cực phát sinh
hoặc thần linh sáng tạo vũ trụ đi ngược với đạo lý duyên khởi. Chẳng
những thế mà khi nói chân như (1) phát sinh vạn hữu, người Phật tử cũng đi
ngược với đạo lý duyên khởi, nếu người Phật tử nghĩ rằng chân như là
nguyên nhân đơn độc và đầu tiên. Có những triết gia và thần học gia cho
rằng thái cực hoặc thần linh không phải là nguyên nhân đầu tiên mà chỉ là
thực thể của hiện hữu vượt ngoài thời gian và không gian (2), trong trường
hợp này họ cũng không đi ngược lại đạo lý duyên khởi của đạo Phật.
(1)
Chân như (Bhutatahata) là thực thể của vạn hữu.
(2)
Như Paul Tillich, nhà thần học Cơ Đốc nổi danh ở Đức Quốc
nói: “Thượng Đế không phải là nguyên nhân đầu tiên. Nói “Thượng Đế là
nguyên nhân đầu tiên” chỉ là một cách nói mà thôi” (Paul Tillich,
Systematic Theology)
Trên thực tế, ta chưa từng thấy một nhân đơn độc nào có thể
sinh ra quả, mà ta cũng chưa từng thấy một nhân mà không phải là một quả
cho một nhân khác. Nếu ta cho rằng chân như hoặc thái cực hoặc thần linh
làm phát sinh ra vũ trụ tức là ta công nhận: Một nhân đơn độc có thể làm
phát sinh ra quả. Đó là một điều sai lạc. Hơn nữa, cái nhân đơn độc ấy
do đâu mà có? Nếu không do đâu cả thì điều đó trái chống với luật nhân
quả; nếu do một nhân khác sinh ra thì lại không phải là nguyên nhân đầu
tiên. Cho nên ta thấy nhận thức về thái cực và về thần linh như THẬT THỂ
CỦA VŨ TRỤ VƯỢT NGOÀI KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN có thể đi đôi với đạo lý
duyên sinh của Phật dạy. Trong kinh A Hàm, Phật dạy: “Vì cái này có cho
nên cái kia có, vì cái này không cho nên cái kia không, vì cái này sinh
cho nên cái kia sinh, vì cái này diệt cho nên cái kia diệt”. Đó là sự
diễn tả đơn giản và đúng mức của đạo lý duyên khởi. Nhật thức duyên khởi
có thể được kiểm chứng bởi bất cứ ai, bởi vì đó không phải là một tín điều
siêu hình, đó là sự thật thực nghiệm, phù hợp với nhận thức khoa học thực
nghiệm. Phát minh ra đạo lý duyên khởi, Đức Phật soi cho ta thấy rõ bộ
mặt của thực hữu, tránh cho ta bao nhiêu ngộ nhận sai lầm về vấn đề nguyên
ủy vũ trụ và giúp cho ta thành đạt trong phạm vi trí tuệ tu dưỡng cũng như
trong phạm vi hành động thực tiễn. Thực vậy, đạo lý duyên khởi là đạo lý
căn bản phá trừ vô minh và cố chấp, đồng thời cũng là một đạo lý căn bản
cho hành động nhập thế. Phật tử phải tìm hiểu thấu đáo về đạo lý duyên
khởi để áp dụng trong việc tu huệ cũng như trong việc tu phước; những diễn
bày trong sách này về đạo lý duyên khởi chẳng qua chỉ mới là bước đầu mà
thôi.
-
Vô Thường,
Không và Vô Ngã
Trong đạo Phật, ta thường nghe nói đến giáo lý VÔ THƯỜNG,
KHÔNG và VÔ NGÃ. Những giáo lý này cũng phát sinh từ một căn bản với giáo
lý duyên khởi. VÔ THƯỜNG là tính cách thay đổi không ngừng của vạn sự vạn
vật. Không có sự vật nào nằm yên bất biến, do đó không có sự vật nào giữ
được tính cách đồng nhất tuyệt đối của nói; đó là VÔ NGÃ. Sự vật đã luôn
luôn chuyển biến và không giữ được tính cách đồng nhất của chúng tức là sự
vật trống rỗng: đó là KHÔNG. Chữ KHÔNG ở đây có nghĩa là trống rỗng,
không chắc thật, chứ không có nghĩa là không có sự vật. Sự vật vẫn có,
nhưng trong lòng sự vật người ta không tìm thấy tính cánh thường còn và
đồng nhất, thế thôi.
Theo đạo lý duyên khởi, vạn vật nương vào nhau mà sinh khởi,
tồn tại và tiêu hoại. Như thế vạn vật phải là VÔ THƯỜNG, bởi vì nếu không
vô thường thì vạn vật sẽ bất sinh bất diệt. Vạn vật cũng VÔ NGÃ, bởi vì
mỗi vật là do sự tập hợp của nhiều vật (duyên) mà thành. Vạn vật cũng là
KHÔNG, bởi vì đã do các duyên mà thành, thì trong tự thân vạn vật không có
một thực thể thường còn và đồng nhất.
-
Tứ Diệu Đế
Giáo lý căn bản thứ hai của đạo Phật là giáo lý TỨ DIỆU ĐẾ,
tức là bốn sự thật lớn. Giáo lý này được diễn tả trong nhiều kinh điển,
mà kinh điển đầu tiên là kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN. Bốn sự thật lớn là: sự có
mặt của những khổ đau (khổ), những nguyên nhân tạo nên khổ đau (tập), niềm
an lạc khi khổ đau đã diệt (diệt) và con đường đạt tới niềm an lạc diệt
khổ (đạo).
Giáo lý Tứ Diệu Đế là nguyên lý hành đạo có tính cách thực
nghiệm và trị liệu. Tất cả các giáo lý Phật Giáo nguyên thỉ hay đại thừa
đều được diễn bày theo nguyên lý Tứ Diệu Đế này. Cũng như giáo lý Duyên
Khởi, giáo lý Tứ Diệu Đế không phải là những tín điều siêu hình mà là một
nguyên lý có thể kiểm chứng được. Giáo lý “Bốn Sự Thật Lớn” được căn cứ
trên luật nhân quả. Ta thấy hai cặp nhân quả sau đây:
1. QUẢ: Sự có mặt của khổ đau (khổ)
NHÂN: Những nguyên nhân tạo thành khổ đau (tập)
2. QUẢ: Niềm an lạc khi khổ đau đã diệt (diệt)
NHÂN: Con đường đi tới niềm an lạc diệt khổ (đạo).
Chúng ta hãy thử áp dụng nguyên lý tứ diệu đế vào trong một
vấn đề y khoa. Ví dụ bệnh lao phổi là SỰ THỰC THỨ NHẤT: (Khổ). Sự thực
này ai cũng phải công nhận, bởi vì ai cũng có thể biết rằng bệnh lao phổi
là một bệnh có thật. Nếu bệnh lao phổi có thật thì những nguyên nhân tạo
nên bệnh lao phổi cũng có thật: Đó là vì trùng Koch, là sự ăn ngủ thiếu
điều độ, là sự thiếu ánh sáng và khí trời, vân vân… Sự có mặt của những
nguyên nhân sinh ra bệnh lao phổi tức là SỰ THỰC THỨ HAI (Tập). Không
những các bác sĩ mà tất cả chúng ta đều biết rằng bệnh lao phổi có thể
chữa lành được. Sự lành bệnh ở đây là SỰ THỰC THỨ BA (Diệt). Và muốn đi
đến sự lành bệnh, ta phải theo những phương pháp chữa trị khoa học nhằm
loại trừ những nguyên nhân làm ra bệnh. Những phương pháp này, ví dụ sự
xử dụng thuốc trụ sinh trong lành vân vân… là SỰ THỰC THỨ TƯ (Đạo). Bất
cứ vấn đề nào của sự sống cũng có thể được chữa trị theo nguyên lý Tứ Diệu
Đế.
Trong chúng ta, ai cũng công nhận rằng khổ đau có mặt trong
cuộc đời. Nghèo đói, ốm đau, bệnh tật, chết chóc, thất vọng, biệt ly, bất
đắc chí, đàn áp, bất công, tủi nhục… SỰ THỰC THỨ NHẤT thật quá rõ ràng.
Phật tử, sau khi nhận thức được sự thực thứ nhất, phải tĩnh tâm quan sát
để tìm ra sự thực thứ hai tức là những nguyên nhân sinh ra đau khổ.
Phương pháp do Phật chỉ dạy là phương pháp quán chiếu đạo lý duyên khởi.
Tĩnh tâm, tâm trung ý và căn cứ vào thực nghiệm, ta có thể phát giác ra
những nguyên nhân xa gần đã tạo ra những khổ đau ấy. SỰ THỰC THỨ HAI cần
được khám phá một cách triệt để, nếu ta quả thực muốn tìm ra căn nguyên
đích thực của chứng bệnh để chữa trị. Đức Phật đã hướng dẫn ta nhìn vào
sự thực thứ hai, những nguyên nhân của đau khổ, và ta cần nương theo những
hướng dẫn ấy để khám phá. Trước hết, Phật dạy rằng vô minh là một nguyên
do lớn của khổ đau. Vô minh là sự thiếu sáng suốt, là những nhận thức sai
lạc về thế giới, thế giới nhân sự cũng như thế giới tự nhiên; những nhận
thức đi ngược lại với đạo lý duyên khởi. Quán triệt đạo lý duyên khỏi, ta
có thể phá bỏ được vô minh: Đó là chìa khóa của phương pháp Phật học.
Bất cứ một khổ đau nào cũng có những gốc rễ gần và xa của nó và ta cần đối
trị với những gốc rễ ấy, hoặc trên bình diện cá nhân hoặc trên bình diện
tập thể. Hãy lấy ví dụ không khí ngột ngạt trong gia đình. Cái không khí
ngột ngạt ấy không thể tự nhiên mà có; trái lại, nó do nhiều nguyên nhân
sinh khởi. Có thể là những nguyên nhân kinh tế, có thể là những nguyên
nhân tâm lý, có thể là những nguyên nhân xã hội. Sự cau có của người cha
sau một ngày làm việc mệt nhọc, tự nó, cũng có nhiều gốc gễ phiền phức.
Thái độ trách móc của người vợ, và sự thiếu hiểu biết của những người con
có thể làm trầm trọng sự cau có kia lên. Nếu tất cả mọi người trong gia
đình đều biết tĩnh tâm quán chiếu để thấy rõ những nguyên do xa gần của
không khí căng thẳng ngột ngạt trong gia đình thì tự nhiên thái độ cau có,
trách móc và hờn dỗi tan biến, không khí ngột ngạt sẽ không trở nên trầm
trọng và mọi người trong gia đình sẽ cộng tác tìm cách xóa bỏ dần những
nguyên nhân gần xa đưa đến sự cau có của người cha vào buổi cuối ngày.
Thực ra thái độ dịu dàng, thông cảm và hiểu biết của người mẹ đã có thể
làm dịu bớt nỗi cau có đó, và sự cộng tác của bà để chia xẻ những ưu tư,
bực bội của chồng sẽ đóng góp rất nhiều trong việc tìm ra và tiêu diệt
những nguyên nhân của sự cau có kia. Tìm ra sự thực thứ hai không phải là
dễ dàng như ta tưởng; nó đòi hỏi công phu thực tập tĩnh tâm thiền quán
hàng ngày của mỗi người. Thiếu công phu này, ta sẽ dễ dàng trút sự giận
dữ và hờn oán lên kẻ khác, tại vì ta không thấy rõ đâu là nguyên nhân đích
thực của những khổ đau mà ta chịu đựng.
Về mặt xã hội, sự vắng mặt các quyền căn bản dân chủ và tự
do cũng có những nguyên nhân sâu xa của nó. Nguyên nhân mà người hay nhắc
đến nhất là một chế độ độc tài. Nhưng đó không phải là nguyên nhân duy
nhất. Một chế độ độc tài chỉ có thể đứng vững được khi nó được hỗ trợ bởi
một ngoại bang và khi mà dân chúng trong xã hội ấy không ý thức được quyền
căn bản dân chủ và tự do của mình và không tranh đấu cho những quyền ấy.
Dân chủ và tự do cũng như bất cứ thứ hạnh phúc nào, không phải là những
món quà từ trên trời rơi xuống; trái lại, phải tạo dựng, bồi đắp và bảo vệ
mới có. Những quyền dân chủ và tự do không phải là những điều do một
chính quyền tốt ban bố, người dân phải biết học tập và xử dụng các quyền
dân chủ tự do, phải biết tôn trọng các quyền dân chủ tự do của kẻ khác và
phải biết đoàn kết với nhau để bảo vệ và tranh đấu cho những quyền kia khi
chúng bị đe dọa. Nếu ta biết rõ những nguyên nhân nào đã khiến cho các
quyền dân chủ và tự do vắng mặt, chúng ta chắc chắn sẽ tìm ra được những
phương pháp để thực hiện các quyền này trong xã hội của chúng ta. Tĩnh
tâm và quan sát tìm cho ra những nguyên nhân này tức cũng là thực hành sự
thực thứ hai vậy.
SỰ THỰC THỨ BA là mục tiêu mà ta hướng đến. Ta phải biết là
ta muốn gì. Đã đành ta có thể nói rằng sự thực thứ ba là hạnh phúc, nhưng
ta không nên lầm hạnh phúc chân thực với những hình thái mới nhìn qua thì
trông như hạnh phúc mà kỳ thực chỉ là những nguyên nhân của khổ đau. Hạnh
phúc chân thực được diễn tả trong đạo Phật như là sự vắng mặt của những
khổ đau, là sự giải phóng của con người ra khỏi tham dục, hận thù và tối
tăm, là sự đạt tới các đức vô úy, trầm tĩnh, đại hùng, khiến cho ta không
còn là nạn nhân của sự sợ hãi, của những thành bại đắc thất tầm thường.
Trên căn bản của sự giải phóng đó, chắc chắn hạnh phúc phải là chân thực
và bền vững. Sức khoẻ, tài năng, sản nghiệp, tự do, công bình, dân chủ,
vân vân… chỉ có thể trở nên những hình thái hạnh phúc thật sự trên nền
tảng giải phóng đó. Người Phật tử phải nhận thức rằng theo đuổi sự nghiệp
giải thoát không phải là từ bỏ mọi hạnh phúc của cuộc đời, trái lại chính
là để xây dựng một nền tảng vững chãi cho hạnh phúc. Nếu không đạt tới
căn bản giải thoát thì dù có mắt cũng không biết nhìn, có tai cũng không
biết nghe, có cuộc đời cũng không biết sống, có những điều kiện hạnh phúc
cũng không biết hạnh phúc. Thế cho nên học tập để thấy rõ mục tiêu đích
thực mà mình hướng tới tức là thực hành sự thực thứ ba. Phải nhận thức sự
thực thứ ba như một thực tại mà không phải một mơ ước hão huyền hay một
mộng tưởng. Sự an lạc mà chúng ta đạt đến do thực hiện những phương pháp
Phật Giáo là điều có thể kiểm chứng được. Bất cứ một nhân nào gieo xuống
đều có thể đưa đến kết quả; không một nổ lực nào của ta có thể gọi là vô
ích. Nếu chúng ta kiểm điểm để nhận thấy kết quả và tính cách hữu hiệu
của những nỗ lực hành đạo hàng ngày của chúng ta, chúng ta sẽ có thêm đức
tin nơi sự thực thứ ba; rõ ràng như người nông phu, sau khi áp dụng những
phương pháp canh tác khoa học, gặt hái được gấp bội và có thêm đức tin về
nguyên tắc cải tiến nông nghiệp.
SỰ THỰC THỨ TƯ là con đường, là phương pháp hành động. Để
đạt tới một đời sống an lạc hạnh phúc cho bản thân và cho xã hội, ta phải
biết tìm đường, ta phải biết phương pháp hành động. Sự thực thứ tư không
phải là một số giáo điều hoặc giới luật có thể học thuộc lòng, trái lại là
kết quả của những chiêm nghiệm sâu sắc về các sự thực thứ nhất, thứ nhì và
thứ ba cùng những kinh nghiệm sống của chúng ta về các sự thực ấy. Trong
kinh ta thấy nói tới ngũ căn, ngũ lực, tam học, thất bồ đề, bát chánh đạo
vân vân… Đó đều là những giáo lý thuộc sự thực thứ tư, những phương pháp
có thể đem áp dụng trong đời sống để tiêu diệt khổ đau, kiến tạo an lạc.
Những giáo lý này chỉ có giá trị và hiệu lực khi ta biết đem chúng áp dụng
một cách thông minh vào sự sống. Trái lại nếu ta chỉ đọc tụng hoặc chiêm
nghiệm mà không đem chúng áp dụng vào đời sống hàng ngày thì sự bổ ích sẽ
không có được bao nhiêu. Sau đây ta thử xét qua một ví dụ về sự thực thứ
tư: Đó là bát chánh đạo.
-
Bát Chánh
Đạo
Bát chánh đạo là con đường của tám nguyên tắc hành động chân
chính (Astamaga). Tám nguyên tắc hành động ấy có liên hệ nhân quả rất mật
thiết với nhau như sau:
1. Chính kiến: Thấy đúng.
2. Chính tư duy: Nghĩ đúng.
3. Chính ngữ: Nói đúng.
4. Chính nghiệp: Hành động đúng.
5. Chính mệnh: Phương tiện mưu sinh chân chính.
6. Chính tinh tiến: Cần mẫn và nỗ lực chân chính.
7. Chính niệm: Ý thức chân chính.
8. Chính định: Thiền định chân chính
Nếu ta chiêm nghiệm và áp dụng tám nguyên tắc trên vào cuộc
sống thường nhật ta sẽ thấy tính cách liên hệ nhân quả giữa những nguyên
tắc ấy. Hãy thử xét nguyên tắc thứ nhất là CHÍNH KIẾN. Ai cũng bảo nếu
thấy đúng thì hành động mới đúng, do đó chính kiến là cần thiết cho CHÍNH
NGHIỆP. Nhưng làm thế nào để thấy đúng? Theo đạo Phật, sự thấy đúng
không phải chỉ có thể đạt được do sự học hỏi trong sách vở hay do sự suy
tư phân tích bằng trí thức. Sự thấy đúng là kết quả của kinh nghiệm sống
và của sự tu chứng nữa. Ngày xưa, triết gia Vương Dương Minh của Trung
Hoa có xướng thuyết TRI HÀNH HỢP NHẤT, có nghĩa là THẤY và HÀNH ĐỘNG là
một. Do THẤY ĐÚNG mà HÀNH ĐỘNG ĐÚNG, do hành động đúng mà cái thấy càng
đúng; hai điều bồi đắp cho nhau. Ý nghĩa của CHÍNH KIẾN và CHÍNH NGHIỆP
trong đạo Phật cũng tương tợ như vậy; nhưng trong bát chánh đạo, không
những chỉ có chính kiến và chính nghiệp mà còn sáu nguyên tắc khác nữa,
tất cả điều liên hệ với nhau, bồi đắp cho nhau một cách thắm thiết đến nỗi
trong tám chi của bát chánh đạo, mỗi chi đều bao gồm cả tám chi. Chi nào
cũng làm nhân và đồng thời làm quả cho bảy chi kia. Chính kiến không phải
là bước đầu, cũng như chính định không phải là bước cuối cùng; tám chi của
bát chánh đạo cùng được áp dụng một lượt, do đó nên đạo Phật gọi đây là
con đường của TÁM NGUYÊN TẮC HÀNH ĐỘNG CHÂN CHÍNH.
CHÍNH KIẾN là cái thấy về sự thực, sự thực bản thân cũng như
sự thực xã hội, sự thực tâm lý cũng như sự thực về vũ trụ. Chính kiến có
nhiều mức độ cao thấp khác nhau tùy theo trình độ sinh hoạt và tu chứng
của con người. Mức cao danh của chính kiến gọi là vô thượng chính đẳng
chính giác (Anuttara-samyak-sambodhi) tức là tri giác cao tột của Phật.
Đối với người tu Phật, chính kiến cần phải được khai mở và phát triển mãi
mãi bằng học tập và thực hành. Quán sát đạo lý duyên khởi và áp dụng đạo
lý ấy trong mọi lãnh vực của sự sống, ta sẽ nâng cao dần tầm chính kiến
của ta.
CHÍNH TƯ DUY là nghĩ đúng, và nghĩ đúng ở đây có nghĩa là
suy tư phù hợp với đạo lý duyên khởi. Ví dụ như ta muốn có một cái nhìn
chính xác về tình trạng xã hội trong đó ta đang sống. Ta phải theo nguyên
lý duyên khởi mà tìm ra mọi nguyên nhân xa gần, những nguyên nhân hiển
nhiên hoặc bị che dấu, ta mới có thể đạt được tới cái nhìn chính xác ấy.
Nếu ta chỉ tùy theo thói quen, thành kiến và khuynh hướng đơn giản hóa vấn
đề, ta sẽ không thấy được đúng, và do đó vì không có chính tư duy nên ta
không đạt tới được chính kiến. Kết luận là ta phải biết tư duy theo
nguyên lý duyên sinh.
CHÍNH NGỮ là nói đúng, và nói đúng ở đây có nghĩa là phát
biểu sự thực căn cứ trên nguyên lý duyên sinh. Bất cứ một phát biểu nào
của ta mà không phù hợp với nguyên lý duyên sinh đều không phải là chính
ngữ. Lời nói là một hình thức của hành động gọi là khẩu nghiệp. Lời nói
là dụng cụ để diễn tả điều ta thấy và nghĩ; nếu thấy sai và nghĩ sai thì
nói cũng sai. Mà khi ta nói sai, ta gây tác động lầm lạc cho chính ta và
cho người khác. Lời nói không những cần phải diễn tả sự thực mà còn nhắm
đến sự xây dựng; ta phải thấy tất cả hậu quả của lời ta nói. Chỉ khi nào
thấu được lý duyên sinh ta mới biết nói những lời có thể khai thị sự thực,
tạo nên hòa khí, làm tiêu tan không khí nghi kỵ, oán thù và sợ hãi quanh
ta.
CHÍNH NGHIỆP là hành động đúng, ở đây cũng có nghĩa là hành
động phù hợp nguyên lý duyên sinh. Một hành động thuận theo lý duyên sinh
là một hành động chắc chắn đem lại kết quả tốt, một người nông dân biết
canh tác theo lý duyên sinh là một người nông dân thông minh, chắc chắn sẽ
gặt hái được nhiều hơn những người nông dân khác. Biết được hết mọi dữ
kiện về hạt giống, phân bón, thời tiết, thị trường, người nông dân sẽ có
nhiều cơ hội thành công. Trong gia đình và xã hội biết hành động theo
nguyên lý duyên sinh, người Phật tử tạo được hòa khí và thương yêu xây
dựng được đời sống an lạc của mình mà không phương hại đến an lạc của kẻ
khác.
CHÍNH MỆNH là phương tiện sinh sống chân chính. Một nghề
nghiệp lương thiện, đó là chính mệnh. Nhưng thế nào là một nghề nghiệp
lương thiện? Điều này cũng chỉ có thể trả lời bằng sự nhận xét về xã hội
trên nguyên lý duyên sinh. Những phương tiện sinh sống không gây tai họa
và khổ đau cho kẻ khác trong hiện tại cũng như trong tương lai. Những
phương tiện sinh sống thẳng thắn, không lừa đảo, không gieo rắc lầm lạc,
không bóc lột kẻ khác, không vi phạm quyền tự do và bình đẳng kẻ khác,
không phá hoại môi trường sinh hoạt của con người: Đó là chính mệnh.
CHÍNH TINH TIẾN là nỗ lực chân chính tức là sự cố gắng không
ngừng trên mọi lãnh vực tu tập. Đây cũng là một phương diện của sự tu tập
theo nguyên lý duyên sinh. Có khi những nỗ lực của ta không được gọi là
chính tinh tiến, chỉ vì những nỗ lực ấy không phải là chính nghiệp, được
hướng dẫn bởi chính kiến. Những nỗ lực trên hướng danh lợi, tham lam hay
căm thù đều không được gọi là chính tinh tiến, bởi vì kết quả của những nỗ
lực này có thể là khổ đau cho những người khác và do đó là cho chính bản
thân mình.
CHÍNH NIỆM là sự nhớ nghĩ chân chính. Chúng ta đừng lầm
chính niệm với chính tư duy. TƯ DUY là sự suy tưởng trong khi đó NIỆM là
sự nhớ nghĩ, trái với sự quên lãng. Chính niệm là một phương pháp tu
luyện rất mầu nhiệm. Đó là ý thức sáng tỏ về sự sống của chính bản thân
mình. Người Phật tử chân chính là người biết tập sống thường xuyên trong
chính niệm, nghĩa là sống có ý thức, biết mình đang làm gì, nghĩ gì, nói
gì và do đó có thể soi sáng mọi tư tưởng, ngôn ngữ và hành động mình bằng
nguyên lý duyên sinh. Sống trong sự quên lãng tự để cho mình bị kéo theo
ngày tháng và hoàn cảnh mà không tự chủ được, không thấy được mình đang
sống, không thấy được sự sống là mầu nhiệm, đó không phải là sống nữa mà
là trôi lăn trong sinh tử.
CHÍNH ĐỊNH là phương pháp thiền định chân chính. Thiền định
là sự tập trung ý để đạt tới chính kiến tức là cái thấy chân chính. Định
ở đây không có nghĩa là tư duy hay suy tưởng mà là những phương pháp tập
trung tâm ý và thiền quán nhắm phát khởi trí tuệ. Những phương pháp này
không nhắm đến sự tu luyện thôi miên, pháp thuật và trường sinh, mà nhắm
đến sự phát hiện tuệ giác giác ngộ nên gọi là chính định.
-
Ý Chỉ Của
Đạo Phật Nhập Thế
Trên đây là đại cương các đạo lý duyên sinh, tứ diệu đế và
bát chánh đạo. Học hỏi và thực tập các đạo lý này, người Phật tử xây dựng
bản thân mình về ba mặt trí tuệ, tình thương và ý chí. Nhưng cá nhân liên
hệ mật thiết với xã hội, do đó sự xây dựng bản thân liên hệ với sự xây
dựng gia đình, xóm làng, giáo hội, quốc gia và thế giới. Đó là ý chỉ của
đạo Phật nhập thế truyền thống tại Việt Nam.
-
Con Người
Và Xã Hội
Con người nếu bị hoàn cảnh sai sử và lôi kéo hoàn toàn thì
không còn có khả năng chủ động được tình trạng và cải tạo được xã hội. Đã
đành con người chịu ảnh hưởng những điều kiện kinh tế, chính trị và văn
hóa của xã hội, nhưng nếu con người chỉ là cái nút chai cá nhân trôi nổi
bồng bềnh trên sóng nước xã hội, thì giá trị quyết định của con người
không còn nữa. Con người đã trở nên nạn nhân yếu đuối. Do đó, con người
phải phục hồi được sức mạnh tâm linh và tự chủ của mình bằng phương pháp
tu dưỡng. Hình ảnh con người hoàn toàn bị xã hội lôi kéo cũng giống hình
ảnh một người cưỡi ngựa mà không điều khiển được con ngựa, mặc cho con
ngựa đưa tới đâu thì tới. Trong xã hội ngày nay, khả năng con người để
kiểm soát hoàn cảnh xã hội đã trở nên mong manh, bởi vì hệ thống kinh tế
và chính trị của con người tạo dựng ra đã trở thành những lực lượng phi
nhân trở lại khống chế con người. Con người đang bị kẹt nhiều trong hệ
thống kinh tế và xã hội hiện tại, đang cố gắng để vượt thoát với rất nhiều
khó khăn.
Người ta đã đàm luận nhiều về vấn đề bản thân cần phải được
cải tạo trước hay là xã hội cần phải được cải tạo trước. Theo đạo Phật,
con người không thể tách rời ra khỏi xã hội, nên sự cải tạo phải được thực
hiện song hành. Con người là chính báo (nghĩa là quả báo chính) và xã hội
là y báo (tức là quả báo hoàn cảnh). Cả hai thứ chính báo và y báo đều
thuộc về sự sống của con người cho nên đều phải được cải tạo song hành.
Vì con người không thể tách rời ra khỏi môi trường xã hội nên sự tu dưỡng
của con người cũng được thực hiện ngay trong môi trường sinh hoạt xã hội.
Sự tu dưỡng này không thể được thực hiện hoàn toàn trong một môi trường
khép kín. Một con người không có liên hệ với những con người khác thì
không phải là một con người bình thường.
Khi nói đến sự thay đổi xã hội, chúng ta hay có khuynh hướng
nghĩ ngay đến sự thay đổi hệ thống chính trị, kinh tế của xã hội mà quên
rằng sự tu dưỡng bản thân là một trong những điều kiện tất yếu của thành
công. Tâm ý của con người đóng một vai trò chủ yếu trong cách mạng, nhất
là đối với những người thuộc giới chủ chốt tiên phong cho cách mạng.
Những ai muốn đổi mới cuộc đời, xây dựng cho gia đình, cho làng xóm và cho
xã hội cần phải thấy rằng sự tu dưỡng tâm ý là cần thiết bởi vì sự tu
dưỡng này cho ta rất nhiều sức mạnh, nghị lực và nguồn vui sống, những
điều kiện rất thiết yếu của thành công.
-
Chánh Niệm
Phải thực tập chánh niệm: Biết mình đang nghĩ gì, nói gì và
làm gì để có thể chủ động đời sống mình và không bị lôi kéo bởi hoàn
cảnh. Đây là một phương pháp tu tâm thần diệu của đạo Phật. Phương pháp
này không bắt đầu bằng sự phân biệt những ý niệm thiện ác mà bằng sự quán
sát sự sống của bản thân mình. Có nhiều người tuy sống mà thật ra không
sống, bởi vì họ không có ý thức về sự sống của họ: Họ ăn, ngủ, làm việc
và giải trí như một bộ máy cho đến khi chết. Đến lúc sắp lìa đời, nhìn
lại họ giật mình thấy như mình chưa từng sống: Sáu, bảy mươi năm qua vừa
qua đi như một giấc mộng. Bí quyết của phương pháp chính niệm là Ý THỨC
ĐƯỢC RẰNG MÌNH ĐANG SỐNG: Khi đang ăn, mình biết là mình đang ăn, khi đang
ngồi, mình biết là mình đang ngồi. Nói tóm lại mình phải ý thức được mỗi
giây phút của đời sống mình. Thắp lên ngọn đèn chính niệm, tự nhiên sự vô
tâm quên lãng trở thành ý thức sáng tỏ và sự chết biến thành sự sống.
Nhiều lần trong một ngày ta tự hỏi mình: Ta là ai, ta đang làm gì, nghĩ
gì, nói gì? Như thế, ta nắm ngay được chủ quyền, không để cho hoàn cảnh
lôi kéo và áp giải ta về thế giới quên lãng và về cái thế giới của sự
chết. Ta sống cuộc đời của ta. Buổi sáng rửa mặt nhìn vào trong gương,
ta tự nhủ: “Đây là một ngày mới, ta phải sống ngày hôm nay cho trọn vẹn.
Ta phải biết làm thế nào để sống ngày hôm nay cho an lạc, đừng để cho
những tên giặc cáu kỉnh, tỵ hiềm và hối hả đến quấy phá và cướp mất hai
mươi bốn giờ quý báu của ta”.
Ta hãy quan sát chú Bảy, một người có học Phật và biết áp
dụng thông minh phương pháp tu dưỡng đạo Phật. Trong ngày, mỗi khi chú
Bảy tự bắt gặp chú đang phiền muộn hay cáu kỉnh, chú liền tự đánh thức chú
dậy. Chú tự nói: “ Ta đang bị phiền muộn và cáu kỉnh thống trị. Ta không
thể để cho cuộc đời ta bị đục khoét tan nát bởi những con sâu phiền muộn
và cáu kỉnh. Ta phải sống đời sống của ta một cách an lạc”.
Cố nhiên chú Bảy biết là những phiền muộn cáu kỉnh và tỵ
hiềm kia mỗi thứ đều có nguyên nhân của chúng. Chú biết những điều đó
đáng giận thật, nhưng chú nhất định không đem cuộc đời của chú để đánh đổi
lấy một chuỗi phiền muộn. Chú tự nhủ: “Phải sống làm sao như một trái núi
đá; những phiền não kia chỉ có thể như những đợt sóng biển va chạm và tan
vỡ dưới chân núi đá”. Sự khác nhau giữa người có tu và không tu là ở chỗ
đó; người có tu thì giữ được tâm thanh tịnh và an lạc ngay trong thế giới
dẫy đầy điều bất như ý. Quán sát những sự việc xảy ra trong ánh sáng
duyên khởi, ta sẽ thấy não phiền dễ tan rã và có thể nhìn cuộc đời với
những con mắt tha thứ và thương yêu. Kinh Pháp Hoa xưng tán đức bồ tát
Quán Thế Âm là người biết nhìn người đời với những con mắt từ bi (từ nhãn
thị chúng sanh). Đó là vị bồ tát này do quán chiếu cuộc đời trong ánh
sáng duyên khởi cho nên đem lòng thương tất cả mọi loài.
Ta phải thỉnh thoảng nhìn lại chính ta trong lúc đang nói
hay đang làm một điều gì. Ta hãy quán chiếu bản thân ta để trước hết là
ta thấy ta đang nói điều đó hay đang làm điều đó. Chỉ từng ấy thôi cũng
đủ đưa ta về chính niệm cho dù trong khi đó nói điều kia ta đã có thể đi
xa chính niệm đến hàng muôn dặm. Ta nên biết rằng mỗi lần quán chiếu tự
thân như thế ta chỉ tiêu xài một vài giây đồng hồ. Nhưng chính một vài
giây đồng hồ đó có thể thắp lên một mặt trời trong thế giới của ta và giải
phóng ta khỏi thế giới quên lãng bị động có tính cách mê ám. Mỗi ngày ta
có thể dành được bao nhiêu giây đồng hồ công trình quán chiếu này? Bậc
giác ngộ là người quán chiếu thường xuyên tự tâm mình. Ta là người quyết
tâm học theo các bậc giác ngộ, chẳng lẽ ta không để dành được vài phút
trong một ngày cho công trình quán chiếu quan trọng ấy sao? Ta nên biết,
dù chỉ có thể tiêu xài vài ba phút trong ngày cho công trình quán chiếu tự
tâm, ta cũng đã làm cho cuộc đời ta sáng rỡ và có ý nghĩa vạn lần hơn
trước.
Trở lại trường hợp chú Bảy. Mỗi khi chú dùng giây phút quán
chiếu để trở về với chính mình và làm chủ được tình trạng, chú thường mỉm
cười để chứng tỏ sự chiến thắng để có thêm đức tin ở khả năng mình.
-
Quán Chiếu
Ta nên dành một ít thì giờ trong ngày để tĩnh tâm, thiền
tọa, đối diện với chính mình và cứu xét nguyên lý duyên khởi trong các sự
việc sảy ra hàng ngày. Phải tìm được giờ yên tĩnh, hoặc ở gia đình, hoặc
ở chùa, hoặc trong công viên, hoặc ngoài đồng ruộng để thực hiện điều này.
“Tôi không có thì giờ” mọi người đều nói như thế. Đúng rồi,
buổi sáng thức dậy thì lo đi làm, chiều làm về thì mệt, ăn cơm xong thì
chỉ muốn nghỉ ngơi để sáng mai lại đi làm. Ai sống trong thời buổi này mà
không bận rộn. Nhưng chính làm thế nào để đừng sống như một bộ máy, làm
thế nào mà có được thì giờ cho chính mình, làm thế nào để sống đời sống
của mình, đó mới là vấn đề quan trọng.
Buổi sáng khi múc nước vào chậu rửa mặt, đánh răng, cạo râu,
ta gọi đó là một sự bận bịu sao? Năm hoặc mười phút đồng hồ ấy có thể đi
qua một cách vội vã, hấp tấp và vụt chạc; năm nay mười phút ấy trái lại,
cũng có thể là năm mười phút thoải mái vui tươi mà ta có thể sống. Rửa
mặt chỉ là để cho sạch mặt mũi mà thôi sao? Rửa mặt có thể là một lạc
thú, một niềm vui đơn giản và trong lành. Nếu ta dùng năm mười phút ấy để
lo âu, để tính toan công việc trong ngày, thì ta không được hưởng cái niềm
vui đơn giản và trong lành đó. Ta hãy gạt đi những nỗi lo âu, tính toán
kia; cười trong tấm kính, ta nghĩ đến chậu nước mát, chiếc khăn bông sạch
sẽ, một ngày trọn vẹn sẽ do cách sống của ta mà trở nên vui tươi… Trong
ngày ta CÓ những giờ vui như vậy. Khi ta tắm hoặc bơi trong giòng sông
hoặc xối xuống vai nước mát lạnh bằng chiếc gáo dừa, ta có thể dùng thì
giờ ấy để tĩnh tâm và quán chiếu. Khi ta đi làm về, từ bến xe buýt hoặc
từ ngoài ruộng vườn đi bộ về nhà, ta có thể thở không khí trong lành hoặc
quán sát sự sống chung quanh và quán chiếu tâm mình. Nếu có một phòng
riêng trong gia đình thì rất tốt, ta yêu cầu mọi người trong gia đình cho
ta mười lăm phút hoặc nửa giờ an tịnh. Tắm xong ta thắp một cây nhang cho
tinh khiết: Cửa sổ mở ra nếu bên ngoài không ồn ào lắm. Ta đâu có cần
phải bỏ ra hàng giờ, hàng buổi để tĩnh tâm mà than phiền là quá bận rộn.
Năm phút cũng đã là quý rồi. Cái hay nhất trong đạo Phật là pháp tĩnh tâm
thiền quán: Nếu mình là Phật tử mà không biết áp dụng những phương pháp
này thì thật là uổng quá, cũng ví như có kho lúa gạo mà không biết ăn. Có
gia tài mà không xài. Phương pháp tĩnh tâm như thế nào? Ta có thể học
tập với những người bạn đã từng có kinh nghiệm, hoặc với những tăng sĩ có
khả năng. Nếu chưa có ai để học hỏi, thì ta có thể mô phỏng mà tập theo
phương pháp sau đây của chú Bảy, rất đơn giản mà cũng rất có hiệu quả,
trong khi chờ đợi.
Buổi tối, sau khi tắm, chú Bảy mặc áo quần rộng rãi. Rất
thong thả chú sắp đặt lại căn phòng của chú cho ngăn nắp, thay nước hoặc
cắm lại một bông hoa hay một cành cây trên bàn Phật, và cuối cùng chú thấp
một cây nhang. Từ khi bắt đầu “công việc” như sắp lại mấy cuốn sách, cầm
chiếc chổi lông phất bụi, chú biết tự nhiếp mình trong chính niệm, mỗi cử
chỉ, mỗi động tác của chú đều ung dung thư thái và đặt dưới sự kiểm soát
từ hòa và sáng suốt của ý thức. Chú Bảy cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái và
an lạc. Chú nhất định không hấp tấp, không vụt chạc, bởi vì chú biết rằng
mỗi cử chỉ mỗi cái nhìn, mỗi ý tứ đều là sự tĩnh tâm thiền quán. Khi cầm
một bình hoa, chú ý thức rằng: cắm một bình hoa không hẳn là để CÓ một
bình hoa: cắm một bình hoa là để cắm một bình hoa; động tác cắm hoa còn
quan trọng hơn cả kết quả của động tác ấy (tức là có một bình hoa đẹp).
CẮM HOA là để quán chiếu tâm mình, là thiền định, là chính niệm, là sống
trọn vẹn giây phút hiện tại. Trong khi cắm hoa chú Bảy thấy lòng chú
thanh tịnh, an lạc, chú có ý thức rõ ràng rằng chú đang cắm hoa, đang sống
an lành giờ phút chú cắm hoa. Nếu ta làm được như chú Bảy ta sẽ thấy cử
chỉ của ta ung dung, từ hòa, thân thể ta thư thái và tâm ý ta lâng lâng
một niềm vui thanh thoát. Nghệ thuật cắm hoa và pha trà phát xuất từ
thiền viện, bắt nguồn từ nguyên tắc chính niệm này. Chú Bảy để ra năm
phút để cắm một bình hoa. Phí thì giờ quá, người ta có thể nghĩ; nhưng
đây là thì giờ của ý thức, của quán niệm, của an lạc, còn quý giá gấp ngàn
lần thì giờ để dành vào việc lo lắng, bực bội và mưu toan.
Cắm hoa hoặc quét nhà hay xếp lại sách trên bàn thì cũng
vậy. Ta nên thong thả mà làm TRONG TINH THẦN CHÍNH NIỆM. Đó chính là sự
tu tập quan trọng nhất. Trong tu viện thiền, những khi nấu cơm, rửa chén
bát, gánh nước, quét sân… nhà thiền giả cũng luôn luôn tu tập chính niệm
và quán chiếu, giống như khi chú Bảy cắm hoa vậy.
Sau khi dọn dẹp căn phòng, đốt một cây nhang, cắm thật thẳng
trong lư hương, chú Bảy thắp một cây đèn cầy (nến) để cho ánh sáng trở nên
dịu dàng hơn và chú tắt đèn điện, bởi vì đèn điện chói sáng quá. Chú ngồi
lại ngay ngắn trước bàn Phật, trên chiếu, trên ghế, hoặc trên bộ ván theo
kiểu bán già. Thật ra ta ngồi như thế nào cho thật thoải mái là được,
không cần phải ngồi theo kiểu bán già như chú. Nhưng nếu ta tập ngồi được
theo kiểu bán già thì lại càng hay. Ngồi bán già dễ hơn ngồi kiết già:
Chú Bảy ngồi ngay thẳng, bắp chân trái để trên bắp chân mặt hoặc bắp chân
mặt để trên bắp chân trái. Hai tay đặt trên bắp chân, chính giữa, lòng
tay mặt đặt trên lòng tay trái. Sống lưng chú thẳng, đầu thẳng, mắt chú
hơi khép nhìn về phía trước chừng hai thước, miệng chú hơi mỉm cười. Ngồi
kiết già thì cũng giống như bán già. Nhưng bàn chân phải đặt trên bắp
chân trái và bàn chân trái đặt trên bắp chân phải. Ngồi kiết giả chưa
quen thì đau lắm, nhưng quen rồi thì không đau đớn gì nữa. Ngồi bán già
hay kiết già là những thế ngồi rất vững mạnh; khi ngồi như thế ta thấy tâm
hồn ta vững chãi, tỉnh táo và tinh tiến hơn.
Chú Bảy bắt đầu tập thở. Chú thở rất nhẹ nhưng sâu. Tuy
thế chú không cố gắng thở căng phổi quá; chú biết hễ cái gì ráng quá là
không tốt. Chú thở vào, thở ra nhiều lượt, hơi thở nhẹ nhàng, không gây
tiếng động, hơi thở chú trôi theo một giòng dịu êm, không bị đứt khoảng,
giống hệt như một giòng nước chảy trên một đồng bằng có cát, không phải
như một giòng thác róc rách. Trong khi thở, chú tiếp tục quán chiếu; khi
thở vào, chú biết chú đang thở vào, khi thở ra chú biết chú đang thở ra:
Thở một hồi, chú thấy khoan khoái và thanh tịnh trong người.
Bây giờ chú Bảy xét những vấn đề liên hệ tới sự sống hàng
ngày, những vấn đề đã làm bận rộn tâm chú. Giữ tâm thanh thản và duy trì
nụ cười hơi chớm còn mãi trên môi, chú bắt đầu xét các vấn đề này trong
ánh sáng liên hệ duyên sinh. Chú không cho sự bực dọc phát hiện, bằng
cách áp dụng phương pháp giữ hơi thở đều đặn, và tiếp tục duy trì nụ cười
hơi chớm trên môi. Chú tưởng niệm một câu trong kinh Pháp Hoa, ví dụ câu:
“Từ nhãn thị chúng sanh” đem con mắt thương yêu mà nhìn mọi người. Vì vô
minh, vì thiếu hoàn cảnh giáo dục thuận lợi, vì những khó khăn của đời
sống, người ta đã trở nên thiếu hiểu biết, thô lỗ, sỗ sàng, tệ bạc như
thế… Chú quán chiếu duyên sinh để tưới thêm gốc từ bi tâm, và để con mắt
tình thương (từ nhãn) của chú không bị che lấp bởi những tham giận tầm
thường. Chú tìm giải quyết mọi vấn đề trên căn bản từ hòa, thương yêu,
bất bạo động. Chú tìm cho ra lời giải đáp và phương pháp hành động theo
giáo lý đạo Phật. Chỉ có tình thương mới đối phó được với mọi não phiền.
Nếu trong nhà, ta không tìm ra được khung cảnh yên tịnh để
làm công việc quán chiếu như chú Bảy thì ta có thể tìm ở chùa, hoặc một
nơi vắng trong công viên, hoặc trong thư viện, hoặc ngoài đồng ruộng. Tố
Nga là một sinh viên Phật Tử. Vì nhà buôn bán bận rộn, nên nàng thực hành
giờ quán chiếu tĩnh niệm ở thư viện quốc gia.
-
Thiện Tri
Thức
Ta cần tìm bạn, tìm thầy để học hỏi thêm về đạo Phật, và
chia xẻ kinh nghiệm về sự áp dụng đạo Phật vào đời sống. Thầy và bạn là
những tăng thượng duyên rất quý giá, nhờ họ mà ta có thể trao đổi kinh
nghiệm, không những trong sự áp dụng đạo Phật vào đời sống tâm linh bản
thân mà còn trong sự áp dụng đạo Phật vào đời sống gia đình và xã hội
nữa. Chính sự trao đổi kinh nghiệm quan trọng và cần thiết hơn lý thuyết
nhiều, vì vậy ta đừng nên để hết thì giờ vào sự nghiên tâm lý thuyết, học
hết bộ kinh này rồi đến bộ kinh khác trong khi đó thì không biết lợi dụng
những kinh nghiệm của ta và của các bạn thiện tri thức của ta để đi sâu
vào sự áp dụng thực hành.
Ông Tư Siêu tự cho là học rộng, biết nhiều về đạo Phật. Ông
nói ông có thể giảng giải về kinh Viên Giác, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm. Nhưng
sự học Phật của ông hình như không có lợi gì nhiều cho đời sống của ông,
bởi vì ông vẫn bị dằn vặt khổ đau vì tánh tự hào, nóng giận và ganh tị.
Ông không có bạn và chính trong gia đình, bà Tư và các con ông cũng không
ưa ông. Chú Bảy, trái lại, tuy biết nhiều về Phật học nhưng vẫn luôn luôn
tìm cách gần gũi các bậc thầy và các bạn thiện tri thức để tìm học thêm và
trao đổi kinh nghiệm. Chú Bảy được mọi người yêu chuộng vì lời chú nói
phù hợp với đời sống của chú: Chú luôn luôn tìm áp dụng đạo Phật vào cuộc
đời một cách tự nhiên, không ồn ào, không khoe khoang.
-
Bát Quan
Trai
Mỗi tháng một vài lần chùa tổ chức những kỳ tu Bát Quan Trai
Giới, ta nên tham dự, vì đó là những cơ hội tốt cho ta tu tập, quán chiếu,
học hỏi và trao đổi kinh nghiệm tu tập với các bạn hữu. BÁT QUAN TRAI
GIỚI là một phương tiện lập ra để giúp người cư sĩ có cơ hội sống hai mươi
bốn tiếng đồng hồ trong chùa theo chính niệm. Bát quan trai giới còn gọi
là BÁT TRAI GIỚI hay BÁT GIỚI TRAI, có nghĩa là sự chấp tri (nhận giữ) tám
quy luật: không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối,
không uống rượu, không dùng hương phấn dầu thơm, không nằm giường cao rộng
êm ái, không ăn uống phi thời. Thêm vào đó, người hành giả ăn chay nữa,
vì vậy tám giới cộng với trai thực gọi là BÁT TRAI GIỚI. Những giới này
giúp cho ta đóng bớt những cánh cửa phiền não tội lỗi, cho nên gọi là
QUAN. Chữ QUAN trong “Bát quan trai giới” có nghĩa là cánh cửa.
Muốn tham dự bát quan trai giới phải xin ghi tên ở chùa, và
hỏi thăm những thông lệ và giờ giấc. Đến giờ đã định, ta có mặt tại chùa
với những dụng cụ cần thiết: bàn chải đánh răng, khăn lau mặt, xà phòng,
áo quần ngủ, một cái mền (chăn) và một vài cuốn kinh sách. Ta sẽ ngủ tại
chùa, cùng với các bạn khác, có khi đông đến mấy chục người. Ta sẽ sống
hai mươi bốn giờ tại chùa, tập sống trong chính niệm và quán chiếu, đồng
thời có dịp gặp gỡ các bậc thầy và bạn để trao đổi những học hỏi và kinh
nghiệm. Chúng ta sẽ được hướng dẫn ngồi thiền, tập thở, quét nhà, cắm
hoa, đọc kinh theo tinh thần chính niệm. Ta có thể học hỏi được rất nhiều
trong mỗi kỳ tu học theo bát trai giới, nếu ta biết xử dụng đúng hai mươi
bốn tiếng đồng hồ dành cho thời gian này. Ảnh hưởng của hai mươi bốn giờ
kia sẽ được lưu lại sâu đậm trong những ngày còn lại trong tháng do đó ta
nên cố gắng để có thể có thì giờ tham dự bát quan trai giới.
Chú Bảy thường đi chùa tham dự bát quan trai mỗi tháng.
Tháng rồi chú đã mời được ông Sáu cùng đi. Chú khéo léo lắm mới thuyết
phục được ông Sáu vì ông Sáu cứ nghĩ mình bận rộn không thể bỏ việc nhà.
Ông Sáu lần đầu tiên tham dự bát quan trai, thấy mình hơi bỡ ngỡ vụng về;
nhưng nhờ có chú Bảy bên cạnh nên ông cũng không cảm thấy lạc lõng. Ông
Sáu công nhận rằng sống hăm mươi bốn tiếng ở chùa trong tinh thần tự tĩnh,
ông đã có dịp suy gẫm về đời sống của mình và của gia đình mình. Ông cảm
thấy như được đi nghỉ mát ở một nơi thật xa, tách rời hoàn toàn đời sống
bận rộn thường ngày. Ông cũng cảm thấy như mình dừng lại trong một cuộc
hành trình lâu ngày. Đứng trên đồi ông nhìn lại quãng đường ông đã đi qua
và ông giật mình thấy rằng lâu nay ít khi ông đã nhìn lại bản thân mình,
đời sống mình. Ông ít thì giờ hơn chú Bảy, nhưng ông quyết định phải
thỉnh thoảng đi tham dự một kỳ bát quan trai như thế.
-
Hạnh Phúc
Gia Đình
Gia đình là môi trường hoàn hảo nhất để xây dựng đời sống
tình cảm của con người; vậy nên tạo cho gia đình một không khí đầm ấm hạnh
phúc tức cũng là đào tạo nên những con người có trái tim biết yêu thương,
biết trách nhiệm. Có biết bao nhiêu gia đình đã là những địa ngục trần
gian khó thở và khó sống, ta quyết phải làm đủ mọi cách cho gia đình ta
trở nên ấm cúng và đầy thương yêu.
Chúng ta phải biết rằng con người không tình cảm thì không
phải là con người. Không biết yêu thương cha mẹ mình và anh chị em mình
thì sẽ khó mà yêu thương được nhân loại. Vì vậy cho nên Phật tử phải áp
dụng phương pháp đạo Phật trong sự xây dựng gia đình mình thành một cộng
đồng êm ấm và hạnh phúc. Giáo lý duyên khởi, tứ diệu đế và bát chánh đạo
cũng có thể áp dụng rất thích hợp vào đời sống gia đình. Những Phật tử
nào sắp lập gia đình hay vừa mới lập gia đình chớ nên khinh suất trong
công trình xây dựng này, nếu không muốn tình trạng trở nên khó khăn về
sau.
Chú Bảy mới lập gia đình cách đây bốn năm và chú đã có một
cháu gái hai tuổi tên là bé Phượng. Là một giáo viên tiểu học, lương
tháng không lấy gì làm to, nhưng chú Bảy không nghĩ đến cách đổi nghề để
làm ra tiền nhiều hơn. Trái lại, chú yêu nghề và quyết tổ chức đời sống
gia đình mình theo những nguyên tắc đạo Phật, đem thì giờ và năng lực thực
hiện hạnh phúc cá nhân và gia đình theo giáo lý Phật Giáo. Thím Bảy không
phải là người sống trầm tĩnh nhiều nội tâm như chú, thím còn trẻ mới hai
mươi bốn tuổi, rất đảm đương, hoạt bát, ưa chuộng hành động hơn tri thức.
Chú Bảy không buộc thím Bảy làm giống như mình; trái lại, chú còn tôn
trọng cách sống của thím và tìm cách bổ túc cho thím. Niềm vui của thím
không những chỉ là chăm sóc bé Phượng, chăm sóc cửa nhà vườn tược mà còn
lo lắng cho các gia đình những trẻ em nghèo trong xóm. Chú Bảy khuyến
khích thím và giúp thím trong công việc này dù rằng bài vở học trò của chú
khá bề bộn. Chính vì thái độ ấy của chú mà thím Bảy vừa biết ơn vừa
thương kính chú hơn. Thím biết tôn trọng những giờ tĩnh tâm của chú, biết
giữ bé Phượng yên lặng hay đem bé Phượng đi chơi mỗi khi chồng cần sự yên
tĩnh. Điều quý hóa nhất là thím biết lắng nghe chồng mỗi khi chú Bảy bàn
luận về cách tổ chức đời sống gia đình theo phương pháp đạo Phật và cộng
tác với chồng trong sự áp dụng những nguyên lý Phật Giáo.
Có một hôm hai vợ chồng bất đồng ý nhau về một chuyện nhỏ
liên hệ tới giáo dục học đường. Thím Bảy làm chồng giận vì nói năng vô
ý. Chú Bảy biết mình giận nên ra đi bách bộ ngoài bờ sông tới hai giờ
đồng hồ. Trong hai giờ đồng hồ ấy, chú tĩnh tâm và thấy được rằng lỗi của
thím Bảy rất nhỏ, so với đức hạnh và con người đẹp cả tinh thần lẫn thể
chất của thím. Và chú thấy chú cần đem thương yêu để sửa chữa lại cái lỗi
bé nhỏ của thím hơn là giận dỗi trẻ con. Thế là chú về nhà với tâm trạng
bình tĩnh, an lạc và nụ cười trên môi. Hai vợ chồng thương mến nhau nhưng
kính trọng nhau, nhờ vậy mà hạnh phúc lứa đôi rất bền vững. Chú Bảy không
bắt vợ phải nghĩ và làm giống hệt như mình; chú không quan niệm như ở thời
phong kiến rằng vợ là vật sở hữu của chồng, chồng muốn gì là phải làm
theo. Chú biết trên căn bản nam nữ bình đẳng và với phương pháp kính
trọng nhau, hai vợ chồng có thể xây đắp và duy trì hạnh phúc theo lời Phật
dạy.
Gia đình gần gũi
nhất với gia đình chú Bảy là gia đình ông Sáu, anh họ của chú. Chú thường
hay đến chơi và rất thân mật với các con của ông Sáu. Chú cũng muốn giúp
gia đình này một cách gián tiếp trong việc áp dụng giáo lý đạo Phật vào
đời sống. Ông Sáu bà Sáu đều theo đạo Phật, các con đều biết đi chùa lễ
Phật, nhưng họ ít hiểu đạo Phật và không thấy đạo Phật liên hệ nhiều tới
đời sống kinh tế, tình cảm và giáo dục của gia đình.
Chú Bảy biết là sự
xây dựng bản thân vốn thiết yếu căn bản cho sự xây dựng gia đình, nên đã
suy nghĩ kỹ về vấn đề xây dựng bản thân, và thiết lập những phương tiện
thực hiện.
-
Hai Thế Hệ
Sống Chung
Hai thế hệ sống
chung dưới mái nhà phải tìm hiểu tâm lý quan niệm và sở thích của nhau để
tạo nên sự hòa hợp, điều kiện căn bản của hạnh phúc. Trong nhiều gia đình
hiện nay, đã có một sự ngăn cách gây nên bởi sự thiếu hiểu biết giữa cha
mẹ và con cái. Hai thế hệ có những nền giáo dục khác nhau sinh ra dưới
những điều kiện kinh tế xã hội và văn hóa khác nhau thì cố nhiên là có
những tâm trạng, quan niệm và sở thích khác nhau. Bậc làm cha mẹ phải tự
nhủ rằng thế hệ trẻ bây giờ không thể nào suy nghĩ và ưa thích như kiểu
xưa được, phải cố gắng tìm hiểu hoàn cảnh, tâm lý và sở thích của con cái
để dùng kinh nghiệm mình mà hướng dẫn họ. Mình phải cởi mở, nhiều khi
phải tùy thuận theo trẻ mà tân hóa một chút để có thể tạo nên sự cảm
thông. Ông Sáu bà Sáu thường than phiền rằng lớp trẻ bây giờ bất trị,
không dạy được, và không chịu tùng phục cha mẹ như thuở xưa. Thật ra thì
hai ông bà không biết rằng bốn đứa con của họ đều có thể là những đứa con
khá. Xuân Thảo, cô con gái đầu lòng năm nay hai mươi mốt mới vừa vào
trường sư phạm đầu niên khóa ở Cần Thơ, mỗi tháng hai lần cô về thăm nhà
vào những ngày cuối tuần. Cậu Nguyện mười chín, năm rồi thi tú tài hỏng.
Hà, con gái năm nay mười bốn và Lộc, con trai mười hai đang học trường
công lập tỉnh. Cả bốn cô cậu đều sẵn sàng nghe theo ý của cha mẹ, nếu ông
bà Sáu biết dùng tình cảm để hướng dẫn con. Nhưng ông bà Sáu lại cứ nghĩ
theo kiểu xưa, cho rằng cha mẹ có uy quyền tuyệt đối với con cho nên thay
vì lấy thương yêu mà dạy dỗ ông bà lại làm cho con sợ, có khi dùng đến roi
vọt. Nguyện có nhiều khi phản đối bằng cách không ăn cơm và đi vắng suốt
một hai ngày. Ông bà Sáu không hiểu được cậu con trai mười chín này, cho
rằng cậu ta gan lì, cãi lại cha mẹ, không chịu học hành đến nỗi thi rớt.
Hồi Nguyện thi tú tài rớt, ông Sáu đã đè Nguyện xuống đánh sáu mươi roi,
bầm da nát thịt; Nguyện bỏ đi suốt một tuần mới về. Mà hễ Nguyện ló đầu
về nhà là lập tức ông chửi mắng.
Chú Bảy có nói
chuyện riêng rất nhiều với đứa cháu mà ông Sáu cho là một đứa con ngỗ
nghịch này. Chú Bảy thấy trong thái độ chán nản lì lợm của Nguyện những
nguyên do sâu xa. Ông thầy toán của Nguyện không hiểu vì duyên cớ nào hễ
thấy mặt Nguyện là ghét. Suốt năm như vậy. Suốt năm, Nguyện không học
toán được, cuối năm Nguyện hỏng toán. Cái xe đạp của Nguyện bị mất cắp
hồi đầu niên học, và vì vậy Nguyện cũng đã bị một trận đòn. Nguyện lại
cũng bị ông Sáu phạt nhịn cơm vì đánh lộn ngoài đường với một anh chàng
trạc tuổi Nguyện, mà không cần tìm biết lý do. Nguyện cho rằng cả ba lẫn
má đều ghét mình, nên không bao giờ nói chuyện mình với ba má.
Chú Bảy khuyên ông
bà Sáu nên trầm tĩnh để tìm hiểu Nguyện. Chú nói: “Thời bây giờ ta không
thể xem con cái như vật sở hữu của ta nữa. Ta không nên nghĩ là ta có
quyền bắt chúng phục tùng theo tất cả mọi ý muốn và sở thích của ta. Giáo
dục học đường đã thôi dùng roi vọt và quyền uy của vị thầy giáo rồi. Giáo
dục học đường đã được cách mạng; thầy giáo chỉ là người hướng dẫn, làm
hiển lộ và phát triển khả năng của học trò mà thôi, chứ không còn là người
có thể bắt buộc học trò phải nghĩ như mình nghĩ và làm như mình làm. Bậc
cha mẹ có ảnh hưởng lớn lao tới con cái, và ảnh hưởng này được thực hiện
bằng tình thương yêu chứ không phải bằng uy quyền.
Luân lý mỗi thời đại
mỗi đổi khác, tùy theo quan niệm nhân sinh của con người. Luân lý của đạo
Phật không phải là một mớ giáo điều chắc nịch mà là những nguyên tắc linh
động phù hợp với sự sống và sự sáng tạo. Đạo Phật chống lại thái độ cố
chấp và giáo điều. Nguyên tắc đầu tiên của luân lý đạo Phật là thái độ
cởi mở: Phải bỏ hết mọi thành kiến, phải có óc cởi mở để hiểu được kẻ
khác, phải biết đứng vào hoàn cảnh kẻ khác để mà hiểu kẻ khác; đừng đứng
trong cái vỏ cứng chật hẹp của thói quen để buộc tội và trách móc họ. Bậc
làm cha mẹ phải tự nhủ: Có lẽ mình đã “xưa” quá rồi, mình phải thích ứng
thêm với thời đại mới một ít mới được. Tìm hiểu tâm lý trẻ bằng cách nhận
xét hoàn cảnh xã hội và học đường của chúng để có thể thông cảm với chúng
nhiều hơn. Mục đích của luân lý đạo Phật là để gây nên hiểu biết cảm
thông và hạnh phúc, chớ không phải là để gò bó con người trong sự chịu
đựng khổ cực và đầy dẫy phiền muộn căng thẳng. Nếu đạo đức mà chỉ gây nên
phiền não,