Những đoản văn
viết trong 25
năm qua
Thích Như Điển
---o0o---
Phần 2
Bánh trái nhà chùa
Sau
2 loạt bài "Cây Trái Vườn Chùa" và "Cây Cảnh Vườn Chùa" đã
được độc giả khắp nơi chiếu cố một cách hết sức bất ngờ. Bất ngờ vì việc
không chờ đợi mà lại đến. Ngược lại có nhiều việc chờ đợi hoài nhưng vẫn
không đến. Ví dụ như sau khi đọc hai loạt bài nêu trên đã có nhiều vị Phật
Tử khắp nơi tại Âu Châu gởi thư về thăm hỏi và chia xẻ kinh nghiệm làm
vườn với Bác Sáu, đồng thời gởi tặng thêm nhiều hạt giống bầu, bí đặc biệt
sai trái. Có người lại thực tế hơn đã gởi tịnh tài về Chùa để Bác Sáu uống
cà-phê cho khỏe, còn lo chăm sóc vườn Chùa nữa. Về tịnh tài thì Bác Sáu
không nhận dùng riêng cho mình, mà Bác lại mua phân để bón cây cho năm nầy
và năm tới. Đó là những nghĩa cử đẹp của người làm vườn, lẫn người thưởng
ngoạn vườn. Khách thập phương khi đến Chùa, thấy cây cảnh tươi mát, cây
trái ngọt bùi, nên đã cảm cái nhân lành mà muốn gặt hái nhiều quả ngọt,
nên đã thổ lộ ra bằng hành động đẹp như vậy. Còn bác, bác chỉ đơn giản và
cười xuề xòa thôi.
Vào hạ, cứ mỗi sáng sau thời
công phu, tôi đều thấy Bác có mặt ở vườn Chùa, không ngắt đọt bầu nầy thì
cũng bón phân cho cây bí nọ, vì vậy cho nên cây trái nhà Chùa càng ngày
càng sai quả, vì nhân tốt và duyên thuận, dĩ nhiên là quả phải ra tốt rồi.
Năm nay có người cho giống bầu mới, Bác đem gieo hạt làm 3 kỳ. Kỳ thứ nhất
sau khi cây đâm chồi nảy tược, Bác đem ra vườn trồng, vào đầu tháng 4,
nắng được mấy ngày bầu tươi tốt; nhưng sau đó lạnh lại, thế là cây phải để
tang; cả 3 đợt đều như thế, xem như khó cứu chữa nổi. Nhưng một phép lạ đã
đến. Đó là thời tiết. Đợt thứ 3 tưởng đâu đã chết luôn; nhưng nhờ khí trời
ấm áp hẳn cả tháng 5 và tháng 6; nên cây bầu đã cải tử hoàn sanh, bò lên
giàn vùn vụt, bông và nụ đua nhau khoe sắc trên giàn, thấy mà vui mắt. Thế
là kết quả đã đến.
Năm nay có 3 loại bầu tất cả.
Bầu nậm giống như bầu rượu, trông rất đẹp và dễ thương, độ chừng 15 trái.
Bầu ngắn, do Bác Hải ở Neustadt cho giống, độ chừng 50 trái. Bầu dài, do
một Phật Tử ở gần Frankfurt cho giống, độ chừng 50 trái nữa. Tổng cộng là
115 trái. Đặc biệt bầu dài, trái dài nhất đến 1 thước 50, cân nặng 5
kí-lô. Trái bầu nầy ở Việt Nam tôi chưa bao giờ thấy, mà hỏi thăm nhiều
người cũng chưa ai thấy cả. Đây là một loại bầu lai giống, ở Á Châu khó có
thể có được. Ngoài ra bí rợ năm nầy cũng đã cho được 30 quả, cả bí loại
lấy giống từ Việt Nam và bí rợ Đức. Khổ qua chỉ cho độ 15 trái, không như
năm rồi được 55 trái. Còn mướp tây (Zucchini) ít nhất năm nay vườn Chùa
cũng thâu hoạch được 150 trái. Như vậy kể ra năm nay đã được mùa.
Nếu viết về cây cảnh hoài, quý
vị trong Ban Trai Soạn và trong Ban Bánh Trái sẽ phân bì, tại sao Thầy
chiếu cố bên ngoài mà lại không chiếu cố bên trong, quả là một điều thiếu
sót. Vì vậy tôi cố gắng viết về những việc rất khó viết, vì không phải là
chuyên môn của mình. Sự đóng góp của Tăng, Ni và Phật Tử cho sự trưởng
thành của ngôi Chùa Viên Giác quá nhiều người và công đức quá lớn lao, tôi
không thể kể hết được, nếu có thiếu sót ai, xin quý vị cảm thông cho.
Có nhiều người đàn ông nấu ăn
rất ngon; nhưng tôi thì thuộc hạng dở nhất. Nếu có ai đó hỏi tôi rằng:
- Thầy nấu được món gì?
Tôi sẽ trả lời rằng:
- Chỉ nấu được món mì.
Thế là ai cũng cười. Kể ra thời
còn sinh viên Tăng ở Nhật, cách đây 25 năm về trước, tôi cũng đã trổ tài
để nấu nhiều món chay đặc biệt; nhưng gần 20 năm nay ở tại Đức, không biết
tại vì tôi có đầy đủ nhân duyên phước đức như nhiều người đã nói hay sao,
tôi không biết; nhưng thú thật tôi chưa biết cái nhà bếp là gì. Ai hỏi tôi
chuyện gì thì tôi còn trả lời được, chứ chuyện nhà bếp thì tôi chỉ cho quý
cô Hạnh Niệm, cô Hạnh Tịnh, cô Hạnh Ân, cô Hạnh Châu và cô Hạnh Ngọc. Ngày
thường ở Chùa đã có quý Cô nầy lo cho miếng ăn thức uống cho chư Tăng, còn
Phật Tử thì có những anh em công quả lo riêng, như Thiện Văn, Thiện Trí,
Dũng, Thắng v.v..., lớp Đức cũng đã có các anh em lo nấu dọn. Những lễ lớn
đã có Ban Trai Soạn của Chùa và chị Hạnh từ Braunschweig, cô Phượng từ
Hamburg, Tý từ Nordhorn, Thiện Tấn từ Seelze, Tuấn từ Stuttgart, anh Đống
từ Hamburg, Dinh, Minh Hòa, Nam, Quốc, v.v... và đặc biệt có những người
Đức như Peter (chồng cô Phượng), và Hội Phật Giáo Chöling của người Đức
cũng đã cộng tác rất tích cực để lo cho cả mấy ngàn người ăn. Đó không
phải là điều đơn giản. Còn vô số những người làm công quả trong các mùa
Phật Đản, Vu Lan như cô Thủy, mạnh hơn nam nhi, anh Hải từ Saarburg, anh
Thành, anh Tâm Lượng, anh chị Nguyên Biên, anh chị Quảng Đạo Frankfurt
v.v... Ban Tổ Chức và những người thiện nguyện cho mỗi lễ như vậy có đến
200 người, nên không thể kể hết ra đây. Kính mong quý vị hiểu cho.
Hôm nay đặc biệt tôi sẽ kể cho
quý vị nghe về một số công việc làm bánh tại Chùa. Vì đây cũng là một
nguồn lợi khá quan trọng để giúp Chùa trang trải nợ nần, mỗi năm số thu
vào không nhỏ, là nhờ vào những bàn tay và khối óc tiêu biểu sau đây:
Khi cô Hạnh Niệm còn mạnh khỏe,
cô cũng đã chăm lo các lễ lộc lớn và làm bánh trái cho Chùa từ năm 1981
cho đến năm 1990; nhưng bây giờ thì cô đã lớn tuổi, nên không còn lo được
nữa; chỉ có cô Hạnh Tịnh và quý cô khác lo đảm đang.
Có một loại bánh đặc biệt, gọi
là "bánh khoai mì", ai dùng cũng thích. Bánh nầy do cô Hạnh Châu
chủ xướng, đầu tiên phải mua sắn (củ mì) về lột vỏ và bào cho thật nhỏ,
sau đó đem trộn với đường, bơ, sữa và nướng lên thành bánh. Ở Việt Nam vào
những năm 76, 77 ai thấy khoai mì cũng ngán; nhưng ở đây và bây giờ là
vàng là bạc đấy. Tôi không có cộng nghiệp với Cộng Sản; nên tôi không biết
cái khổ của dân mình thời đó; nhưng ở ngoại quốc, khi nhận được những lá
thư vàng khè là biết được sự tiến bộ của Xã hội Chủ nghĩa thời bấy giờ
rồi. Dĩ nhiên bây giờ sau 20 năm có thay đổi nhiều; nhưng nếu không nhờ tư
bản của ngoại quốc đầu tư vào, thì chắc chắn không thể có thành quả ấy
được.
Cô Hạnh Ân thì chuyên đổ bánh da
lợn. Tôi không biết công thức trộn bột và pha màu như thế nào; nhưng biết
được rằng phải bắt một cái xửng lớn lên bếp và để những chén nhỏ hoặc
khuôn vào đó, khi nước nóng đến độ nào đó, thì đổ bột nước vào từng đợt
một để bánh có nhiều lớp nhiều màu khác nhau. Bánh nầy được rất nhiều
người thích, nhất là những người răng yếu hoặc không có răng.
Cô Hạnh Ngọc có làm một loại
bánh rất đặc biệt. Đó là bánh "bía", chữ Tàu không biết viết bằng
chữ gì; nhưng gọi là bía. Bánh phải cần nhồi bột và làm nhưn; nhưng đậu
xanh phải ngâm từ hôm trước để ngày hôm sau xay nhuyễn và quết đều với gia
vị, sau đó đem gói nhưn vào bánh rồi cho vào khuôn in ra, nướng, đem ra
khỏi lò, đóng ấn chữ THọ lên đó cho dễ coi. Trông hình thù của bánh không
đẹp lắm; nhưng ai cũng thích, chẳng biết tại sao? Có lẽ ăn bánh vào chắc
bụng và mau no chăng?
Bánh xanh
là một loại bánh đặc biệt, trước
đây Đạo Hữu Cân từ Pháp qua chỉ lại cho Bác Sáu và quý Cô tại Chùa. Nghề
nầy được truyền lại tại đây và ngày nay mỗi lần lễ, quý cô quý bác làm từ
5 đến 10 ngàn cái. Không biết bao nhiêu là công phu, mà tôi thì vô tình
quá, không có thì giờ để mắt đến đã đành, mà nhiều khi chưa đánh giá đúng
sự khó nhọc của những người đã ra công làm lợi lạc cho Chùa, quả tôi là
người đáng trách nhất. Tôi thấy bánh nầy cũng có nhưn đậu; nhưng hòa bột
là cả một nghệ thuật; toàn là nước lạnh, nhưng khi bắt lên lửa thì phải
cần những thanh niên có sức khỏe, chịu đựng hơi nóng mới đứng suốt ngày
nơi đó mà quậy bột đều tay, đến khi bột đặc lại cũng phải xào đều tay. Đôi
khi phải nâng cả một cục bột lên cao, kẻo bị cháy. Xào như thế cho đến độ
bánh dẻo tới mới thôi. Lúc nào dẻo và lúc nào bột pha đúng, đố ai biết
được. Chỉ có người trong nghề mới cảm nhận được sự thiếu đủ đó mà thôi;
nếu không bắt tay vào nghề thì đành chịu.
Cũng là bột, là đường, là dầu,
là lửa mà sao đã có nhiều bàn tay khéo léo tạo nên những món ăn thật đậm
đà hương vị quê hương như vậy? Vị ngọt của bánh, mùi thơm của bột đã quyện
vào lòng người xa xứ, như một chất men ngọt lịm trộn lẫn cuộc đời với
những khổ đau và tục lụy, để trở thành một mùi toan khổ mà cuộc đời mấy ai
lại đã chẳng phải trải qua.
Tục ngữ Việt Nam có nhiều câu
rất hay như: "Có bột mới gột nên hồ" cũng đã mô tả được việc ấy.
Nếu không có nhân thì sẽ không có quả bao giờ. Nếu nhân tốt thì quả sẽ tốt
và ở đây cái duyên cũng đóng một vai trò quan trọng lắm. Nhiều khi cũng có
những câu mang ý nghĩa trái ngược với việc trên như: "Nước lã mà vã nên
hồ, tay không mà dựng cơ đồ mới ngoan" cũng đúng chứ chẳng sai. Vì có
nhiều loại bánh chỉ bằng nước lã như bánh cuốn, chị Diệu Cam hay
làm, bánh bèo bác Tám hay làm, bánh xèo v.v... tất cả đều từ
nước lã và bột; nhưng cũng chính nhờ những loại nước lã nầy mà đã góp phần
vào cơ đồ của Chùa Viên Giác được thành tựu như ngày hôm nay. Xin đa tạ
tất cả và hồi hướng công đức nầy đến mười phương pháp giới chúng sanh vậy.
Cô Hạnh Tịnh lo cai quản nhà bếp
của Chùa, đâu đó rất ngăn nắp, tôi không biết cô chuyên môn loại bánh gì;
nhưng nếu nhà bếp không có cô thì xem như hỏng. Vì bao nhiêu chuyện lớn
nhỏ, cô đều trông nom, quán xuyến, sắp đặt để mọi việc được mỹ mãn. Nhắc
đến đây phải nhớ đến Bác Diệu Nhụy, người luôn luôn vui cười, mà cũng lắm
khi hờn mát; nhưng lại làm chả chay thì chẳng ai bằng. Muốn làm
loại này phải ngâm tàu hủ ki, là một loại váng đậu hủ, cho mềm và nhuyễn,
sau đó mới nấu và cho gia vị vào, xào. Sau đó đem gói thành đòn như đòn
bánh tét để nung trong một tiếng đồng hồ. Thế là ta lại có một món ăn chay
ngon miệng qua việc cho đồ gia vị hợp khẩu của mỗi người. Tiếng Phổ Thông
gọi là "Tao hu bi", có nghĩa là da đậu hủ. Còn "Tàu hủ ki"
có lẽ là tiếng Quảng Đông, pha tiếng Việt Nam. Học bao nhiêu ngôn ngữ rồi
tôi cũng thấy mình còn kém, vì học hoài chẳng hết chữ của thế gian nầy.
Mỗi một ngôn ngữ có một đặc thù riêng và hỏi tại sao như vậy thì đố ai mà
trả lời được. Ví như chữ Nga, một ngôn ngữ có thể gọi là khó nhất thế giới
tôi đang cố gắng học, chữ y thì đọc là u. Chữ bl thì
đọc là ư, chữ m thì đọc là t. Chữ h thì đọc là
n, thì thử hỏi lấy gì để định nghĩa. Chẳng qua tất cả do thói quen
mà thôi.
Bác Diệu Nữ thì chuyên môn làm
xôi vị. Tại sao gọi là xôi vị, thì hỏi người miền Nam trả lời nôm
na là xôi có vị và màu sắc nên gọi là xôi vị; tôi chưa thỏa mãn với câu
trả lời nầy. Cách làm thì tôi không biết, nhưng thấy nấu xôi lên, để xôi
cho nguội đem xào với đường và cho một ít vị vào, sau đó đem cho vào
khuôn, rải mè lên trên, cắt ra thành miếng, đôi khi gói vào giấy gương,
gọi là xôi vị. Người miền Trung, như chỗ quê mùa, nơi tôi đã sinh ra gọi
là xôi ngọt. Bảo ngọt, vì có cho vào đó khá nhiều đường và đặc biệt xôi
ngọt miền Trung còn nấu chung với đậu đỏ, nên sau khi nấu xong, màu xôi
lại đỏ mà ngọt lịm cả môi người. Rất nhiều người thích ăn xôi nầy; nhưng
nếu lỡ cắn trúng một hạt đậu chưa chín tới, có lẽ nhiều người sẽ không còn
thích ăn loại xôi nầy nữa. Chị Thị Khiêm chuyên về loại xôi nầy và món bún
bò chay Huế pha Quảng cũng rất đặc biệt.
Có một gia đình đã đóng góp
công, của cũng như sức lực cho Chùa Viên Giác suốt gần 20 năm nay. Đó là
gia đình Bác Diệu Anh. Ngoài Bác ra còn có Đạo Hữu Diệu Kim, chị Diệu Huệ,
anh Minh Thiện, chị Sum; vợ anh Đống; Tố Hương v.v... cả một gia đình công
quả từ năm nầy qua tháng nọ mỗi khi có lễ lớn tại Chùa. Bác Diệu Anh hay
về Chùa trước lễ chừng vài tuần để coi sóc trong ngoài. Đạo Hữu Diệu Kim
và Đạo Hữu Diệu Huệ lo nhồi bột, làm bánh, mà đặc biệt là bánh bao,
quý vị nầy làm thì khỏi chê vào đâu được. Công thức thì tôi không biết,
không phải vì quý vị ấy giấu nghề, mà vì tôi không hỏi kỹ, tôi chỉ thấy
cũng nhồi từ bột, trước đây thì nhồi tay; nhưng bây giờ đã có máy nhồi,
nhờ anh Minh Thiện mua dùm, nên đỡ đi rất nhiều. Đặc biệt là nhưn bánh,
phải làm sao cho khỏi thiu, không mặn quá, không lạt quá. Đó là một nghệ
thuật tuyệt vời, mà một người viết văn lưng chừng như tôi không thể diễn
tả hết nổi.
Trong những tháng không có lễ là
những tháng ngày mà quý cô tại Chùa và đặc biệt là quý Bác tại Laatzen
cũng như Hannover, Hildesheim về Chùa làm bánh gồm có các Bác như sau: Bác
Viên Tuyết, Bác Diệu Hiền khi còn sống, Bác Huệ Ngọc khi còn sống, chị
Diệu Hiền, Bác Tăng, Bác Sáu, Bác Diệu Nhụy, Đạo Hữu Thiện Ý, Bác Tám, cô
Nguyên Quế, gia đình anh Dũng và Nguyên Hoằng tại Hildesheim, cô Quảng
Thái. Họ làm đủ loại bánh, bánh bao, bánh ngọt, bánh xanh, bánh cuốn, bánh
bò, bánh da lợn, bánh hạt điều, bánh hạnh nhân, bánh bông lan v.v... ít
nhất cũng 30 loại bánh mà tôi không tài nào nhớ hết nổi.
Có một loại bánh đặc biệt gọi là
"giò cháo quảy", có lẽ là tiếng Tiều, cũng từ bột mà ra; nhưng cách
pha bột và nhồi bột rất khó. Điều đặc biệt là phải chiên làm sao cho nổi.
Đó là một nghệ thuật rất cao. Có nhiều người cũng nhồi bột, cũng chiên;
nhưng không nổi và ăn dai nhách như kẹo cao-su, như vậy là hỏng rồi, phải
nhồi bột khác để làm lại. Lúc cô Hạnh Như còn sống thì cô chuyên đứng chảo
dầu cho loại bánh nầy vào những dịp lễ lớn. Bây giờ hình như có chị Tâm
Phương thay thế.
Mỗi lần lễ lớn như Phật Đản, Vu
Lan, Tết, Rằm Tháng Giêng v.v... có nhiều vị về Chùa cả tuần lễ ngoài
những gia đình đã kể trên ra còn có Đạo Hữu Diệu Hương, Đạo Hữu Diệu Tịnh,
Đạo Hữu Diệu Thiện, Đạo Hữu Diệu Phước, quý Đạo Hữu tại Aschaffenburg,
Frankfurt, Karlsruhe v.v... và v.v... Có thể có cả hằng trăm, hằng ngàn
người và với sức nhớ của tôi bây giờ thì không ghi trọn vẹn vào đây được.
Tất cả những loại bánh trái trên
đây như tôi đã kể, không phải là một công thức, quý vị khi đọc, chớ làm
theo mà hỏng bột hỏng đường. Vì tôi không phải là thầy giáo nữ công gia
chánh, nếu quý vị muốn công quả và học hỏi thì về Chùa, quý Cô, quý Bác sẽ
truyền nghề lại cho. Tôi chỉ nói lên cái nhìn tổng quát của mình khi thấy
cái bánh được thành hình mà thôi, để nhắc nhở những ai khi ăn đến tô bún,
nhâm nhi cái bánh ngọt bên chung trà hoặc ly cà-phê thì cũng nên nghĩ đến
cái cực khổ của người làm bánh cũng giống như người nông phu chân bùn tay
lấm, một nắng hai sương mới đổi lấy được hạt cơm, bát gạo đem về nuôi
dưỡng gia đình hay bán ra cho chúng ta dùng vậy. Ở đây họ cũng làm, rất
khó nhọc và lao tâm; nhưng không riêng cho ai cả, mà cả tấm lòng và sức
lực cho ngôi Chùa chung của mọi người. Ngày nay khi người ta dư dả trong
đời sống vật chất, ăn không phải là một nhu cầu nữa, mà còn là một nghệ
thuật trong cuộc sống. Người thưởng thức nghệ thuật nầy bằng cách ăn để mà
sống chứ không phải sống để mà ăn. Như thế ý nghĩa của nghệ thuật mới được
thăng hoa vậy.
Phật Tử đi Chùa mua bánh trái
cúng Phật một phần để tạo phước đức cho chính mình, phần khác cũng tạo
nguồn vốn cho Chùa, để Chùa có cơ hội trả nợ cho nhà thầu càng sớm chừng
nào càng tốt chừng ấy. Công đức nầy thật không nhỏ. Nhân việc viết về bánh
trái nhà Chùa mà không nhắc về những vị lo lễ lộc nơi Chánh Điện nhân các
lễ lớn quả là điều thiếu sót, nên xin ghi vào đây để cảm tạ thâm ân của
những Đạo Hữu và Phật Tử xưa nay đã cộng tác với Chùa vậy.
Trên Chánh Điện phần nhang đăng
mỗi khi lễ do Đạo Hữu Quảng Ngộ, Đạo Hữu Minh Tôn, Đạo Hữu Thiện Căn, Bác
Hải, Đạo Hữu Viên Tuyết v.v... bây giờ thì có thêm Bác Hoành và một số anh
em công quả thiện chí khác và các cô chú trong Chùa. Mỗi lần lễ Tết và Rằm
Tháng Giêng độ 8.000 người đi lễ. Phật Đản độ 6.000 người. Vu Lan chừng
5.000 người. Cứ mỗi người chỉ cần đốt một cây nhang thôi là khói đã ngập
trời rồi. Huống gì ở đây có những người đốt cả bó. Nhiều người đốt nhiều
bó thì Chánh Điện của Chùa Viên Giác không khác gì Lăng Ông Bà Chiểu tại
Sài Gòn. Vì vậy mới có người đề nghị là mỗi lần đốt chỉ cần 1 đến 3 cây
nhang mà thôi; nhưng nói họ vẫn không nghe, khuyên họ vẫn làm ngơ, có
người lại bảo đi Chùa chỉ cốt đốt cho được nén nhang cúng Phật nhưng cũng
lại bị cấm. Quả là điều oan ức vô cùng. Bây giờ để cho mọi người đi lễ tự
do đốt thì phải có những người đi nhổ nhang đi. Nhang mới cắm, bị nhổ cũng
phiền não không ít; nhưng không nhổ thì đã có mấy lần nhang bị cháy phựt
lên, mà người thì đông, người chịu trách nhiệm rút chưn nhang không thể
nào đến kịp, quả là điều nguy hiểm vô cùng. Vì vậy sau nầy quý vị rút
nhang tự chia nhau mỗi vị đứng tại chỗ một bàn thờ để lo phận sự của mình
và phòng cháy. Nhưng sự than phiền vẫn không tránh khỏi, không biết phải
làm thế nào đây, trừ phi mỗi người tự ý thức rằng, chỉ cần đốt ít nhang
lại, lòng mình vẫn không thiếu lễ và người trách nhiệm tại Chùa mới khỏi
bị trách móc. Mong lắm thay!!!
Có nhiều vị đề nghị là nên đem
những nhang rút ra ấy cắm vào một lư nhang thật lớn phía Thiêu Hương Điện
nơi Đức Phật A Di Đà đứng phía trước cửa ra vào; nhưng khổ nỗi không thể
nào đi được ra đến đó với số người vào lễ quá đông. Mặc dầu Chánh Điện rất
rộng, nhưng khói nhang vẫn mịt mù, bánh trái đầy dẫy, người lễ lạy, xin
xăm nhộn nhịp cũng vui; nhưng hơi thiếu trật tự và tinh thần trách nhiệm
khi đến chỗ trang nghiêm. Mong rằng quý vị đi Chùa cũng thoải mái, mà
người cộng sự tại Chùa cũng đỡ lao tâm thì chúng ta mỗi người nên có một
sự ý thức nhỏ. Việc ấy rất quý hóa vô cùng.
Một phần rất tế nhị cũng cần nói
ra đây cho một số quý Phật Tử mới đi lễ Chùa, không nên mang đồ mặn như
gà, vịt, heo, trứng, nem, chả v.v... lên bàn thờ cúng. Vì cúng Phật phải
thanh tịnh, không nên dâng những loại sinh vật ấy, có tính cách hại lòng
từ bi, có lẽ các Ngài cũng không chứng giám đâu. Khi sống chư Tăng còn
không dùng đến, thì các vị Bồ Tát hay chư Phật làm sao thấy thân thể của
chúng sanh bị cưa, chẻ, xẻ, bằm mà vui cho chúng ta, để chứng cho lòng
thành ấy?
Ngoài ra có nhiều vị mang rượu
và giấy tiền vàng bạc đến Chùa nữa. Đây là điều không nên. Vì lẽ rượu tuy
làm bằng gạo nếp; nhưng có chất say làm cho trí tuệ của chúng ta không
phát triển được. Trong 5 giới cấm của người Phật Tử tại gia đã cấm dùng
rượu, thì chúng ta cũng không nên cúng rượu làm gì. Chư vị thần linh có
thể hưởng những thứ ấy; nhưng A La Hán, Phật và Bồ Tát sẽ không dùng đến
những vật dụng ấy. Thay vì cúng giấy tiền vàng bạc và rượu, chúng ta nên
lấy tiền ấy in kinh ấn tống hay mua bánh, trái, hoa, đèn cầy, nhang, hoặc
giả lấy tiền ấy cúng vào việc xây dựng, tu bổ Chùa chiền, giúp đỡ kẻ nghèo
khó, tàn tật, việc ấy ích lợi rất nhiều. Kính mong quý vị mới đi Chùa lần
đầu cố gắng cộng tác cho vấn đề nầy thì những ngày lễ hội mới trang nghiêm
và thanh tịnh. Đúng ra chúng ta chỉ cần dâng các loại hương giới, hương
định, hương huệ, hương giải thoát và hương tri kiến lên chư Phật là đủ
rồi; nhưng những loại hương thơm nầy chỉ có được, khi biết tu hành và huân
tu giới đức. Nếu chưa biết đạo thì khó có được hương nầy, mặc dầu mỗi
chúng sanh đều có Phật tánh và với tánh Phật nầy, chúng ta sẽ thành Phật.
Bác Quang Kính pháp danh Viên
Mãn cũng đã cộng tác với Chùa trong các lễ lạc về lãnh vực trật tự và đoán
xăm hộ cho những người đi dự lễ; nhưng cũng kêu cứu không ngừng, với khói
nhang mù mịt như thế thì không thấy chữ đâu mà dò. Bác được tiếng là ngay
ruột thẳng lòng cũng rất được việc; nhưng đôi khi cũng bị chạm tự ái vài
người. Kính mong quý vị thông cảm cho. Mọi việc Bác thâu nhập được trong
các Đại Lễ đều cúng vào Chùa cả, chứ chưa bao giờ lo riêng tư cho chính
mình. Bác còn lo trật tự bên ngoài với các lều trại dựng lên bên hông Chùa
để buôn bán trong những ngày lễ nữa; nên công việc vất vả vô cùng. Nói mãi
một việc cũng nhàm; nhưng không nói vẫn không được, mà nói thì khó vô
cùng, chỉ mong rằng những vị về bán đồ nhân các lễ đừng bao giờ bán bánh
hoặc đồ ăn mặn là quý hóa vô cùng. Điều đó đòi hỏi ở tinh thần ý thức
trách nhiệm của mỗi người vậy. Chúng ta không nên chờ Cảnh Sát đến giải
quyết, vì việc ấy nó không đẹp mắt chút nào. Mong rằng lời thật nầy không
mất lòng những vị đã không nghĩ về chuyện chung mà chỉ lo cho chuyện riêng
của mình.
Tại văn phòng Bác Thị Tâm Ngô
Văn Phát, là Hội Trưởng Hội Phật Tử Việt Nam Tỵ Nạn tại Đức cũng đã hỗ trợ
cho tôi và cho Chùa hơn mười mấy năm nay. Công đức thật khó nghĩ bàn.
Những ngày lễ Bác lo tiếp khách, thu, chi, tiếp nhận, điện thoại, liên
lạc, ngoại giao v.v... chuyện gì rồi cũng hoàn tất. Cũng có nhiều chuyến
đi xa ở Âu Châu, Bác cũng đã tháp tùng với phái đoàn để thăm các Phật sự
tại các nước sở tại.
Ngoài ra tại văn phòng có chị
Nga, chú Sanh và anh Như Thân là những người cộng tác rất đắc lực cho Chùa
và cho tôi suốt mười mấy năm qua chưa có lấy một kỳ nghỉ hè, trừ ngày cuối
tuần; mỗi ngày làm việc từ 6 đến 8 tiếng: Nếu không có những vị nầy thì
công việc văn phòng, sổ sách chi tiêu, phát hành kinh sách, báo Viên Giác,
ấn tống kinh sách, computer v.v... không chạy được, mọi dịch vụ đều do
những vị nầy đảm nhiệm với tính cách thiện nguyện. Lịch sử của Chùa Viên
Giác phải ghi vào đây những dấu son đậm nét để lại đời sau.
Ông Helmut Hanefeld người đã phụ
giảng cho tôi trong những lớp Đức đã ở Chùa hơn 4 năm nay cũng đã chăm sóc
cho những người Đức tới học Phật từng miếng ăn, nước uống, từ chỗ sơ cơ
thực tập thiền tọa, đến việc đi vào đạo. Quả là những nhịp đập của tim,
nhịp thở của buồng phổi vậy.
Frank Sanzenbacher pháp danh
Thiện Bình vào ngày 30.10.1996 nầy sẽ xuất gia, sẽ bỏ lại gia đình và tất
cả; nhưng Thiện Bình sẽ có tất cả, nếu biết tiếp tục đường tu, tôi sẽ có
thêm một người Đức biết rành về phong tục, tập quán, ngôn ngữ tiếng Hoa và
tiếng Việt. Đó cũng là một cái phúc, không biết có phải của tôi, hay của
người theo tôi học hỏi. Vì tôi có tiếng là khó, học trò cứ bị khảo bài và
bị la hoài; nhưng vẫn có nhiều người tìm đến để xin xuất gia và học hỏi.
Tôi không tự hào về việc nầy; nhưng những đệ tử của tôi cũng nên tự hỏi
rằng đến với Thầy như vậy có học hỏi được gì không? hay chỉ để tập chịu
đựng về cái khó tính trong việc tu và việc học của Thầy mình đã dạy dỗ
cho?
Ngoài ra một nhà máy in với hai
người làm. Đó là Tùng và Thiện Như. Những người đã miệt mài không biết bao
nhiêu năm tháng để in những tờ báo thật đẹp, trang trọng gởi đến quý vị.
Những người nầy ít được nhắc đến; nhưng trong từng trang sách đã có sự
hiện hữu của họ nơi cái nhìn của quý vị. Khi báo in xong chưa hẳn đã rồi,
còn bao nhiêu khâu nữa như lựa báo, xấp thành quyển, đóng gáy, cắt và dán
địa chỉ, bỏ vào phong bì v.v... chừng ấy công việc phải cần không biết bao
nhiêu người và không biết bao nhiêu thì giờ cũng như sự hy sinh cần có để
mọi việc được thành tựu. Báo Viên Giác đã ra được 18 năm. Nếu là con
người, tức đã trưởng thành, với 18 năm ấy Viên Giác đã có thể tự tin ở
mình để góp mặt cho đời và đạo vậy.
Phần trên tôi đã giới thiệu về
món ăn vật chất, bánh trái, cơm gạo nhà Chùa; nhưng phần dưới nầy thuộc
phạm vi tinh thần, cũng rất cần thiết trong cuộc sống. Nếu trong cuộc đời
chúng ta chỉ biết có ăn và ngủ thì nó vô dụng quá, làm sao cho những món
ăn nầy nó tiêu thụ được nhanh hơn, để trí óc chúng ta biến thành trí tuệ,
cái nhìn, cái hành động cho lợi mình, lợi người. Đó mới chính là con đường
của Bồ Tát vậy.
Kể sơ như vậy quả tôi cũng là
người có phước so với nhiều người khác. Từ một kẻ nông dân tay bùn chân
lấm, đến một sinh viên Tăng nơi hải ngoại, rồi trở thành một người lãnh
đạo tinh thần cho Phật Tử tại xứ Đức nầy, quả là điều tôi chưa bao giờ
nghĩ tới. Đó là do nhân duyên vậy. Có duyên thì hợp, hết duyên thì tan và
tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên sanh, thì các pháp hữu vi cũng sẽ
do nhân duyên mà diệt. Biết thế để không buồn khi bị mất chúng, mà cũng sẽ
không quá vui khi được chúng. Vì như trong kinh Kim Cang đã dạy "Phàm
sở hữu tướng giai thị hư vọng". Nghĩa là phàm cái gì có hình tướng,
cái ấy đều không thật. Vậy là người tu, phải đi tìm cái chân thật, chứ
không lẽ cứ sống mãi hoài trong cái đối đãi chăng?
Chùa Viên Giác tại đây do tôi
sáng lập và lãnh đạo, đã gần 20 năm có mặt tại xứ Đức nầy. Đây là một thế
hệ, một thế hệ đã qua, tóc mình đã bạc, không biết mình có phụ lòng người
hay có hoài công dạy bảo của Thầy Tổ, cha mẹ chăng? nên lúc nào cũng phải
cố gắng và cố gắng.
Chùa xây xong nhưng nợ ngân
hàng, nợ Phật Tử và nợ nhà thầu vẫn chưa xong; nên tôi còn có bổn phận để
phải lo chu toàn tất cả, thì ngày nào đó hết nhân duyên với nơi nầy, tôi
chỉ còn là người Cố Vấn và tượng trưng cho mọi công việc, có lẽ lúc ấy sau
9 năm nữa, hy vọng sẽ hoàn thành. Năm 1996 tôi đã hoàn trả được gần
400.000 Đức Mã tiền nợ. Trong đó trả cho hãng Mehmel 220.000 Đức Mã. Trả
cho Thượng Tọa Minh Tâm 80.000 Đức Mã. Trả cho ông Dr. Meihorst 30.000 Đức
Mã. Cho Chùa Khuông Việt ở Na Uy mượn 30.000 Đức Mã. Trả cho ông Dr.
Dienemann 12.500 Đức Mã và mấy chục ngàn trả tiền Hội Thiện cho Phật Tử
nữa. Tổng cộng là 400.000 Đức Mã. Con số nầy không phải nhỏ. Xin đa tạ tất
cả các Phật Tử đã cúng dường cho năm 1996 nầy. Ngoài ra Chùa cũng chi tiêu
và điều hành cho mọi hoạt động cho toàn năm chừng 500.000 Đức Mã nữa.
Trong số nầy Chính Phủ giúp khoảng 100.000 Đức Mã, còn 400.000 Đức Mã vẫn
là số cúng dường định kỳ và bất thường của Phật Tử cũng như các lễ lộc và
phát hành bánh trái mà thành.
Có người hỏi
tôi rằng:
- Vậy Chùa còn
nợ bao nhiêu nữa?
Xin thưa để bà
con xa gần rõ:
- Trước đây 5
năm Chùa mượn ngân hàng 700.000 Đức Mã để xây Chùa. Nếu trả liên tục trong
15 năm, cả lời lẫn vốn khoảng 1 triệu 3 đến 1 triệu tư. Năm nầy đã trả đến
năm thứ 5 rồi; nhưng chỉ trả tiền lời, chứ vốn chưa trả được đồng vốn nào
cả. Mỗi năm trả độ 60.000 Đức Mã; như vậy 5 năm là 300.000 Đức Mã chúng ta
đã cho ngân hàng ăn không. Nếu từ nay đến 10 năm còn lại, Chùa có bao
nhiêu tiền cứ bỏ vào thêm, ngoài số định kỳ ngân hàng rút lại hằng tháng
thì cả tiền lời lẫn tiền vốn càng được thâu ngắn lại, có thể 8 năm, 5 năm
hay 3 năm là tùy vào số thâu vào của chúng ta. Việc nầy phải trông đợi vào
từng cái bánh xanh và sự góp gió thành bão của quý Phật Tử xa gần.
Có nhiều người
hỏi tôi rằng:
- Tại sao và
làm thế nào để xây được ngôi Chùa lớn như thế?
Tôi trả lời
rằng:
- Thông thường
khi làm những việc lớn, người ta quên đi những cái nhỏ; nhưng ở tôi, chính
nhờ lưu tâm đến những cái nhỏ ấy mà cái lớn lại thành. Mỗi người đi Chùa
nhân lễ Phật Đản hay Vu Lan chỉ cần cúng đồng đều 20 Đức Mã là Chùa sẽ có
100.000 Đức Mã tiền cúng dường. Đó là chưa kể những phụ thu khác; nhưng số
nầy đôi khi cũng chênh lệch, rất khó tính.
Vì vậy ngày
xưa khi đi mượn tiền ngân hàng, tôi đã bị nhân viên ngân hàng hạch hỏi:
- Ông lấy gì
để bảo đảm là số tiền hằng tháng vẫn luôn luôn được cúng dường?
Tôi bảo rằng:
- Điều ấy khó
biết thật; nhưng tôi hỏi vặn lại ông chủ ngân hàng rằng:
- Nếu ông bảo
vậy thì ngân hàng căn cứ vào đâu để cho khách mượn tiền?
- Ông ta trả
lời rằng:
- Căn cứ vào
công ăn việc làm và lương bổng.
Tôi nói tiếp:
- Nhưng nếu
người ấy thất nghiệp thì sao? lấy gì để bảo đảm?
Chỉ một câu hỏi có tính cách hỏi
lại người quyền lực như thế, trong một tuần sau ông ta đồng ý cho tôi mượn
tiền và cười xòa nói với tôi rằng:
- Đúng là Thầy có lý.
Và cái có lý ấy cũng đã được bảo
đảm qua 5 năm rồi chưa bao giờ trả gián đoạn một tháng nào của ngân hàng
cả. Đúng là Phật Pháp nhiệm mầu.
Nợ của ông Mehmel hãng thầu có
đạo đức, còn khoảng 1 triệu tư nữa. Nếu mỗi năm trả 200.000 Đức Mã thì
chừng 7 năm nữa là xong. Nợ Phật Tử còn độ 150.000 Đức mã nữa và nợ các
Chùa cũng chừng 150.000 Đức Mã nữa. Vị chi là 1 triệu 7 nhất định và linh
động giữa 700.000 Đức Mã đến 1 triệu 2 của ngân hàng do tiền lãi suất mà
thành. Vậy chúng ta có thể tính chung là còn nợ 2 triệu rưỡi nữa. Nếu
trong 9 năm nữa, mỗi năm sự đóng góp của Phật Tử không thay đổi mà có đà
tăng như năm 1996 thì thời gian có thể ngắn hơn lại như dự định.
Thỉnh thoảng tôi làm một số
thống kê cho quý Phật Tử rõ. Nhiều vị không am tường thì nghĩ là Chùa bây
giờ khỏe rồi, nên hơi lơ là. Kính mong quý vị tiếp tục hỗ trợ cho. Nếu
không có sự đóng góp đều đặn của quý vị hằng tháng và trong các lễ lộc,
chắc rằng tôi cũng phải bó tay thôi. Cứ mỗi 3 năm Chùa phải tường trình sổ
tài chánh cho Bộ Tài Chánh một lần để được tiếp tục hoạt động với tư cách
là một Hội Từ Thiện bất vụ lợi và mỗi năm phải tường trình cho Bộ Nội Vụ
Liên Bang về những hoạt động Phật sự của Chùa, nên đây có lẽ cũng là một
cơ hội để điểm sách cho quý vị tường tri và chính quý vị cũng sẽ biết được
rằng sự đóng góp của mình tạo được lợi ích cho nhiều người, ngoài cái
phước đức vô hình khó thấy mà mình có được.
Viết đến đây tôi xin cảm ơn tất
cả quý Phật Tử xa gần đây đó đã hỗ trợ cho tôi để thành đạt ngôi Chùa Viên
Giác như ngày hôm nay, với một giá trị vật chất độ 9 triệu Đức Mã; tương
đương với 5 triệu rưỡi đô-la Mỹ. Nhưng đây không phải là cứu cánh của cuộc
sống, mới chỉ là phương tiện để đi vào cửa đạo mà thôi. Đồng tiền là mồ
hôi nước mắt; nhưng chúng ta chỉ nghĩ nó là phương tiện của cuộc sống, chứ
không phải là cứu cánh của cuộc đời. Chúng ta hãy khéo léo dùng tiền để
phục vụ mọi lợi ích cho cuộc đời; cho đạo pháp và không nên để tiền chi
phối mình ở mọi lãnh vực, quả là điều mình còn yếu kém trước thế lực của
vô minh.
Người tu sống trong Chùa không phải với mục đích lợi dưỡng cho cá nhân
mình, nên mỗi một sự đóng góp của quý Phật Tử phải được xử dụng cho đúng
nghĩa, thì đó là điều quan trọng hàng đầu, mới đúng với tinh thần giới
luật của Đức Phật đã chế vậy.
Năm nầy Chùa Viên Giác đã mua
được một chiếc xe 9 chỗ ngồi để mỗi lần đi xa, chở được nhiều người hơn.
Đây cũng là mấy chục ngàn cái bánh xanh của quý Cô, quý Bác công quả tại
Chùa mà có được. Có người bắt bánh đã phồng tay, hấp bánh không kịp bán,
chiên giò cháo quảy chưa chín đã có người mua v.v... tất cả là những kỷ
niệm rất đẹp đã ghi vào lòng dạ tôi, mà chắc rằng mai đây, ở cõi nầy hay
nơi nào xa xăm khác, ở tương lai cũng như ở một kiếp kế tiếp nào đó, khi
ngoái trông nhìn những Phật sự mình đã làm với con tim, khối óc và chỉ một
tấm lòng thành mà có được, thì xin chắp tay lên thật cao và nhìn thật sâu
vào không gian vô tận ấy để cảm tạ thâm ân của tất cả mọi tấm lòng, đã vì
con đường giác ngộ, giải thoát của riêng tôi và của chính quý vị mà đã
cộng tác hỗ trợ trong suốt một đoạn đường dài của quá trình sinh tử vậy.
Tôi xin chắp tay nơi đây để
nguyện cầu cho quý vị được gội nhuần ân đức trong ánh sáng từ quang của
chư Phật.
Viết xong vào lúc 14 giờ ngày 23 tháng 9 năm 1996
trên chuyến bay SQ025 từ Frankfurt hướng
về Singapore để đi tiếp đến Úc.
( Số 95 (Tháng 10.1996)
Công đức của việc xuất gia
Viết
về người xuất gia và công đức của việc xuất gia đã được chư Tổ, chư Tăng,
các bậc thân giáo sư đã viết ra rất nhiều sách vở và ngay cả Đức Phật,
chính Ngài là người đã chế ra giới luật để giúp đỡ cho chư Tăng có cơ hội
hành trì, mà đi vào con đường giải thoát nầy.
Hôm nay tôi viết lại về đề tài
nầy tưởng cũng không thừa. Vì có nhiều người muốn biết về đời sống của
người xuất gia như thế nào? Họ làm gì ở trong chùa? Họ có được tự do hay
gò bó? Sự tu và học của họ ra sao? Sự ăn, ngủ và sự hành trì về giáo pháp
của Như Lai như thế nào? Nên cảm thấy cần phải viết để cho những người
đang và sẽ đi vào con đường nầy đỡ bỡ ngỡ.
Việc xuất gia không phải chỉ có
bây giờ, mà ngay từ thời Đức Phật và trước đó nữa đã có. Chính những vị
đạo sĩ Bà La Môn đã hướng dẫn Đạo sĩ Cồ Đàm đi vào con đường buông xả ấy.
Trong tất cả những hình ảnh về cuộc đời của Đức Phật, có một hình làm cho
tôi cảm động nhất và thấy hữu lý nhất đó là hình ảnh uy nghi của Đức Phật,
với một thái độ rất dửng dưng, bước đi khoan thai, trong khi đó, một người
Công chúa đẹp tuyệt trần, với dung nhan mỹ miều, với vòng vàng xuyến nhẫn
đeo khắp thân mình nằm mọp phía sau Ngài và có lúc tôi đã tự cho chua vào
bức hình nầy cả tiếng Việt lẫn tiếng Đức – có nghĩa là: xả bỏ tất cả để
được tất cả. "Alles
verlassen, um alles zu haben".
Cuộc đời của Đức Phật, Ngài đã có tất cả; nhưng Ngài đã bỏ tất cả. Khi
không còn gì tất cả, trong ý nghĩa không vướng bận nợ thê nhi triền phược,
nợ áo cơm của cuộc sống, chính lúc ấy là lúc giải thoát của chính mình. Sự
giải thoát có nghĩa là sự cởi trói mọi sự ràng buộc, mà sự ràng buộc ấy
chính mình đã tự buộc ràng trong vô lượng kiếp; kể từ đây, cuộc sống của
người xuất gia là cuộc sống trong một phương trời cao rộng.
Gần đây tại chùa Viên Giác có
mấy chú mới xuất gia, mà mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau. Có chú thì
được cha mẹ cho xuất gia hẳn hòi, có chú thì phải tranh đấu nhiều lắm với
gia đình mới được toại nguyện. Có chú thì gia đình vẫn cho, nhưng cũng vừa
không cho. Tôi nêu ra ba trường hợp tiêu biểu như vậy thôi, nhưng trên
thực tế thì có nhiều trường hợp khác nhau nữa.
Trường hợp thứ nhất là trường
hợp rất hy hữu. Nghĩa là cha mẹ bằng lòng cho con xuất gia và người con
cũng có ý xuất gia tu học. Đây quả là một nhân duyên thù thắng, vì giữa
cha mẹ và con cái đã có duyên lành với Phật pháp từ nhiều đời nhiều kiếp
rồi. Nên kiếp nầy mới dám sẵn sàng cắt đứt núm ruột của mình để hiến dâng
con mình cho đời và cho đạo. Trong trường hợp nầy gọi là thuận duyên.
Nhưng cũng có lúc cha mẹ thích cho con đi tu học, nhưng người con không có
ý xuất trần làm thượng sĩ thì cũng đành hẹn kiếp lai sinh vậy thôi.
Trường hợp thứ hai khó khăn hơn
nhiều. Nghĩa là chính quý chú có tâm cầu đạo, xuất gia tu học, nhưng gia
đình khăng khăng từ chối. Việc này cũng không dễ chút nào, nhưng phải đòi
hỏi ở người có tâm tu học, có một ý chí thật kiên cường mới có thể chinh
phục được gia đình. Việc chinh phục nầy có thể thực hiện bằng nhiều cách
khác nhau, như ăn chay nhiều ngày hơn thường lệ tại gia đình, để chứng tỏ
cho cha mẹ và anh chị em thấy rằng mình đã quyết. Nếu làm vậy mà thấy cũng
chưa có kết quả thì hãy đi chùa nhiều hơn ngoài giờ đi học ở trường để tạo
thêm tăng thượng duyên trong sự xuất gia của mình. Phải thực hiện việc nầy
liên tục trong nhiều năm tháng mới có thể chinh phục gia đình được. Mà đây
cũng chính là thời gian để thử thách mình có còn đủ can đảm để bảo vệ ý
muốn của mình nữa không?
Cha mẹ hoặc anh chị em có thể
nêu ra rất nhiều lý do để làm sao cho mình nản chí và nản lòng; nhưng hãy
nhìn kỹ lại cuộc đời của Đức Phật, Ngài cũng đã làm đủ mọi bổn phận, nhưng
nào có được vua cha chiều ý theo. Nên cuối cùng Ngài phải vượt thành tìm
đạo là vậy. Trong lịch sử Phật Giáo thế giới như Ấn Độ, Trung Hoa, Tích
Lan, Thái Lan, Việt Nam, Nhật Bản thuở xa xưa, Đại Hàn, Đài Loan v.v...
không thiếu những hình ảnh nầy. Mà phải nói rằng đại đa số chư vị xuất gia
tiền bối, đương nhiệm hoặc hậu lai cũng đều nằm trong trường hợp nầy cả.
Nếu con đường giải thoát giác
ngộ là độc lộ trường thiên với khách lữ hành cô độc trong phương trời cao
rộng ấy, thì đó chính là nẻo về thênh thang của ý thức, của sự tu học sau
nầy. Một chút gắn bó tình cảm cá nhân, gia đình và xã hội mà mình không
vứt bỏ được thì làm sao vứt bỏ được tham, sân, si, nghiệp chướng của mình
để đi vào cõi tĩnh lặng của tâm linh?
Trường hợp thứ ba cũng thường
hay xảy ra nơi thiền môn lắm. Có nghĩa là người có tâm muốn xuất gia khi
thì tinh tấn dũng mãnh nhưng cũng có lúc bị chùn tâm xuống, có lẽ vì nhiều
lý do khác nhau trong khi chuẩn bị tư tưởng cho một cuộc sống xuất gia
trọn vẹn. Có thể bị thử thách của gia đình làm mình khó khăn chọn lựa giữa
Đạo và Đời. Nhưng cũng có thể khi vào chùa thấy nhiều cảnh trái ý nghịch
lòng trong khi chuẩn bị phát tâm xuất gia, nên lại thối chí. Loại người
nầy là loại người tương đối thôi. Không phải là người có nghị lực mạnh.
Tuy nhiên, nếu được hướng dẫn trong một môi trường tốt đẹp thì bồ đề tâm -
tâm giác ngộ, tâm hiểu mình và hiểu người sẽ được phát triển thuận chiều,
nhưng cũng dễ bị nghịch cảnh làm chán nản, dễ buông xuôi khi có vấn đề gì
khó khăn trong cuộc sống xuất gia của mình.
Tôi nêu lên ba trường hợp đó là
ba trường hợp có thật tại chùa Viên Giác, nơi tôi đang trụ trì và hướng
dẫn tăng chúng tu học, mà cũng có nghĩa là ở rất nhiều chùa trên thế giới
nầy cũng xảy ra tương tự như vậy đó. Dưới mắt tôi, trong ba trường hợp ấy
đều đáng được độ hết. Vì sao? Vì chính họ là những người đã tự nguyện phát
tâm sống cuộc đời tỉnh thức, làm lợi cho mình và cho cả tha nhân. Nếu ở
tại gia cũng chỉ có thể làm lợi cho vài người trong gia đình; nhưng nhiều
khi lại gây ra nhiều oan khiên nghiệp chướng nữa là đằng khác. Yêu thương
đâu không thấy, mà chỉ thấy hận thù. Lợi lạc đâu không có, mà chỉ thấy bị
sống chung chịu đựng cái phiền muộn với nhau. Quả là địa ngục, nhưng nào
ai có lối thoát thân, để cứu mình và cứu tha nhân nữa?
Người xuất gia có cái sơ tâm lúc
ban đầu rất vững, vì vậy trong thời gian tu học hãy tự trở về lại với mình
trong lời nguyện ban đầu để được an ủi nhiều hơn. Lời nguyện ban đầu là
lời thệ nguyện thoát ly gia đình để xuất ly sanh tử, thì không vì bất cứ
một lý do nào đó trong cuộc sống tu hành mà mình phải trở lại với sự triền
phược của thế gian chăng?
Có nhiều người sẽ nghĩ rằng nếu
ai cũng đi tu thì thế gian nầy có còn ai đâu mà nối dòng, nối giống. Lo
như vậy cũng hơi xa, vì trồng cây cau, cây quít, cây táo vào mỗi thời khác
nhau thì hoa quả, trái chín sẽ cho ta khác mùa và khác thời điểm, chứ làm
sao có cùng trong một lúc được. Nếu có được như vậy thì cũng tốt chứ có
sao đâu? Vì thế giới Ta Bà nầy sẽ thành Tịnh Độ.
Sau khi đã quyết định kỹ càng
thì vào chùa xin Thầy, xin Cô để mình được xuất gia tu học. Có nhiều người
vẫn bị Thầy, Cô từ chối không nhận cho xuất gia bởi nhiều lý do khác nhau.
Nhưng điều ấy phải hiểu vì nhân duyên để khỏi bận lòng. Vì có duyên sẽ
thành thầy trò, đệ tử. Nếu thiếu duyên thì đành phải đi tìm nơi khác để
thực hiện chí nguyện của mình vậy.
Sau một thời gian thử thách dài
ngắn tùy theo mỗi người tại nhà và tại chùa, Thầy Bổn Sư sẽ cho giới tử ấy
xuất gia chính thức. Ngày xuất gia là ngày rất quan trọng, đánh dấu một
bước rẽ ý nghĩa trong cuộc đời. Nếu người con trai, con gái ở đời, ngày
lấy vợ, lấy chồng là ngày quan trọng, thì đối với người xuất gia càng quan
trọng hơn như thế nữa. Vì một bên là tự nguyện ký giấy tờ để chịu đựng sự
khổ đau với nhau bên cạnh những hạnh phúc rất nhỏ nhoi, mong manh dễ vỡ;
còn một bên là bước ra khỏi sự ràng buộc tầm thường của cuộc sống và hướng
về một phương trời tự tại giải thoát hơn. Có nhiều người thân sẽ khóc cho
người xuất gia khi mái tóc xanh đã đoạn lìa thân thể, nhưng chính kẻ xuất
gia sẽ mãn nguyện, mỉm cười. Vì ít ra chính mình đã chiến thắng được mình
trên hành trình thiên lý ấy. Đó là tâm trạng chung của những người tự chọn
con đường thoát ly ấy.
Ngày xưa khi xuống tóc hay bây
giờ khi tôi làm lễ xuống tóc cho các chú và các cô tại chùa, có hai bài kệ
rất hay, đọc lên nguyên văn bằng chữ Hán rất cảm động. Đầu tiên là bài như
vầy:
Thiện tại thiện nam nữ
Năng liễu thế vô thường
Khí tục thú Nê Hoàn
Công đức nan tư nghì.
Nếu dịch ra tiếng Việt, có thể
dịch từ chữ như sau:
Lành thay kẻ thiện nam
Hãy biết đời vô thường
Bỏ tục vui Niết Bàn
Công đức khó nghĩ lường.
Tuy nghĩa rất thoát đó, nhưng
đọc lên âm điệu vẫn không hùng tráng như chữ Hán, khi chư Tăng hộ giới
trong ngày xuất gia cử giọng tụng lên bài nầy.
Bài kệ nầy ý nói: vì biết được
bản chất của cuộc đời là vô thường nên mới xin xuất gia học đạo, khi đã
được vào cửa giải thoát, có nghĩa là bỏ hết lại những niềm vui tạm bợ của
thế gian. Cái gì của trần thế hãy trả về cho trần thế. Ơn nghĩa của mẹ cha
xin gởi lại mẹ cha, để một mình mình thong dong trong cuộc sống tự tại ấy.
Bản chất của cuộc đời là vô thường, ai cũng hiểu điều đó, nhưng chấp nhận
nó và tự cởi trói nó, rất ít người đủ khả năng và tự lực để làm được việc
nầy. Thật sự ra việc làm nầy không khó mà cũng không dễ. Nếu khó quá thì
đã không có người đi tới đích, nếu nói dễ quá thì mọi người đã thực hiện
hết rồi. Ăn thua nơi mình có hạ thủ công phu để chiến thắng mọi khổ đau,
phiền não, tục lụy hay không. Đó mới là điều đáng nói.
Bài thứ hai có vẻ hùng tráng
hơn. Khi tụng lên bài nầy người được xuất gia và kẻ dự phần xuất gia, cảm
nhận như quả đất cũng chấn động. Bài kệ ấy như sau:
Hủy mình thủ chí tiết
Cát ái từ sở thân
Xuất gia hoằng thánh đạo
Thệ độ nhứt thế nhân.
Dịch sát nghĩa từng chữ bài nầy
được hiểu như sau:
Bỏ hình giữ ý chí
Cắt ái xa người thân
Xuất gia hưng việc Thánh
Thệ độ hết mọi người.
Đọc câu văn tiếng Việt tôi cảm
thấy vẫn không ưng ý chút nào. Dầu cho bài kệ ấy đã dịch thoát chữ và
thoát nghĩa như vậy.
Tại sao người xuất gia phải hủy
hình? Hủy hình không có nghĩa là giết mình hay làm cho thân thể của mình
tiều tụy đi trong khi tu hành. Mà hủy hình có nghĩa là lâu nay sống với
phấn son giả tạo, với quyền thế tạm bợ của thế gian, với sự ăn mặc trau
chải bề ngoài nhưng không để ý về nội tâm. Giờ đây đã được xuất gia phải
luôn luôn giữ ý chí của mình. Ý chí ấy là ý chí gì? Đó là ý chí xuất trần
thượng sĩ. Thượng sĩ được hiểu ở đây là kẻ làm lợi cho cả mình lẫn cho
người khác, gọi là Thượng sĩ. Người mà chỉ làm lợi cho mình, không làm lợi
cho người gọi là Hạ sĩ. Người chỉ ưa làm lợi cho người, không làm lợi cho
mình gọi là Trung sĩ. Ở đây Thượng, Trung, Hạ được chia ra làm ba bậc như
thế để đánh dấu bước đường tu.
Ở đời có hai dây mà cứ ràng buộc
mãi, khó thoát được. Đó là dây ái và dây ân. Có người cắt đứt được dây ái
thì dây ân còn ràng buộc. Ngược lại có người cắt được dây ân thì dây ái tự
cột chặt vào. Hai dây tuy vô hình nhưng rất khó dứt, mà chính nó buộc mọi
người vào nhau để hành hạ con người cho khổ sở trên suốt đoạn đường sanh
tử luân hồi nầy vậy. Có người chấp nhận nó một cách tự nhiên, thì nó sẽ
làm nhiệm vụ quấn chặt. Có người muốn cởi trói, nó lại quấn siết vào cho
sự khổ đau và tục lụy lại chồng chất lên nhau. Cha mẹ là những người sinh
ra ta nên rất khó từ giã. Vì chúng ta là người Á Châu, không đợi đủ 18
tuổi để được trưởng thành, rồi ra ở riêng như nhiều người Âu Mỹ vẫn làm,
mà cha mẹ đối với người Á Đông là nơi nương tựa của con cái, lúc còn thơ
cũng như lúc trưởng thành. Những người đi tu phải tự cắt bỏ hai dây nầy.
Vì muốn trở thành độ sanh, trong đó có cả cha mẹ mình, thì phải hy sinh
những gì nhỏ bé mà mình đang có. Đó là cách đứng đắn nhất để được chấp
nhận cái cao rộng hơn.
Kẻ xuất gia là người tuyên dương
việc thánh. Đó là những gì? Là những chân lý của sự khổ, nguyên nhân của
sự khổ, tìm cách diệt bỏ sự khổ đau và con đường đi đến cảnh giới giải
thoát. Đây cũng là bài pháp đầu tiên của Đức Phật sau khi thành đạo đã nói
lần đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như nghe tại thành Ba La Nại, bên
cạnh sông Hằng. Con đường Thánh là con đường giải thoát, mà trong bài kệ
tụng trong lễ xuất gia của Đức Phật có mấy câu tôi rất tương đắc như sau:
Nơi đánh dấu bước đường lên
Thánh
Dừng vó câu thả gánh tang
bồng
Gởi lời về tâu trước bệ rồng
Cầu vương phụ dũ lòng trông
đợi
Rừng khổ hạnh lần dò bước
tới...
Đây là những câu kệ rất Việt
Nam, vị nào dịch từ bài nào cũng không đề xuất xứ và tên người dịch. Nhưng
khi tụng lên, nghe và thấy rất thâm trầm, đúng với ý nghĩa của việc xuất
gia của Đức Phật.
Sau khi đã giác ngộ rồi, người
xuất gia có bổn phận phải thực hành con đường Bồ Tát, có nghĩa là phải
sống một cuộc sống lợi tha, chứ không phải chỉ sống cho mình, hoặc an ổn
nơi núi rừng, vui sâu với Thiền Định. Hay ở vào trong Niết Bàn đại định,
mà không tìm cách độ sanh.
Đó là ý nghĩa cao cả nhất và
cũng là công đức thù thắng nhất trong việc xuất gia vậy. Ai làm được,
người ấy sẽ thong dong tự tại cả một cuộc đời. Nếu ai không đi được trọn
vẹn, giống như một người gánh một gánh nặng trên vai, không có khả năng
gánh đi tiếp tục nữa. Hãy để gánh xuống, quay về trách nhiệm thế tục cũ
ngày xưa, cũng không ai chê cười gì cả. Vì mình không có khả năng đi tiếp
nữa, thì không có ai có quyền và nhân danh bất cứ một vấn đề gì để bắt một
người không có khả năng để làm một công việc ngoài sức của họ, trừ phi họ
phải tự nguyện gánh vác mới đi hết con đường khó khăn ấy được.
Trong thời gian qua có nhiều cô
và nhiều chú đến xuất gia với tôi, ít nhất cũng trên dưới 20 người rồi.
Sau hơn 10 năm, còn lại độ 16 người, cả Tăng lẫn Ni. Với tôi, ngoài những
điều kiện phát tâm xuất gia là điều căn bản nhất để đi vào cửa Đạo, tôi
còn đòi hỏi những người xuất gia phải có một trình độ thế học tương đối
vững vàng, ít nhất là Tú Tài 2 trở lên đối với giới trẻ. Còn những vị Ưu
Bà Di từ 60 tuổi trở đi hay ngay cả Ưu Bà Tắc với tuổi đó, tôi không đòi
hỏi một điều gì thêm nữa, ngoại trừ chí nguyện xuất gia và sức khỏe mà
thôi.
Có nhiều Thầy không đồng ý về
vấn đề nầy, nhưng tôi nghĩ khác. Vì chính mình đã được đi tu và được đi
học để trở thành như hôm nay, thì không vì một lý do nào đó, dẫu cho lý do
ấy ẩn tàng dưới bất cứ một hình thức nào, cũng không đứng vững được, để
không cho quý chú tiếp tục đến trường để học về ngôn ngữ, tôn giáo, giáo
dục, triết học v.v... Tôi rất đồng ý là bằng cấp Cử Nhân, Cao Học, Tiến Sĩ
không làm nên con người Tăng Sĩ, nhưng nếu Tăng Sĩ mà có thêm chương trình
thế học ấy thì vẫn hơn là không có gì trong tay. Ví dụ một cú điện thoại
hay một thư gởi tới cho vị trụ trì bằng tiếng Anh, Đức, Pháp, Nhật, Hoa
v.v... mà vị Tăng sĩ hay vị trụ trì ấy không đọc được, để phải đi nhờ
người này kẻ nọ. Quả là mất thì giờ vô ích. Riêng trường hợp nầy thì không
thể dùng trí tuệ của sự tu mà soi sáng rõ chữ nghĩa được, mà phải dùng sự
học mới chiến thắng được cái lười biếng học hành của mình. Bằng cấp không
mang đến sự giải thoát. Điều ấy đúng. Nhưng sống trong cuộc đời tương đối
nầy, phải lấy cái tương đối để đối đãi với nhau trước khi đi đến cái tuyệt
đối của vô ngã, vô học, vô sở đắc v.v... Phật, chư Tổ ngày xưa không có
mấy người có bằng cấp, nhưng ta không phải là Phật, là Tổ, và thời đại của
Đức Phật khác, thời đại của chúng ta khác, đâu có giống nhau để mà so
sánh. So sánh một chiều dài hàng tỷ năm ánh sáng, với chiều dài của một
cây kim, sợi chỉ, quả là điều đáng trách vô cùng. Bằng cấp với người tu,
nó chỉ là phương tiện thôi, chứ không phải là cứu cánh. Cũng như thế ấy,
tiền bạc đối với người tu không phải là mục đích sau cùng của cuộc sống,
mà nó chỉ là một phương tiện để trao đổi với con người như bao phương tiện
khác thôi. Nếu nói bằng cấp cũng không cần đến, chẳng khác nào tụ tập một
đám người dốt trong chùa, để kẻ bàng quang thiên hạ bên ngoài nhìn vào,
lại có lời thị phi nhơn nghĩa, đúng là bọn họ đó! Không có công ăn việc
làm, không bằng cấp, bị đời bạc đãi nên mới tìm vào chùa để nương náu,
kiếm sống qua ngày, nương nhờ vào hạt cơm của đàn na thí chủ. Không! Trăm
lần không và vạn lần không, vì cuộc sống của người Tăng sĩ ở trong chùa
không phải là một cuộc sống lợi dưỡng, mà là một cuộc sống lúc nào cũng
phải tự giác, chiến thắng với chính mình trong mỗi sát na và mỗi công
việc.
Suốt ngày không thể chỉ ngồi để
ăn cơm trong một hai tiếng đồng hồ mới xong bữa cơm, dẫu cho là một cuộc
sống của Tăng sĩ đi nữa, phải chia sẻ khó khăn với đồng loại, phải cần có
nhiều thì giờ để tỉnh thức trong mọi công việc, chứ không phải ngồi đó để
nhơi cơm, trong khi mọi người phải đầu tắt mặt tối, lo cho cái ăn cái mặc,
cái dư thừa để cúng dâng vào chùa, cho mình có nhiều thì giờ để nhởn nhơ
trong cuộc sống. Chắc hẳn và hẳn nhiên cuộc sống của người xuất gia phải
khác như thế, mới theo kịp đà tiến hóa của nhân loại ngày nay.
Học đạo vẫn là điều quan trọng,
nên chư Tổ ngày xưa đã chế ra cho người xuất gia trước phải học luật, sau
mới học kinh, luận và hai thời công phu chiều sáng hằng ngày cũng là những
phương pháp thực hành sự tập trung tư tưởng vào một sự việc nào đó nhứt
định. Như khi đi, mình biết mình đang đi. Khi ngồi, mình biết mình ngồi.
Khi ngủ, mình biết mình ngủ, khi làm việc biết mình có ý thức trong sự làm
việc. Đó là những việc làm căn bản của một người tu tại chùa. Các chú các
cô học luật Tỳ Ni, tức là những bài kệ có tính cách cảnh tỉnh trong khi
đi, đứng, nằm, ngồi, lễ bái, thực tập thiền tọa v.v... rất bổ ích cho
người mới vào Đạo. Đây là con đường chuyển hóa thân tâm của hành giả mới
vào cửa chùa rất diệu dụng.
Hai mươi bốn oai nghi của bộ
luật sẽ giúp cho các chú các cô về cách hầu Thầy, nói chuyện với khách,
khi ở trong phòng, lúc ra đi, khi đến chùa khác, khi tắm rửa, giặt giũ
v.v... mỗi động tác đều nhắc nhở người xuất gia phải ý niệm về việc làm
của mình. Rồi mười giới của Sa Di là những bờ mé căn bản để ngăn chận lòng
mình phải tập sống xa lìa những cám dỗ thường tình của nhân thế. Trong khi
đó năm giới căn bản khi còn là Cư sĩ và thêm năm giới phạm hạnh của một
người xuất gia nữa. Ngoài ra còn phải học quyển Cảnh Sách của Tổ Qui Sơn
là một quyển luật rất hay để nhắc nhở người tu lúc nào cũng phải tự cảnh
tỉnh mình về ơn cha mẹ, Thầy, Tổ, ơn đàn na thí chủ v.v... Tất cả những ơn
nghĩa đó ta chưa đền đáp được, thì không vì bất cứ một lý do nào đó mà
chểnh mảng sự tu hành. Ai đọc đến văn Cảnh Sách nầy của Ngài Qui Sơn cũng
phải ứa nước mắt, cũng giống như đọc văn bài "Phát Bồ Đề Tâm" của Ngài
Thật Hiền vậy. Ngoài ra hai thời công phu sáng và chiều rất quan trọng.
Trước hoặc sau các thời khóa nầy có thể tọa thiền để huân tu chủng tử tối
thiện trong việc thực hiện tuệ giác siêu việt trong cuộc sống tu hành.
Công phu sáng tập chúng ta huân tu đại định, mà kinh Lăng Nghiêm, nếu
không chú tâm sẽ không bao giờ thuộc lòng được, mà không thuộc lòng thì
việc xuất gia, thọ giới cũng như giữ mình khó được vẹn toàn. Ngay cả Ngài
A Nan còn cần đến thần chú nầy, thì chúng ta thử hỏi dựa vào đâu để không
hành trì thời công phu sáng?
Công phu chiều các chú tiểu phải
hiện diện đầy đủ nơi chánh điện để thể hiện lòng từ bi đối với tha nhân,
cầu nguyện cho những chúng sanh đã thác hóa sớm siêu thoát về cảnh giới an
nhàn, không còn ở trong địa ngục lầm than, dầu cho đến địa ngục vô giám đi
chăng nữa, cũng sẽ được lợi lạc một phần nào. Trong thời kinh nầy sẽ tụng
Kinh Di Đà, Hồng Danh sám hối và Mông Sơn Thí Thực, có nhiều người chủ
trương Thiền, nên bỏ luôn Tịnh Độ bài bác Tịnh Độ không còn một lối đi;
nhưng những vị ấy đã lầm lớn, dầu cho họ là một Thiền sư hữu danh đi chăng
nữa. Ví dụ như thế nầy để được dễ hiểu. Một người dầu tốt nghiệp cao học,
tiến sĩ đi chăng nữa nhưng tự mình viết đơn để xin việc làm thì dễ bị từ
chối lắm. Có thể bằng nhiều lý do như thiếu kinh nghiệm , vì mới ra
trường, hay đó là người ngoại quốc, viết ngoại ngữ chưa thạo v.v... và
v.v... Nhưng nếu người sinh viên mới ra trường ấy mà được sự gởi gấm của
một ông giám đốc thì chắc chắn sẽ được nhận vào hãng làm ngay. Vậy thì tha
lực của ông giám đốc vẫn cần có, trong khi tự lực mình cũng phải cần. Vậy
thì đời mạt pháp nầy không thể không cần đến tha lực của Đức Phật A Di Đà
mà có thể thành tựu sự giải thoát được mà phải nhớ rằng ngay cả Ngài Văn
Thù Phổ Hiền cũng phải nguyện vãng sanh về Tịnh Độ, thì còn ta? Ta nên
nương vào đâu? Mười hai vị Tổ Thiền Tông của Trung Hoa đã hơn quá nửa đều
nói về Tịnh Độ. Còn Việt Nam chúng ta há không cần đến Tịnh Độ chăng? Hay
chỉ có thiền ngồi đó để đếm hơi thở và thực hành chánh niệm trong khi
người chết đang cần sự trợ niệm vãng sanh của những người tu?
Các chùa ở Việt Nam còn có thêm
thời kinh buổi tối, gọi là thời khóa Tịnh Độ hay tụng Di Đà, đôi khi tụng
Phổ Môn cũng rất hay. Vì đây là thì giờ mà các Cư sĩ bận công ăn việc làm
ban ngày không có thể tham gia các thời khóa nầy tại tư gia hay tại chùa
được. Cũng có nhiều chùa cúng Ngọ nữa. Thời kinh nầy rất ngắn. các chú
Tiểu chỉ tụng trong ngày 10 đến 15 phút là xong. Ngày nay ra hải ngoại
nhiều chùa chỉ còn tụng thời kinh chiều và sáng. Còn hai thời kia bị giảm
đi. Tuy nhiên cũng có nhiều chùa vẫn còn giữ đúng quy củ của Thiền Môn,
mỗi ngày 4 đến 6 thời và công phu Thiền Tọa; nên cũng có thể gọi là Thiền
Tịnh song tu nữa.
Khi tôi còn ở Việt Nam, từ năm
1968 đến năm 1971, ở tại chùa Hưng Long ở Sàigòn, có Hòa Thượng Thích Pháp
Ý trụ trì chùa nầy đã ngoài 70 tuổi, mà mỗi ngày không bao giờ thiếu hai
thời tụng kinh cả. Tối và sáng là hai thời căn bản của Ngài. Tăng chúng
Ngài cũng bắt buộc thế. Nếu đi công phu chiều thì khỏi đi tối, hoặc ngược
lại. Nhưng thời công phu sáng thì không được bỏ. Dẫu cho đó là lý do quan
trọng gì đi chăng nữa. Thuở ấy trong những Tăng sinh chúng tôi có người
thi tú tài và học tại các Phật Học Viện, bận rộn vô cùng, xin phép Ngài
được nghỉ một thời kinh để có thì giờ lo bài vở đi thi. Ngài tán thành.
Nhưng nghỉ thời chiều hoặc tối. Còn thời kinh buổi sáng bắt buộc phải đi.
Tôi cũng nằm trong trường hợp đó nên mãi đến bây giờ mấy mươi năm ở ngoại
quốc rồi, lúc nào thời kinh sáng và thiền tọa nơi chánh điện vẫn không thể
thiếu được. Đó là một thói quen cần phải hành trì.
Khi còn ở chùa Hưng Long, Hòa
Thượng Pháp Ý đặt ra một cái luật cũng như Tổ Bách Trượng ngày xưa đã đặt
ra là, nếu chỉ tụng kinh một thời trong ngày thì chỉ được quyền ăn một lần
cơm vào buổi trưa hoặc buổi tối. Nếu tụng hai lần thì được dùng cả hai
buổi. Nếu không tụng lần nào thì không được dùng gì cả, còn bữa sáng tại
chùa thì không kể, có người ăn, có kẻ phải đi học sớm, nếu tối hôm trước
còn cơm nguội thì tự chiên lại để dùng, không ai nói gì cả. Đây cũng là
một cái lệ rất hay của chùa Hưng Long, mà nay thì Hòa Thượng đã tịch rồi,
không biết có còn giữ lại được như thế chăng? Và Tăng chúng sống lâu ngày
nếu không có một quy củ như thế thì đâm sanh ra lười biếng và cái sơ tâm
xuất gia lần lần bị lãng quên đi để đắm vào những lợi danh của trần thế,
quả thật uổng phí vô cùng. Có người nhờ tiếng tụng kinh hay, nên chỉ rèn
luyện cho sõi để chỉ đi cúng đám, có người chuyên ngồi đàn chẩn tế để được
nầy nọ, thì đó cũng là những hình ảnh mà làm cho người xuất gia bị giãi
đãi hơn lúc ban đầu.
Tụng kinh, niệm Phật, ngồi Thiền
mỗi ngày hai buổi mới chỉ là trả nợ áo cơm cho đàn na thí chủ, chứ chưa
mang một ý nghĩa độ sanh nào cả, mà còn lười như thế thì làm sao để Bồ Đề
Tâm được phát triển và con đường giải thoát vốn đang đi nhưng vẫn còn xa
vời vợi. Vì vậy trong bài tựa của kinh Pháp Hoa mỗi lần chúng ta tụng đọc,
đều được nhắc nhở rằng: mặc dầu con đang ở trong cảnh thanh tịnh nhưng vẫn
thấy không an vui, sống trong cảnh giới giải thoát mà vẫn còn bị ràng
buộc... Đó chẳng qua là tại tâm mình chưa vững, phát tâm chưa đúng cách,
nên dễ bị sanh tâm nhàm chán như vậy.
Các chú, các cô tại chùa sống
phải theo phép lục hòa để đối xử hàng ngày với nhau thì mới khỏi gây phiền
toái cho nhau. Vì lẽ cha mẹ, anh chị em có tình thương, gắn bó của gia
đình mà vẫn luôn bị kình chống, giận hờn nhau, thì thử hỏi một đoàn thể
Tăng Già không quen biết nhau từ trước vào sống chung trong một Chùa, một
Tu viện, một Tổ đình, một Phật Học Viện v.v... nếu không có giới luật và
phép lục hòa thì không thể nào sống chung được.
Khi sống trong chùa, với sơ tâm
xuất gia rất mạnh lúc ban đầu, có thể chiến thắng mọi thử thách như buồn
ngủ, vì thức khuya dậy sớm, ăn chay mau đói, Thầy bạn hay rầy rà v.v...
nhưng lần lần nếu Bồ Đề Tâm không phát triển mà cứ để cho các phiền não và
danh lợi, thế quyền chen lẫn vào, quả là điều đáng tiếc. Đó là chưa kể đến
những chuyện tình lẩm cẩm được núp dưới bóng thiền môn ở nhiều hình thức
khác nhau như Thầy thương riêng bổn đạo, đệ tử hay ngược lại đệ tử đi quấy
nhiễu Thầy. Viết đến đây nhớ lại thời còn đi học tại trường Bồ Đề ở Hội An
thời 64-67, trong lứa tuổi hoa niên của nam nữ, các chú, các cô tại chùa
trong tỉnh, ngoài việc học tại chùa, còn đi học thêm chương trình thế học
ở ngoài đời, điều nầy ắt hẳn cũng đúng với tinh thần ngũ minh của Phật
Giáo, có nghĩa là người tu phải thông làu nội điển (nội minh), ngoại điển
(ngoại minh), ngôn ngữ (thanh minh), y học (y phương minh), và nghề nghiệp
(công xảo minh). Thiết nghĩ ngày xưa chư Tổ cũng không lầm để phải chế ra
phương pháp nầy cho người tu hành trì vậy.
Thuở ấy mấy cô con gái 15, 16
tuổi thấy mấy chú học giỏi nên chọc ghẹo, trêu đùa trong cái tình cảm học
trò, của đầu tóc mới lú đuôi tôm, kể cũng vui vui, nhưng cũng có nhiều học
sinh hiểu đạo nên mới khuyên quý cô rằng: Tụi bây đừng có bậy bạ. Nếu mầy
không khuyên được một người đi tu để dứt nợ hồng trần được, thì cũng đừng
nên kéo một người đang đi trên con đường thoát tục để về với trần thế. Tội
lắm tụi bây ơi! Lời khuyên tuy đơn giản nhưng hàm chứa ý nghĩa rất sâu
sắc, chỉ có những người hiểu đạo mới có thể nói được những câu ấy. Khi lớn
lên rồi và khi đi làm việc đạo, tôi vẫn nhớ lại những kỷ niệm ngày xưa,
khi thời còn Trung Học, cảm thấy vui vui.
Trong luật Phật dạy khi người
Tăng sĩ gặp một người nữ bình thường hay một Ni cô gặp một nam Cư sĩ thì
phải có ý niệm như vầy mới giữ tròn được ý chí của người xuất gia. Nếu họ
hơn mình nhiều tuổi, xem họ như cha hoặc mẹ của mình. Nếu họ hơn mình vài
tuổi xem họ như anh hay chị ruột của mình. Nếu họ thua mình vài tuổi hãy
xem như em ruột của mình. Nếu họ bằng tuổi mình, hãy xem như anh em ruột
song sinh hay bạn bè chí thiết thì những việc không lành ắt phải lánh xa.
Ngoài ra trong luật dạy rất kỹ, không tiện viết ra đây cho mọi người đọc,
vì nó chỉ có giá trị cho những người đã thế phác xuất gia mà thôi.
Có nhiều người nữ tín đồ vì cảm
cái hiền từ, học giỏi của các chú, các Thầy mà nói năng những lời ong
bướm, hoặc dụ dỗ ra đời để được cái nầy, cái nọ. Nhiều người tu vì không
tự làm chủ được mình nên đã nghe theo ra đời, nhưng khi ra đời rồi, cái
hiền từ ấy có được trong chùa, cái học giỏi ấy và tiếng tụng kinh hay ấy,
không làm nên được cơm gạo cho đời để nuôi vợ con, nên 100 người ra đời
đều khổ cả 100, chỉ trừ vài người có khả năng, hoặc bằng cấp đã học được
trong chùa, nhưng so ra với người bình thường khác vẫn không sánh vai kịp.
Dĩ nhiên bỏ tu như thế không phải là một tội lỗi, như đã trình bày bên
trên, nhưng rất uổng phí cho lời nguyện lúc ban đầu là phải giải thoát cho
chính mình và ngay cả tha nhân. Trong những trường hợp tâm bị chùn xuống
như thế phải cần nương vào năng lượng tha lực của chúng Tăng, Thầy Tổ rất
nhiều, để tâm không bị giao động, mà phải bị nổi trôi theo dòng đời sinh
tử. Đức Phật cũng đã có lòng từ mở rộng cửa chùa cho cả người nam lẫn
người nữ khi đã ra đời có quyền tái xuất gia lại để tiếp tục con đường
Thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân. Điều ấy có nghĩa là làm
hưng thịnh hạt giống Thánh. Đó là sự giác ngộ giải thoát và lại tiếp tục
con đường tự chiến thắng mình từ bên trong lẫn bên ngoài. Vì thế Đức Phật
mới dạy rằng: Chiến thắng muôn quân không bằng tự thắng mình, tự thắng
mình mới là chiến công oanh liệt nhất.
Thầy Bổn Sư phải nên
thân cận, gần gũi hỏi han và bộc bạch những khó khăn của mình về sự tu,
học, tài chánh, tình cảm, thương, ghét, giận, hờn v.v... vì Thầy đã thay
thế cho cha mẹ, mà còn hơn thế nữa, vì cả hai phương diện từ vật chất đến
tinh thần, người đều lo cho trọn vẹn, thì không thể không sám hối trước
Thầy hoặc các vị Hòa Thượng, A Xà Lê để được hướng dẫn kỹ càng. Vì chính
cuộc đời của các Ngài cũng đã phải trải qua những cuộc chiến đấu cam go
như vậy. Các Ngài đã có kinh nghiệm và cũng sẽ không trách đệ tử của mình
tại sao mà gặp khó khăn như vậy. Nếu tất cả những lời khuyên đều không có
kết quả, thì lúc ấy được quyền hiểu rằng: Tất cả đều do nghiệp lực và
chính đương sự ấy không có khả năng hoán đổi được nghiệp lực của mình. Đây
là một sự mất mát to lớn lắm, chắc gì trong đời nầy hay cuộc sống kế tiếp
có được tái diễn lại để được làm thân của một bậc Đại Trượng phu chăng?
Ta có tình thương, ta có tâm cứu
khổ, ta có khung trời tự do cao rộng thênh thang rộng mở để đi vào cửa ngõ
của cảnh giới Niết Bàn thì hãy trân quý nó, giữ gìn nó, đừng cho nó bị
băng hoại theo thời gian năm tháng trong sự phát tâm lúc ban đầu.
Người Tăng sĩ phải chọn cho mình
một hướng đi đích thực, mà Thầy ta, bạn ta chính là những tha lực rất cần
thiết trong cuộc sống tu hành của mình. Nếu thiếu những tha lực nầy là một
sự thiếu thốn rất to lớn trong cuộc đời tu hành. Nếu ở chùa mà thiếu sự
thông cảm của Thầy, của bạn, thì sự ở chùa ấy tuy đang sống, nhưng lòng
mình đã chết. Vì mình không tự làm chủ được mình, không khác nào như chú
tiểu Lan ngày nào cũng âm thầm chôn xác bướm của Điệp. Liệu như thế lại có
lợi ích gì?
Người Phật Tử đi chùa họ mong
mỏi những gì nơi chư Phật, nơi giáo pháp và nơi chư Tăng? Ngược lại chư
Tăng sẽ cho cái gì cho người Phật Tử tại gia? Đây là những vấn đề chính mà
chúng ta cần phải nghiêm túc đề cập đến.
Người Phật Tử sống có gia đình
phải lo săn sóc và chăm nom để gia đình cũng như xã hội được phát triển
theo nhu cầu của xã hội. Người Phật Tử mang phần vật chất có được nơi khả
năng của mình tự làm ra ấy vào chùa để cúng dường lên chư Tăng, mong chư
Tăng nạp thọ, để có nhiều thì giờ lo tu hành, không phải vướng bận với
công ăn việc làm, mà tất cả thì giờ dành cho việc tu học giải thoát. Người
Phật Tử khi làm như vậy, sẽ được một cái quả hữu lậu ở đời nầy hay đời sau
sẽ được giàu có an vui sung sướng. Ngoài ra khi trong gia đình hữu sự,
Phật Tử thường hay đến chùa cầu nguyện để cho tâm của họ được an và cầu
vào tha lực của chư Phật cũng như chư Tăng, để từ đó họ an tâm trong cuộc
sống của một người tại gia.
Dĩ nhiên cũng có rất nhiều vị Cư
sĩ tham cứu kinh điển một cách sâu sắc và cũng dành rất nhiều thì giờ để
thiền tọa và tụng kinh tại tư gia hay tại chùa; nhưng mục đích của họ
không phải là độ sanh, mà lo tự độ.
Như vậy người xuất gia sẽ cho
lại người Cư sĩ được những gì? Điều đầu tiên người xuất gia có thể cho
người tại gia một sự an lạc nơi nội tâm, mà sự an lạc nầy dầu tốn hết bao
nhiêu tiền vẫn không có thể mua ở bất cứ nơi chợ đời của thế gian được. Nó
chỉ có nơi những tâm hồn của những kẻ đã biết gạn lọc và tu tỉnh thân tâm.
Tiêu biểu là những người xuất gia vậy. Người xuất gia mang hoài bão giải
thoát và giác ngộ, nhưng trước khi đi vào sự giải thoát, người xuất gia
phải tự mình gạn lọc thân tâm để được an lạc trong cuộc sống thế trần nầy.
Mỗi người, mỗi chúng sanh chúng ta khi sinh ra trong đời nầy đều mang theo
một nghiệp lực khác nhau và phước đức của mỗi người cũng khác nhau nữa. Có
người thì thong dong tự tại trong cuộc sống, mà cũng có lắm người khổ đau
tục lụy vẫn còn vây bủa chung quanh mình. Dẫu cho đó là người xuất gia đi
chăng nữa, nhưng chính họ phải chọn một lối đi và lối đi ấy phải hợp với
khả năng của mình, nhưng không phải ngoài tự độ và độ tha. Sự tự độ, trước
tiên phải mang sự an lạc đến cho chính mình, cũng tương tự như tập lái xe
hay lái thuyền vậy. Sau khi đã thuần thục tay lái, lúc ấy mới có thể chở
mọi người cùng đi chung một chiếc thuyền được. Nếu người thủy thủ vững tay
chèo thì mọi người mới an tâm. Nếu chưa vững tay lái mà đã lo chuyên chở
cho bao nhiêu người thì người ngồi trên con thuyền ấy chẳng an tâm chút
nào. Dầu cho con thuyền đó mang tên là con thuyền giải thoát đi chăng nữa.
Sự an tâm trong từng bước đi,
trong từng lời nói, nụ cười, khi tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, trì chú
sẽ là một sức gia trì rất vững chãi và là một trọng lực của chánh định khi
đối diện với mọi biến đổi của đời. Đây là một chiếc phao, một cán cân để
quân bình cuộc sống tâm linh của người Tăng sĩ và cũng là một chỗ dựa vững
chắc cho hàng Cư sĩ tại gia vậy.
Ở trong chùa, người xuất gia có
cơ hội thực tập sự an lạc và sẽ cho người Cư sĩ sự an lạc của mình để họ
an tâm hơn khi vào cửa đạo vậy. Sự an lạc là một nguồn suối vô biên để dẫn
tới tình thương yêu vô tận của loài người cũng như vạn vật. Nếu người Tăng
sĩ không có từ và bi tâm thì sẽ không độ thoát được muôn loài. Dưới con
mắt hành động và vị tha và phải có lợi cho tha nhân đồng loại, đó mới là
cuộc sống chân thật của người Tăng sĩ vậy. Từ và Bi, Hỷ và Xả là bốn đức
tính vị tha, cho vui cứu khổ và tạo sự an lạc cho mọi người, tất cả những
hành trang nầy, người xuất gia phải trang bị cho thật đầy đủ thì phương
tiện độ sanh, đi vào cuộc đời mới mang một ý nghĩa thực tiễn được.
Khi người xuất gia tu tập có
nghĩa là người xuất gia huân tu giới đức và giới đức nầy sẽ là một hành
trang vi diệu để trang sức cho nội tâm của người xuất gia cũng như sẽ san
sẻ cho mọi người ánh sáng trí tuệ ấy. Cái đức là một nhân vô lậu, không
dứt mất như cái phước bên nhân hữu lậu, nên có thể truyền đạt mãi cho nhau
trên phương diện vật chất cũng như tinh thần cho mọi người để cùng chung
cộng hưởng. Cái đức là một sự cảm nhận vô hình; nhưng tâm ta sẽ tiếp thu
nó như một luồng điện, một luồng ánh sáng, một sự tồn tại của không khí
trong hư không. Tuy vô hình, nhưng thiếu những sự hiện hữu nầy thì con
người và vạn vật sẽ không tồn tại được. Có những loại vật chất ta có thể
sờ mó được, để tin rằng chúng có hình tướng và từ hình tướng đó, nó sẽ bồi
bổ cho thân thể ta để được trưởng thành; nhưng cũng có những món ăn tinh
thần như vừa kể, không sờ mó được; nhưng nếu thiếu nó, con người như cây
cỏ của nội ngàn...
Tóm lại người xuất gia sẽ sống
hài hòa trong cuộc sống của thế trần, giữa chơn đế và tục đế, giữa giải
thoát và khổ đau. Giữa tục lụy và thanh cao, giữa con người và vạn hữu để
trao truyền cho các thế hệ từ đời nầy đến đời khác, từ nơi nầy đến chốn
khác trong phạm vi của mỗi con người, dầu tại gia hay xuất gia cũng cần
phải thể hiện qua trong cuộc sống của mình.
Xuất gia là một việc khó làm,
nhưng không phải là điều không làm được.Vì đã có biết bao nhiêu vị Tổ sư,
bao nhiêu Thánh Tăng, phàm Tăng đã trải qua con đường tu học giải thoát
ấy. Vậy nên, chúng ta có thể hiểu rằng ai cũng có thể bắt đầu đi vào con
đường ấy cả; nhưng tùy theo mỗi người về sức khỏe, khả năng, điều kiện,
thời gian v.v... Nếu biết hướng thượng thì ánh sáng chân lý sẽ rộng mở cho
mọi người và mọi loài. Nếu không muốn đi và không muốn đến, thì con đường
giác ngộ vẫn còn xa và do đó người xuất gia sẽ không làm được trọn vẹn ý
nghĩa cho việc độ mình cũng như độ người.
Ngồi trên máy bay, với trời xanh
mây biếc, ý nghĩ chập chùng lúc ẩn lúc hiện nơi nội tâm của mình, như
đang đi vào một thế giới của chư Thiên chứ không phải của người trần thế.
Xin ghi vội vài dòng để gởi về mặt đất và mong rằng với ý nghĩa an lạc, từ
bi sẽ làm lợi lạc cho mọi loài và mọi người trong cuộc sống của người xuất
gia đang mang hạt giống giác ngộ và giải thoát ấy đi gieo rắc khắp nơi
trên mọi nẻo luân hồi.
Viết xong vào lúc 14 giờ chiều ngày 1 tháng 11 năm 1996,
trên chuyến bay AF346 từ
Paris đến Montréal, Canada
( Số 96 (Tháng 12.1996)