XÃ HỘI HỌC PHẬT
GIÁO
Buddhist
Sociology
Tác giả:
Nandasena Ratnapala
Người dịch: Trí
Quảng
CHỮ VIẾT TẮT
(ABBREVIATIONS)
A = Anguttara Nikaya: Tăng Chi
AA. = Comy on Anguttara Nikaya: Chú Giải Tăng Chi
Ap. = Apadana
BD = the Books of the Discipline
BHT – The Buddha and His Teachings: Đức Phật và Phật Pháp
BuA. = Buddhavamsa Commentary: Chú Giải Phật Sử
Comy. = Commenary: Chú Giải
CMA = A Comprehensive Manual of Abhidhamma: Cẩm Nang Vi Diệu Pháp
CV. – Culavamsa: Tiểu Sử
D. = Digha Nikaya: Trường Bộ
DA. = Comy on Digha Nikaya, Sumangalavilasini: Chú Giải Trường Bộ
DB. = Dialogues of the Buddha: Trường Bộ
DhA. = Dhammapada atthakatha: Chú Giải Pháp Cú
Dhp. = Dhammapada: Pháp Cú
Dpv. = Dipacamsa: Đảo Sử
GS = The Book of the Gradual Sayings: Tăng Chi
J. = Jataka: Bổn Sanh
KS. = Kindred Sayings: Tương Ưng
M. = Majjhima Nikaya: Trung Bộ
MA. = Comy on Majjhima Nikaya: Chú giải Trung Bộ
Mbv. = Mahabodhivamsa: Đại Giác Sử
Mhv. = Mahavamsa: Đại Sử
Mil. = Milindapanda: Mi Tiên Vấn Đáp
MLS. = Middle Length Sayings: Trung Bộ
Mtu. = MahAvastu
PED. = Pali-English Dictionary: Từ Điển Pali-Anh
PTS. = Pali Text Society: Hội Văn Liệu Pali
S. = Samyutta Nikaya: Tương Ưng
SBB. = Sacred Books of the Buddhism: Thánh Điển Phật Giáo
SHE. = Sacred Books of the East: Thánh Điển Phương Đông
SHB. = The Simon Hewavitarne Bequest Series: Di Cảo Simon Hewavitarne
Sn. = Suttanipata: Kinh Tập
SnA. = Suttanipata Atthakatha: Chú Giải Kinh Tập
Sp. = Samanta Pasadika, Comy. To Vinaya Pitaka: Chú Giải Luật Tạng
Thag. = Theragatha: Trưởng Lão Tăng Kệ
Thig. = Therigatha: Trưởng Lão Ni Kệ
Ud. = Udana: Cảm Thán
Vin.: Vinaya Pitaka: Luật Tạng
Vism. = Visuddhimagga: Thanh Tịnh Đạo
Vv. = Vimanavatthu: Thiên Cung sự
LỜI GIỚI THIỆU
Suốt
45 năm đi qua các nẻo đường của vùng Bắc Ấn Độ, với đôi chân trần, “ba
y,
một bát”, Đức Phật tế độ cho nhiều người vượt qua trầm luân khổ hải để
đến bờ bến an vui. Nhờ giáo pháp của Ngài, những người hữu duyên đã
tìm ra chân lý tối thượng, giải thoát, Niết-bàn. Dầu vậy, ngài đã nói
một cách rất giản dị về công hạnh thuyết pháp độ sanh của mình:
“Này
các tỳ kheo, từ trước tới nay, ta chỉ nói về khổ và sự diệt khổ”.
Quả
thật, toàn bộ giáo pháp không ra ngoài bốn sự thật (Tứ Diệu Đế); nếu
tóm gọn hơn nữa, chỉ là khổ và sự diệt khổ. Những sự thật cao quý này
đã được Đức Phật vận dụng để dạy cho đủ các hạng người trong xã hội,
từ các bậc vua chúa cho đến hạng cùng đinh, từ các đạo sĩ bà-la-môn,
sa-môn đến các nàng kỹ nữ, từ những người thông hiểu Vệ Đà đến những
kẻ thất học. Đương nhiên ngài phải dùng ngôn ngữ khác nhau, những ví
dụ minh họa khác nhau, và phương pháp giảng dạy khác nhau để mỗi hạng
người có thể hấp thụ giáo lý một cách hữu hiệu nhất. Và như vậy, vô
hình trung, kinh điển ghi lại những buổi thuyết pháp của ngài đã trở
thành một kho tàng vô tận, để mỗi người có thể đào bới và tìm ra những
thứ mình ưa thích.
Ngày
nay trong thời đại văn minh khoa học, một triết học gia có thể tìm
thấy trong Đạo Phật một hệ thống triết lý hoàn chỉnh, một nhà tâm học
lại thấy trong Đạo Phật cả một tòa kiến thức về tâm, ý, thức, trong
khi một nhà xã hội học có thể phăng ra các đường lối kinh tế, chính
trị, xã hội vốn tìm ẩn trong Tam Tạng Kinh Điển. Đã có nhiều tác phẩm
nghiên cứu về Triết Học Phật Giáo (như Buddhist Thought in India của
Edward Conze, Causality: The Central Philosophy of Buddhism của
Kalupahana, Buddhist Logic của Stcherbatsky, The Central Philosophy of
Buddhism của T.R.V. Murti, Buddhist Philosophy in India and Ceylon cùa
A.B. Keith, v.v..) và Tâm Lý Học Phật Giáo (như Buddhist Psychology –
A Modern Perspective của Edwina Pio, The Psychology and Philosophy of
Buddhism của W. F. Jayasuriya, An Introduction to Buddhist Psychology
và Buddhist and Freudian Psychology của Padmasiri de Sylva, The
Dynamic Psychology of Early Buddhism của Rune E. A. Johansson v.v..);
nhưng trong lãnh vực Xã Hội Học, cho đến nay có lẽ cuốn Buddhism
Sociology của Nandasena Ratnapala mà bản dịch độc giả đang cầm trên
tay là tác phẩm đầu tiên và duy nhất nghiên cứu một cách nghiêm túc,
tường tận các khuynh hướng xã hội của Phật Giáo, dựa trên Tam Tạng
Pali. Tác giả hiện là giáo sư Khoa Xã Hội Học và Nhân Chủng Học tại
trường Đại Học Sri Jayewardenepura, Sri Lanka. Trong tác phẩm này,
ông đã đề cập đến những vấn đề rầt gần gũi trong đời sống như quan hệ
gia đính, quan hệ xã hội, các đẳng cấp, vai trò của người phụ nữ, tội
ác, sự trừng phạt v.v… Ông đã dùng kiến thức chuyên môn của xã hội
học để đi vào kinh điển Phật Giáo, tìm ra phái độ và phương cách ứng
xử của Đức Phật và tăng đoàn với các vấn đề của xã hội. Ấn Độ thời
bấy giờ, và bằng những minh họa cụ thể, ông đã hình thành được một hệ
thống mà ông gọi là “Xã Hội Học Phật Giáo”. Người đọc có thể tán
thành hay phản đối những ý kiến của tác giả, nhưng một điều đáng ghi
nhận là thiện chí của ông khi nghiên cứu và hình thành tác phẩm.
Trong lời nói đầu của cuốn sách, ông nói rằng có một số nhà xã hội học
đã quan tâm đến các tư tưởng Phật Giáo, nhưng phần lớn họ đều xử dụng
các bản dịch để nghiên cứu nên dẫn đến việc giải thích sai và thậm chí
xuyên tạc các tư tưởng Phật Giáo. Là một nhà khoa học, ông đã chịu
khó học tiếng Pali để nghiên cứu Phật Giáo bằng ngôn ngữ gốc với hy
vọng là sẽ tránh được sai lầm mà những người khác đã mắc phải. Thiển
nghĩ đó là một việc làm đáng cho chúng ta tán thán.
Cũng
xin được giới thiệu đôi điều về dịch giả. Đại Đức Trí Quảng là một
tăng sinh trẻ du học tại Ấn Độ. Sư đang thực hiện Luận án Tiến sĩ
Khoa Triết tại Đại Học Nalanda, nơi trước đây các vị tiền bối như H.T.
Minh Châu, H.T. Kim Triệu, H.T. Pháp Nhẫn v.v…đã từng theo học. Sư
không dể dàng chấp nhận những học thuyết, tín điều, mà luôn suy tư,
trăn trở và đặc nghi vấn cho cả những điều từ lâu đã được mọi người
mặc nhận. Không chì trong viết lách, sang tác, Sư cũng đã làm việc
với tinh thần trách nhiệm khá cao ngay cả trong dịch thuật. Có thể
thấy điều này qua cách hành văn, cách chọn từ ngữ, cách chú thích, và
nhất là qua 41 trang giới thiệu về tác phẩm nói riêng và xã hội hoc
nói chung. Mặc dù đây không phải là chuyên môn của Sư, nhưng Sư đã
chịu khó nghiên cứu, khảo sát để giúp cho người đọc còn xa lạ với xã
hội học có được một số khái niệm cơ bản về ngành học còn mới mẻ này.
Thái độ làm việc tận tụy đó cho thấy một tấm lòng vị tha, vị Đạo, mong
muốn chia sẻ với mọi người những điều tốt đẹp. Tuy có vài điểm không
hoàn toàn đồng ý với Sư trong bản dịch,
cũng xin tôn trọng văn phong của dịch giả và trân trọng giới thiệu đến
qúy bạn đọc dịch phẩm đầu tay của Đại Đức Trí Quảng, một công trình ấp
ủ qua cái nóng kinh người và cái rét buốt da trên đất nước Ấn Độ.
Đại Học Delhi
Tháng 8 – 2003
Liễu Pháp
LỜI NGƯỜI DỊCH
Nguyên tác tiếng Anh của bản dịch trên tay bạn có nhan đề Buddhist
Sociology được Indian Books Centre xếp vào bộ sưu tập sách Phật giáo
Ấn Độ (Bibliotheca Indo-Buddhica), xuất bản năm 1993. Tác giả
Nandasena Ratnapala, giáo sư ngành xã hội học và nhân chủng học tại
Sri Lanka, cho biết trong phần mở đầu tác phầm:
“…Đến nay, chưa ai thật sự nỗ lực nghiên cứu tư tưởng Phật giáo dưới
lăng kính xã hội học một cách nghiêm túc. Các nhà xã hội học từ thời
Max Weber đã làm cuộc ngoạn du cởi ngựa xem hoa tư tưởng Phật giáo.
Hầu hết trong số họ phân tích tư tưởng Phật giáo dựa vào những bản
dịch, kết quả nảy sinh sự nhận thức sai trái, trình bày lệch lạc. Để
thực hiện công tác này hữu hiệu, đòi hỏi chúng ta không chỉ am hiểu
phương pháp và lý thuyết xã hội học, còn phải lãnh hội chính văn bảo
lưu nguồn tài liệu căn bản”.
Không dừng ở suy nghĩ và phê bình thực trạng, tác giả bày tỏ thiện chí
bằng cách cố gắng vận dụng kiến thức chuyên môn khai thác tư tưởng
Phật giáo qua ngôn ngữ Pali nhằm xây dựng một hệ thống mà ông “xin mạo
muội đặt tên Buddhist Sociology – Xã Hội Học Phật Giáo”, với hy vọng
rằng mối quan tâm “sẽ truyền cảm những nhà xã hội học và nhân chủng
học khám phá lãnh vực tư tưỏng vẫn vẹn vẻ nguyên sơ, tìm ra những giá
trị tương thích với thế giới hiện đại…”.
Đối
với Phật giáo, khái niệm Buddhist Sociology – Xã Hội Học Phật Giáo
chưa bao giờ được định hình hoàn chỉnh. Dù có nhiều chuyên luận, tác
phẩm căn bản trên tư tưởng Phật giáo liên hệ các chủ đề giáo dục, phụ
nữ, hôn nhân gia đình, giai cấp xã hội, đạo đức xã hội. v.v., người ta
thường nhận thức mơ hồ rằng chủ đề này mang đăc tính xã hội nên gọi là
Phật Giáo và Xã Hội, hoặc Xã Hội Học Phật Giáo, thực tế, chúng chưa
được kết nối và hệ thống hoá thành một bộ phận kiến thức hay môn học
độc lập đúng nghĩa Buddhist Sociology – Xã Hội Học Phật Giáo, nói gì
đến việc triển khai khuynh hướng nghiên cứu xã hội học Phật giáo vĩ mô
(macro-buddhist sociology) và xã hội học Phật giáo vi mô
(micro-buddhist sociology). Nếu cần phải may vỏ ngôn ngữ Pali thành
một thuật ngữ chứa đựng khái niệm Xã Hội Học Phật Giáo, chúng ta có
thể thử dùng cụm từ Buddhasasana-samajikavikka (Buddhasasana +
samajika + vikka), bằng không, không ai tài giỏi tìm thấy thuật ngữ Xã
Hội Học Phật Giáo trong ba Tạng kinh điển; sách vở phương Đông trước
thế kỷ 19-20 không có thuật ngữ lẫn khái niệm Xã Hột Học, vì gốc thuật
ngữ Xã Hội Học và khái niệm là một sản phẩm văn hóa chính hiệu phương
Tây.
Lâu
như lịch sữ nhân loại tiến hóa, năm triệu năm đã qua hay xa hơn, mối
quan hệ và sự tương tác giữa các cá nhân giữ yếu tính quyết định tạo
nên xã hội loài người, bất luận mọi phân chia địa dư, màu da, ngôn
ngữ, phong hoá khác nhau, những yếu tố tính đó cũng là khái niệm cơ
bản chỉ hướng các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu xã hội và phàt
triển thành xã hội học. Trong khi Phật giáo do đức Gotama (Phật Thích
Ca) giảng dạy vào thế kỷ VI-V tr. thường lịch đã tỏa sáng khắp Châu Á,
phương Tây tiếp cận ‘Ánh Sáng Châu Á’ muộn màng như họ khám phá xã hội
học. HIển nhiên, Buddhist Sociology – Xã Hội Học Phật Giáo là một
trong những kết quả tất yếu phát sinh nhờ quan hệ giao lưu văn hóa
Đông Tây.
Khái
niệm Sociology – xã hội học chỉ ổn định vào thế kỷ 19, được hệ thống
hoàn chỉnh thành một môn học hay một bộ phận kiến thức tương đối gần
đây. Vào năm 1838, Auguste Comte (1798-1857), nhà toán học và triết
gia Pháp, đã nhào nặn ra thuật ngữ ‘sociology’ mô tả ra sự quan sát
của ông về những khám phá quy luật xã hội dựa trên phương pháp khảo
sát cứ liệu thực tế mà các ngành khoa học tự nhiên từng áp dựng thành
công. Người ta có thể truy nguyên khái niệm xã hội học bấc tư tưởng
xã hội trong Republic của Plato (428?-347 BC), và thuật ngữ xã
hội học mang vết tích thuật ngữ xã hội (sociology) từ những tác phẩm
của Thomas Hobbes (1588-1679) và John Locke (1632-1704), hai nhà lý
luận chính trị-triết gia Anh. Thomas Hobbes dùng thuật ngữ xã hội
trong ‘Leviathan’ viết ở gia đoạn nước Anh đang rơi vào cuộc
khủng hoảng toàn diện vì cuộc Cách mạnh Anh hay Cách mạng Thanh giáo
(Puritan Revolution) kéo dài từ 1640-1660. Đặc biệt, John Locke đã
nhấn mạnh thuật ngữ xã hội và xã hội dân sự (civil society) trong tác
phẩm ‘Treaties on Government’, qua đó, lý giài chủ quyền nhà
nước thuộc xã hội dân sự, vua hay giới cầm quyền do dân đề cử phải bỏ
thái độ tư lợi, vị kỷ khi lãnh trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người dân,
và phê phán lý luận Thomas Hobbes về bản chất nhà nước dưới quyền quân
vương tối thượng. Bất đồng quan điểm chính trị, nhưng ‘Essay
Concerning Human Understanding’ của John Locke - một tác phẩm nổi
tiếng đặt nền tảng xây dựng chủ nghĩa kinh nghiệm (experientialism),
cho rằng kiến thức tích luỹ nhờ kinh nghiệm - lại gặp gỡ Thomas Hobbes
trong việc chủ trương tách rời quốc vụ ra khỏi tôn giáo, không tin
thượng đế hay thần linh ưu việt.. Nối tiếp Francis Bacon (1561-1626)
ở Anh, René Descartes (1596-1650) ở Pháp, họ ủng hộ những nghiên cứu
mở khóa quy luật tự nhiên, đứng chung mặt trận giải phóng tư tưởng
khỏi quyền lực Công Giáo La Mã đang cố kết cùng các chính quyền phong
kiến Âu Châu kìm hãm các tiến bộ khoa học hậu kỳ Phục Hưng (The
Renaissance), thúc đẩy hứng khởi phong trào Ánh Sáng (The
Enlightenment) lan rộng với sự xuất hiện hang loạt những nhà khoa học
kiêm triét gia danh tiếng: Sir Isaac Newton (1642-1727) ở Anh,
Benedict Spinoza (1632-1677) ở Hà Lan, Montesquieu (1689-1755),
Voltaire (1694-1778, Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Denis Diderot
(1713-1784) ở Pháp, David Hume (1711-1776) ở Scotland, Gottfried
Wilhelm Leibniz (1646-1716), Christian von Wolff (1679-1754), Immanuel
Kant (1724-1804) ở Đức, Giambattista Vico (1668-1744), Cesare Bonesana
Beccaria (1738-94) ở Ý, Thomas Jefferson (1743-1826) ở Mỹ…Để yên quan
điểm triết học dị đồng giữa họ, điểm nổi bật đáng chú ý là giới trí
thức lên tiếng đấu tranh giành quyền tự do tư tưởng, chia sẽ quan điểm
tự do nghiên cứu, tìm kiếm phương pháp nhận thức theo khoa học, đề cao
nhân bản, cổ vũ mọi người ‘Hãy dám biết! Hãy tự tin sức mạnh lý trí
của chính mình!” (Sapere Aude! Have the courage to use your own
intelligence). Những đổi thay văn hoá, biến động chính trị, kinh tế
thời kỳ này tác động sâu sắc đến xã hội Âu Mỹ đã làm tiền đề thuận lợi
cho Auguste Comte và các nhà tư tưởng thế kỷ 19-20.
Lớn
lên trong cuộc cách mạng Pháp (1789-1799), Auguste Comte tích cực
hưởng ứng các trào lưu cách mạng khoa học, công nghiệp, chính trị, ông
quan tâm nhiều đến hình thái tổ chức chính trị, đạo đức tôn giáo, tái
lập trật tự xã hội. Nếu như Sir Isaac Newton quan sát các hiện tượng
tự nhiên kết hợp việc áp dụng chặt chẽ các pháp nghiên cứu, bao gồm
phương pháp suy diễn (deductive method), phân tích (analysis), thực
nghiệm (experimental), để thành lập thuyết cơ học nhiên thể (celestial
machines), giới thiệu luật hấp dẫn và chuyển đông (Laws og Gravitation
and Motion), một thành quả khoe học có tính kế thừa thuyết nhật tâm
(the Theory of the Heliocentric or Sun-Centerred) của Nicolaus
Copernicus (1473-1543) lẫn định luật Kepler hay luật hành tinh chuyển
động (Laws of Planetary Motion) của Johnannes Kepler (1571-1630), thì
Auguste Comte chủ trọng quan sát sự tiến bộ của những khoe học liên
ngành khác nhau dẫn đến sự khám phá luật tam cấp (Law of Three Stages)
chi phối tiến trình phát triển xã hội loài người. Trong tác phẩm
Course of Positive Philosophy (1830-1842), ông phân tích rằng xã
hội loài người trải qua ba cấp độ phản ảnh trong mỗi ngành khoa học
hay trí thức:
1.
Cấp độ thần học hay hư cấu (the theological or fictitious
state) quy thuận ý trời, thiên mệnh, tất cả tùy thuộc ước muốn thần
linh, Thượng Đế, đấng Sáng Tạo.v.v.
2.
Cấp độ siêu hình hay trừu tượng (the metaphysical or abstract
state) gắn liền các phạm trù triết học.
3.
Cấp độ mang tính khoa học hay xác thực (the scientific or
positive state) cần sự kiểm chứng nguyên do.
Quy
luật tam cấp chịu ảnh hưởng cách phân chia xã hội loài người trong
thuyết lịch sử tuần hoàn (cyclical theory of history) do Giambattista
Vico suy luận khi viết ‘Scienza Nuova’. Theo Giambattista
Vico, xã hội loài người trải qua ba gian đoạn từ tình trạng dã man đến
văn minh, rồi trở lại tình trạng dã mang: (1) Thời đại thần linh (the
Ages of Gods), giai đoạn khởi lên tôn giái, gia đình… (2) Thời đại
hiệp sĩ (the Ages of Heroes), giai đoạn tầng lớp quý tộc chiếm mọi ưu
thế, quyền lợi (3) Thời đại con người (the Ages of Men), giai đoạn dân
chúng đấu tranh và đạt bình đảng, dần dần xã hội loài người bắt đầu
phân rã, thoái hóa. Vico không để lý trí nô dịch tác quyền tôn giáo
nên trả lời độc lập về lịch sử xã hội loài người, nhận định dưới ngòi
bút sử gia và mang tính tiên liệu sự việc, nhưng những thuật ngữ ông
mắc vào từng gian đoạn chưa đủ sức chuyển tải nội dung ông muốn đề
cập. Dù vậy, khái niệm lịch sử tuần hoàn (cyclical history) giải
thích được tình trạng thịch suy của các nền văn minh trên thế giới,
riêng cách phân chia lịch sử xã hội loài người thành ba giai đoạn gợi
ý cho Auguste Comte rút ra quy luật tam cấp có tính khái quát cao,
đồng thời nhấn mạnh giải pháp giải quyết các vấn đề xã hội. Auguste
Comte tin rằng mỗi cấp độ đều tương quan với diễn biến chính trị được
phản ảnh qua các khái niệm như quyền thiên vương, thiên tử (the divine
right of kinh), hiệp ước xã hội (social contract), con người bình đẳng
(equality of persons).v.v., trên hết, sự tiếp cận xã hội học hay
phương pháp giải quyết mang tính khoa học (a scientific or
sociological approach) là chìa khóa giúp tổ chức chính trị xây dựng
một xã hội dân chủ bền vững. Ở điển này, Comte đồng hóa phương pháp
giải quyết các vấn đề xã hội với phương pháp mang tính khoa học, không
căn bản trên sự ức đoán (metaphysical speculation), mà phải căn cứ
trên tri thức xác chứng cứ liệu thực (positive anf factual knowledge),
sử dụng các phương pháp khoa học giải quyết vấn đề con người, cải tạo
điều kiện xã hội; những lý luận nhấn mạnh cấp độ khoa học hay xác thực
của ông trở thảnh nền tảng xây dựng chủ nghĩa thực chứng
(positivism). Cấp độ xác thực cũng được Comte lồng vào đạo đức tôn
giáo, xem phương pháp giải quyết các vấn đề cã hội hay phương pháp
manh tính khoa học là giá trị đạo đức tối cần mang lợi ích cho xã hội
loài người, tạo sự ổn định xã hội, đó là giá trị đạo đức của tôn giáo
thờ phụng con người. Phương pháp giải quyết mang tính khoa học có thể
áp dụng với mọi khiá cạch của xã hội khác nhau, bằng cách quan sát các
hiện tượng trong đời sống xã hội loài người và thành lập lỳ thuyết về
những gì đã được quan sát, sau đó, dùng phương pháp khoa học kiểm
chứng lý thuyết đến mức nhận thức xác thực vấn đề và kết luận không
còn gì bàn cãi them (indisputable conclusion). Phạm vi nghiên cứu xã
hội bao quát và liên hệ nhiều lãnh vực, do vậy, Comte đã đặc hệ thống
kiến thức xã hội học (science of sociology) lên vị trí hang đàu trong
các ngành khoa học, choàng phủ khoa học xã hội (social science), khoa
học nhân văn (human sciences or science of humanities), khoa học tự
nhiên (physical science). Về sau, khoảng hậu bán thế kỷ 19, nhà xã
hội học Pháp Mile Durkheim (1858-1917) tiếp thu những tư tưởng xã hội
học của Comte và nhiều người khác để giảng dạy tại đại học Bordeaux và
Paris.
Sống
cùng thời Comte, những triết gia tên tuổi như Claude Henri de Rouvroy
Clérel de Tocqueville (1805-1859) ở Pháp, Karl Max (1818-1883),
Friedrich Engles (1820-1895) ở Đức, John Stuart Mill (1806-1873),
Herbert Spencer (1820-1903) ở Anh v.v. đã tích cực đề xuất những học
thuyết xã hội. Saint-Simon trong tác phẩm Industrial System
cho rằng sự công nghiệp hóa (industrialization) sẽ cải thiện toàn bộ
xã hội, ngoại trừ nghèo đói lẫn nguy cơ chiến tranh với điều kiện là
tổ chức xã hội ohải chuyển giao cho giới khoa học và các kỹ thuật
viên. Đơn giản để hiểu tại sao trí thức Tây Âu ủng hộ thuyết
Saint-Simonism, vì nó hình thành trên cơ sở ông từng trực tiếp tham
gia cuộc cách mạng Mỹ và nhìn thấy những thành tựu công nghiệp vượt
bậc ở quốc gia non trẻ này dưới kỳ tổng thống Thomas Jefferson
(1743-1826), cũng là một nhà khoa học, triết gia lừng danh.
Saint-Simonism trở thành nền tảng xây dựng chủ nghĩa xã hội
(socialism) ảnh hưởng đến nhiều nhà tư tưởng Pháp thế hệ Comte, Émile
Durkheim, và các nhà tư tưởng Đức là Karl Max, Friedrich Engels, Max
Weber…
Có
thể quy học thuyết xã hội đề cao sự công nghiệp hóa vào thuyết đơn tử
(single-factor theory) - nhấn mạnh yếu tố duy nhất làm thay đổi trật
tự xã hội – như Karl Max, Friedrich Engels nhấn mạnh các mối quan hệ
kinh tết là yếu tố quyết định mọi chuyển biến xã hội, tuy nhiên, tư
tưởng xã hội của hai ông hướng chủ nghĩa xã hội sang ngã rẽ khác.
Bước ngoặc quan trọng là năm 1848, Max với sự cộng tác của Friedrich
Engels đã công bố The Communist Manifesto (Tuyên Ngôn Cộng
Sản), nội dung nhấn mạnh yếu tố kinh tế quyết định những hình thái xã
hội và quá trình tiến hóa của tất cả xã hội đang tồn tại qua đấu tranh
giai cấp, sự đấu tranh giữa kẻ bị áp ức; nó làm cơ sở cho ý thức hệ
của Đảng Xã Hội Bolshevik, tiền thân Đảng Cộng Sản, phát động phong
trào cách mạng do Lenin (1870-1924) lãnh đạo trước và sau thế chiến I,
trở thành dòng tư tưởng xã hội chính thống trong lĩnh vực học thuật,
nghiên cứu xã hội học tại Nga, các quốc gia Cộng Sản.
Trong khi đó, ở Anh, trìết gia Herbert Spencer (1820-1903) lần lược
công bố hai tác phẩm Social Statics (1850) và Principles of
Psychology (1855) để xuất thuyết tiến hóa xã hội dựa trên quy luật
sinh tồn hay ‘khôn nhờ dại chịu’ (the survival of the fittest), ông
giải thích xã hội loài người phát triển dần dần từ hình thái thấp đến
cao hơn, những hình thái thích nghi được trong môi trường cụ thể nhất
định sẽ chiếm ưu thế và tồn tại lâu dài. Quá trình tiến hóa cã hội
không tách rời tính cạnh tranh sinh tồi giữa các nhóm xã hội, chính sự
cạnh tranh đánh lùi những yếu kém xã hội, làm giảm thiểu nghèo đói,
thúc đẩy kinh tế thịnh vượng và sự tư do cá nhân. Thoạt đầu, quan
điểm xã hội của Herbert Spencer phản ánh sự quan sát và tư biện về
lịch sử loài người; cho đến năm 1858, dòng tư tưởng này liên kết với
thuyết tiến hóa bên ngành sinh vật, khi nhà tự nhiên học Charles
Robert Darwin (1809-1882) xuất bản công trình nghiên cứu sinh vật
on the Origin pf Species (hay the Preservation of Favored Races
in the Struggle for Life). Trong lúc tập trung phân tích nguồn
gốc thực vật và động vật, Darwin hiện minh rằng hình thái sinh vật đa
dạng đang tồn tại là kết qủa của các tế bào, sắc tố cạnh tranh sinh
tồn, chúng lay tạo hoặc loại trừ lẫn nhau một cách tự nhiên, đồng thởi
hợp thể những tế bào, sắc tố khả năng thích nghi với điều kiện sống đử
sức nhân giống thành số đông. Tương tợ, loài người cũng cùng điểm
xuất phàt như những loài động vật cấp thấp, gần nhất, bước tiến thành
người hiện đại mang ấm tích vượn người, một kết luận gây ra nhiều
tranh luận. Ông xem sự chuyển hoá trong thế giới hữu cơ là một hoá
trình sàng lọc tự nhiên (natural selection), không do Đấng Sáng Tạo,
không cần nhân tạo, và công khai tiếp nhận nguyên lý ‘khôn nhờ dại
chịu’ của Herbert Spencer như một thành ngữ diễn đạt tương đối chuẩn
thuyết thiên nhiên sàng lọc (theory of natural selection) kèm theo quy
ước nhân cách hóa tính năng cạnh tranh giữa các loài vô tri giác. Cả
hai càng tỏ ra tương đắc tư tưởng khi Darwin đem thuyết thiên nhiên
sàng lọc hay khôn nhờ dại chịu vào tác phẩm The Decent of Man
(1871) truy nguyên nguồn gốc loài người, giải thích sự tiến hóa xã hội
giống như sự tiến hóa sinh vật, còn Herbert Spencer viết Principles
of Biology (1864-1867), The Man versus the State (1884),
ủng hộ những khám phá Darwin và tiếp tục củng cố thuyết tiến hóa xã
hội qua các tác phẩm A System of Synthetic Philosophy (1860),
Principles of Sociology (1867-1896)… Sự kết hợp thuyết tiến
hóa xã hội và thuyết tiến hóa sinh vật thường được biết dưới tên
Darwin, như học thuyết Darwin hoặc thuyết xã hội của Darwon (Social
Darwinism), do tầm vóc quốc tế của công trình nghiên cứu sinh vật liên
quan nguồn gốc và sự tiến hóa xã hội loài người toàn cầu.
Hầu
hết học thuyết xã hội thếkỷ 19 chủ yếu xoay quanh kịch sử đấu tranh
làm thay đổi trật tự xã hội, hoặc đặt nặng luật cứ sinh vật học, hoặc
kết hợp cả hai. Dầu nhiều nhà tư tưởng xã hội thời kỳ này không tự
nhận mình là nhà xã hội học, những học thuyết và tác phẩm của học góm
phần xây dựng nên bộ môn xã hội học. Người có công khai sinh xã hội
học như một bộ môn chính thức trong học đường là giáo sư Émile
Durkheim. Ông tách xã hội học ra khỏi tâm lý học xã hội, mạnh dạn
thành lập trường phái xã hội học khẩn định hiện thực xã hội – bao gồm
các quan hệ tập thể, các cơ quan xã hội - tồn tại độc lập có thể tác
động tâm lý và hành vi cá nhân. Tư tưởng xã hội của Émile Durkheim
được lý giải rõ trong The Rules of Sociological Method (1895).
Để chứng minh việc nắm bắt cứ liệu thực tế thuyết phục hơn lối nhận
định trừu tượng, ông tiến hành điều tra hang ngàn trường hợp tự tử,
thống kê tỷ lệ tự tử tăng giảm tại các xã hội cụ thể đèu phải xuất từ
các vấn đề xã hội, thái độ tập thể liên hệ tâm lý khủng hoảng của nạn
nhân. Phương pháp lập bảng thống kê cho các lãnh vực cụ thể trong xã
hội hiện thực nhằm tieu chuẩn hoá những điều tra xã hội vẫn được
chuộng dụng phổ biến đến ngày nay.
Những nhả tư tưởng xã hội trong thế kỷ 20 tiếp tục phát triển chiều
kích nghiên cuứ xã hội học. Ở Đức, các nhà xã hội học phần nào chịu
ảnh hưởng tư tưởng xã hội kiểu mẫu Anh và Pháp như thuyết đơn tử nhấn
mạnh công nghiệp hóa của Saint-Simon, thuyết tiến hóa của Auguste
Comte, Herbert Spencer, Darwin, nhưng xã hội học chỉ thật sự được giới
thiệu trong học đường xứ này vào thập niên đầu thế kỷ 20 sau khi bổ
sung quan điểm xã hội của Georg Simmel (1858-1918), Max Weber
(1864-1920)…, những nhà xã hội học người Đức nổi tiếng thế hệ sau Karl
Max, Friedrich Engels. Giáo sư Georg Simmel có đóng góp quan trọng
vào xã hội học nhờ công trình nghiên cứu kinh nghiệm con người trong
quá trình hội nhập xã hội. Còn Max Weber đề nghị những lý thuyết xã
hội học nên mang tính thái quát (generalizations). Ông sang tạo
phương pháp nghiên cứu khái quát bằng cắch tập hợp tất cả điểm đặc
trưng của nhóm người đại diện đôi tượng nghiên cứu, rồi tạo thành một
mô hình lý tưởng tiêu biểu cho toàn bộ đối tượng khá tương đồng mà nhà
sã hội học do không gian trở ngại và thời gian làm việc giới hạn không
thể thu nhập hết dữ liệu, từ đó rút ra sác xuất chung đáng tin cậy.
Hệ
thống kiến thúc xã hộihọc luôn khai mở vì hiện thực xã hội loài ngừng
vận động làm nảy sinh hoặc lòi ra nhiều vấn đề kích não các xã hội
học, do đó, khuynh hướng nghiên cứu, giảng dạy xã hội học tại mỗi quốc
gia tùy thuật tư tưởng xã hội mà nó chịu ảnh hưởng. Chẳng hạn, xã hội
học ở Mỹ buổi đầu tập trung nghiên cứu chuyên sâu các hiện tượng xã
hội như hôn nhân gia đình, tội phạm, di cư - nhập cư…, sự tiếp cẩn xã
hội học châu Âu dần dần giúp các nhà tư tưởng xã hội Mỹ mở rộng quan
điểm và phương pháp nghiên cứu xã hội. Triết gia George Herbert Mead
(1863-1931), giáo sư có thẩm quyền về tâm lý học và xã hội học tại đại
học Chicago, đã hấp thụ thuyết tiến hóa, những lý thuyết liên quan
kinh nghiệm xã hội và hành vi xã hội từng được các nhà tư tưởng Âu
châu bàn đến, ông kết hợp chúng với kiến thức tâm lý học để nghiên cứu
sự tương tác biểu tri (symbolic interactionism), giữa các hành vi cá
nhân, tập thể trong quan hệ xã hội. Bằng phương pháp quan sát và mô
tả, George Herbert Mead lý giải rằng tự thân (the self) và tâm trí
(mind, intelligence) phát sinh tự nhiên trong cùng quá trình hoạt động
xã hội. Tự thân của sinh vật khởi lên ý thức cái tôi (the
self-conscious) khi có quan hệ tương tác với hoàn cảnh nào đó, như
trong tình huống giao tiếp với sinmh vật khác, khi đó, những biểu tri
(symbols) gồm điệu bộ, cử chỉ thân thể, ngôn ngữ âm giọng xảy ra chẳng
khác máy móc hoạt động vì hợp đủ điều kiện. Ông xem tâm trí là một
sản phẩm xã hội do mỗi cá thể sinmh vật tạo ra nhầm làm công cụ giải
quyết vấn đề. Quan điểm và khuynh hướng nghiên cứu xã hội của George
Herbert Mead trình bày trong những bài báo, nguyên cảo và những bài
giảng dạy cho sinh viên được sưu tập in thành các tác phẩm The
Philosophy of the Present (1932), Mind, Self, and Society from
the Standpoint of a Social Behaviorist (1934), The Philosophy
of the Act (1938), sau khi ông qua đời.
Một
nhà xã hội học nỗi tiếng khác là Talcott Parsons (1902-1979), giáo sư
xã hội học tại đại học Harvard. Năm 1927, Talcott Parsons xuất bản
The Structure of Social Action giới thiệu những tư tưởng xã hội
châu Âu vào học đường Mỹ, đồng thời, đề xuất thuyết cơ cấu xã hội (the
mechanism of society) và những nguyên lý cấu tạo nên cấu trúc xã hội.
Những lý luận nỗi bật của Talcott Parsons như cấu trúc xã hội chi phối
toàn bộ xã hội, hành vi con người tùy thuộc nhiều đến vai trò và địa
vị xã hội… được xem như là dòng tư tưởng chủ đạo hình thành chủ nghĩa
cấu trúc (structuralism) trong xã hội học. Vào giữa thế ký 20,
Talcott Parsons lại tiếp nhận thêm thuyết chức năng (functionalism)
lồng vào các tác phẩm The Social System (1951), Socialogical
Theory and Modern Society (1967). Thuyết chức năng vốn được tác
phẩm The Division of Labour (1893), của nhà xã hội học Pháp
Émile Durkheim, đề cập khi bàn đến hai nhân duyên hợp nhất xã hội, tức
là tính thống nhất cơ học (mechanical solidarity) và tín thống nhất
hữu cơ (organic solidarity). Giáo sư Durkheim cho rằng tính thống
nhất cơ học xảy ra trên cơ sở con người cùng chia sẻ hay đồng thuận
các giá trị tinh thần – như niềm tin tôn giáo, di sản vật thế, phi vật
thể .v.v. - tự sản sinh chức năng liên kết từng cá nhân thành một tập
thể, một xã hội hợp nhất. Còn tính thống nhất hữu cơ là kết qủa từ sự
phân công lao động trong xã hội khiến con người sống phụ thuộc lẫn
nhau. Những nhà xã hội học ủng hộ thuyết chức năng diễn giải xã hội
khẳng khác gì một sinh vật có đời sống riêng của nó, cá nhân, gia
đình, cơ quan xã hội tổn hại với nhu cầu quan hệ tương tác tốt đẹp sẽ
giúp cho xã hội vận hành năng động, hiệu quả. Các tệ nạn phạm pháp,
hành vi phi đạo đức của cá nhân có thể gây phản ứng dây chuyền làm
nguy hại toàn đời sống xã hội. Sự kết hợp thuyết chức năng với những
lý luận của Talcott Parsons về cơ cấu vận hành xã hội đã tạo nên
khuynh hướng xã hội học nghiên cứu chức năng cấu thành
(structural-functionalism) được giới xã hội học Âu Mỹ đương thời đánh
giá cao.
Xét
lịch sử hình thành xã hội học, chúng tôi thử phân chia ba giai đoạn
đáng chú ý:
1.
Giai đoạn cách mạng tri thức (intellectual revolution), bắt đầu
từ thế kỷ 16 cuối thời Phục Hưng (The Renaissance) - một phong trào
nghiên cứu, giáo dục văn minh Hy Lạp-La Mã cổ đại thúc đẩy việc cải tổ
xã hội Thiên Chúa vào hậu kỳ trung cổ (the Late Middle Age) nhưng,
theo Voltaire, phong trào này đã giải phóng cái tôi con người khỏi
thần quyền, giũ bỏ thái độ mê tín, những sai trái trong xã hội Thiên
Chúa, báo hiệu sử cáo chung quyền lực của Công Giáo La Mã – kéo dài ở
phong trào Ánh Sáng ở thế kỷ 17-18. Sự nghiệp vả tinh thần khác khao
tụ do tư tưởng, tự do nghiên cứu của những khoa học gia, triết gia
gian đoạn cách mạng tri thức đã mang lại nghiều chuyển biến tích cực
trong đời sống xã hội phương Tây, bao gồm lãnh vực học thuật truyền
thống như triết học, tâm lý học, hóa học, vũ trụ học, nhân chủng học…
lại làm nền tảng chung cho nhiều bộ môn mới ra đời như vật lý học, xã
hội học, sinh học, kể cả tin học.
2.
Giai đoạn định hình xã hội học. Thế kỷ 19 ghi nhận sự ra đời
thuật ngữ xã hội học, từng bước xây dựng lý thuyết và phương pháp
nghiên cứu. Vào 1830-1842, nhà tư tưởng Pháp Auguste Comte lần lược
xuất bản tác phẩm Course of Positive Philosophy giới thiệu quy
luật xạ hội, khai sinh luật ngữ xã hội học vàn nhấn mạnh tri thức thực
chứng (positivism), một khái niệm rất gần gũi mục tiêu nghiên cứu xã
hội học. Bộ sách 6 quyển của ông được dịch sang Anh ngữ năm 1953; dần
dần thuật ngữ xã hội học càng được sủ dụng phủ biến. Ta cũng thấy
suốt thế kỷ 19, nhiều nhà tư tưởng quan tâm lịch sử - xã hội nổ lực để
xuất học thuyết xã hội học dựa trên phương pháp nghiên cứu khả dĩ tìm
ra những nguyên nhân, yếu tố tác động đến đời sống xã hội. Tất cả dữ
liệu có sẳn chỉ cần được liên kết lại là lập tức tạo nên một bộ phận
tri thức rõ rệt. Émile Durkheim và Max Weber đã đảm nghiệm nghĩa vụ
đó.
3.
Giai đoạn ứng dụng xã hội học. Nên hiểu biết khái niệm ứng
dụng tôi muốn ám chỉ ba việc; (a). Ứng dụng giảng dạy: Hệ thống hóa bộ
phận tri thức xã hội học đem giảng dạy nơi học đường; (b). Ứng dụng
đời sống thực tiễn: Vận dụng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu xã
hội học giải quyết các vấn dề xã hội; (c). Thu nhận những lý thuyết và
phương pháp nghiên cứu xã hội học mới phát sinh. Giai đoạn này tính
từ thập niên 80-90 cuối thế kỷ 19.
Vì
xã hội học được khám phá gắn liền đời sống xã hội loài người, nó sẵn
sang cập thời kết nạp hoặc chủ động tìm ra những lý thuyết và phương
pháp nghiên cứu xã hội bắt kịp nhu cầu hiện thực đời sống xã hội.
Giữa những nhà tư tưởng xã hội, Durkheim và Weber nổi bật hơn tất cả,
tư tưởng - tức lý thuyết – và phương pháp nghiên cứu xã hội của họ
tiếp tục của họ sống bền với thời gian. Người Ta không quên cặp bài
trùng Marx – Engles với những tác phẩm của họ là cơ sở lý luận chính
trị cho các Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản tại nhiều quốc gia. Nhất là
sau thế chiến II (1939-1945) đến cuối thập niên 80 đến thế kỷ 20, giai
đoạn chiến tranh lạnh (cold war) phân lập khốn dân chủ - tư sản và
khối cộng sản, các nhà xã hội học đặc biệt quan tâm xem xét tư tưởng
Marx-Engels, tư tưởng xã hội của hai ông đăng quang ngôi ưu việt, độc
quyền truyền bá, điều phối mọi hoạt động giáo dục, kinh tế, chính sách
đối nội đối ngoại… Hào quang Marx-Engels một thời oanh oanh liệt liệt
tàn lụn dần theo sự phân rã khối cộng sản Đông Âu và sự sụp đổ nhà
nước Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Sô Viết (the USSR) năm 1991.
Dù các nhả xã hội học chịu ảnh ý thức hệ nào đó - hoặc dân chủ - tư
sản hoặc cộng sản – và dùng tất cả học thuyết xã hội có tương đồng hay
di biệt, tất cả dung hợp trong xã hội học là cho bộ phận tri thức xã
hội học trở nên đa sắc thái. Xã hội học đương đại thật sự phát triển
về lý thuyết lẫn phương pháp nghiên cứu, đạt tiếng nói độc lập, thậm
chí các nhà xã hội học còn được mọi người tin cậy giao phó trách nhiệm
tháo gỡ các vấn đề xã hội đang tồn tại.
Về
lý thuyết, xã hội học chủ hướng tìm hiểu mối quan hệ tương tác các
phương diện khác nhau của đời sống đang diễn ra rộng khắp xã hội.
Dưới mắt nhà xã hội học, các phương diện đời sống đều có mối quan hệ
tương tác, do đó, mọi ngành khoa học đều liên hệ đến xã hội học. Nói
dễ hiểu, xã hội học là một lãnh vực tổng hợp (synthesizing field) quy
tụ những gì tìm thấy từ cách ngành khoa học, nhất là các lãnh vực khoa
học xã hội. Những khái niệm về phạm vi và phận sự xã hội học như thế
nhìn chung nhất quán và vẫn được chấp nhận phổ biến, tuy nhiên, chúng
chỉ là một phần trong toàn bộ lý thuyết chung cho các lãnh vực liên
ngành và chuyên ngành thuộc xã hội học.
Lãnh
vực liên ngành xã hội học lâu đời nhất và quan trọng nhất là tâm lỳ
học xã hội. Nó thực sự xem như một môn học độc lập, thu hút nhiều
người từ cả hai xã hội học và tâm lý học. Trong lúc các nhà tâm lý
học quan tâm đến các tác động của những lãnh vực này trên cá nhân
riêng lẽ, thì các nhả xã hội học quan tâm đến chuẩn mực, giá trị xã
hội, vai trò xã hội, các cơ quan xã hội, cơ cấu tổ chức các tập đoàn.
Những nhà tâm lý học mà mở đường nghiên cứu mối tương tác trong các
nhóm nhỏ; sự phân bố niềm tin và thái độ sống trong dân cư; gia đình,
học đường, đồng bạn, và những trung gian hội nhập xã hội khác ảnh
hưởng tiến trình hình thành phân cách. Những ý niệm phân tâm học phát
nguồn từ Sigmond Freud và các nhà phân tâm về sau giữ vị trí cực kỳ
quan trọng trong lãnh vực tâm lý học xã hội.
Vào
những năm gầy đây, xã hội học so sánh lịch sử rõ rang phát triển mạnh,
chịu nảh hưởng sâu nặng quan điểm của cả hai Marx và Weber. Nhiều nhà
sử học đã vay mượn khái niệm xã hội học; cùng lúc, những nhà xã hội
học cũng thực hiện những nghiên cứu qui mô về so sánh lịch sử
(historical comparative). Những rào cản xã hội học và lịch sử đã sụp
đổ, đặc biệt là những lãnh vực lịch sử xã hội, đổi thay nhân khẩu, sự
phát triển kinh tế và chính trị, và xã hội học về những cuộc cách mạng
xã hội, các phong trào phản kháng.
Hầu
như tất cả hoạt động của con người không tác rời khỏi xã hội nên đối
tượng chuyên môn hang đầu khác của xã hội học là bàn về cấu trúc của
xã hội trong quan hệ con người, bao việc giảng dạy và nghiên cứu các
mặt xã hội khác nhau như chính trị, mộ máy điều hành nhà nước, luật
pháp, tôn giáo, giáo dục, quân đội, nghề nghiệp, công nghiệp, xã hội,
ngôn ngữ (ngôn ngữ học xã hội), y học, thông tin truyền thông, và thể
thao. Mỗi lãnh vực khác nhau hoàn toàn, phát triển thành chuyên ngành
và lôi cuốn nhiều người chuyên môi hóa ngành họ theo đuổi. Xưa nhất
trong bộ môn xã hội học là những lãnh vực tập trung trên hiện tượng xã
hội, những lãnh vực chưa có các bộ môn khoa học khác nhận như đối
tượng nghiên cứu, bao gồm hôn nhân-gia đình, bất bình đẳng xã hội và
giai tầng xã hội, những quan hệ đạo đức, hành vi tiêu cực, những cộng
động thành thị, cũng bao gồm bình diện xã hội liên quan vấn đề lão hóa
và giới tính, tình dục.
Khi
những lãnh vực nào đó thực thuộc xã hội học đạt tiếng tăm, người ta
tháp ghép chúng vào một lãnh vực hỗn hợp, chẳng hặn, lãnh vực xã hội
học công nghiệp (industrial sociology) trở thành môn học ưa thích ở Mỹ
suốt thập niên 30-40, về sau được nhập vào lãnh vực nghiên cứu và các
tổ chức công nghiệp liên hợp (the study of complex organizations).
Còn ở Anh, môn học này vẫn phát triển độc lập. Mội hiện tượng càng
phổ biến là việc tánh lãnh vực trực thuộc xã hội học thành những phân
hiệu hẹp hơn, chẳng hạn, xã hội học tri thức (sociology of knowledge)
được phân chia manh mún thành những ngành xã hội học về khoa học, nghệ
thuật, văn học, văn hoá bình dân, ngôn ngữ. Có trường hợp xã hội học
triển khai phạm vi nghiên cứu sang các môn học khác để lôi kéo những
thành phần tương thích về phiá xã hội học. Điển hình, tối thiểu hai
lãnh vực nhân khẩu học và hội phạm học - vốn kết hợp với những môn học
khác tồn tại trước khi có lãnh vực chính xã hội học – nay nằm trong
trường hợp này. Ở một số nước, nhân khẩu học (nghiên cứu về sự phát
triển, phân bố dân số) còn giữ mối liên hệ gần với kinh tế, nhưng ở
gần hết các nước phương Tây, và đặc biệt ở Mỹ, nó được xem như một
phân hiệu xã hội học. Tội phạm học qua ngàn thập niên chịu ảnh hưởng
những khái niệm và phối cảnh xã hội học càng khắng khít với những
nghiên cứu xã hội về hành vi sái quấy, lầm lạc, kể cả những hình thức
không vi phạm Pháp Luật nhà nước.
Một
số lãnh vực như xã hội học thể thao, giới tính mới ra đời hậu bán thế
kỷ 20, trong khi tôn giáo là giữa vài lãnh vực được phương Tây nghiên
cứu suốt bốn thế kỷ trườc. Nhiều nhà tư tưởng thế ký 16-18 nghiên cứu
tôn giáo chủ yếu dựa nguồn Thánh Kinh, thực tiễn hoạt động của giáo
hội Ky Tô và các tài liệu Do Tháu giáo. Nhờ những cuộc tham hiểm,
viễn chính, mở rộng thương mại, phương Tây lần hồi khám phá hiện tượng
văn hoá-tôn giáo tồn tại phổ biến khắp thế giới. Có hang ngàn tôn
giáo, nhưng tám tôn giáo hang đầu là đạo Thiên Chúa (Christianity),
đạo Hồi (Islam), đạo Ấn (Hinduism), đạo Phật (Buddhism), đạo Lão
(Taoism), đạo Khổng (Confucianism), đạo Do Thái (Judaism), đạo thờ Ông
Bà Tổ Tiên (Shinto). Từ cuối thể kỷ 18, phương Tây bằt đầu chuyển
dịch tài liệu của các tôn giáo ở phương Đông, đồng thời, những thành
tựu của ngành khảo cố trong việc khai quật những bản văn kinh điển ra
xưa mà giải mã cổ ngữ đã góp phần giúp phương Tây tập họp số lượng
thông tin tương đối về các tôn giáo ngoại vi văn hoá Ky Tô. Khi
nghiên cứu tôn giáo, các nhà triết học, tâm lý học, sử học, nhân chủng
học chủ trương tiếp cận đối tượng với tinh thần khách quan, thuần túy
xem tôn giáo là đối tượng nghiên cứu học thuật, không cục bộ ủng hộ
bất cứ giáo phái nào; cũng có một lực lượng nào học giả nghiên cứu tôn
giáo nhẳm mục đích làm thuận lợi cho công cuộc truyền đạo.
Việc
nghiên cứu tôn giáo một cách có hệ thống chỉ thật sự phát triển khoảng
giữa thế kỷ 19. Giới nghiên cứu cho rằng hầu hết tôn giáo chia sẻ năm
đặc trưng: (1). Niềm tin thần linh hoặc quyền lực siêu nhiên; (2).
Giáo lý giải thoát; (3). Nguyên tắc đạo hạnh hay luật nghi; (4). Những
giai đoạn thiêng liêng; (5). Lễ nghi tôn giáo. Để hiểu từng đặc trưng
riêng biệt và giao điển giữa các truyền thống tinh thần Đông Tây, học
giả Đức Friedrich Max Miller đề xuất so sánh tôn giáo. Ý tưởng này
đăt nền tảng môn học so sánh tôn giáo (the study of comparative
religion). Thêm vào bộ phận kiến thức tôn giáo, các nhà phân chủng
học chịu khó thực hiện những công trình biên khảo liên quan đời sống
tôn giáo bộ lạc của những dân tộc vốn bị xem là mọi rợ và bị phớt lờ
trong thế giới văn minh đã cho nhà nghiên cứu có tầm nhìn bao quát hơn
về vai trò tôn giáo trong toàn bộ xả hội loài người.
Chúng ta dễ thấy tôn giáo thường gắn liền với văn hoá nhân loại. Tôn
giáo bộ lạc loài hoà tan vào màu sắc văn hoá bộ lạc. Đạo Do Thái,
Hồi, đặc biệt đạo Thiên Chúa tạo hình văn hoá phương Tây; riêng đạo
Hồi còn giữ vai trò trọng yếu kiến tạo văn hóa vùng Trung Đông và
nhiều quốc gia Châu Phi. Văn hoá châu Á, nói chung, bao gồm các yếu
tố đạo Ấn, Hồi, Phật, Lão, Khổng, Ông Bà Tổ Tiên, dầu vậy, văn hóa
từng quốc gia tùy thuộc mức độ tôn giáo nào có tác động nhiều hay ít
đến lịch sử, kết quả là sự phân tầng văn hóa tôn giáo hoặc dung hợp
các yếu tố. Có thể nghiên cứu tôn giáo tách rời khỏi văn hoá, tuy
nhiên trong thực tế, tôn giáo, và văn hóa bất phân ly. Chính hành vi,
ngôn ngữ, tư tưởng của mỗi cá nhân và đoàn thể, cộng đồng sản sinh ra
tôn giáo, tạo cho tôn giáo một đời sống và trao quyền hướng dẫn các
kiểu mẫu hành vi, ngôn ngữ, tư tưởng theo giá trị truyền thống mà con
người đã kinh qua. Những giá trị đó được xem là kinh nghiệm tôn giáo,
phản ảnh qua biểu tượng, múa hát, chuyện thần thoại, hoang đường, lễ
nghi, hay những kinh nghiệm cao hơn các hệ thống triết lý uyên thâm,
luật tắt điều chỉnh đạo hạnh, kỹ thuật thiền định v.v. Tất cả kinh
nghiệm tôn giáo nói trên đều mang hình thái văn hoá.
Dù
tôn giáo được nghiên cứu dưới lăng kính nhân chủng học hay bất kỳ
ngành học thuật khác, nó vẫn không vượt ngoài phạm vi quan sát của xã
hội học, trái lại, gia cố lý thuyết xã hội tôn giáo. Từ cuối thể kỷ
19 sang những thập niên đầu thế kỳ 20, hai nhà xã hội học Émile
Durkheim và Max Weber lần lượt công bố các công trình nổi tiếng liên
hệ tôn giáo và xã hội: Division of Labour (1893), The
Protestant Ethic anh the Spirit of Capitalism (1904-1905),
Elementary Forms of the Religious Life (1912), Religions of the
East (1920-1921). Tác phẩm Division of Labour (1893) của
Émile Durkheim đã chỉ ra thuộc tính thống nhất cơ học trong tôn giáo
góp phần hợp nhất một tập thể hay cộng đồng. Émile Durkheim còn nhấn
mạnh đời sống tôn giáo trong Elementary Forms of the Religious Life
(1912) như một sức mạnh cần thiết để thực hiện chức năng xã hội.
Theo
ký thuyết kinh điển này, Émile Durkheim quả quyết rằng dấu ấn căn bản
nhất của tôn giáo không phải bóng dáng thần linh, siêu nhiên, mà là
bất cứ đối tượng và biểu tượng hóa thiêng chuyển tiếp hòa vào ý thức
của một nhóm người cùng tín ngưỡng, chúng được xem như giá trị tinh
thần nhào nặn cảm xúc tôn giáo giữa các thành viên chung sống, do vậy,
tính chất thiêng liêng có chức năng kết nối xã hội. Đối tượng và biểu
tượng hóa thiêng là những nguyên tắc đạo đức, những gì một cộng đồng
đặt lòng tin vào và cố gắng không vi phạm các giá trị hay gìn giữ các
giá trị cộng đồng không bị xâm hại. Chính tính chất thiêng liêng tạo
nên lực hút nhiếu người hợp thành các cộng đồng xã hội tôn giáo, chúng
ta cũng có thể đem tính chất đó lý giải những mô hình xã hội thế tục
tồn tại song song. Tại xã hội thế tục phương Tây, điều thiêng liêng
được thể hiện qua những tiêu chuẩn mực đạo đức để cao tính dân chủ, tự
do, quyền cá nhân, công bằng bình đẳng, dù mỗi người có niểm tin tôn
giáo khác nhau hay theo chủ nghĩa phi tôn giáo (secularism); những gì
xã hội thế tục phương Tây xcem là thiêng liêng lại biến sắc tại các xã
hội thế tục chịu ảnmh hưởng xã hội tôn giáo, hoặc do một Đảng độc
quyền thống trị đã thiêng liêng hóa tính Đảng bền vững bao trùm cơ cấu
xã hội. Quan điểm của Émile Durkheim vế tính chất thiêng liêng vận
hành chức năng xã hội cốt làm sang tỏ vai trò tôn giáo hơn là bình
phẩm giá trị truyền thống đúng hay sai. Một sự thật được khám phá
bằng lý luận khách quan như thế đã hạn chế mọi bàn cãi không cần
thiết.
Cũng
trong nỗ lực khám phá vai trò tôn giáo, Max Weber đặc biệt nhấn mạnh
yếu tố đạo đức ảnh hưởng đến kinh tế & đời sống xã hội. Nguyên là
giáo sư kinh tế-sử học, ông sớm nhận ra luận thuyết đơn tử của Karl
Marx & nhà kinh tế-chính trị Friedrich Engels chứa đựng sai lầm nghiêm
trọng ngay nhận thức cơ bản về lịch sử xã hội, điều đó thúc đẩy ông
viết The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism
((1904-1905). Qua phân tích lịch sử phương Tây, Max Weber khẳng định
có những mối quan hệ nội tại tác động lẫn làm cho đời sống xã hội biến
đổi, trong đó, tôn giáo là một trong nhiều yếu tố tổng hợp sản sinh
hình thái xã hội mà còn gốc rễ của yếu tố khác, điểnn hình như phẩm
chất & sự thịnh vượng của nền kinh tế chủ nghĩa tư bản chuyển hóa từ
đạo đức đạo tôn giáo.
Sẽ
không có gì đáng nghi ngờ quan điểm Max Weber, nếu chúng ta biết chính
sự phảng kháng (protest) của những phần tử Thiên Chúa (Christianity)
ly khai khỏi Công Giáo La Mã (Roman Catholicism) vào thể kỷ 16 đã mở
đạo Tin Lành (Protestanism). Đó là mội trong trào cải cách phục hồi
lý tưởng Thiên Chúa, chỉ chấp nhận thẩm quyền Thánh Kinh & xem trọng
nềm tin cá nhân. Tư tưởng phản khảng của các nhà thần học Martin
Luther, Huldreich Zwingli, John Calvin… dẫn đến việc thành lập các
giáo phái Lutheran (Evangelical), Calvinist, Anabaptist, Puritan,
Anglican thuộc cộng đồng đạo tin lành (Protestanism). Họ mạnh mẽ chỉ
trích những sai lầm, phủ nhận quyền hạn Giáo Hoàng & nhà thờ Công Giáo
La Mã tối cao, phơi bày tệ nạn các chức sức Tăng lữ sống xa hoa v.v..
Dù muốn hay không, hai yếu tố tôn giáo & chính trị vẫn xoắn xuýt nhau
chọc kích sự liên minh ma quỷ giữa chính quyền & tôn giáo, nó truyền
cảm hang loạt sự kiện nông dân khởi nghĩa tại Đức, Áo (1524-1526)
chống đối tầng lới qúy tộc & phú Tăng Công Giáo La Mã vô đạo, ác liệt
nhất là 30 năm chiến tranh (1618-1648) trên lục địa châu Âu & cuộc
Cách Mạng Anh (1640-1660). Các nhà thần học cấp tiến khác nhu John
Aston, Jacobus Arminius, John Wesley, John Charles, Edward Herbert,
John Toland, & Charles Blountm Friedrich Schleiermacher… hồ hởi hòa
điệu cùng phong trào Ánh Sáng khi công khai chấp nhận những tư tưởng
khoa học, lỳ giải thần học theo khuynh hướng duy lý, nhìn chung, họ
thẳng thắn phủ nhận ba ngôi chí tôn (Trinity), niềm tin Đấng Cứu Thế
chuộc tội lỗi, thiên khải, thần lực, chống lời dạy giáo điều… Khuynh
hướng duy lý này tình thành một số giáo phái mới Arminianism,
Latitudinarianism, Deism, Unitarianism, Methodism, Quakerism
(Religious Society of Frìends), Liberalism (Liberal Theorian) phát
triển mạnh ở châu Âu & Bắc Mỹ. Cộng đồng Tinh Lành còn giữ vai trò
quan trọng trong những phong trào nhân đạo & cải tổ xã hội. Tín đồ
Phúc Âm (Evangelical Protestant), một giáo phái chịu ảnh hưởng tư
tưởng Martin Luther, được xem là những nhà lãnh đạo đấu tranh giài
phóng chế độ nô lệ tại Anh, Mỹ.
Sự
phát triển nhanh chóng của cộng động Tin Lành cuộn lên những cơn sóng
chính trị-tôn giáo sôi động từ thế kỷ 10-19 thật sự làm lung lay tận
gốc rễ quyền lực Công Giáo La Mã & chính quyền phong kiến phương Tây
đương thời, nó hỗ các nhàn khoa học tự do phát biểu, nghiên cứu mà
không phải lo sợ trái với Thánh kinh sẽ bị nhà thờ Công Giáo La Mã
thiêu sống hay xét xử độc đoán. Bối cảnh lịch sử phương Tây như thế
trở thành điều kiện cần cho cuộc Cách Mạng Công Nghiệp thay thế lao
động thủ công bằng phương tiện mát móc, ứng dụng hệ thống kiếm thức
khoa học thực nghiệm vào quá trình sản xuất mang lại nhiều đổi thay
trong xã hội, khởi điểm ở Anh vào nữa thế kỷ 18, kế tiếp lan rộng ở
những phần châu Âu, Hoa Kỳ, đó là bước đầu tiến đến nền kinh tế được
Marx-Angel gọi là chủ nghĩa Tư Bản.
Nhận
xét của Max Weber về đạo đức tôn giáo có khả năng tác động đến kinh tế
& xã hội khiến các nhà tư tưởng phương Tây phải bình tâm xét lại vai
trò tôn giáo, thay vì tập trung phê phán, một thái độ chống đối tôn
giáo từ Pháp đến Nga trải suốt 4-5 thế kỷ; đồng thời là một gáo nước
lạnh tạt vào mặt phái tả cùng các trò Marx-Engels, những người chủ
trương kinh tế quyết định (theory of economic determination). Max
Weber tiếp tục biện minh quan điểm trong tác phẩm Religions of the
East (1920-1921) phân tích đạo đức tôn giáo phương Đông, bao gồm
Phật giáo, quan hệ với kinh tế-xã hội.
Như
một sự thật lịch sử, khi đạo Tin Lành & văn minh công nghiệp phương
Tây khởi lên, Phật giáo tồn tại hơn hai thiên niên kỷ, mãi đến thế kỷ
19 vài nhà trí thức phương Tây mới quan tâm nghiên cứu Phật giáo. Có
những bằng chứng lịch sừ-khảo cổ ủng hộ giả thuyết châu Âu từng tiếp
nhận Phật giáo từ thế kỷ thứ IV-III trước công nguyên, tức là vào thời
kỳ đại đế Alexander thối binh khỏi Bắc Ấn (325 B.C.); kế tiếp là các
sứ giả thời đại đế Asoka (269-232 B.C.) thuộc triều Maurya (321-185
B.C.) ờ Ấn đã mang thông điệp hòa bình của đức Gotama vượt Egypt sang
Macedonia. Hellen (Hy Lạp ngày nay) & các vương quốc Đông Nam Âu cổ
đại, có lẻ không chỉ Marco Polo, nhiều thương gia phương Tây khác cũng
biết đến Phật giáo tồn tại qua con đường tơ lụa nối liền thương mại Âu
Á suốt thế kỷ I trước công nguyên đến thế kỷ 15; hoặc giả đoàn quân
Mông Cổ của Ogadai Khan (1229-1242) đã mang món ăn tâm linh Phật giáo
theo những chặng đường ly hương chinh phục trung Âu thế kỷ 13. Dầu
vậy, Phật giáo không thể tìm chổ bám rễ trong đời sống tư tưởng dân
chúng phương Tây, ngoài trừ số ít người gốc Nga & Ukaraina địch cư ở
Buryatia & Tuva-hai nướv cộng hòa tự trị thuộc liên bang giáp giới
Mông Cổ - theo Phật giáo Lama từ thế kỷ 17.
Phần
tư đầu thế kỷ 19, phương Tây bắt đầu nghiên cứu Phật giáo. Vị học giả
phương Tây thực hiện những nghiên cứu liên quan Phật giáo trước nhất
được biết là Michael Jean Francois, người Pháp, với tác phẩm
Researches sur Buddlou xuất bản ở Paris năm 1817, nhờ The World
as Will Representation của Arthur Schopenhauer (1788-1860), một
triết gia Đức có nhiều ảnh hưởng tại Âu Mỹ. Arhur Schopenhauer giữ
quan điểm vô thần, thế giới không phải do thần linh hay thượng đế sáng
đạo, con người & tự nhiên là sản phẩm của “will” – ông dùng thuật ngữ
này ám chỉ cả hai khát vọng cá nhân & toàn bộ bản chất sinh thể thôi
thúc thế giới không ngừng nỗ lực tầm cầu hạnh phúc, kho loài người
không thỏa mãn với hạnh phúc thì đó là khổ đau khôn cùng. Chỉ có sự
thản nhiên từ bỏ khát vọng tầm cầu hạnh phúc mới đạt được chân hạnh
phúc. Ông nói nhiều đến khổ đau gặm nhấm loài người trong tác phẩm
Essays and Aphorism. Để kiểm chứng quan điểm triết học, Arthur
Schopenhauer thừa nhận Phật giáo như tiêu chuẩn tuyên ngôn sự thật &
thú vị nhận ra tư tưởng mình ngẫu nhiên gần gũi Phật giáo.
Giao
điểm tư tưởng giữa Arthur Schopenhauer & Phật giáo được chính ông khám
phá qua mẳng triết học Ấn Độ trình bày trong các sách giáo khoa Đức,
những tác phẩm nghiên cứu của các học giả Nga, Pháp, riêng bản thân
ông chưa tham khảo bất cứ văn bản kinh điển bào thuần túy chuyển tải
tư tưởng Phật giáo. Thậm chí khi Arthur Schopenhauer tái bản The
World as Will Representation lần thứ ba (1859), phương Tây mới có
vài dịch phẩm Phật giáo chính thức tiêu biểu: 38 chương đầu của 100
chương Mahavamsa - một tác phẩm lịch sử ghi chép nguồn gốc & sinh hoạt
Phật giáo Sri Lanka - viết bằng ngôn ngữ Pali được Eugene Burnouf nhà
Đông Phương học Pháp dịch sang tiếng Anh (1837); cũng Eugene Burnouf
đã dịch Saddharmapundarika từ văn bản Sanskrit sang tiếng Pháp Le
lotus de la hone loi (1582); giáo sư Friedrich Spiegel trích dịch
phần Uraga của Sutta Nipata xuất bản tiếng Đức có nhan đề Anecdota
Palica (1848); & một bản dịch Latin Dhammapada do Viggo Fausball -
người cha Triết học Pali ở Đan Mạch - thực hiện (1855). Thiếu tài
liệu Phât giáo là trở lại lớn nhất đối với phương Tây thế kỷ 19. Số
lượng học giả vượt qua bức tường ngôn ngữ dọc hiểu chính văn kinh điển
có thể đếm trên đầu ngón tay, công chúng ít quan tâm sự hiện diện của
Phật giáo. Đợi đến 19 năm sau Arthur Schopenhauer qua đời (1860), Sir
Edwin Arnold xuất bản The Light of Asia, một thi phẩm viết về
cuộc đời & tư tưởng Phật Gotama, thật sự lôi cuốn công chúng chú ý tìm
đọc, trở thành hiện tượng ấn phẩm Phật giáo phổ biến nhất. Kết quả đó
đã khuyến kích giáo sư Thomas William Rhys Davids xúc tiến thành lập
hội Thánh Điển Pali (Pali Text Society) vào năm 1881 mời gọi các học
giả Đông Tây giúp sức chuyển dịch kinh điển Phât giáo sang Anh ngữ để
quảng bá tư tưởng Phật giáo giữa công chúng Âu Mỹ.
Điều
trớ trêu đáng nói là từ sự xuất hiện The World as Will
Representation, các nhà tư tưởng Âu Mỹ xem Arthur Schopenhauer như
người lập chủ nghĩa bi quan (pessimism), vô hình trung ấn tượng Phật
giáo buổi đầu chẳng gì khác dòng tư tưởng bi quan Arhur Schopenhauer.
Thêm vào, các nhà Đông phương học hang đầu bấy giờ gồm Monier Monier
Williams, Jules Barthelemy Saint-Hilaire, Charles Gutzlaff, Adolph
Thomas, ngay cả Eugene Burnouf, một nhân vật được gìới học giả Phật
giáo phương Tây quý trọng như người đặt nền tảng cho việc nghiên cứu
Phật giáo một cách khoa học, đã nhận thức sai lệch tư tưởng Phật giáo,
giải thích xuyên tạc lý tưởng Nirvana/Nibbana cứu cánh giải thoát tối
hậu là hư vô, đoạn diệt (nihilism) & tiêu cực. Kết quả di hại khủng
khiếp, vì không biết bao nhiêu nhiêu giấy mực phê phán hoặc phải biện
minh Phật giáo là hay không là một thống giáo lý tiêu cực, nó tác động
vào nếp nghĩ suy của những nhà trí thức & tầng lớp bình dân tại chính
các quốc gia phương Đông tiếp nhận Phật giáo từ lâu.
Thời
điểm T.W. Ryhs Davids thành lập hội Thánh Điển Pali ở London – cùng
lúc Émile Durkheim giảng bộ môn xã hội học tại học đường Bordeaux,
Paris – tính cho đến thời điểm Mar Weber viết Religions of the East
(1920-1921) trải qua 40 năm, khoảng thời gian dài gần nữa thế kỷ
đủ cho các nhà xã hội nghiên cứu những dịch phẩm Thánh điển Phật giáo
rút ra những đánh giá đúng đắn mối quan hệ Phật giáo & xã hội. Thế
nhưng việc đó không được họ thực hiện. Một lý do khác, suốt giai đoạn
này, ông bà T.W. Rhys Davids, Max Muller, Hermann Oldenburg, Pau
Dahlke, George Grimm, Paul Carus… những học giả tài giỏi tận tụy sống,
làm việc, bênh vực Phật giáo thường chú dịch thuật, lý giải tư tưởng
triết học, tâm lý, nhấn mạnh đăc tính đạo đức-giải thoát trong Phật
giáo hoặc đối phó những cây bút chỉ trích đối lập, họ chưa đặt Phật
giáo vào khung xã hội học, có chăng chỉ đề cập khía cạnh đạo đức-xã
hội, chưa khai thác tôn tạo ý tưởng Phật giáo liên hệ các phương điện
kinh tế-xã hội, chính trị-xã hội, sức khoẻ-xã hội, con người hội nhập
xã hội. Do đó, những nỗ lực quảng bá Phật giáo không đánh bật được
thành kiến phê phán Phật giáo như một hệ thống tư tưởng bi quan, yếm
thế, tiêu cực, thụ động, hư vô, đoạn diệt, là những trạng thái tâm lý,
khuynh hướng hoàn toàn bất lợi cho tiến độ công nghiệp hóa, đối chọi
đặc tính kinh tế đòi hỏi tư tưởng sáng tạo, phát minh khoa học, cải
tiến qui trình sản xuất, mở rộng giao thương, cơ thế kinh tế-thị
trường vận hành năng động thúc đẩy xã hội thoát khỏi đói nghèo lạc
hậu.
Thái
độ phê phán Phật giáo được Max Weber phản ảnh trong Religions of
the East, khi ông phân tích, giải thích nguyên lý đạo đức của các
tôn giáo phương Đông đã làm trở ngại sự phát triển kinh tế & sự nâng
cao đời sống xã hội, dù phương Đông không thiếu tài nguyên thiên nhiên
hay nhân gây bức xúc cho giáo sư Nandasena Ratnapala, một trí thức
phương Tây sinh trưởng tại Sri Lanka, cái nôi Phật giáo thế giới, phải
đặt bút phê bình Max Weber ‘đã làm cuộc ngoạn du cởi ngựa xem hoa tư
tưởng Phât giáo’ & sau Max Weber vẫn ‘chưa ai thật sự nỗ lực nghiên
cứu tư tưởng Phật giáo dưới lăng kính xã hội học một cách nghiêm
túc’. Ông minh chứng cho mọi người thấy rằng Phật giáo chẳng những có
một học thuyết kinh tế nhân bản mà còn hội tụ một hệ thống ý tưởng xã
hội hoàn toàn tương thích nhiều vấn đề thuộc phạm vi bộ môn xã hội
hiện đại quan tâm, như một nhập xã hội, luật pháp, tội phạm & khủng
bố, chính trị, sức khoẻ, hôn nhân gia đình, giáo dục v.v. qua ấn phẩm
Buddhist Sociology-Xã Hội Học Phật Giáo, gồm 13 chương, tất cả quán
xuyến nội dung khẳng định tư tưởng Phật giáo không siêu thực, không
dẫn dắt con người vào thế giới viễn vong không tưởng xa rời cuộc sống.
Buddhist Sociology-Xã Hội Học Phật Giáo vừa trực tiếp trả lời câu
thách đố của Mar Weber, cũng vừa gián tiếp gởi gắm lời nhắn nhủ các
nhà tư tưởng Phật Giáo Bắc truyền lâu nay tự xưng Đại Thừa Phật Giáo
hãy từ bỏ quan điểm chê bai Phật Giáo Nam truyển là Tiểu Thừa, mang lý
tưởng giải thoát cá nhân, hẹp hòi, ích kỷ… Bởi, hầu hết toàn bộ nội
dung Buddhism Sociology-Xã Hội Học Phật Giáo đều được tác giả
Nandasena Ratnapala xây dựng trên nền tảng kinh điển Pali, hệ giáo lý
chính thống lâu đời của Phật Giáo Nam truyền, không phải trên lý tưởng
Bồ Tát nhập thể của các kinh Pháp Hoa, Duy Ma Cật. Một vấn đề khá
nhức đầu là tại sao nhiều quốc gia Phật giáo hoặc chịu ảnh hưởng tư
tưởng Phật Giáo Nam truyển - Bắc truyền hàng bao thế kỷ vẫn bị xếp vào
thế giới thứ ba chậm phát triền, lạc hậu, đói nghèo dai dảng, tình
hình chính trị bất an triền miên? Ấn phẩm Buddhism Sociology – Xã Hội
Học Phật Giáo đưa ra những giải thích gợi ý giúp các nhà lãnh đạo Phật
giáo lẫn giới trí thức Phật giáo tự giải nghi hợp lý sau khi xét lại
giáo lý nhà Phật & quan điểm cá nhân trong khối tâm lý cộng đồng Phật
giáo.
Chúng ta sẽ gặp điểm thú vị ngay chương II là cùng tác giả khám phá
phuơng pháp nghiên cứu khoa học trong tư tưởng Phật giáo để lưu tâm áp
dụng vào quá trình tham khảo hay nghiên cứu lãnh vực học thuật nói
chung. Trong xã hội học hiện đại, giới xã hội học hầu như xử dụng tất
cả cách thức thu thập thông tin mà các khoa học nhân văn đã dùng, từ
khoa học thống kê (statistics) đến việc tái giải thích các văn bàn.
Họ săn tìm nguồn tin thống kê chính thức do chính phủ thu thập đều
đạn, như điều tra dân số, những bản thống kê quan trọng báo cáo tình
hình nhập cu, di cư, nạn thất nghiệp, tệ nạn tội phạm, & những hiện
tượng khác. Ba phương pháp nghiên cứu xã hội đắc dụng nhất là quan
sát trực tiếp (method of direct observation), phương pháp định lượng
(quantitive method) hay thống kê (statictic) & và điều tra (method of
survey research).
Bị
hạn chế dữ liệu nghiên đối tượng cách đây hơn 2500 năm, thật khó cho
bất cứ nhà xã hội học Phật giáo thử áp dụng phương pháp định lượng lập
bảng thống kê các vấn đề xã hội, chẳng hạn số lượng phạm nhân, tỷ lệ
tội phạm vi phạm cao thấp, bao nhiêu tăng ni, tín đồ tu Phật, lợi tức
kinh tế của thiện tín tăng giảm hằng năm v.v. Vì vậy, tác giả cố gắng
triển khai tính hữu dụng của hai phương pháp quan sát trực tiếp & điều
tra trong qúa trình nghiên cứu. Chúng ta thừa hìẻu, tác giả không
nhập cuộc mắt thấy tai nghe moi điếu biến thời cổ đại, thì làm thế nào
quan sát trực tiếp & điếu tra xã hội? Thông thường, giới xã hội học
tiến hành hao cách thức quan sát trực tiếp:
(1)
tạm thời trở thành thành viên của đối tượng nhiên cứu;
(2)
hoặc lấy tin tức từ những người am tường sự việc liên quan đối
tượng.
Ở
đây, để xây dựng hệ thống xã hội học Phật giáo, tác giả chọn cách thức
thứ hai, dựa vào kinh điển Pali được nhiều học giả tên tuổi đánh giá
trung thành nhất với Phật giáo nguyên thuỷ, chịu khớ thu thập thông
tin về sinh hoạt cộng đồng Phật giáo trong bối cảnh xã hội Ấn Độ cổ
đại. Việc quan sát trực tiếp trên văn bản vẫn lả cách thức các nhà xã
hội học lịch sử thường làm.
Cái
khó ló cái khôn. Qua quá trình quan sát dữ liệu kinh điển, tác giả
khám phá ngay bản thân dữ liệu kinh điển, tác giả khám phá ngay bản
thân dữ liệu đã tồn tại phương pháp quan sát & phương pháp điều tra,
nói cách khác, kinh điển Pali ghi nhận đức Phật Gotama & những người
đương thời cũng đã từng áp dụng phương pháp quan sát trực tiếp (hành
vi cá nhân, quan hệ tập thể…) & phương pháp sát điều tra (thăm dò dư
luận, tìm hiểu ý kiến dân chúng…) tương tợ các nhà xã học chuyên môn.
Sự pháp phá này giúp các giả cảm thấy thuận lợi việc liên kết chuỗi ý
tưởng xã hội thành một hệ thống xã hội học Phật giáo, không phải vướng
mắc tình trạng gán ghép khiên cưỡng, gượng ép. Tác giả còn mở rộng
phương pháp nghiên cứu bằng cách so sánh phối kiểm dữ liệu, phân tích
dữ liệu theo kiểu mẫu lý luận nhân quả tương sinh, tư duy phản biện
với tâm thái vô lượng đức, nhưng loại bỏ nhận thức cảm tính, lòng
thiên vị suốt những công đoạn thu thập & sàng lọc dữ liệu, vì tính
khách quan là yếu tố cần thiết cho người đi tìm sự thật hay chân lý.
Đặc biệt khi tìm kiếm phương pháp hỗ trợ công việc hiện tại của mình,
tác giả tập hợp một lượng dữ liệu phong phú mang thuộc tính khoa học
nghiên cứu có giá trị trong kinh điển, từ đó nâng lên thành phương
pháp luận Phật giáo.
Liên
quan bản dịch Xã Hội Học Phật Gíáo, bạn đạo lưu ý vài điểm. Thứ nhất,
người xin mạn phép xử lý một số thuật ngữ, nhân danh, địa danh Pali &
đại từ ngôi ba không theo tiền lệ:
1.
Về thuật ngữ Phật học Pali:
a.
Thuật ngữ Nibbana được Tàu âm là Níp-Bàn, Niết-Bàn.
Nhiều dịch giả hoặc tác giả Việt Nam thường thêm danh từ ‘cõi’, ‘cảnh
giới’ vào nước âm Níp-Bàn, Niết-Bàn, như cõi Níp-Bàn, cảnh giới
Niết-Bàn. Thuật ngử Nibban trong tư tưởng Phật giáo thực chất không
mang ý nghĩa cõi, hay cảnh giới, mà là trạng thái an tịnh của thân tâm
đoạn ly phiền não, thoát khỏi tham sân si, không bị khổ đau chi phối.
Con người có thể đạt Nibbana ngay đời sống này, không chờ vào cõi
Nibbana hay đến cảnh giới Nibbana như ‘trạng thái an tịnh’, không cần
thiết viết hoa.
b.
Thuật ngữ Nama-Rupa lâu nay dịch âm Hán-Việt là
Danh-Sắc. Ở đây tôi dịch Thần-Sắc (xem cước chú 38, tranf 45, chương
IV)
c.
Và .v.v..
2.
Về nhân danh, địa danh Pali: Kính sách Việt Nam dùng nhân danh
Phật giáo bấn nhất, khi phiên âm, khi dịch nghĩa, hoặc nữa phiên âm
nữa dịch nghĩa. Những nhân danh phiên âm như Thích Ca Mâu Ni Phật, Xá
Lợi Phật, Kiều Đàm, Da Du Đà La; nhân danh dịch nghĩa như Liên Hoa
Sắc, Cấp Cô Đọc; nhân danh nửa phiên âm nửa dịch nghĩa như Xá Lợi Tử,
Đại Mục Kiền Liên.v.v.. Ở đây người dịch chú trọng giữ nguyên nhân
danh, địa danh Pali, giúp bạn đọc Việt Nam làm quen dần để không cảm
thấy bỡ ngỡ vào dịp đọc kinh sách nước ngoài hoặc hành hương Thánh
địa, những vùng đất nổi tiếng liên hệ lịch sử Phật giáo Nepal-India.
a.
Nhân danh: Sariputta (Xá Lợi Phất, Xá Lợi Tử), Maha
Moggallana (Đại Mục Kiền Liên), Maha Pajapat I Gotam I (Kiều Đàm
Di Mẫu), Yasodhara (Da Du Đà La), Uppalavanna (Liên Hoa Sắc),
Anathapindika (Cấp Cô Độc).v.v..
b.
Nhân danh Phật Thích Ca hay Thích Ca Mâu Ni Phật (Sakyamuni
Buddha) đã gần gũi tâm thức dân tộc Việc Nam & xuất hiện thường
xuyên trong kinh sách tại các quốc gia ản hưởng Phật giáo Bắc truyền;
giới nghiên cứu Phật giáo thế giới thường sử dụng nhân danh Gotama
Buddha, Phật Gotama (Cổ Đàm). Bạn nên hiểu Phật Gotama tức là
Phật Thích Ca.
c.
Địa danh: tương tợ, người dịch giữ nguyên cách đọc các địa danh
nổi tiếng, chẳng hạn, Vajj I (Bạt Kỳ), Lumbin I (Lâm Tỳ
Ni), Kapilavatthu (Vương Xá thành), v.v..
3.
Về đại từ ngôi thứ ba:
a.
Nguyên tác tiếng Anh sử dụng đại từ phiếm chỉ ‘he: anh
ấy, ông ấy’. Xét văn cảnh, nội dung không xác địng nhân vật thứ ba
nam hay nữ. Gặp những trường hợp như vậy, tôi dịch là ‘y thị’, cặp
đại từ phiếm chỉ này khái quát cả hai giới tính, nghe ‘cổ lỗ sĩ’ nhưng
đắc dụng.
b.
Trường hợp khác, tôi dùng đại bi từ ‘Ông” thay thế đại từ
‘Ngài’, khi đề cặp đức Gotama (hoặc đức Khổng Tử, đức Jesu). Rất có
khả năng ai đó sẽ phê bình: “Tiếng Việt là ngôn ngữ biểu cảm. Đại từ
Ông không bộc lộ lòng tôn kính”. Bạn đừng quên rằng chức năng biểu
cảm điệu cũng là hình thái biểu cảm trong ngôn ngữ học. Nếu đại từ
biểu cảm Ngài bị ngữ điệu biểu cảm bất kính, ý nghĩa lập tức biến
đổi. Người dịch dùng đại từ Ông đơn giản vì lý do kính trọng chư hiền
thánh, hình ảnh các Ông hiền thánh càng trở nên thân thiết hơn là quý
Ngài trịnh trọng, đường bệ, xa cách người dân.
Thứ
hai, nguyên tác Buddhist Sociology không có cước chú, người dịch tạo
những cước chú cho bản dịch Xã Hội Học Phật Giáo.
1.
Tác giả lồng tất cả nguồn trích dẫn vào thân văn bản. Nhằm
giúp bạn đọc & giới nghiên cứu thuận lợi việc tham khảo, người dịch
xin tách nguồn trích dẫn khỏi thân văn bản, dời xuống phần dưới mỗi
trang.
2.
Gặp những điễm Phật học không được trình bày, giảng giải ‘y
chang’ truyền thống, hiển nhiên tác giả có quyền nhận thức, giữ quan
điểm & giảng giài độc lập, hoặc đôi chỗ biết rõ tác giả nhầm lẫn nhân
danh, sự kiện cụ thể, hoặc do lỗi in ấn, hoặc vần giải thích thêm,
người dịch phải bổ sung cước chú lưu ý, vừa tránh né trách nhiệm vừa
giúp người đọc không nghi ngờ hoặc gặp thêm kiến thức Phật học.
3.
Có thể phân biệt cước chú do người dịch bổ sung khác với cước
chú có nguồn gốc từ tác giả. Những chú thích của người dịch luôn k3m
theo nhóm ký tự NDCT (viết tắt cụm từ ‘chú thích của người dịch’).
Đọc
hiểu một ngoại ngữ phải mất nhiều thời gian đầu tư học ngoại ngữ đó,
dịch một văn bản ngoại ngữ sang tiếng mẹ để càng khó, khó khăn ngân
đôi vì nội dung văn bản ngoại ngữ thuộc lãnh vực chuyên môn. Ngoài
lãnh vực Phật học & Xã Hội Học tạo thành giao điện cho toàn bộ tác
phẩm, nội dung Buddhist Sociology – Xã Hội Học Phật Giáo còn tiếp giáp
khoa học chính trị, kinh tế, pháp luật, y học .v.vv Tất cả đòi hỏi
người dịch phải thận trọng, không làm công việc ‘biết nghĩa nào dịch
nghĩa đó’. Lần nọ, tôi dẫn ông bạn tu sĩ đi thăm văn hóa phi vật thể
tại khuôn vi đại học Nalanda cũ (the Old Univesrsity of Nalanda), vị
ấy yêu cầu dịch tấm biển tiếng Anh mô tả kiến trúc một di tích có từ
‘sleeper’ hết sức quen thuộc, thường được biết với nghĩa ‘người ngủ
trên toa xe lữa’, thế nhưng tôi trợn trạo mãi vẫn không dịch suông sẻ,
chỉ vì ‘sleeper’ trong văn cảnh là một thuật ngữ kiến trúc ám chỉ ‘cái
xà ngang’.
Xưa,
Trang Tử khuyên ‘đặng ý quyên lời’. Tôi có thể lấy đó làm phương châm
chuyển dịch ngôn ngữ, nắm ý chung chung, bỏ qua chi tiết, đáp ứng nhu
cầu trí thức cá nhân, không phổ biến đến người đọc nên vô hại. Đặt
trường hợp muốn phổ biến dịch phẩm, người dịch không cho phép mình
‘đặt ý quyên lời’ dễ dãi phỏng dịch tuỳ tiện. Chẳng thà phỏng tác,
bạn hoàn toàn chịu trách nhiệm, còn phỏng dịch sai nguyên tác hay
‘dịch đại’ thì bạn gây ra ‘đại dịch’ lây họa cho tác giả & nhiều thế
hệ độc giả.
Có
những thuật ngữ, câu, đoạn tiếng Anh gút mắc, tôi phải viết thư hỏi
tác giả. May là giáo sư Nandasena Ratnapala còn sống & nhiệt tình hồi
âm. Nhưng khi đến chương XIII, Phật Giáo & Triết Lý Sống Khỏe
(Buddist Philosophy of Healthy), bộ não tôi va chạm hàng loạt thuật
ngữ y học nói về những được chất trong y học Ấn Độ cổ đại được cộng
đồng Phật giáo & xã hội đương thời sử dụng, chẳng hạn, nimba,
sulasi, hingu, hingu-gum, gum-patti, gum-panni, tausa, vilanga,
gotha.v.v.. Xem lại phần y dược trong Luật Tạng, người dịch vẫn
không tìm ra thuật ngữ y học tiếng Việt phù hợp; hỏi tác giả, ông cũng
gợi ý đúng việc tôi đã làm không kết quả. Dẩu sao, tinh thần trách
nhiệm buộc người dịch thận trọng chuyển ngữ nội dung nguyên tác, điều
đó sẽ giảm thiểu khuyết điểm trong dịch phẩm.
Tuy
giáo sư Nandasena Ratnapala, tác giả quyển sách, không có một dòng
khẳng định cụ thể quan điểm Phật giáo là gì, người dịch phải đứng mũi
chịu sào đối với bản Viễt dịch nên cần bày tỏ: theo tôi tin, Phật giáo
thuần tuý là hệ thống tinh thần nhất quán lập trường đức Gotama hay
đức Phật Thích Ca “phơi bày sự thật cuộc sống vô ít, khổ nhiều, & mưu
cầu giài pháp đúng đắn nhằm giúp bản thân & đa số giảm trừ đau khổ”.
Lập trường đó nói lên tiếng thực dụng trong toàn bộ lời dạy của ông,
riêng màu sắc bi quan hay lạc quan thuộc về nhận thức của mỗi chúng ta
trong lúc tiếp cận tư tưởng Phật giáo. Bi quan khiếng đời sống cá
nhân thêm buồn thảm, còn lạc quan cười cợt khổ đau đang gặm nhấm thân
tâm là lừa dối hiện thực, chi bằng nhận thức vấn đề & cố gắng giải
quyết vấn đề. Ít ra, tôi trân quý lập trường của ông vì xét thấy phù
hợp quan điểm sống của chính mình, giống như chúng ta trân quý những
cách ngôn, ngạn ngữ Đông Tây đượm nhuần yếu tố đạo đức & trí tuệ. Nói
cách khác, tôi trân quý tất cả giá trị các tinh thần, bất luận tác
quyền do vị hiền thánh vĩ đại hay trẻ nhỏ năm bảy tuổi bình thường,
nhường chổ lương tâm họ phán xét lịch sử nhân cách chính họ, tuyệt
nhiên không nuôi dưỡng ý định truyền bá, nhồi sọ & áp đặt ai cuồng tín
trong bất cứ tôn giáo hay một thứ chủ nghĩa nào, kể cả hình thức Phật
giáo hiện tại. Rõ rang đã có nhiều giấy mực biện minh Phật giáo không
phải lả tôn giáo, Phật giáo ngày nay vẫn chất chứa đầy dẫy yếu tố tôn
giáo tiêu cực: thờ phụng biểu tượng thần linh, giáo điều, lễ nghi,
chức sắc giáo phẩm… Nếu bạn tự nhận là tín đồ thứ Phật giáo đại loại
thế này thì tôi xin làm kẻ ngoại đạo vô can.
Nhiều năm dài tôi tự hỏi: “đức Gotama ra đời không vì mục đích làm
giáo chủ một tôn giáo hay phái giáo nào. Ông giống tiếng nói trung
thực phơi bày sự thật đời sống vui ít, khổ nhiều, & mưu cầu giải pháp
đúng đắn nhằm giúp bản thân & đa số giảm trừ đau khồ. Đó là Chánh
Pháp, bao gồm tất cả những gì phù hợp công bằng, lẽ phải, chân thiện
mỹ, những gì tạo ra phúc lợi cho xã hội. Những khái niệm tự do, dân
chủ trong địa hạt chính trị, chính sách phát triển nông-công-thương
hạn chế tối thiểu việc gây hại đời sống con người & môi trường sinh
thái trong địa hạt kinh tế cũng nhắm đến công bằng, lẽ phải, chân
thiện mỹ, tạo ra phúc lợi cho xã hội. Do vậy, nền chính trị phi bạo
quyền & kinh tế bất tư lợi bao hàm ý nghĩa Chánh Pháp, nói đúng hơn,
cũng là Chánh Pháp. Tại sao trí thức Phật giáo & các nhà lãnh đạo
Phật giáo hăm hở đề cao ‘truyền bá Chánh Pháp’, ‘hoằng Pháp độ sinh’
nhưng tai ngơ mắt ngó nhìn xã hội đầy dẫy bất công, lẽ phải bị chà
đạp, kẻ bạo quyền sống xa hoa hưởng thụ, người lầm than nuốt tuổi nhục
sinh nhai? Tại sao chú trọng phát triển tâm linh mà không đồng thời
gian quan tâm cổ vũ xây dựng nhà nước gắn liền chình trị phi bạo quyền
& kinh tế bất tư lợi mang lại công bằng, lẽ phải, chân thiện mỹ, tạo
ra phúc lợi xã hội?”
Tôi
dám chắc một điều là Phật giáo hiện đại chưa vận dụng triệt để tư
tưởng đức Gotama. Trong tác phẩm Buddhist Sociology – Xã Hội Học Phật
Giáo, có hai chương cởi trói nỗi trăn trở của tôi, học thuyết kinh tế
Phật giáo & học thuyết chính trị Phật giáo, chúng thôi thúc tôi chuyển
dịch toàn bộ tác phẩm để bạn đọc thổi bùng ý tưởng mới mẻ làm thay đổi
quan điểm hoằng Pháp, hành Pháp giữa cộng đồng Phậtg giáo & cộng đồng
người. Nếu bạn cho rằng đề cao học thuyết kinh tế bất tư lợi & học
thuyết chính trị phi bạo quyền & phản tinh thần Phật giáo & tội lỗi,
tôi sẳn sàng chấp nhận mọi tội lỗi cho phúc lợi thiết thực hiện đại
của số đông nhân loại.