25
TÔN GIÁO CÓ THỂ MANG LẠI
HÒA BÌNH KHÔNG?
Hòa Thượng Tiến Sĩ K. Sri
Dhammananda
Dị Biệt Trong Sự Giải
Thích
T
ôn
Giáo và Hòa Bình là hai từ có thể định nghĩa và giải thích bởi nhiều người
khác nhau, tùy theo quan niệm tôn giáo và mức độ hiểu biết khác nhau.
Các nhà học giả và triết
gia nhìn vào tôn giáo theo nhiều đường lối. Một số định nghĩa trong một ý
nghĩa hết sức hẹp và giới hạn trong khi những người khác đưa ra một cái
nhìn tổng quát rộng rãi hơn.
Tự Ðiển Oxford định nghĩa
tôn giáo như một hệ thống tín ngưỡng và thờ cúng, con người công nhận một
Thượng Ðế cá nhân có quyền bắt phải vâng lời, và kết quả của sự công nhận
này liên quan đến hạnh kiểm con người.
Thomas Paine, một triết
gia người Anh nói: "Thế giới là quê hương của tôi. Nhân loại là anh em
tôi, và làm điều lành là tôn giáo của tôi". Một thái độ như vậy đối với
tôn giáo và thế giới rất thiết yếu để mang lại hòa bình, hòa hợp cho thế
giới mà ta sống.
H.G. Wells nói: "Tôn giáo
là phần chủ yếu trong nền giáo dục của chúng ta, nó quyết định hạnh kiểm
tinh thần của chúng ta". Với triết gia người Ðức nổi tiếng Emmanuel Kant,
"Tôn Giáo là sự công nhận những nguyên tắc luân lý như luật không được vi
phạm".
Mặt khác Karl Marx lại
nhìn tôn giáo như "thuốc phiện của con người" - cho con người xa rời thực
tế, hy vọng ảo tưởng về hạnh phúc trong đời sống sau khi chết đền bù cho
những tội lỗi thực sự của cuộc sống hiện tại. Với Engels, "Tôn Giáo không
là gì cả mà là phản ảnh quái dị về những lực bên ngoài kiểm soát đời sống
trong tâm con người lúc sơ khai".
Mục Tiêu Là Một
Dù sự khác biệt và giải
thích ra sao đi nữa thì tất cả các tôn giáo đều nhất trí đồng ý là hòa
bình là một điều thiết yếu tuyệt đối và tôn giáo đóng một vai trò sống còn
trong việc phát triển hòa bình của cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia và
thế giới.
Sự Cần Thiết Giáo Dục Về
Tôn Giáo
Vì thế giới chuyển càng
ngày càng sâu vào một thời đại của rối loạn với những vũ khí càng tinh vi
và nguy hiểm hơn, cùng với tai ương và tinh thần thoái hóa, sự cần thiết
giáo dục tôn giáo ngày nay lớn lao hơn bao giờ hết. Lo âu và băn khoăn
sinh ra từ sự bất trắc về tương lai càng làm tăng thêm áp lực và căng
thẳng vào tâm con người. Những thứ này chỉ có thể khắc phục được với sự
hiểu biết chính đáng bản chất của tâm - một môn học đã bị tách khỏi hệ
thống giáo dục có định hướng học thuật và vật chất cung cấp bởi các trường
học và các đệ tam tổ chức ngày nay. Tôn giáo lúc nào cũng là cái chìa khóa
để duy trì an lạc của tâm và cung cấp niềm an ủi tinh thần trong lúc nguy
cấp như trong lúc rối loạn, hay trong thời gian bị kẻ địch xâm chiếm và
những xáo trộn khác.
Con người cần tôn giáo như
chỗ thả neo khi tàu cập bến. Tâm con người luôn luôn thay đổi và xao động
nên cần có một số hình thức trợ giúp cho tâm vững vàng kiên định để có thể
tạo các quyết định hầu theo đuổi lý tưởng của mình trong cuộc sống. Với sự
chấp nhận một số giáo lý của tôn giáo, ta ràng buộc tâm ta vào các giáo lý
ấy giúp cho tâm có thể hướng về con đường thẳng hơn nếu ta là một nhà tự
do tư tưởng hay như một con sói đơn độc. Như con tàu bỏ neo nơi bến đậu có
thể chịu đựng gió to bão lớn, giống như tâm ràng buộc với nguyên tắc tôn
giáo, có thể đứng vững trước những cám dỗ và những xáo trộn tâm thần khác
của cuộc đời.
Cho nên giáo dục tôn giáo
dùng để làm cho tâm được vững vàng; phát triển sự thăng bằng tinh thần -
tránh tất cả những dạng thức cực đoan. Nó dẫn đến sự hiểu biết bản chất
thực sự của đời sống, cái chết, và thế giới - bên trong và bên ngoài. Rất
cần thiết cung cấp sự hiểu biết sâu xa và tuệ giác vào bản chất của những
giá trị cao của cuộc sống - nội dung tinh thần và đạo đức của nó - giúp
quét sạch tôn giáo cuồng tín và thành kiến, dọn đường cho sự hòa hợp tôn
giáo.
Người Có Ðạo Lý?
Một người có thể được công
nhận là có đạo lý bởi tính nết tinh thần - tư tưởng, lời nói và hành động.
Một người đã tự mình thanh tịnh hóa với tư tưởng thiện, lời nói hành vi
lương hảo là người có đạo lý hoàn toàn theo quan điểm Phật Giáo. Rất khó
khăn coi một người là đạo lý nếu người ấy chỉ đi đến chỗ thờ cúng và chỉ
cầu lợi chính mình, cho gia đình mình và không lưu ý gì tới người khác cả.
Hành động của người ấy thi hành với tâm địa hẹp hòi và động cơ ích kỷ.
Mặt khác, có thể có một số
người không dự các lễ nghi tôn giáo mà cũng chẳng cầu nguyện nơi thờ
phượng, nhưng lại giữ một số nguyên tắc tôn giáo bằng cách sống một cuộc
đời an lạc, bằng cách khắc phục nhược điểm của mình, và có lòng thông cảm,
khoan dung và hiểu biết đối với người khác. Những người như vậy có thể
được coi như người có đạo lý nhiều hơn là người nói ở phần trên.
Lý tưởng cho bất cứ một
người đạo lý nào là một cuộc sống đơn giản và khiêm tốn, một cuộc đời
không bị vương mắc bởi bất cứ mục tiêu vật chất nào (và các động cơ về
sau), và người ấy có thể đem hết năng lực vào sự trau dồi tinh thần đem
lợi ích chính mình và cho người khác.
Giá Trị Của Tôn Giáo
Chỉ tu tập bề ngoài dưới
danh nghĩa tôn giáo thì không thể hiểu được giá trị của một tôn giáo; với
một người không được giáo dục và không am tường có thể người ấy tu tập một
số truyền thống vô nghĩa vì nghĩ rằng điều đó là đúng. Muốn hiểu rõ bản
chất thực sự của bất cứ một tôn giáo nào, rất cần thiết phải nghiên cứu
giáo lý nguyên thủy của vị khai sáng ra tôn giáo ấy bằng cách tìm hiểu từ
nguồn gốc càng sâu càng tốt.
Giá trị thực sự của tôn
giáo có thể được hiểu trong phối cảnh đúng của nó, từ những lời dạy hữu lý
và hòa hợp đưa ra những chỉ phần thực tiễn làm sao sửa chữa mình và có thể
giúp cho một người sống một cuộc đời đơn giản, khiêm tốn, luân lý với an
lạc và mãn ý, nơi đây và ngay bây giờ.
Biểu diễn phép lạ huyền bí
hay thần thông, hứa hẹn thiên đường cực lạc sau khi chết và những sự tu
tập dị đoan chỉ "đầu độc" tôn giáo mà thôi - kích thích tâm đại chúng với
chuyện ly kỳ, phấn khích và niềm tin mù quáng. Những thứ này không dẫn đến
loại bỏ được ô trược tinh thần- mà có lẽ dọn đường cho sự say mê lớn lao
quyền uy trần tục, muốn nổi danh nổi tiếng và khoái lạc.
Trong một bài giảng cho
đại chúng, Swami Vivekananda nói: "KInh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của
kiến thức. Cũng cùng phương pháp điều tra nghiên cứu mà ta áp dụng cho
khoa học và kiến thức bên ngoài nên được áp dụng vào tôn giáo. Nếu tôn
giáo bị hủy diệt bởi sự điều tra như thế có nghĩa tôn giáo không là gì cả,
mà là một mớ sưu tập vô ích và không giá trị những niềm tin dị đoan, càng
biến mất đi sớm càng tốt. Tại sao tôn giáo cho rằng tôn giáo không bị ràng
buộc phải tuân theo lập trường suy luận mà chẳng ai biết...Tốt hơn nhân
loại nên trở nên vô thần bằng con đường đi theo suy luận hơn là mù quáng
tin vào hai trăm triệu thần thánh theo uy quyền của bất cứ ai..."
Trong khi tránh cái cực
đoan của niềm tin mù quáng và cái hoài nghi tri thức, người tầm đạo phải
tìm Chân Lý bằng suy luận và trí tuệ.
Phương Pháp Hữu Lý Ðể Giới
Thiệu Tôn Giáo
Thời đại của thuyết huyền
bí và thần bí đã nhanh nhường lối cho con đường của kiến thức khoa học và
điều tra.
Mặc dù những phương pháp
giả tưởng cổ xưa đã phục vụ mục đích loại bỏ mộtä số sợ hãi và bất an về
cái không biết trong tâm của người xưa tại nhiều nơi trên thế giới, phương
pháp này không còn áp dụng được với tâm người hiện đại.
Nhắc đến sự cần thiết cho
một viễn cảnh hợp lý hơn, cố Thủ Tướng Ấn Ðộ, Shri Jawarharlal Nehru đã
nói rằng ta nên tránh ba vấn đề chính khi giới thiệu tôn giáo. Ðó là: Kinh
Thánh, ý tưởng Thượng Ðế và thế giới kế tiếp. Ngài nhấn mạnh nếu ai giới
thiệu tôn giáo mà dùng bất cứ một trong ba điều này sẽ làm người dân có
khuynh hướng tin vào điều đó - chấp nhận tôn giáo đó mà không sử dụng khả
năng suy luận của chính mình. Lời khuyên để người dân tìm sự thực do kiến
thức và kinh nguyện với tâm hoàn toàn tự do của chính mình. Ðiều này thực
là một phương pháp lý tưởng để giới thiệu tôn giáo; để tránh khỏi nhiều
loại thành kiến về tôn giáo, niềm tin mù quáng và thiếu hiểu biết.
Nehru cũng ghi rằng ta
không nên chấp nhận mọi thứ viết trong bất cứ kinh thánh nào dưới danh
nghĩa tôn giáo. Ngài cho rằng nguyên tắc chính của tôn giáo là: "làm tốt
được tốt và làm xấu gặt xấu". Tán thán cách giải quyết hữu lý của Phật
Giáo, trong cuốn "Sự Khám Phá của Ấn Ðộ", Nehru viết: "Ðức Phật đã can đảm
vạch ra sự bất toại nguyện của tôn giáo bình dân, dị đoan, lễ nghi và thủ
đoạn của các thầy tu. Ngài không chú trọng đến viễn cảnh siêu hình và thần
học, phép lạ, khải huyền, và những thứ siêu nhiên. Lời kêu gọi của Ngài là
lẽ phải, hợp lý, và kinh nghiệm.; sự nhấn mạnh của Ngài về đạo đức và
phương pháp của Ngài là một phương pháp lý giải tâm lý, khoa tâm lý không
có linh hồn. Toàn bộ cách giải quyết vấn đề của Ngài giống như luồng gió
mát thổi từ núi xuống sau cái không khí ô trược của những ức đoán trừu
tượng".
Ngài tiếp tục nói Ðức Phật
đã dạy điều vĩ đại hơn tất cả học thuyết và giáo điều và thông điệp bất
diệt của Ngài đã làm xúc động nhân loại qua nhiều thời đại. Có lẽ không
bao giờ trong lịch sử quá khứ thông điệp hòa bình của Ngài lại cần thiết
cho nhân loại đang đau khổ và lầm lạc như ngày nay.
Albert Einstein, trong khi
đề cập về tôn giáo của tương lai, nói: "Tôn giáo này phải vượt qua một
Thượng Ðế riêng tư, tránh giáo điều và thần học. Bao trùm cả về thiên
nhiên lẫn tinh thần, tôn giáo này phải căn cứ vào ý niệm đạo giáo phát
sinh từ những thực nghiệm của mọi vật, tự nhiên và tinh thần như một sự
thuần nhất đầy đủ ý nghĩa. Phật Giáo đáp ứng được các điều đó.
Cách giải quyết của Ðức
Phật là độc nhất vô nhị trong biên niên sử tôn giáo. Ngài khuyên các tín
đồ không nên chấp nhận Giáo Pháp vì sùng kính mà chỉ chấp nhận sau khi đã
điều tra nghiên cứu.
Ðức Phật khuyên nhiều
người đừng nên vội vàng chấp nhận giáo lý của Ngài mà hãy suy nghĩ cẩn
thận xem giáo lý của Ngài có thực thực tiễn với họ không. Nếu họ hoàn toàn
tin tưởng phương pháp của Ngài, thì Ngài mới chấp nhận họ là những tín đồ.
Ngay cả đến khi đã trở
thành tín đồ của Ngài, Ngài cũng không ngăn cấm họ hỗ trợ những đạo sư cũ
của họ. Ðiều này cho thấy Ngài cho tín đồ khoảng rộng tự do, không chút ẩn
nấp một ghen tị nào đối với các tôn giáo khác. Nó cũng làm sáng tỏ thái độ
hòa hợp của Ngài đối với các tôn giáo khác.
T.H. Huxley ghi nhận "Phật
Giáo trong sự thanh tịnh nguyên thủy không biết gì đến những lời nguyện
phục tùng và không bao giờ tìm sự giúp đỡ của cánh tay thế tục, tuy đã
truyền bá trên quá nửa thế giới cũ với một sự nhanh chóng tuyệt vời và vẫn
đứng vững dù với nền móng có đôi chút pha trộn những dị đoan bắt buộc,
những tín điều lấn át một phần số lớn nhân loại".
Theo nhận xét của
Alexander Cunningham, một nhà khảo cổ, "Phật Tử truyền bá đạo của họ tiếng
nói đầy tính thuyết phục, nhiều đạo khác truyền đạo bằng lưỡi guơm tàn
nhẫn. Con đường đẫm máu của các đạo khác sáng rực lên bởi ngọn lửa khủng
khiếp của những đô thị bị thiêu rụi, sự tiến bộ hòa bình của Phật Giáo
được sáng lên bởi những bộ mặt hoan hỉ của những người đau trong bệnh viện
các tu viện, bởi những nụ cười sung sướng của những khách du hành ngưng
chân nghỉ tại những quán trọ dọc đường".
Với Ðức J.T. Sunderland,
"Phật Giáo dạy các tín đồ nhiều về hòa bình rất hữu hiệu trong suốt lịch
sử của tôn giáo này hơn bất cứ tín ngưỡng vĩ đại nào mà thế giới biết đến.
Dân chúng có tâm trí cao hơn về mặt tinh thần, không giống như nhà duy vật
hiện nay, họ đặt tâm tính, phụng sự tình thương và hòa bình trên danh
tiếng, của cải, ưu thế và chiến tranh, và Phật Giáo phát triển rực rỡ vào
thời gian này vì Phật Giáo là tôn giáo duy nhất không có đổ máu và bạo
lực".
Tấm Gương: Vua A Dục
Sự kiện được ghi nhận
Asoka (Vua A Dục) hết sức tích cực tận tụy cho hạnh phúc thần dân của
Ngài. Với mục đích này, ông đã đào các giếng nước uống, trồng cây có bóng
mát, xây đường xá, công viên, các vườn trồng dược thảo, và các bệnh viện
cho người và súc vật. Ðể thấm nhuần tinh thần chính đáng vào các thần dân
mà ông yêu dấu như con cái, ông đã xây dựng các trụ đá khắp trong vương
quốc, trên các trụ đá này có khắc thông diệp cao quý về cuộc sống chánh
đáng (Chánh mạng). Những đại thần và những ủy viên được chỉ định để hướng
dẫn và giám sát sự tu dưỡng tinh thần. Ðại Hội Kiết Tập Lần Thứ Ba cũng do
ông triệu tập. Những sứ giả do ông gửi đi trên khắp lãnh thổ xa gần giúp
trong việc giao tiếp văn hóa du nhập trong lĩnh vực hòa bình và quan hệ
quốc tế.
Hoạt động của Vua A Dục
không còn gì nghi ngờ chứng tỏ ông là một điển hình nhiệt thành của một
đời sống tích cực cho các hành vi thiện. "Sự cố gắng đem hạnh phúc chung
và gửi tức thời các sứ thần thương mại là một số trong những nguyên tắc
chỉ đạo chính của ông. Thấm nhuần ý thức thực tế và năng động nổi bật, Vua
A Dục biểu lộ trong cuộc đời của ông tinh thần Phật Giáo cao độ, hành hoạt
đúng theo tinh thần thực sự của 'Bahujana Hitaya, Bahujana Sukhaya"- vì
phúc lợi cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người - một lý tưởng mà
chính Ðức Phật đã dạy cho sáu mươi thánh chúng đệ tử đầu tiên của Ngài trở
thành nhóm truyền giáo đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
Cảm hứng từ sự vĩ đại của
Vua A Dục, H.G. Wells, trong cuốn "Ðại Cương Lịch Sử", tuyên bố giữa hàng
ngàn tên tuổi các vua chúa đầy trên các cột lịch sử với oai nghi, thanh
lịch, thanh thản, cao kỳ lộng lẫy và những đặc tính tương tự như vậy, tên
tuổi của Vua A Dục sáng chói, chói sáng một mình, như một vì tinh tú".
Với tất cả cảm hứng từ Vua
A Dục để cho ta, ta phải cố gắng vươn lên qua khỏi cái tối tăm đang bao
trùm thế giới ngày nay.
Tôn Giáo và Chủ Nghĩa Duy
Vật
Nhiều mây đen bao phủ -
nhiều sự rối loạn và những khó khăn toàn cầu - có thể được truy nguyên do
sự suy thoái của tôn giáo và sự nổi lên chủ nghĩa duy vật.
Lịch sử loài người cho
thấy biết bao quốc gia đã suy đồi va nhiều nền văn minh đã tàn lụi với sự
tan rã của tôn giáo như thế nào. Sử gia, Edwward Gibbons "Trong cuốn Lịch
sử Thăng Trầm của Ðế Quốc La Mã" đã chứng minh sự đổ vỡ tôn giáo thành vô
số dạng thức là một trong những nguyên nhân góp phần vào sự suy thoái và
tan rã của Ðế Quốc La Mã. Việc xẩy ra cho La Mã, rồi đây cũng có thể xẩy
ra cho những nền văn minh hiện đại của chúng ta.
Nhận thức sự nguy hiểm xẩy
ra trước mắt, con người ngày nay phải có ý thức làm việc trong sự hợp tác
để kiểm soát và tránh những nguyên nhân có thể đưa sự thăng hoa đến sự suy
thoái và tan vỡ tôn giáo.
Trong khi những sự bất hòa
tôn giáo do sự cạnh tranh không lành mạnh để lôi kéo tín đồ đổi đạo, nạn
cuồng tín và "thánh chiến" tiếp tục làm hại viễn cảnh hòa bình nhờ tôn
giáo, giáo điều và niềm tin dị đoan phá vỡ giá trị của tôn giáo dưới ánh
sáng của kiến thức và các điều tra nghiên cứu khoa học ngày càng tăng
trưởng. Những điều này đương nhiên dẫn đến việc nổi lên của chủ nghĩa duy
vật- đang mang sự sói mòn luân lý to lớn cho xã hội loài người.
Tiến Bộ Vật Chất
Sự say mê điên cuồng theo
đuổi lạc thú trần tục, uy quyền và của cải đã dẫn đến tất cả những dạng
luân lý suy đồi, kỳ thị và thành kiến, thậm chí đến mức chính là nguyên
nhân gây ra hủy diệt hàng loạt nhân loại.
Một số được gọi là giải
trí hiện đại đã trình diễn khêu gợi thú tính và cảm xúc nhục dục của khán
giả. Dưới ảnh hưởng của những sự đầu độc như vậy, khán giả đôi khi không
kiềm chế nổi giác quan, nổi dục vọng đã làm những điều trái ngược với óc
suy xét tốt đẹp của mình, vi phạm sự yên bình và hạnh phúc của người vô
tội để thỏa mãn ham mê khoái lạc. Họ mất đi đường lối suy nghĩ hữu lý bình
thường, và không chịu nghe người khác dù họ nhận thức rằng những việc này
sẽ phá hoại đời sống của họ và của người khác.
Con người tham đắm quá mức
vào thỏa mãn ham mê khoái lạc tạo thành một xã hội bệnh hoạn và vô vọng
dẫn đến vô luân, vô đạo đức, hành động tội lỗi là điều ô nhục cho tinh
thần và nhân phẩm của con người.
Sự say mê uy quyền trần
tục dẫn các quốc gia đến những cuộc chạy đua vũ trang. Sự phát minh vũ khí
giết người có thể tiêu diệt thế giới trong một giây đã được thi hành bằng
cách tiêu pha ngân quỹ dành cho người đói và nghèo khổ . Chiến tranh được
coi như một xu hướng hiện đại không thể tránh được và một lối cuộc sống,
trả giá bằng sinh mệnh quý giá của hàng triệu người.
Những công cuộc tìm tòi
xây dựng và những kế hoạch dự trù để nâng cao nhân loại chỉ được hoặc coi
như quan trọng thứ yếu hay bị loại đi thay thế bằng lợi lộc vật chất trước
mắt.
Trí tuệ truyền thừa bởi
các giáo chủ với tinh thần giác ngộ đã chẳng được ai lắng nghe. Nh?ng lời
khuyên của các vị này: sống hòa bình và duy trì tiêu chuẩn đạo đức áp dụng
tổng quát trên vũ trụ, đã không còn được biết đến.
(Hãy
Rút Kinh Nghiệm) Cái Vơ Vẩn Của Nero khi La Mã Ðang Bị Cháy
Những quốc gia kinh tế
phát triển đến điểm không còn thấm nhập hơn được nữa dưới danh nghĩa tiến
bộ vật chất đang phải đối diện với những khó khăn to lớn về ô nhiễm môi
sinh, khủng hoảng năng lượng, thất nghiệp, lạm phát, luân lý suy đồi, và
những khó khăn xã hội như lạm dụng ma túy, xáo trộn tâm thần nghiêm trọng,
ly dị, tự tử, và nhiều dạng thức của bệnh tật.
Mặc dù những sự việc thảm
thương điên cuồng này xẩy ra, vẫn còn có những cái gọi là quốc gia đang
phát triển trên thế giới cố gắng tranh đua với thiên hình vạn trạng dạng
thức phát triển kinh tế - bắt chước nhiều hơn nữa văn hóa vật chất hy vọng
biến nhà của và xứ sở của họ thành thiên đàng vật chất. Giống như Nero vơ
vẩn (không làm gì) khi La Mã đang bị cháy, những người như thế đã thất bại
không biết học hỏi từ những lầm lẫn của người khác.
Tình Trạng Nhầm Lẫn Ðáng
Kinh Ngạc
Càng tham gia vào cuộc
chạy đua để đạt lạc thú nhục dục, uy quyền, danh tiếng, và 'vinh quang' -
lại càng gặp phải rối trí và xáo trộn, lại càng đóng góp vào những mâu
thuẫn; đó là thế giới ngày nay.
Một mặt, con người sợ hãi
chiến tranh, mặt khác họ lại dốc toàn lực để sửa soạn chiến tranh! Họ nói
nhiều về hòa bình nhưng lại gieo rắc nghèo đói! Tuy thế giới càng ngày
càng đông lên mỗi ngày, con người lại cảm thấy càng cô đơn! Càng có nhiều
giờ rảnh rỗi, lại càng bất an bấy nhiêu! Mặc dù được trang bị với đủ loại
kiến thức để được an toàn trên cung trăng, nhưng không biết làm sao sống
an toàn trên trái đất! Ðó là những rối rắm và mâu thuẫn của con người hiện
đại sống trong thời đại không gian này. Tuy nhiên những khó khăn này chưa
hẳn là hoàn toàn mới lạ với nhân loại.
Xáo trộn phát sinh chừng
nào thì vết nhơ của si mê vẫn hiện hữu trong tâm con người. Cùng với các ô
trược khác, si mê đã làm con người mù quáng không còn khả năng nhìn thấy
và hiểu biết bản chất thực sự của sự vật hay thực tế chủ yếu của cuộc đời.
Cuộc Sống Không Cân Bằng
Sự không cân bằng giữa sự
phát triển vật chất và tinh thần là nguyên nhân của sự bối rối lớn lao và
những tình trạng khó xử mà thế giới hiện đại phải đương đầu.
Của cải không thôi không
thể mang hòa bình và hạnh phúc cho con người. Dao động và thất bại đang
chờ đợi tâm không cân bằng. Không tìm được phương cách và phương tiện thỏa
mãn để chống lại biến động của cuộc đời, con người tìm đến đủ loại ma túy
và độc dược để tạm thời xoa dịu thất bại, không xoa dịu nổi họ quay về tự
tử hay bị xáo trộn thần kinh.
Những trường hợp ghiền ma
túy càng ngày càng tăng, rượụ, cờ bạc vân vân... là những triệu chứng của
cuộc sống không cân bằng.
Xu hướng ru ngủ ta vào
những tiện nghi của cuộc sống hiện đại mà không có một tư tưởng cho tiến
bộ tinh thần đã làm con người hôn mê và biếng nhác. Muốn khắc phục điều
này, ta cần phải có nghị lực, sức mạnh, và kiên nhẫn thuộc về địa hạt của
niềm tin ăn sâu trong tôn giáo.
Hòa Bình Do Tôn Giáo
Sự tăng trưởng nhanh chóng
duy vật chủ nghĩa và cuộc sống không cân bằng đã che khuất tiềm lực hòa
bình qua tôn giáo. Tôn giáo thế giới ngày nay đã phát triển thành những cơ
cấu tổ chức lớn, và những giáo lý nguyên thủy của các nhà khai sáng ảnh
hưởng rất ít đến các tín đồ trong các đức tính như đơn giản, kiềm chế,
chân thật, và vị tha.
Muốn nhận thức được giá
trị thực sự của tôn giáo, một sự hiểu biết tường tận về những thông điệp
nguyên thủy của vị khai sáng rất cần thiết. Các giá trị đao đức và luân lý
đơn giản có một tiềm lực lớn lao cho hòa bình.
Sự tu tập kiềm chế tư
tưởng mang hòa bình và hòa hợp cho cá nhân và sự kiềm chế lời nói và hành
động của thân đem hòa bình cho người khác.
Do ba luồng tư tưởng, lời
nói và hành động của thân này mà tất cả tội lỗi hay những hành động bất
thiện được thực thi. Chúng là những " cánh cửa" của thế giới bên trong -
nơi những mâu thuẫn bắt đầu. Nếu thế giới này được canh chừng cẩn trọng,
chiến tranh và xung đột đương nhiên bị ngăn chặn.
"Biết Mình" qua tôn giáo
là nguyên tắc hướng dẫn đến hòa bình đến vương quốc của thiên đường. Nếu
người ta có thể theo nguyên tắc tôn giáo chân chính liên quan đến kiềm chế
và thực thi bổn phận và nghĩa vụ đối với mọi người trong xã hội, hòa bình
và hòa hợp tự nhiên sẽ theo sau.
Lời khuyên đơn giản của
Ðức Phật cho các tín đồ trong Kinh Sigalovada (Thi Ca La Việt), phác họa
bổn phận và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái, thầy và trò, chồng và vợ, bạn
bè và bạn bè, chủ và người làm, và các đạo sư và đệ tử, bao trùm toàn bộ
bổn phận trong gia đình cũng như ngoài xã hội của một cư sĩ. Bình luận về
Kinh này, Bà Rys Davis nói: "Học thuyết về tình thương và thiện chí giữa
người với người của Ðức Phật được thiết lập trong đạo đức gia đình cũng
như xã hội với nhiều chi tiết toàn diện hơn bất cứ nơi nào khác. Và thực
ra ngay bây giờ chúng ta có thể nói về Giới Luật hay tiêu chuẩn kỷ luật ấy
như thế này: Thật căn bản làm sao các lợi ích mà con người có thể có được
nhờ giới luật này, thật lớn mạnh và lớn lao làm sao cái trí tuệ đã hình
dung ra các giới luật này, đến mức các lời thuy?t giảng ấy ngày nay vẫn
tươi rói và thực tiễn cũng như vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn nhu thuở
các lời ấy được nói tại Rajagaha (Thành Vương Xá). " Sung sướng thay là
dân làng hay nhóm người ở bên bờ sông Hằng nơi mà người dân đầy tình lương
hảo và thông cảm, tinh thần cao thượng của công bằng được hít thở qua
những lời dạy mộc mạc và đơn giản. Có thể nói rằng: "Có thể không kém phần
hạnh phúc như dân làng hay gia đình ở trên bờ sông Thames ngày nay bởi họ
có thể nghe những lời này".
Thay vì làm tôn giáo thành
lối sống, tôn giáo đã được phát triển thành loại biệt ngữ triết lý và đã
trở thành một môn học cho sự tập luyện tri thức và tranh luận. Tu tập dị
đoan, quỷ thuật và thuyết huyền bí đã được giới thiệu nhằm đem vinh quang
và thắng lợi cho một tôn giáo này hơn tôn giáo kia. Tôn giáo đã được dùng
để bào chữa nhược điểm của con người - vì tham vàng và quyền uy.
Bằng cách đem các giải
pháp trần tục như vậy vào nhà tôn giáo hầu xúc tiến điều gì đó dưới danh
nghĩa tôn giáo, những nhà đạo giáo ngày nay phải hiểu những điều ấy chỉ
làm mờ đi và quét sạch cốt lõi thực sự của tôn giáo và con đường tinh thần
của đời sống, và giá trị thật sự của tôn giáo sẽ càng trở nên tối tăm cho
hậu thế.
Vẫn Còn May Mắn
Liệu tôn giáo còn có thể
mang hòa bình cho nhân loại ngày nay không, đương nhiên là một câu hỏi
thích đáng, nhất là xét dưới ánh sáng của những sự phát triển mới đây tại
một vài nơi trên thế giới nơi mà tôn giáo đúng là đã được đem vào chiến
trường.
Duy vật chủ nghĩa, đạo đức
giả, và cuồng tín chủ nghĩa giả dạng dưới chiêu bài tôn giáo đã là những
thảm họa to lớn trong lịch sử nhân loại. Tái diễn những lầm lẫn và thảm
họa trong quá khứ, đến thời điểm khi những hội nghị quốc tế về tôn giáo và
hòa bình được triệu tập và những lời tuyên bố cho hòa bình thế giới, tình
huynh đệ đại đồng, và hòa hợp tôn giáo chỉ là đạo đức giả hoàn toàn và là
điều ô nhục cho xã hội loài người.
Ðể hỗ trợ cho những hành
động vô lương tâm như vậy dưới danh nghĩa tôn giáo quả là chống lại chuẩn
mức úng xử và phẩm giá của con người. Chiến đấu ngoài chiến trường để có
hòa bình là không đúng, muốn có hòa bình phải có khả năng tự chiến thắng
lấy mình chứ không phải đánh bại người. Ðó là điều phải nhận thức thấu đáo
như một điểm chính yếu của vị tha. Mặc dù một số các nhà tôn giáo đã chọn,
vì tham vàng bạc và quyền uy trần tục, chính họ đã tự nhúng vào chiến
tranh tôn giáo, điều này không tiêu biểu cho toàn bộ lãnh vực tôn giáo.
Cho nên hãy để cho những người biết tư duy, yêu chuộng hòa bình ngày nay
phán xét liệu những thái độ của những con buôn chiến tranh như vậy có thể
chứng minh dưới danh nghĩa tôn giáo được không, hay chiến tranh và đổ máu
hoàn toàn tách khỏi tôn giáo.
Nếu người ta thực sự lưu ý
đến tìm kiếm và xây dựng hòa bình và hạnh phúc cho chính mình cũng như cho
những người khác, thì cũng chưa muộn - Sau cơn mưa trời lại sáng. Nguyên
tắc tôn giáo và giáo lý, rất đáng cho con người trau dồi, có khả năng cảm
thấy được và nhận thức được bởi chính con người vẫn hiện hữu.
"Mở rộng cho tất cả là
cánh cửa dẫn tới giải thoát hoàn toàn". "Thắng ngàn lần, ngàn quân địch
chưa thể gọi là thắng; Tự thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất". -
(Ðức Phật - Kinh Pháp Cú - Câu 103).
---o0o---
Mục Lục
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
9
|10
| 11
|12
|13
|
14
|
15
16
|17
|
18
|19
|
20
|
21
|
22
|
23
|
24
|
25
|
26
|
27
|
28
|
29
|
30
|
31
---o0o---
Source :
BuddhaSasana Home Page
Cập
nhật: 1-12-2002