19
CẦU NGUYỆN VÀ THỜ CÚNG
Tiến Sĩ G.P. Malalasekera
N
gười
ta thường hỏi: "Người Phật Tử có cầu nguyện không?" "Người Phật Tử đến
Chùa làm gì?" và " Thái độ của Người Phật Tử đối với cầu nguyện như thế
nào?"
Cầu nguyện và thờ cúng
thực ra hình thành một phần trọn vẹn của nhiều tôn giáo. Trong Phật Giáo,
cầu nguyện có nhiều ý nghĩa. Trong tôn giáo hữu thần tin vào Thượng Ðế
toàn năng có quyền vô hạn là Ðấng Sáng tạo thế giới, là cha của tất cả
sinh vật, cầu nguyện có nghĩa chính là cầu khẩn Thượng Ðế, yêu cầu Ngài,
xin Ngài hướng dẫn và che chở, ban sức khỏe và hạnh phúc và tha thứ các
tội lỗi.
Phải nói rằng ngay từ đầu
người Phật Tử không tin vào một Thượng Ðế như vậy và cũng không cầu nguyện
theo ý nghĩa ấy. Người Phật Tử tin vào Nghiệp luật nói hạnh phúc hay bất
hạnh phúc là kết quả về hành động của chính mình. Thịnh vượng hay ngược
lại được tạo ra cho mỗi cá nhân bởi hành vi, lời nói và tư tưởng của cá
nhân ấy. Nghiệp luật vô tư, không có tác nhân nào sau nó, chỉ huy hay quản
trị nó. Vô tư, nó không nhân từ mà cũng không tha thứ. Tội lỗi chỉ có thể
chuộc bằng cách làm điều thiện, điều thiện sẽ khắc phục được hậu quả của
hành động tội lỗi. Tội lỗi theo ý nghĩa Phật Giáo không phải là vi phạm
hay không tuân theo luật đặt ra có tính cách độc đoán của thượng đế bắt
chúng sanh phải theo mà là hành động sai lầm của thân, khẩu, ý nó làm hỏng
tính nết và cản trở sự phát triển nhân cách.
Vậy nên trong Phật Giáo
không có cầu nguyện được chấp nhận theo ý nghĩa thông thường của từ này
trên trần thế. Con người tự mình chịu trách nhiệm về điều thiện và tội
lỗi, sung sướng và nghèo khổ và không chịu trách nhiệm cho ai cả. Thế giới
không tùy thuộc vào sự tiến bộ hay thịnh vượng dựa vào bất cứ một người
bên ngoài nào và nó không được xây dựng bởi một ai bên ngoài cả.
Người Phật Tử làm gì khi
đến thăm chùa? Họ làm nhiều điều. Không có một ngày đặc biệt để thăm viếng
chùa chiền tuy có ngày trăng tròn, ngày trăng mới mọc là những ngày rất
phổ thông trong số nhiều người Phật Tử. Vào những ngày đó những người mộ
đạo tu bát quan trai giới, mặc đồ trắng, đồ trắng tượng trưng sự đơn giản,
thanh tịnh, và khiêm nhường. Những người mộ đạo này mang theo hoa, dầu,
hương và đôi khi bột gỗ đàn hương và long não. Tại Chùa, họ rửa chân tay
vì thanh tịnh thân xác và tâm tư được Ðức Phật ca ngợi. Trong chùa có
nhiều bàn thờ và nhiều chỗ để dâng đồ cúng. Chỗ bàn thờ chính được gọi là
Vihara (Chánh Ðiện) có nghĩa là tịnh xá nơi Phật cư ngụ.
Từ Vihara khởi đầu
dùng có nghĩa là chỗ ở của Ðức Phật. Sau này nó cũng được dùng để chỉ chỗ
ở của các thầy tu. Trong nghĩa ấy nó tương đồng với từ tu viện. Vihara
cũng bao hàm hình ảnh của Ðức Phật, gợi ý cái gì đáng giá và đáng chú ý.
Với người Phật Tử, hình ảnh tự nó không phải là một đối tượng để thờ
phượng, nó chỉ là biểu tượng và tượng trưng Ðức Phật. Hình ảnh giúp cho
người mộ đạo nhớ lại những đức hạnh vĩ đại của Ðấng Giác Ngộ. Về mục đích
của sự thờ phượng, thật ra là không quan trọng dù có hình ảnh hay không
hình ảnh nhưng hình ảnh giúp cho hành giả tập trung tư tưởng. Trong việc
lễ lạy một hình ảnh, người Phật Tử không phải là một người sùng bái thần
tượng gỗ, đất sét, hay bằng đá, và sự buộc tội người Phật Tử sùng bái thần
tượng là do ngu muội hoặc cố ý xuyên tạc.
Có một điểm đáng lưu ý nữa
là dùng từ Vihara để chỉ tòa nhà chứa đựng những vật tượng trưng cho Ðức
Phật. Như đã nói trước đây, từ đó có nghĩa là một tịnh xá, cho nên với
người Phật Tử, Vihara là nơi Ðức Phật sống, không những trong quá khứ mà
ngay bây giờ trong hiện tại. Sự thờ cúng Ðức Phật không phải là cho một
người nào đó chết, đã ra đi và không còn nữa mà là đối với một người nào
đó vẫn sống và hiện diện trước mặt mình. Ðiều đó không có nghĩa là người
Phật Tử tin tưởng Ðức Phật đã nhập diệt trước đây tại Câu Thi Na bây giờ
vẫn sống tại một nơi đặc biệt nào đó và đang thực sự hoạt động trên đời.
Nhưng người Phật Tử, vinh danh Ðức Phật, giống như hồi tưởng trong tâm đời
sống hiện tiền của Ðức Giáo Chủ để hành động thờ cúng của mình sống động
và có nghĩa lý.
Ðức Phật đã qua đời nhưng
ảnh hưởng của Ngài vẫn còn tỏa trên thế giới như hương thơm mà mùi ngào
ngạt vẫn tiếp tục bay tỏa dù chất liệu tạo ra đã không còn. Cảm nghĩ của
người Phật Tử là những đồ dâng cúng của mình cho một người vẫn còn sống,
cho Pháp Phật vẫn còn, và ký ức về cá tính rực rỡ của Ngài vẫn mãi mãi
xanh tươi. Ðiều này giải thích tại sao một số Phật Tử dâng cúng đồ ăn và
đồ uống tại các bàn thờ. Những lễ vật như thế duy nhất tượng trưng sinh
khí về niềm tin và sự thành tâm của họ; không môt ai, cả đến người Phật tử
ngu muội nhất tin là Ðức Phật hiện nay lại ăn và uống các lễ vật ấy. Ðó là
cách thức Phật Giáo bày tỏ một hình thức lý tưởng quan niệm của chúng ta
về Ðức Phật như một ảnh hưởng sống động trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta.
Dâng hoa và hương là một
sự dâng lễ thờ phượng, một hành động vinh danh, tôn thờ và tri ân dù lễ
vật này không có giá trị thực chất. Cũng giống như chúng ta dâng một vòng
hoa hay một bó hoa cho một người nào đó với ước vọng giãi bày lòng tôn
kính, kính trọng, cảm tình và lòng tri ân của chúng ta. Dâng cúng hoa và
hương được theo sau bởi lời tụng câu kệ nhắc nhở trong tâm đến những đức
hạnh tuyệt vời của Ðức Phật.
Như Ngài Hòa Thượng
Nanamoli đã nói: "Ðức Phật quả là một Ðấng Ban Phước Lành đã chấm dứt tất
cả phiền não và khổ đau, Ngài là người toàn bích, đáng được vinh danh,
Ngài đã đạt được trí tuệ tối thượng và giác ngộ, Ngài đã chỉ dẫn con đường
của kiến thức chính đáng, tư cách đạo đức, Ngài đã tìm ra hòa bình và hạnh
phúc, nhận thức ra chân lý về thế giới, như một nhà hướng đạo và một người
bạn không ai có thể bì kịp cho những ai muốn tìm đến sự hướng dẫn cũa
Ngài, Ngài là thầy của trời và người."
Phải chú ý rằng không có
yêu cầu để được ưu đãi, không có van nài để được che chở, mà là nhớ và
diễn tập lại đức hạnh của một vĩ nhân, đối với người Phật Tử đó là con
người vĩ đại nhất từ trước tới nay.
Sau đây trong một bài kệ
khác người mộ đạo tuyên bố chấp nhận Ðức Phật là vị Ðạo Sư, là người chỉ
đạo chừng nào mình còn sống, và bằng đức hạnh của sự kiện này hạnh phúc sẽ
đến với mình. Ðó là sự xác nhận niềm tin của người ấy vào Ðức Phật và chấp
nhận lối sống do Ngài vạch ra. Quan trọng hơn nữa là người mộ đạo bày tỏ
lòng cương quyết tự thắng mình nhằm đạt an lạc Niết Bàn mà Ðức Phật đã đạt
được do sự tu tập đức hạnh và chứng đắc trí tuệ. Người mộ đạo nhớ trong
tâm là trong hàng loạt sanh tiếp diễn, trong một thời gian dài, Ðức Phật
(được biết trước đây là vị Bồ Tát hay người tìm cầu giác ngộ hoàn toàn)
trau dồi những đức tính ấy dẫn chúng sanh đến toàn hảo và giác ngộ tối
thượng. Trên con đường tu tập, Vị Bồ Tát hay Phật-sắp-thành, coi sự cố
gắng không quá khó khăn, không có sự hy sinh quá lớn. Không chỉ trong một
lần sinh mà trong nhiều lần sinh, Ngài đã hy sinh mạng sống theo nguyên
tắc mà Ngài đánh giá cao để phục vụ người khác.
Tất cả mọi người đều có
thể trở thành Phật, nếu họ quyết tâm và có thiện chí theo con đường Phật
Ðạo. Ðức Phật không đạt cái vĩ đại mà những người khác không thể đạt được.
Lối sống của Ðức Phật gọi là Pháp và người mộ đạo nhớ lại bằng câu kệ, đức
tính và những đặc đặc điểm và đặc tính nổi bật của giáo lý. Vậy nên Phật
Pháp được nói đến rõ ràng không huyền bí hay bí mật đằng sau mà hoàn toàn
mở rộng như một bàn tay mở ra mà sự hữu hiệu được biểu hiện là rõ ràng và
và hiển nhiên có bằng chứng, Phật Pháp bất diệt và vô tận, lúc nào cũng
tốt đẹp khắp mọi nơi mọi lúc, chấp nhận thử thách, mời điều tra và nghiên
cưú, Phật Pháp không chút dấu giếm, không nằm trên tin ngưỡng mà trên sự
tin chắc, không mơ hồ mà xác thực trong mục tiêu vạch ra, mà chân lý và
hạnh phúc có thể đạt được bởi cá nhân và nỗ lực tích cực không tùy thuộc
vào ai khác mà hùng mạnh xiết bao .
Người mộ đạo cũng nhớ lại
sự khuyến khích và mở mang tinh thần của chính mình đang có, và thường là
đã có, những người tự hiến dâng cho sự nhận thức toàn vẹn Pháp, con đường
giải thoát, tranh đấu nghiêm chỉnh để tiến tới mục tiêu của sư tìm kiếm -
loại bỏ tham, sân và si. Họ là những tấm gương của đời sống lương hảo,
hạnh kiểm tốt, chính trực, không có gì đáng trách trong cư xử, đáng được
vinh danh và tôn kính, đáng được mọi người biết. Những người cao thượng
này được biết là Tăng Già hay cộng đồng của những đệ tử giác ngộ làm trong
sạch thế giới bằng điều thiện và tính chất thiêng liêng của đời họ, tránh
tội lỗi, thúc đẩy điều lành, và tràn đầy vũ trụ với tư tưởng hữu nghị,
thiện chí và hòa bình. Người mộ đạo cúng dường cho những người thoát ly
gia đình thực hành hạnh bố thí và rộng lượng. Nhớ đến những người cao
thượng này trong niềm hiếu thảo, người Phật Tử tu tập giữ giới và tràn
ngập tâm tư với tư tưởng cao cả, người đó dấn mình vào sự tu tập mức độ
cao hơn - thiền định hay trau dồi tâm (bhavana).
---o0o---
Mục Lục
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
9
|10
| 11
|12
|13
|
14
|
15
16
|17
|
18
|19
|
20
|
21
|
22
|
23
|
24
|
25
|
26
|
27
|
28
|
29
|
30
|
31
---o0o---
Source :
BuddhaSasana Home Page
Cập
nhật: 1-12-2002