7
NHỮNG ÐỨC HẠNH LÝ TƯỞNG CỦA
ÐỨC PHẬT
Hòa Thượng Tiến Sĩ K. Sri
Dhammananda
Ð
ức
Phật là hiện thân của tất các đức hạnh
lý tưởng. Ở nơi Ngài ta thấy sự hiện thân của luân lý cao nhất (giới), tập
trung sâu xa nhất (thiền định) và trí tuệ thâm sâu (huệ) - những đức tính
không ai vượt qua được và không sánh được trong lịch sử loài người. Những
đức tính cao cả ghi trong các kinh, những bài thuyết giảng của Ðức Phật.
Phật Tử trên khắp thế giới
tụng niệm và hành trì chín đức hạnh tối thượng ghi trong hệ thức tiếng
Pali, trong việc tu tập hàng ngày. Mặc dù Ðức Phật có nhiều những đức tính
cao thượng khác, ở đây trong hệ thức này, chỉ chín điều được lấy ra. Không
phải là không kể đến tại một số trường phái Phật Giáo, các tín đồ đã tiến
dẫn một số Ðức Phật ám chỉ một số đức tính vĩ đại của Ðức Phật. Tuy nhiên
dù cách thức giới thiệu Ðức Phật ra sao, thực tế tất cả các Ðức Phật lịch
sử thỉnh thoảng xuất hiện trên thế giới này, đều thấm nhuần những đức hạnh
ấy, cùng với sự giác ngộ giống nhau. Cho nên không có sự khác biệt gì phải
tôn kính bất cứ Ðức Phật đặc biệt nào, nếu Ðức Phật được chọn là một Ðức
Phật thực sự. Vì vậy cho nên không có một lý lẽ gì cho rằng Ðức Phật này
thần thông hay cao hơn Ðức Phật kia.
Những câu kệ sau đây bằng
tiếng Pali, nêu lên những đức hạnh thực chất bên trong của Ðức Phật mà
người Phật Tử trì tụng khi họ vinh danh Ðức Phật:
"Itipi So Bhagava Araham
Samma-Sambuddho
Vijja-Carana-Sampanno Sugato Lokavidu
Anuffaro Purisa Damma-Sarathi Sattha Deva-
Manussanam Buddho Bhagavathi"
Sự trung thực của câu kệ
này không thể nghi ngờ vì nó bắt nguồn từ nhiều bản kinh quan trọng trong
Tam Tạng Kinh Ðiển theo qui chuẩn Phật Giáo đã xác nhận cũng như từ nơi
bốn mươi phương pháp thiền định tư duy về những Ðức Hạnh của Ðức Phật.
Chuyển ngữ ngắn gọn từ
tiếng Pali như sau:
Araham
- Ứng Cúng (bậc đáng được nhận sự cúng dường của Người và Chư Tiên vì
dứt hết phiền não), Samma Sambuddhdho - Chánh Biến Tri (bậc biết
hết tất cả pháp); Vijjacarana Sampanno - Minh Hạnh Túc (bậc có đủ
trí tuệ và đức hạnh); Sugato - Thiện Thệ (đã làm xong các hạnh
lành, trên đường đi đến Niết Bàn); Lokavidu - Thế Gian Giải (bậc
hiểu rõ kiến thức thế gian); Anuttaro Purisadamma-Sarathi - Vô
Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu (bậc cao hơn hết trong hạng chúng sanh
thống trị lấy mình như bậc trượng phu cầm cương ngựa đi vào đường lành);
Sattha-Deva-Manussanam - Thiên Nhân Sư (bậc đạo sư của hàng người
và hàng Chư Thiên, dạy việc nên làm và việc chẳng nên làm); Buddho
- Phật (bậc giác ngộ hoàn toàn); Bhagavathi - Thế tôn (bậc cao
hơn hết trong cõi thế, được tất cả cõi thế, tất cả chúng sanh tôn trọng)
1- Araham - Ứng Cúng
Ðức Phật miêu tả một Vị
Ứng Cúng có năm phương diện chính:
* đã loại bỏ tất cả ô
trược;
* đã tiêu diệt được tất cả những kẻ thù liên quan đến việc loại bỏ các ô
trược;
* đã tiêu diệt được những nan hoa chống đỡ bánh xe cuộc sống (thăng trầm
cuộc đời);
* đáng được lãnh sự cúng dường và tôn vinh;
* không giữ bí mật đặc tính cũng như giáo lý của mình.
Ðức Phật là nhân vật vĩ
đại nhất trong lịch sử loài người, với một cuôc đời toàn bích, không hề
sai lầm, không thể chê trách và không tỳ vết. Dưới cội cây bồ đề Ngài
chiến thắng tất cả ma vương và đạt được thánh quả ở bậc cao nhất. Ngài
chấm dứt tất cả khổ đau, đạt Niết Bàn. Ngài là nhân vật được toàn thế giới
vinh danh và tôn kính trên mọi phương diện. Giáo lý của Ngài không chứa
đựng huyền bí hay bí mật, giống như một cuốn sách mở cho tất cả ai muốn
đến xem.
2. Samma-Sambuddho - Chánh
Biến Tri
Ðức Phật được gọi là Chánh
Biến Tri vì Ngài thấu rõ cuộc sống trên thế giới với viễn cảnh xác đáng,
và Ngài đã khám phá ra Tứ Diệu Ðế do sự thấu triệt của Ngài. Sinh ra là
một hoàng tử, Ngài đã từ bỏ trần tục và phấn đấu trong sáu năm dài tìm
giác ngộ. Trong thời gian ấy, Ngài đã tìm đến tất cả những đạo sư nổi
tiếng, Ngài đã tu tập tất cả những phương pháp của các đạo sư này. Ngài đã
đạt được tất cả và ngang hàng với các vị thầy của Ngài, nhưng vẫn không
tìm ra được ánh sánh giác ngộ. Cuối cùng, căn cứ vào sự tìm tòi hiểu biết
một cách hữu lý, và bước vào con đường trung đạo, khởi đi từ phương cách
truyền thống về niềm tin đạo lý nổi tiếng này cùng những sự tu tập, Ngài
tìm ra giải pháp cuối cùng cho những vấn đề chung vềà bất toại nguyện, mâu
thuẫn và bất mãn (Khổ) trên hoàn vũ. Ngài khám phá ra Luật Duyên Khởi-
Luật Nhân Quả, do những định luật này, Ngài tìm ra sự thật trần thế và trở
thành bậc Ðại Giác.
3. Vijja-Carana Sampanno -
Minh Hạnh Túc
Cụm từ ngữ 'Minh Hạnh Túc'
có nghĩa là Ðức Phật được thiên phú với một cái nhìn rõ ràng toàn hảo và
một tư cách đạo đức gương mẫu. Hai khía cạnh có ý nghĩa được thấy trong ba
đẳng kiến thức và tám đẳng trí tuệ. Ba đẳng kiến thức ấy là:
* Thứ nhất, Ðức Phật có
thể nhớ lại những lần sanh trong quá khứ và có thể nhìn lại kiếp trước
của Ngài và của người khác.
* Thứ hai, ngoài việc có
thể ôn lại quá khứ, Ngài có một sức nhìn độc đáo là có thể nhìn thấy
tương lai và hình dung được tất cả vũ trụ bất cứ trong một khoảnh khắc
nào.
* Thứ ba, Ngài có kiến
thức sâu xa về thánh tính (tứ quả thanh văn)
Về tám đẳng trí tuệ, Ðức
Phật duy nhất thiên phú bởi tuệ giác, thần thông thi hành kỳ công, thiên
nhĩ thông, tha tâm thông, và nhiều thần thông vật lý, khả năng nhớ lại
những lần sanh trong quá khứ, thiên nhãn thông, và kiến thức nhạy bén về
cuộc đời thanh tịnh thánh tính.
Về chữ "Carana" hay
tư cách đạo đức, phương diện này được chia thành mười lăm loại hay loại
đức hạnh thấm nhuần tràn đầy nơi Ðức Phật. Những đức hạnh khác cộng thêm
vào được xếp loại như kiềm chế hành động và lời nói, kiềm chế trong sự
miệt mài tác động giác quan, điều độ trong việc dùng thực phẩm, tránh ngủ
quá nhiều, giữ niềm tin trong sáng, biết xấu hổ khi phạm tội lỗi, biếtù sợ
hãi khi phạm lỗi, khát vọng kiến thức, nghị lực, chú ý, và hiểu biết bốn
xu hướng gắn liền với lĩnh vực vật chất - Panna và Karuna phản ảnh như trí
tuệ và từ bi, cả hai là cặp song sanh cơ bản trong khi karuna cho Ngài
lòng từ bi phục vụ nhân loại. Do trí tuệ Ngài nhận thức điều gì phải điều
gì trái cho tất cả chúng sanh, và do lòng từ bi Ngài dẫn dắt các tín đồ
khỏi tội lỗi và lầm than. Những đức tính vĩ đại của Ngài đã khiến Ngài làm
cho Ngài có khả năng đem tình huynh đệ và đức tính tốt thực sự mưa móc cho
tất cả chúng sanh với mức độ tột cùng.
4. Sugato - Thiện Thệ
Ðức Phật cũng được gọi là
Ðấng Thiện Thệ có nghĩa con đường của Ngài là tốt, nói đến là thượng hạng,
lời nói và phương pháp sử dụng là con đường rất hòa hài và không thể chê
trách. Con đường đạt hạnh phúc chính đáng là thanh tịnh đứng đắn, không
cong queo, thẳng thắn và chắc chắn.
Lời dạy của Ngài tuyệt vời
không thể sai lầm được. Nhiều sử gia nổi tiếng và khoa học gia vĩ đại đã
phẩm bình giáo lý duy nhất đứng vững không bị thách thức bởi khoa học và
các nhà tự do tư tưởng là lời dạy của Ðức Phật.
5. Lokavidu - Thế Gian
Giải
Thuật ngữ Lokavidu
(Thế Gian Giải) sử dụng với Ðức Phật như một người có kiến thức thế giới
tuyệt vời. Bậc Ðại Ðạo Sư có kinh nghiệm, hiểu biết thâm sâu tất cả khía
cạnh của cuộc đời cả về vật chất lẫn tinh thần. Ngài là người đầu tiên
nhận xét có hàng ngàn hệ thống thế giới trong vũ trụ. Ngài là người đầu
tiên tuyên bố thế giới chẳng là gì cả mà chỉ là thế giới khái niệm. Theo
lời Ngài, việc ức đoán nguồn gốc và nơi tận cùng của thế giới hay vũ trụ
coi như vô nghĩa. Theo quan điểm của Ngài, nguồn gốc thế giới, sự tận cùng
và con đường đi đến tận cùng sẽ tìm thấy trong phạm vi chiều sâu có thể
hiểu được- xác thân dài (một sải)- con người với nhận thức và ý thức.
6. Anuttaro
Purisa-Damma-Sarathi - Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu
Anuttaro (Vô Thượng
Sĩ) có nghĩa vô song và không còn ai có thể vượt hơn. Purisa-damma nói đến
người thiên phú giáo pháp và Sarathi có nghĩa người lãnh đạo. Ba từ ngữ
này nói lên vị lãnh đạo vô song có khả năng mang con người vào con đường
chánh đạo. Trong số những người quyết định theo con đường giáo Pháp và
tránh xa tội lỗi có những kẻ giết người khét tiếng như Angulimala,
Alavaka, Nalagiri, hàng trăm kẻ đạo tặc, ăn thịt người và ngoan cố như
Saccake. Tất cả những người ấy đều được thấm nhuần giáo pháp và một số đạt
được thánh quả ngay trong đời hiện tiền của họ. Ngay cả Devadatta (Ðề Bà
Ðạt Ða), kẻ thù không đội trời chung, cũng vẫn được Ðức Phật cho phục hồi
do lòng từ bi vĩ đại của Ngài.
7. Sattha Deva-Manussanam
- Thiên Nhân Sư
Phiên dịch cụm từ này có
nghĩa Ðức Phật là Thầy của trời và người. Ghi nhận 'devas' (Trời) dùng
trong phạm vi này tức những chúng sinh, do những nghiệp lành, đã vượt qua
giai đoạn hàng người nhưng không phải là giai đoạn cuối cùng của sự tiến
hóa về sinh vật học. Hàng Trời trong văn cảnh Phật Giáo không liên quan gì
với truyền thuyết thần thoại cổ xưa. Ðức Phật là một vị Thầy phi thường
linh động có khả năng phân chia một cách rất kỹ thuật phù hợp các đẳng cấp
tinh thần của hàng trời và hàng người. Ngài dạy mọi người sống theo chánh
đạo. Ðức Phật là vị Ðạo Sư hoàn vũ.
8. Buddho - Phật
Tính ngữ đặc biệt
Buddho, có vẻ như lập lại lần thứ hai, mặc dù nó có ý nghĩa rộng hơn.
Buddho có nghĩa Vị Chủ Tể toàn trí toàn thức, có những thần thông
lạ thường có thể thuyết phục người khác bằng sự khám phá to lớn của mình
qua nghệ thuật giảng dạy người khác Pháp của Ngài. Kỹ thuật của Ngài không
có vị đạo sư nào có thể sánh bằng. Buddho cũng có nghĩa thứ hai là
"tỉnh thức" vì trạng thái bình thường của con người không ngưng ở trong
trạng thái sững sờ. Ðức Phật là người đầu tiên "tỉnh thức", và giũ sạch
trạng thái sững sờ. Rồi Ngài thuyết phục người khác tỉnh thức, và tránh xa
trạng thái mê mờ hay sững sờ.
9. Bhagava - Thế Tôn
Từ ngừ này dùng để chỉ Ðức
Phật, từ 'Buddho' hay 'Bhagava' dùng riêng từng chữ hay ghép
lại 'Buddho Bhagava' có nghĩa là 'Ðấng Thế Tôn' ('Ðấng Thiêng
Liêng') thường được thông dụng trong dân gian.
Ðáng được kính sợ và tôn
kính, Thế Tôn là danh hiệu của Ngài. Cho nên chữ 'Bhagava' có nhiều
nghĩa như đề nghị của một số phê bình gia. Ðức Phật được gọi là Ðấng Thế
Tôn vì Ngài là người hạnh phúc và may mắn nhất trong nhân loại đã chiến
thắng được ma vương, đã thuyết giảng chi tiết Pháp cao nhất và là người
thiên phú với khả năng tri thức siêu nhiên, siêu phàm.
* * *
Chín Ðức Tính vĩ đại của
Ðức Phật có thể sử dụng làm đề tài cho thiền định nếu những sự giải thích
của mỗi từ ngữ đặc biệt được thận trọng nghiên cứu kỹ lưỡng và mục đích
thực sự cùng bản chất được tóm thâu và thấu triệt. Chỉ lướt qua từng đoạn,
không hiểu thấu hoàn toàn không thể coi như hữu hiệu dù cho có sùng đạo.
Phương pháp tốt nhất là tụng đi tụng lại đồng thời nắm vững ý nghĩa hoàn
toàn của các sự bày tỏ ấy. Trong khi làm như vậy, ta cũng nên tập trung
vào những đức tính có chân giá trị ấy như những đức hạnh thực sự cần được
tích cực noi gương bởi tất cả tín đồ của Ðức Phật.
---o0o---
Mục Lục
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
9
|10
| 11
|12
|13
|
14
|
15
16
|17
|
18
|19
|
20
|
21
|
22
|
23
|
24
|
25
|
26
|
27
|
28
|
29
|
30
|
31
---o0o---
Source :
BuddhaSasana Home Page
Cập
nhật: 1-12-2002