6
ÐỨC PHẬT
Hòa Thượng Narada Mahathera
Ð
ức
Phật là một chúng sanh độc nhất vô nhị. Ngài là nhà tư tưởng sâu xa nhất,
diễn giả có tài thuyết phục nhất, người làm việc đầy nghị lực nhất, nhà
cách mạng thành công nhất, một vị đạo sư hết sức từ bi và khoan dung,
người quản lý hành chánh có năng lực nhất. Ðặc tính trứ danh nhất của Ngài
là sự thanh tịnh tuyệt đối và thánh tính toàn hảo. Ngài hết sức thanh tịnh
và hết sức thánh thiện khiến người ta gọi Ngài "Bậc Thánh Thiện nhất trong
các Bậc Thánh" Ngài là gương mẫu toàn vẹn của tất cả các đức hạnh. Ngài
thuyết giảng không bao giờ Ngài tỏ ra giới hạnh yếu kém. Người nào đã tiếp
xúc với Ngài đều phải công nhận sự vĩ đại không thể nghĩ bàn và đều bị ảnh
hưởng sâu xa bởi cá tính có sức lôi cuốn như nam châm của Ngài. Thiện chí,
trí tuệ, từ bi, phục vụ, từ bỏ thế tục, cuộc đời gương mẫu, phương pháp
không thể chê trách dùng trong việc truyền bá giáo pháp, và sự thành công
cuối cùng của Ngài - tất cả những yếu tố trên đây đã góp phần tôn vinh Ðức
Phật bậc Ðạo Sư vĩ đại nhất.
Ðức Phật là nhà truyền
giáo đầu tiên tích cực nhất trên thế giới. Ngài đi hết chỗ này đến chỗ kia
trong 45 năm dài để thuyết giảng cho đại chúng và giới trí thức. Cho đến
giờ phút cuối cùng, Ngài phục vụ nhân loại cả về gương mẫu lẫn giới luật.
Những đệ tử xuất sắc của Ngài theo gương Ngài. Không một đồng xu dính túi,
những đệ tử này đã đi tới miền đất xa xăm để truyền bá giáo Pháp, không
mong được đền đáp gì.
"Hãy tinh tấn lên các con"
đó là lời nói cuối cùng của Ðức Phật. Giải thoát và thanh tịnh không thể
đạt được nếu không có nỗ lực cá nhân. Những lời cầu nguyện xin can thiệp
hộ bị phản đối kịch liệt trong Phật Giáo, thay vì cầu nguyện là thiền định
dẫn đến tự kiềm chế, thanh tịnh và giác ngộ. Mục tiêu sứ mạng của Ðức Phật
là để cứu chúng sanh thoát khổ đau bằng cách diệt trừ nguyên nhân gây ra
và chỉ dạy phương cách chấm dứt sanh tử nếu ai mong muốn. Tuy nhiên, Ðức
Phật cũng dẫn giải chi tiết trong nhũng bài thuyết pháp hướng về sự tiến
bộ thế giới. Cả hai sự tiến bộ vật chất lẫn tinh thần đều cần thiết cho
việc phát triển một quốc gia có tư tưởng chủ nghĩa vật chất trên thế giới.
Ta không nên tách rời cái này với cái kia, và cũng chẳng nên chỉ hoàn tất
tiến bộ vật chất bằng cách hy sinh tiến bộ tinh thần như chúng ta thấy
ngày nay ở một số quốc gia duy vật chủ nghĩa trên thế giới.
Pandit Nehru thường nhắc
đến Ðức Phật như người con vĩ đại nhất của Ấn Ðộ. Tiến Sĩ S.
Radhakrishman, một nhà lãnh đạo và triết gia Ấn, tán thán Ðức Phật với
những lời sau: "Nơi Ðức Phật Cồ Ðàm chúng ta thấy trí tuệ bậc thầy từ
Phương Ðông khoâng thua kém ai về ảnh hưởng đối với tư tưởng và đời
sống của loài người, và thiêng liêng đối với tất cả là người khai sáng ra
truyền thống tôn giáo mà ảnh hưởng sâu rộng hầu như không thua kém bất cứ
tôn giáo nào khác. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới, là gia tài
chung cho tất cả những người có văn hóa, xét bằng tri thức chính trực,
tinh thần nghiêm chỉnh và tuệ giác, chắc chắn Ðức Phật là một trong những
nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử."
Trong cuốn "Ba nhân vật vĩ
đại nhất trong lịch sử", sử gia H.G. Wells viết:
"Nơi Ðức Phật, các bạn
thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, lẻ loi, phấn đấu cho
ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải thần thoại. Ngài cũng có bức
thông điệp gửi cho nhân loại hoàn vũ. Nhiều những tư tưởng tuyệt diệu
hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài.
Tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy, là do lòng
ích kỷ. Con người trước khi có thể trở nên thanh tịnh, người đó ph?i
ngưng sống theo giác quan hoặc cho riêng chính mình. Rồi người đó mới
trở thành một đại nhân. Nói một cách khác, Ðức Phật kêu gọi lòng vị tha
của con người năm trăm năm trước Chúa Christ. Trong một số phương diện,
Ngài rất gần gũi với chúng ta, và nhu cầu của chúng ta hơn. Ngài cũng tỏ
ra sáng suốt hơn Chúa Christ trong sự quan tâm phục vụ và hy sinh cho
con người và ít mơ hồ hơn đối với vấn đề trường tồn bất tử của kiếp nhân
sinh."
Ðức Phật quả thực là một
người nhưng là một người phi thường. Ngài không phải sinh ra là một Ðức
Phật nhưng Ngài tự phấn đấu rồi thành Phật. Ngài nhận thức được khả năng
tiềm ẩn và năng lực sáng tạo của con người mà không tự đề cao Ngài như
thánh thần, khuyên dạy tín đồ tích cực noi gương Ngài, vì Phật tính tiềm
ẩn ở tất cả mọi người.
Ðức Phật được tôn thờ như
một đạo sư tinh thần tối thượng, nhưng không bao giờ muốn được sùng bái
như một thượng đế mong muốn đặc ân trần tục hay tinh thần. Ðức Phật không
để lại một dấu hiệu gì, hay bất cứ gì để những tín đồ thuần thành có thể
bám víu vào để suy tôn Ngài như thần thánh. Tuy nhiên, phải công nhận rằng
không có một vị đạo sư nào lại "quá vô thần và hữu thần như Ðức Phật",
Bertrand Russell gọi Ngài một cách đứng đắn là "Người theo thuyết vô thần
vĩ đại ở mọi thời đại".
Nhưng vô thần đây không
được hiểu lầm là đồng nghĩa với không tín ngưỡng. Muốn có hòa bình và hạnh
phúc thực sự trong nhân loại, thức tỉnh tôn giáo chân thành là hết sức cần
trong thế giới đạo đức lụn bại này. Ðiều quan trọng là không đặt niềm tin
vào tín điều hay chỉ tuân hành nghi thức và lễ lạc, mà mà là đem lợi ích
thực sự cho quần chúng, một cuộc sống tình thương lành mạnh, hữu ích, lẽ
phải và công bằng căn cứ vào những nguyên tắc cao thượng của các đạo sư
đáng kính.
Giáo Sư Joad tuyên bố:
"Vào thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên, tại Ấn Ðộ và Trung Hoa, xuất hiện
ba vị thầy vĩ đại, các vị này đã làm cho con người hiểu biết điều quan
trọng chính đáng phải làm để tự cứu dù có Thượng Ðế hay không có Thượng
Ðế; trong ba vị ấy người quan trọng nhất là Ðức Phật Cồ Ðàm."
Ðức Phật nhấn mạnh sự quan
trọng của giới hạnh như phương tiện đi tới mục đích. Ngài khuyên nên tu
tập chánh tư duy về lòng vị tha, từ ái, tính không làm hại; chánh ngữ để
có thể kiểm soát giọng lưỡi tác hại của mình; chánh nghiệp bằng cách kìm
hãm không giết người hay muông thú; không trộm cắp trực tiếp hay gián
tiếp, không tà dâm; và chánh mạng là thoát khỏi sự bóc lột và biển thủ
hoặc bằng bất cứ phương tiện gì bất hợp pháp để thủ đắc của cải hay tài
sản. Những dạng thức này hình thành nền tảng của giới hạnh.
Ðức Phật truyền đạt thông
điệp cao quý của Ngài về phục vụ vị tha, giới hạnh và lòng từ ái vô bờ bến
không những đến cho các vua, hoàng tử, nhà quý phái và người triệu phú, mà
cũng cho người nghèo, người cùng đinh và thiếu thốn. Ngài giúp cơ hội đồng
đ?u cho tất cả mọi người và nâng cao địa vị con người. Ngài tuyên bố con
đường đi đến phát triển tinh thần mở rộng cho tất cả mọi người trong mọi
hoàn cảnh cuộc sống, sang hay hèn, thánh nhân hay tội lỗi, bất cứ ai muốn
cải tà qui chính và tìm sự toàn bích.
Thường nhật Ngài thuyết
giảng cho cả các thầy tu và cư sĩ. Ðiều mà Ngài dạy chỉ là một phần nhỏ
nhoi của những điều mà ngài biết. Trong một dịp, Ngài cầm một nắm lá trong
tay, và so sánh những điều Ngài giảng dạy chỉ như những lá trong tay;
những điều Ngài không giảng dạy nhiều như lá trong rừng. Ngài chỉ dạy điều
cần thiết cho sự giải thoát của chúng ta.
Thường lệ hàng ngày, Ngài
nhằm vào người cần đến sự giúp đỡ của Ngài; Ngài chỉ dẫn, cổ vũ các đệ tử
đã quy y tụ tập để nghe Ngài giảng, Ngài trình bày chi tiết pháp đến cả
chư thiên. Ngày dạy Pháp cho quần chúng, cho những nhà trí thức. Lời Ngài
dạy như sữa cho em nhỏ và như thịt cho người lớn. Trước khi thuyết giảng,
Ngài thấy rõ người đói cần được ăn, thực phẩm cần thiết cho cơ thể thì
pháp cũng cần thiết cho tâm. Ngài săn sóc người bệnh bằng chính bàn tay
Ngài, Ngài tuyên bố: "Ai săn sóc người bệnh, người đó săn sóc Như Lai" .
Ðức Phật thiết lập một xã
hội không giai cấp bằng cách mở cửa Ðoàn Thể Tăng Già cho bất kỳ cá nhân
nào muốn gia nhập không phân biệt giai cấp hay đẳng cấp xã hội. Chỉ có sự
phân biệt là sự thâm niên của sa di (samanera), tỳ kheo (bhikkhus),
mahathera (tỳ kheo đã có 20 tuổi đạo) và sự đạt được bốn quả vị
thánh (tu đa hoàn, tư dà hàm, a na hàm, a la hán). Sự thành lập Ðoàn Thể
Tăng Già trên căn bản là dân chủ. Về phương diện này, (Hầu Tước, Phó Vương
Ấn Ðộ) Lord Zetland tuyên bố: "Có thể là một điều ngạc nhiên cho nhiều
người biết rằng trong các cuộc Hội Nghị của Phật Giáo tại Ấn từ trên 2500
năm qua, người ta đã thấy những hoạt động giống như ngày nay của chúng ta
thực thi tại nghị trường".
Cũng giống như vậy, lần
đầu tiên trong lịch sử, Ðức Phật thành lập đoàn thể ni giới cho phụ nữ bất
chấp đẳng cấp hay giai cấp xã hội. Ngài cho phụ nữ bình đẳng để phát triển
tinh thần.
Cũng được biết Ðức Phật là
người đầu tiên trong lịch sử bãi bỏ chế độ nô lệ bằng cách tiến dẫn khái
niệm tình huynh đệ và phẩm giá con người. Ðức Phật thuyết giảng chống lại
sự hiến tế các súc vật bất hạnh làm lễ vật, và đem chúng vào trong phạm vi
của lòng từ ái. Người Phật Tử thuần thành đem lòng từ ái tới mọi chúng
sanh, không phân biệt trong bất cứ trường hợp nào.
Chính lòng từ ái hình
thành cơ sở cho tình huynh đệ giữa các quốc gia, giữa các tôn giáo, phá vỡ
hàng rào ngăn cách quốc gia này với quốc gia kia, xu hướng tôn giáo này
với xu hướng tôn giáo kia. Nếu những tín đồ của những tín ngưỡng khác nhau
không cùng chung một cương lĩnh coi nhau như anh chị em đơn giản chỉ vì họ
không cùng một tôn giáo, chắc chắn các vị đạo sư cao quý đã thất bại trong
sứ mạng cao cả vì chính nghĩa cho nhân loại.
Ðức Phật hết sức khoan
dung, bất khoan dung là kẻ thù lớn nhất của tôn giáo. Cho nên Ðức Phật
khuyên các đệ tử không nên giận dữ, bất mãn hay không vừa lòng khi các
người khác nói xấu Ngài, giáo pháp của Ngài hay các nhà sư. "Nếu bạn tỏ ra
bất bình" Ngài nói " Không những bạn tự mang bạn đến nguy hiểm mất tinh
thần mà bạn còn không thể suy xét những người ấy nói đúng hay sai". "Một
cảm nghĩ giác ngộ nhất, cả đến sau 2500 năm của sự giác ngộ", Tiến Sĩ
Radhakrishnan nói như trên.
Ðức Phật giải thích không
có tín điều nào mà ta phải mù quáng tin theo, không có tín điều hay tín
ngưỡng nào mà ta phải chấp nhận mà không suy luận, không có nghi thức hay
các cuộc lễ dị đoan bắt ta phải gia nhập vào nhóm người cùng chung niềm
tin, và không có sự hiến tế và sự hành xác vô nghĩa cho ai muốn thanh tịnh
hóa. Ðức Phật trình bày chân lý đơn giản cho quần chúng và lời dạy triết
lý sâu xa cho người trí thức. Ngài khuyên những người đi tìm chân lý không
nên chấp nhận bất cứ điều gì do thế lực hay lý do gì khác mà phải tự mình
suy luận và phán xét điều đó đúng hay sai.
Trên chặng đường hòa bình
hoằng truyền giáo pháp của Ngài từ 2500 năm qua, không một giọt máu đổ
trong việc truyền bá giáo pháp, và không một ép buộc đổi đạo bằng sức mạnh
hay những phương pháp ghê tởm. Quả thực Ðức Phật là một nhà truyền giáo
thứ nhất và vĩ đại đã từng sống trên trái đất này.
Giáo lý tuyệt vời của Ðức
Phật đã lan tỏa và vẫn đang kiến tạo hòa bình trên đường đi vào ngày càng
nhiều các quốc gia trên thế giới do tính cách hữu lý, khả thi, hữu hiệu,
không quá khích, bao dung và đại chúng. Phật pháp đóng góp to lớn vào sự
tiến bộ văn hóa của nhiều quốc gia Á Châu. Tóm lại, tất cả những quốc gia
Phật Giáo lớn mạnh trong cái nôi Ðạo Phật.
Những quốc gia hình thành
và tan rã, những đế chế thế lực hùng mạnh đã thịnh vượng rồi lụi tàn,
nhưng đế chế của giáo pháp thành lập bởi Ðức Phật trên tình thương yêu, từ
bi, và lẽ phải, vẫn thăng hoa và sẽ tiếp tục thăng hoa.
---o0o---
Mục Lục
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
9
|10
| 11
|12
|13
|
14
|
15
16
|17
|
18
|19
|
20
|
21
|
22
|
23
|
24
|
25
|
26
|
27
|
28
|
29
|
30
|
31
---o0o---
Source :
BuddhaSasana Home Page
Cập
nhật: 1-12-2002