| ...... ... |
. |
Lược Sử
Chùa SẮC TỨ KIM-SƠN
Trụ trì: TT Thích
Nguyên Minh
Ngọc Hội, Xã Vĩnh Ngọc
TP. Nha Trang, T. Khánh Hòa
ĐT: 84. 58. 891120
Email:
nguyenminhthich@hotmail.com

Lược
Sử
Chùa SẮC TỨ KIM-SƠN
Kim Sơn thiên cổ
tự,
Bi Trí hiện tùy duyên,
Chân tâm vô sở trụ,
Điều Ngự Giác Hoàng viên.
Tại vị trí toạ lạc
chùa Sắc Tứ Kim Sơn hiện nay thì trước đây-trước năm Tân Sửu , Niên hiệu
Hưng Long , triều vua Trần Anh Tông (1301) - đã tồn tại một ngôi chùa .
Nhưng ta chưa thể biết ngôi chùa có trước đấy do ai tạo lập và tạo lập
vào lúc nào . Bởi vì cho đến nay chúng ta chưa có đủ những tài liệu đáng
tin cậy ghi chép về việc này : hơn nữa ngôi chùa có trước đó đã bị hư
hại đến mức hầu như không còn bao nhiêu dấu tích ngay từ trước năm 1301
. Do vậy , giới thiệu về lịch sử chùa Kim Sơn , xin bắt đầu từ cái mốc
1301 ấy .
Lần theo dấu chân
Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông - Đức “ĐẠI THÁNH TRẦN TRIỀU TRÚC LÂM
ĐẦU ĐÀ TĨNH TUỆ GIÁC HOÀNG ĐIỀU NGỰ TỔ PHẬT”-trong thời gian Ngài du hóa
xứ Chiêm Thành (từ tháng 3 đến tháng 11 năm Tân Sửu-1301) , chúng ta sẽ
thấy hiện rõ sự xác lập Kim Sơn Tư ï.
Như ta đã biết ,
sau khi lãnh đạo toàn dân Đại Việt đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông
, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và cuộc đấu tranh gìn giữ hòa
bình , gây dựng cuộc sống ấm no cho dân chúng đang trên đà phát triển
tốt đẹp , thì vua Trần Nhân Tông , theo truyền thống cực kì siêu việt
của Vương Triều Nhà Trần là sớm trao quyền lại cho thế hệ tre û, Ngài đã
nhường Ngôi lại cho Thái tử Trần Anh Tông , lên làm Thái Thượng Hoàng .
Sự kiện này diễn ra vào tháng 3 năm Quí Tị (1293) . Và trong sáu năm
(1293 đến 1299) song song với việc trực tiếp cố vấn cho vua Trần Anh
Tông còn non trẻ lãnh đạo quốc gia , Thượng Hoàng Trần Nhân Tông thực
hiện ý nguyện từ lâu của mình (và cũng là truyền thống của Cha Oâng) là
xuất gia tu hành . Thượng Hoàng đã thực tập cuộc sống của người xuất gia
tại Vũ Lâm
. (Tại đây vốn đã có sẵn một hành cung của Nhân Tông . Chính vì Nhân
Tông tập sự xuất gia ở đây nên hoàng cung trở thành chùa Vũ Lâm) . Năm
1299 , Thượng Hoàng chính thức xuất gia tại chùa Hoa Yên , núi Yên Tử,
lấy hiệu là Hương Vân Đầu đàø(sau đổi thành Trúc Lâm Đầu Đà , hay còn
gọi là Trúc Lâm Đại Sĩ , Hương Vân Đại Đầu Đà) trở thành một vị cao tăng
, là người kế thừa chính thức của Thiền phái Yên Tử, thế hệ thứ 6 tiếp
nối vị Tổ sư thứ 5 là thiền sư Huệ Tuệ . Hơn thế nữa , chính Trúc Lâm là
người khai sáng và xây dựng Thiền phái Trúc Lâm - một Thiền phái đậm đà
bản sắc Phật giáo Việt Nam . Đồng thời , Trúc Lâm cũng là người thiết
lập một Giáo Hội Phật Giáo thống nhất và nhập thế tích cực với tinh thần
từ bi , cởi mở, khai phóng , bao dung và hòa hợp vốn là
cốt tủy của sinh hoạt Phật giáo . Rồi cũng chính tinh thần từ bi, dung
hợp, khai phóng ấy , chính sự mở rộng cánh cửa tâm thức và tấm lòng
thiết tha với dân tộc ấy làm trụ cột tạo nên sức mạnh
Đại Việt , và là
yếu tố chính yếu thiết lập và duy trì nền thái bình thịnh trị của quốc
gia , dân tộc thời Trần . Điều này cũng có nghĩa là truyền thống Vương
triều Trần đều chủ động và tích cực dùng Chánh Pháp (Phật Pháp) trong sự
nghiệp lãnh đạo quốc gia . Riêng trong lĩnh vực quan hệ giữa các dân tộc
, các vị vua Trần , mà điển hình là Hoàng Đế Thiền sư Trần Nhân Tông ,
đã triệt để dùng chánh pháp để giáo hóa, xây dựng và củng cố tình đoàn
kết dân tộc , hóa giải mọi mâu thuẫn trên tinh thần bình đẳng , tôn
trọng , tương thân tương ái, nhầm đạt mục tiêu vì Nước (Nước mạnh) vì
Dân (Dân giàu).
Với tâm nguyện
củng cố và phát triển sự hòa hợp đoàn kết dân tộc một cách lâu dài, bền
vững , và cũng để hoằng hóa Phật Pháp tại xứ Chiêm Thành , mà vào tháng
3 năm Tân Sửu (1301) Trúc Lâm đi thăm Chiêm Thành . Ngài đi với tư cách
một vị du tăng , với một số tăng sĩ tùy tùng . Trên đường đi
xuống phía Nam , Trúc Lâm có ở tại am Tri Kiến của trại Bố Chính
.Rồi từ trại Bố Chính , Trúc Lâm đi sang Chiêm Thành .Thời gian Trúc Lâm
vân du tại Chiêm Thành khá dài , từ tháng 3 đến tháng 11 Tân Sửu (1301)
mới trở về Yên Tử . Và như vừa nêu , đây là một cuộc vân du của một vị
cao tăng , đứng đầu Giáo Hội Phật Giáo thống nhất Đại Việt , và
được Chúa Chiêm Thành nghênh tiếp với tư cách ấy.Trong thời gian lưu trú
tại Chiêm Thành , Trúc Lâm đã đàm đạo với Chúa Chiêm Thành là Chế Mân .
Cuộc tiếp xúc này chắc chắn là cuộc tiếp xúc thân mật . Chúa Chiêm Chế
Mân tiếp một vị cao tăng Đại Việt, nhưng đồng thời cũng là tiếp một vị
lãnh đạo tinh thần tối cao , có uy lực rất lớn trong triều đình và toàn
thể quốc dân .Vả lại , căn cứ trên quan hệ đoàn kết dân tộc giữa Triều
đình Đại Việt (với tư cách dân tộc Kinh) và xứ Chiêm Thànnh (với tư cách
là dân tộc Chăm - Chàm) trong giai đoạn Thượng Hoàng Trần Nhân Tông lãnh
đạo Quốc gia Đại Việt , thì ta có thể biết chắc Chúa Chiêm lúc ấy là Chế
Mân đã hết sức khâm phục và có tình cảm đậm đà với Trúc Lâm . Như ta
cũng đã biết , khi quân xâm lược nhà Nguyên , do Toa Đô chỉ huy binh
thuyền gây chiến và chiếm đánh Chiêm Thành vào cuối năm 1282 , Thượng
Hoàng Trần Nhân Tông đã cử Tiến sĩ Nguyễn Khả Lạt (em ruột Trung Liệt
Hầu Nguyễn Khoái) làm chánh tướng , thiền sư Phùng Đạo
Phong làm tham tán quân vụ , chỉ huy 2 vạn quân và
500 chiến thuyền với đầy đủ quân trang , quân dụng vào sát cánh cùng
quân dân Chiêm đánh tan quân Nguyên , tiêu diệt toàn bộ 300 chiến thuyền
với trên 1 vạn rưỡi quân lính , quét sạnh doanh trại và quan quân của
Toa Đô ở cửa biển Quy Nhơn , khiến tên bại tướng này phải thu nhặt tàn
quân bỏ chạy ra hồ Đại Lãng , Ô Lý Việt Lý (Bình-Trị-Thiên ngày nay) vừa
cướp bóc , vừa vỡ hoang trồng tỉa hoa màu mà sống.
Nước mắt , máu xương của quân dân Việt (Kinh) đã đỗ xuống để bảo ệ dân
tộc Chiêm, chiến thắng cuộc xâm lược của quân Nguyên vào xứ Chiêm
Thành.Chính ơn nghĩa sâu dày này và những hành động xây đắp tình thân
hữu bền chặt Việt (Kinh) - Chiêm khác nữa của Vương triều Trần đã khiến
chúa Chiêm càng thêm kính mộ đối với Trúc Lâm . Nhân đây , cũng cần nhắc
thêm lại một điều . Sau chiến thắng cuộc chiến tranh Nguyên – Chiêm
(1283-1284) , lo ngại giặc Nguyên sẽ quay lại đông hơn , mạnh hơn ,
quyết liệt hơn , chúa Chiêm Chế Mân đã xin vua Trần cho toàn bộ quân
Việt (Kinh) tiếp tục ở lại đất Chiêm để chuẩn bị kháng chiến lâu dài và
di chuyển vào phía Nam có vị thế thuận lợi hơn xây đắp thành trì , như
xây thành Quan Đông (tức là cửa ải phía Đông , nay là xã Ninh Đông ,
huyện Ninh Hòa) và xây tháp Pô-klong – Grai (sau ta quen gọi là tháp
Chàm) tại địa điểm nay thuộc thị xã Phan Rang tỉnh Ninh Thuận , để tăng
cường thực lực và thu phục nhân tâm.
Cùng thời gian
trên , ngoài 2 vạn quân Việt (Kinh) trụ lại , và thường dân Việt ra vào
xứ Chiêm Thành để buôn bán ngày càng đông , còn có không ít quan , dân
Nam Tống bại trận trước quân Nguyên vào năm Kỹ Mão (1279) và vô số người
Hoa (gốc Bách Việt) vùng Giang Đông cùng chạy sang tá túc tại đất này .
Trong số những người Hoa này có những môn đồ của thiền phái Lâm Tế -
Thiếu Lâm Tự . Ngoài việc tạo lập nơi ăn chốn ơ û, để có nơi học hành ,
thi văn , luyện võ , học nghề , trị bệnh cứu người như đã có từ thời nhà
Lý , cả người Việt (Kinh) , người Hoa cùng lập khá nhiều chùa chiền ở
khắp vùng Nam Hà , nhất là khu vực Trung Châu (từ nam đèo Hải Vân đến
Đồng Nai) , mà tập trung nhiều ở xứ Trầm Hương (Khánh Hòa ngày nay).Việc
xây dựng và phát triển ngày một nhiều chùa chiền như vậy chắc chắn là
được chúa Chiêm tán thành và hỗ trợ . Mà sự tán thành hỗ trợ này của
chúa Chiêm Chế Mân rõ ràng là một hệ quả tất yếu của tấm lòng kính mộ
của Chế Mân đối vớ triều đình Đại Việt , mà đặc biệt là đối với thượng
hoàng Trần Nhân Tông . Điều này cũng còn có nghĩa , Chế Mân có lòng kính
mộ đối với phật giáo do mộ vị phật tổ Đại Việt (Đức Điều Ngự Giác Hoàng
Nhân Tông) hóa độ . Sự trạng này được Trần Chí Chính , trong lời đề từ
bức tranh Trúc Lâm Đại Sĩ Xuất Sơn Đồ , viết :”Có lúc
Ngài (Trúc Lâm) viễn du hóa độ cho các lân ban , phía Nam đến tận Chiêm
Thành , đã từng khất thực trong thành . Chúa nước Chiêm Thành biết được
điều đó hết sức kính trọng thỉnh mời , dâng cúng trai lễ , sắp sẵn
thuyền bè nghi trượng , thân hành tiễn ngài về nước và đem đất đai hai
châu làm lễ cúng dàng cho Ngài . Ấy à Thuận Châu , Hóa Châu vậy.”
Trong thời gian
lưu trú tại Chiêm Thành , ngoài việc đàm đạo với vua quan , các vị tu
hành , lãnh tụ tôn giáo…tại phủ Đồ Bàn (Quảng Nam ngày nay),Trúc Lâm còn
đi thăm viếng , quan sát tình hình Phật giáo ở nhiều nơi trên đất chiêm
. Rất tiếc , cho đến nay chúng ta vẫn chưa biết được một cánh đầy đủ chi
tiết hành trạng của Trúc Lâm trong suốt 7,8 tháng lưu hóa tại Chiêm
Thành . Gần đây , do phát hiện và sưu tầm được một số tư liệu quí (sách
vơ õ, các bản chép tay của Cử nhân Nguyễn Tạo…) và sau khi khảo sát lại
các bộ sử sách hiện có (nhất là các bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , Đại
Nam Nhất Thống Chí…) kể cả các bộ sách sử Phật giáo Việt Nam , cũng
như sau khi trực tiếp khảo sát một số di tích Lịch sử - Văn hóa ở Khánh
Hòa , đã phần nào giúp cho việc khôi phục lại ành trạng của Trúc Lâm tại
xứ Trầm Hương (Khánh Hòa). Tất nhiên , ở đây chỉ trình bầy những việc
nào của Trúc Lâm có liên quan trực tiếp đến chùa Kim Sơn.
Thời còn là xứ
Chiêm Thành , vùng đất mà sau này có tên (theo tiếng Việt) là NhaTrang ,
được gọi theo tiếng dân tộc chàm , phiên âm từ chữ Ya-Tran . Từ sau khi
Thượng Hoàng Trần Nhân Tông vào thăm thì tên gọi chính thức vùng này
theo chữ Việt - Nho là “NhaTrang”. Đây là một cửa biển phía đông xứ Trầm
Hương (vì vậy mà sau này , Lê Quí Đôn gọi là Đông Hương ,
còn Tiến sĩ Lam Trà Nguyễn Văn Chương , trong sách Trung Châu Nhân
Vật Kí gọi là Cù Huân Hải Khẩu
.Việc
Thượng Hoàng Trần Nhân Tông gọi (đặt tên) cho khu vực cửa biển này là
NhaTrang không đơn thuần vì âm của hai chữ Việt Nho này rất gần với hai
âm tiếng Châm Ya-Tran , mà có lẽ quan trọng hơn cả, 2 chữ NhaTrang
này có ý nghĩa xác định sự hình thành và phát triễn một cuộc
sống sung túc , giao thương buôn bán hết sức nhộn nhịp của khu cửa biển
này . Sau này , trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký , Lam
Trà Tiến sĩ Nguyễn Văn Chương đã mô tả cửa biển NhaTrang đúng như sự
tiên đoán , xác định của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ngay từ năm 1301.
Lam Trà Tiến sĩ cho biết : Xứ này , từ thời Hoàng đế Trần Nhân Tông
vào thăm Chiêm Thành , gọi là cửa biển NhaTrang. Đến thời Lê Trung Hưng
lại gọi là Đông Hương , cũng gọi là cửa biển Cù Huân ấy vậy. Tại cửa
biển có đầm cù lao,cầu Bến Cá , tức là chợ NhaTrang . Thuyền buôn các
nơi mỗi ngày ước khoảng hơn trăm chiếc , ra vào buôn bán sản vật . Chính
vì sớm nhận ra cảnh sống sung túc nhộn nhịp như vậy mà Thượng Hoàng
Trần Nhân Tông đã ngự đề 4 chữ Việt – Nho :”NHATRANG TÂN THỊ” để gọi
vùng đất giàu đẹp này. (NHA là mầm non , TRANG là một tụ điểm dân
cư phong phú tươi đẹp , Tân là bến , THỊ chính là thị tứ , tức là
chợ ) . Như vậy , chúng ta có thể xác định rằng tên gọi NHATRANG
(một danh từ Việt - Nho) để chỉ vùng cửa biển này là Thành phố NhaTrang
, chính thức có từ ngày đó (1301).
Địa điểm được Trúc
Lâm đến thăm trước nhất có thể là nơi có tên gọi là Đại Điền (gồm 4 thôn
: Đại Điền Trung , Đại Điền Đông , Đại Điền Nam , Đại Điền Tây - nay là
các xã Diên Điền , Diên Sơn huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hoà) . Địa điểm
này chính là nơi lưu xuất và truyền tụng một câu chuyện (sự tích) có từ
thời Hùng Vương. Chuyện kể rằng : Vào thời các Vua Hùng có bà Tinh Vệ Mễ
Nương - con gái đầu của Hùng Càng Vương - cùng chồng là Chấn Long Thần
Phi “du hạ nam phương” có đem hạt dưa từ Trường Sa vào trồng tại vùng
đất dưới chân Hòn Dữ (về sau , Thượng Hoàng Trần Nhân Tông mới đặt tên
cho núi là Đại An , và tên này tồn tại cho đến tận ngày nay) . Do vùng
đất này trồng rất nhiều dưa nên thường được gọi là xứ đồng dưa (qua
điền xứ).
Núi rừng bao quanh
xứ Đại Điền có rất nhiều lâm đặc sản quí , đặc biệt là cây trầm (trầm
hương) . Gặp lúc bão lụt nhiều cây trầm gãy đổ trôi xuống lại bị sóng
biển đánh tấp lên đầy cả xứ Đồng dưa.Cư dân kéo lên chát thành từng đống
đốt.Khói hương thơm tỏa ngào ngạt tẩy trừ mọi sơn lam, chướng khí, dịch
bệnh .Cây trầm trở thành một loài cây hết sức quí giá.Từ đó xứ Đồng dưa
còn có một biệt danh là xứ Trầm hương . (sau này “Xứ Trầm Hương”trở
thành biệt danh của tỉnh Khánh Hòa).
Vợ chồng bà Tinh
Vệ Mễ Nương - Chấn Long Thần Phi hô hào dân chúng trong vùng đem đất cát
lấp thành lũy dài gọi là trường sa lũy để ngăn sóng biển . Lũy
này nối từ đèo Ninh Mã tới Cần Lương , tạo thành vịnh Vân Phong ở phía
Bắc . Còn lũy Thủy Triều chạy dài từ mũi Cầu Hin , Bãi Dài đến mỏm Chà
Đà, tạo thành vịnh Cam Ranh ở phía Nam.Trước mặt Bạch Hổ Sơn (còn gọi là
đồi Trại Thủy ở giữa NhaTrang) là quần đảo có tên là Hòn Tre , do Chấn
Long Thần Phi dời núi từ phía Tây ra làm tấm bình phong chắn gió cho
NhaTrang . (Ngày đó đảo này được trồng toàn là tre nên có tên Hòn Tre) .
Được bao bọc bằng các lũy và các núi (đảo ) chắn gió đó,
cù lao NhaTrang
rất an toàn , bình yên trên mặt biền hiền hòa . Do vậy mà NhaTrang cũng
được gọi là Cù Huân
. Sự tích xứ Đồng dưa - Trầm hương , dời núi, đắp lũy của vợ chồng bà
Tinh Vệ được phản ánh bằng một bài thơ rất hay ghi trong sách
Trung Châu Nhân Vật Ký:
Đại Điền cổ xứ
thị trầm hương,
Đông chí phong
ba nịch thủy luân,
Tinh Vệ,Chấn
Long di thực hải,
Hoằng khai gia
lý phú diên khang.
Tạm
dịch
Đại Điền xưa ấy xứ
Trầm Hương,
Đông tới phong ba
nước ngập tràn.
Tinh Vệ,Chấn Long
dời chắn biển,
Mở ra thôn xóm mãi
yên lành.
Sau khi hoàn
thành công nghiệp dời núi,đắp lũy tạo cuộc sống yên bình cho xứ Trầm
Hương , ông bà Tinh Vệ-Chấn Long theo sóng biển về nơi không dấu tích .
Để ghi nhớ công ơn sự nghiệp của vợ chồng bà, dân chúng lập đền thờ Bà
tại núi Đại An . Nhưng đến cuối triều Hùng Duệ Vương (258 trước Tây lịch)
. Thục Phán trị nước , bị ngoại tặc thôn tính , ngôi đền này bị triệt
phá.
Khi lên xứ Trầm
Hương - Đại Điền , nhớ lại tích xưa , tưởng niệm công đức của vợ chồng
Bà Tinh Vệ-Chấn Long Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tôn phong Bà Tinh Vệ là
THIÊN Y THÁNH MẪU , và bàn với Chúa Chiêm Chế Mân cho trùng tu lại ngôi
đền thờ ông bà Tinh Vệ . Chúa Chiêm Chế Mân đã cho trùng tu ngôi đền .
Trên mái trước đền tạc 4 chữ Nho THIÊN Y THÁNH MẪU
và 2 bên trụ đèn tạc đôi câu đối do chính Thượng Hoàng Trần Nhân Tông
ngự đề :
Tinh Vệ hận chí
năng điền hải
Chấn Long cừu lực
khả di sơn
Nghĩa là:
Chí Bà Tinh
Vệ (giận) có thể lấp biển,
Sức ông Chấn
Long (thù) khả dĩ dời núi.
Cùng
lúc với việc trùng tu đền thờ Thiên Y Thánh Mẫu là việc xây dựng một
ngôi chùa dưới chân núi Đại An .Với tên chùa cũng do chính Đức Điều Ngự
(Trần Nhân Tông) đặt là ĐẠI AN TỰ .Chắc chắn việc đặt tên chùa là ĐẠI AN
không phải là ngẫu nhiên .Hai chữ ĐẠI AN thể hiện rất rõ quyết sách của
Hoàng Đế Thiền sư Trần Nhân Tông là phục hưng quốc gia Đại Việt và
tạo dựng cuộc sống yên bình tươi đẹp mãi mãi cho dân tộc Chiêm .
Điều này được khẳng định rất cụ thể rõ ràng trong đôi câu đối mà Đức
Điều Ngự Trần Nhân Tông ngự đề cho chùa:
Đại Việt cơ đồ
tu hưng phục
An Chiêm sự
nghiệp lại diên khang.
Và
như vậy Hoàng Đế Thiền Sư Trần Nhân Tông , cũng tức là Đức Điều Ngự Giác
Hoàng Tổ Đại Việt , là người đã khai sáng , lập chùa Đại An
.
Đến ngày 12 tháng
7 năn Tân Sửu (1301) , Trúc Lâm rời chùa Đại An trở lại thăm một di
tích-thắng cảnh ở núi Gành - nằm sát cửa Đông Hương . (Theo Đại Nam
Nhất Thống Chí , núi Gành thuộc thôn Ngọc Toản , huyện Vĩnh Xương ,
phủ Diên Khánh) cách Nha Trang Tân Thị (tức thành phố Nha Trang
ngày nay) chừng 2 dặm (khoảng 3 km) về hướng Tây Bắc . Thấy phong cảnh
nơi đây thật đẹp đẽ , thanh tịnh , núi Gành trông như chiếc bình bát
bằng vàng (kim âu) của Phật To å, in bóng trên mặt biển xanh như ngọc
, trên núi lại còn lưu dấu tích một ngôi chùa không rõ do ai khai sơn ,
lập chùa từ bao giờ. Đây đúng là một chốn A-Lan-Nhã lí tưởng cho tu hành
, Trúc Lâm liền quyết định cho xây dựng lại thành một Thiền Tự và đặt
tên là KIM SƠN TỰ và ngự đề đôi câu đối cho chùa:
Kim âu lãng thủy
ngọc hoàn qui
Sơn tự thiền tông
hội phước trì
Nghĩa là :
Bát vàng soi bóng trên mặt nước ngọc qui tụ về
Ngôi chùa thiền
(Phật) trên núi tụ hội phước đức mãi
mãi
Sự kiện vừa nêu
được ghi chép khá rõ ràng , cụ thể trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký
như sau :”Tân Sửu niên , thất nguyệt , nhị thập nhật , Thượng
Hoàng Trần Nhân Tông tự Đại An Tự đáo hải biên , quan kỳ cảnh vật hữu
tình gian sơn hùng vĩ , mạng Thiền sư Thích Đạo Phong tái lập Phật tự vi
KIM SƠN TỰ . Hựu ngự đề :
Kim âu lãng
thủy ngọc hoàn qui
Sơn tự Thiền tông hội phước trì.”
Qua đoạn ghi chép trên cho chúng ta
thấy : trước khi Đức Điều Ngự Trần Nhân Tông đến , nơi đây (núi Gành) đã
có chùa nhưng rõ ràng ngôi chùa này đã đỗ nát, không người trông coi .
Cho nên Đức Trần Nhân Tông đã cho xây dựng lại (tái lập Phật Tự)
, ban tên chùa là KIM SƠN TƯ Ï, xác định chùa theo Thiền phái (mà đương
nhiên là Thiền phái Trúc Lâm) và người được giao trọng trách”tái lập
phật tự”là Thiền sư Thích Đạo Phong . như vậy ta có thể xác định được
rằng chính Đức Việt Phật Trần Nhân Tông là người khai sinh , lập chùa
Kim Sơn tại núi Gành (nay thuộc thôn Ngọc Hội , Xã Vĩnh Ngọc thành phố
Nha Trang , tỉnh Khánh Hòa) . Chấp nhận sự kiện này thì ngày 12 tháng 7
Aâm lịch hàng năm sẽ là ngày kỉ niệm lập Chùa , còn ngày Đức Điều Ngự
Giác Hoàng Trần Nhân Tông thị hiện Niết Bàn sẽ là ngày giỗ Tổ Sư khai
sáng chùa.( ? )
Trải qua một khoảng thời gian khá dài ,
do các vị chúa Chiêm đời sau chúa Chế Mân liên tục chống phá triều đình
Đại Việt , luôn gây ra tình trạng căng thẳng trong mối quan hệ với các
vương triều tiếp sau Nhà Trần ; mặc khác , đất nước ta luôn phải đương
đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo từ phía Bắc tràn xuống ,
hồng biến nước ta thành quận huyện của chúng và hủy diệt văn hóa Đại
Việt… cho nên hầu như chúng ta không còn có được những tài liệu nào đầy
đu û, đáng tin cậy ghi chép sự thăng trầm của các ngôi chùa Việt trên
đất Chiêm từ sau ngày Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông du hóa
Chiêm thành trở về Thăng Long vào tháng 11 năm 1301.
Phải chờ cho tới khi vương triều Nguyễn
thu phục toàn cõi đất phương Nam , thống nhất quốc gia, thì lịch sử vùng
đất phía Nam này mới được ghi chép có hệ thống và lưu lại cho tới ngày
nay . Đặc biệt , các chúa Nguyễn và sau này là các vua triều Nguyễn rất
tôn sùng đạo phật cho nên nhiều chùa chiền được xây dựng mới , còn những
ngôi chùa nào bị hư hỏng thì được trùng tu hoặc xây dựng lại . Trong số
những chùa được xây mới hoặc được trùng tu xây dựng lại trên đất Khánh
Hòa thời bấy giờ có chùa Kim Sơn . Tương truyền , việc xây dựng lại chùa
Kim Sơn được thiền sư Thiệt Địa - Pháp Ấn , thực hiện vào khoảng cuối
thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18.
Năm Canh Thân , niên hiệu Vĩnh Hựu thứ
6 (năm 1740) chúa Võ vương – Nguyễn Phúc Khoát ban biển ngạch và cho đổi
tên chùa là “Qui Tông” , bản tên chùa trên có đề 5 chữ Nho lớn “Sắc
Tứ Qui Tông Tự” sơn son thếp vàng , bên trái khắc năm chúa ban cho
là “Canh Thân niên nguyệt tạo” , chạm hình rồng nhỏ , và khắc
hình quả ấn tròn , trong có khắc 4 chữ “Hiệp nhất chủ nhân” bên
trái bản có khắc ấn hình vuông , trên có khắc 4 chữ triện “Nghiệp
Quảng Duy Cần” (Muốn mở mang cơ nghiệp cần phải siêng năng) . Bên
phải bảng có hàng chữ “Quốc Chúa Từ Tế Đạo Nhân Ngự Đề”, lại có
khắc ấn hình vuông đề 7 chữ: “Đại Khối Giả Ngã Dĩ Văn Chương”
(Trời mượn ta để làm văn chương) . Qua tấm bảng tên chùa này , ta biết
được chúa Võ vương – Ngiuyễn Phúc Khoác cai trị đằng trong từ năm 1738
đến năm 1765 , đã ban bảng tên chùa vào năm Canh Thân (1740) niên hiệu
Vĩnh Hựu thứ 6 , tức vào đời vua Lê Ý Tông ở Đàng Ngoài và vào thời chúa
Trịnh Doanh . Trong thời kì 1771 – 1802 , chùa Kim Sơn cũng bị suy sụp
như các chùa khác trong nước . Sau đó chùa được sửa chữa nhiều lần.
Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) , vua lại
sắc tứ cho đổi tên Qui Tông lại thành chùa Kim Sơn như cũ, nên chùa được
gọi là SẮC TỨ KIM SƠN . Vì vậy ở trước cửa chùa có bảng tên chùa Kim Sơn
Tự , trong chánh điện cũng treo bảng Qui Tông Tự do chúa Võ vương ban
cho vào năm 1740 .
Đến thời vua Khải Định (1916 – 1924) có
bà Trương Thị Đức vợ của tiến sĩ Nguyễn Văn Chương (Thái sư nhà Tây
Sơn), quen gọi là Bà Nghè (vợ ông tiến sĩ) , đến chùa Kim Sơn , lập một
am nhỏ phía dưới, bên phải chùa để tu hành và phát tâm trùng tu chùa Kim
Sơn , nên dân thời đó còn gọi chùa Kim Sơn là chùa Bà Nghè.
Đến năm Bính Tuất (1946) , thực dân
Pháp chiếm lại tỉnh Khánh Hòa, lấy chùa Kim Sơn làm nơi đóng quân cho
đội pháo binh , chặt hạ các cây cổ thụ quanh chùa , lập đồn bót , đặt
đại bác ở đây bắn phá vùng xung quanh thành phố Nha Trang . Chùa bị lính
Pháp phá hủy tan hoang.
Sau Hiệp định Genève (1954) , quân Pháp
rút khỏi Việt Nam , chùa Kim Sơn mới được tu sữa , xây dựng lại và sau
nhiều lần tu bổ , chùa có hiện trạng như ngày nay .
Ở chân Hòn Gành
cạnh đường xe lửa Sài Gòn – Hà Nội là cổng tam quan dẫn lên Đài Quán Thế
Âm Bồ Tát của Chùa (theo đường bộ) . Tam quan được xây dựng vào năm
1968 cùng lúc với việc xây dựng tiểu đình thờ Bồ Tát Quán Thế Âm .
Cấu trúc của tam
quan này gồm 4 trụ ( hai trụ chính , hai trụ phụ ) . Một bảng hoành bắt
qua hai trụ chính . Toàn bộ cổng được xây dựng trên nền xi măng dài 8
mét rộng 3,5 mét .
Trên cùng chính
giữa cổng là hình khắc Bánh Xe Chuyển Pháp Luân . Dưới hình bánh xe là
biển hoành dài 1,2 mét , rộng 0,4 mét ; trên biển hoành có ghi một dòng
chữ tiếng Việt ( kiểu chữ in ) GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
màu đen trên nền sơn vàng . Dưới dòng chữ đó là 5 chữ nho SẮC TỨ KIM SƠN
TỰ , chữ được đắp nỗi màu đen trên nền vàng . Dưới biển hoành , là một
bảng xi măng nối hai trụ chính với nhau , có ghi bằng chữ Việt (kiểu chữ
in : ĐÀI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT dược dược đắp nổi màu đen trên nền vàng .
Phía dưới dòng chữ này có ghi Phật Lịch 2512 (1968) .
Hai trụ chính cao
5 mét , chiều rộng trụ là 0,3 mét , dài 0,5 mét . Trên đỉnh hai trụ đều
đắp hai búp sen màu trắng . Mặt tiền hai trụ có đôi câu đối chữ nổi màu
đen trên nền vàng bằng chữ nho .
- Câu
đối bên phải : Kim Bích Giao Huy Điện Thượng Đài Tiền Quang Phổ Chiếu
- Câu
đối bên trái : Sơn Hà Thắng Cảnh Liên Hoa Liễu Nhứ Sắc Thường Tân .
Dưới chân hai trụ
chính là hai bệ theo kiểu chân quì .
Hai trụ nhỏ hai
bên cao 2,5 mét, rộng 0,3 mét, dài 0,4 mét . Mặt tiền hai trụ có đôi câu
đối bằng chữ Việt (kiểu chữ in hình tròn , đắp nổi màu đen trên nền
vàng)
- Câu
đối bên phải : Một Niềm Quyết Lánh Trần Gian Khổ
- Câu
đối bên trái : Cắt Aùi Ly Gia Học Đạo Thiền .
Trên và dưới các
câu đối có trang trí hình hoa sen màu xanh ngọc . Trên đỉnh hai trụ tôn
trí hai quả cầu có đường kính mỗi quả khoảng 40 cm màu trắng .
Hai trụ chính được
nối với hai trụ phụ bằng hai thanh dầm bề ngang 30 cm, phần cuối phía
ngoài cong lên .
Qua khỏi cổng tam
quan , theo đường dốc lên đỉnh đồi đến một khoảng đất bằng cách chánh
điện chùa khoảng 100 mét có mấy ngôi tháp cổ:
-
Phía bên trái có hai tháp :
+ Tháp thứ nhất
của Tổ sư Thiệt Địa – Pháp Ấn hình lục giác , năm tầng , cao khoảng 5
mét , trên đỉnh tháp có búp sen . Bia tháp ghi : “Khai Sơn Sắc Tứ Kim
Sơn Tự. Từ Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Ngũ Thế.Húy Thượng Thiệt Hạ Địa ,
Hiệu Pháp Aán Đại Lão Hoà Thượng Chi Bảo Tháp”
+ Tháp thứ hai của
ngài Ngộ Trí – Phổ Lợi , hình vuông , ba tầng , cao khoảng 5 mét , trên
đỉnh có búp sen . Bia tháp ghi : “Từ Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Cửu
Thế,Húy Thượng Ngộ Hạ Trí Hiệu Phổ Lợi Đại Lão Hòa Thượng Chi Bảo Tháp.”
Tiếp theo có tiểu
đình thờ Bồ tát Quán Thế Aâm, hình vuông cạnh rộng 8 mét, mới được xây
dựng năm 1968 trên nền cũ lô-cốt thời Pháp thuộc . Chung quanh có tường
thành và nhiều loại hoa cảnh xanh tươi . Đài đặt Tượng Quán Thế Aâm hình
lục giác . Trước tiểu đình có hai cây bồ đề như hai tàng lộng che tiểu
đình . Đi tiếp theo đường đất có rải đá dài gần 100 mét , khách hành
hương mới đến sân trước và vào chánh điện chùa.
Chùa Kim Sơn xây
theo kiểu chữ “Quốc”hay chữ “Khẩu”gồm 4 dãy nhà hình vuông , bao quanh
một sân lộ thiên ở giữa có đặt non bộ và cây cảnh .
Chánh điện là một
tòa nhà có kích thước 11m x 14,5m . Truớc chánh điện có bảng tên chùa
đắp bằng xi măng , kích thước 60 cm x 20,5 cm đắp nổi 5 chữ Nho màu vàng
: “SẮC TỨ KIM SƠN TỰ” trên nền đỏ (đắp năm 1960) . Trước chánh điện trên
4 trụ có hai cặp câu đối mang tên chùa và địa danh Ngọc Hội như sau :
-
Cặp câu đối ở hai trụ giữa :
+ KIM điện nguy
nga vạn cổ hồng đồ tăng tráng lệ.
+ SƠN môn thanh
tịnh thiên thu phong cảnh thắng quang minh .
-
Cặp câu đối ở hai trụ ngoài :
+ NGỌC triển lang
hàm chánh pháp hoằng tuyên hoa trụy hạ
+ HỘI khai bảo
tạng đàm kinh nhập diệu thạch đê đầu .
Chánh điện thờ Chư
Phật,Bồ tát như các chùa khác .
1/ Chánh điện :
xây theo kiểu cổ lầu , một bên chuông , một bên trống .Trên đầu nóc của
lầu chuông và lầu trống có hình mặt nguyệt và có hai chữ ÁN – LAM .
Chánh điện có chiều dài 14,5 mét , rộng 11 mét , có hàng hiên xung quanh
.
Từ sân sau (giữa
nhà thờ tổ sư và mặt sau chánh điện) nhìn lên , chúng ta sẽ thấy mái hậu
chánh điện gồm 2 tầng , mỗi tầng 4 mái . Trên bờ nóng , ở chính giữa là
biểu tượng mặt trời , chầu 2 bên là 2 con giao gắn trên đỉnh 2 bờ dải .
Hai bờ dải được đắp nổi theo biểu tượng hình con rồng . Trên 4 đầu đao
của mái tầng trên được trang trí bằng 4 biểu tượng con giao . Giữa 2
tầng mái là phần cổ lầu được xâybằng gạch trát phẳng . Trên 4 đầu đao
của mái tầng dưới cũng được trang trí 4 biểu tượng con giao . Toàn bộ 2
tầng mái được lợp bằng ngói tây.
Phía trước là bái
đường gồm 2 mái . Chính giữa có gắn biểu tượng mặt trời có vòng lửa bao
quanh , chầu 2 bên là hình tượng 2 con giao . Trên 4 đầu đao của mái
cũng có gắn 4 biểu tượng hình con giao .
Phía ngoài mặt
tiền chánh điện bên trên có một bức tường thư uyển (biển hoành) rộng
60cm dài 2,5 mét . Mặt tiền biển hoành có đắp nổi 4 chữ Nho “SẮC TỨ KIM
SƠN TỰ” . Góc trái bức hoành ghi 1960, góc phải ghi Phật lịch 2504 (tức
là năm đại trùng tu chùa) . Chạy dài hai bên bức thư uyển được lắp các
hình hoa sen cách điệu trang trí . Chính giữa cạnh trên biển hoành gắn
chữ Vạn , chầu hai bên chữ Vạn là hình hai con giao .
Đỡ toàn bộ biển
hoành – bức thư uyển là hàng cột hiên gồm 6 chiếc , cao 2,5 mét . Mặt
tiền 4 cột có 2 cặp câu đối bằng chữ Nho đắp nổi . Chữ viết màu đen trên
nền vàng , khung viền màu đỏ.
-
Đôi câu đối ở hai cột giữa :
Kim Điện Nguy
Nga Vạn Cổ Hồng Đồ Tăng Trán Lệ.
Sơn Môn Thanh
Tịnh Thiên Thu Phong Cảnh Thắng Quang Minh
-
Đôi câu đối ở 2 cột bên :
Ngọc Triển Lãng
Hàm Chánh Pháp Hoằng Tuyên Hoa Trụy Hạ.
Hội Khai Bảo
Tạng Đàm Kinh Nhập Diệu Thạnh Đê Đầu
Bên cạnh hai cột
giữa có hai con hạc đắp bằng xi măng , cao 1 mét , lông màu trắng , chân
nhỏ màu vàng , lông mao xanh , đứng trên lưng con rùa dài 60 cm , rộng
40 cm, cao 15 cm .
Vào bái đường ,
các cánh cửa làm bằng gỗ sơn màu gụ 5 cửa chính rộng 2,4 mét , cao 2,5
mét , gồm 4 cánh . Hai cửa bên mỗi cửa cao 2,3 mét rộng 1,8 mét .
Nội thất chánh
điện được bài trí như sau :
-
Chạy dọc hai bên từ bái đường vào hậu cung là hai hàng cột , mỗi
hàng 4 chiếc
-
Phía bên phải bái đường , đặt gần sát cửa ra vào mặt tiền là 1
quả chông bằng đồng treo trên giá đỡ cao 2m , rộng 1m bằng go ã, chân
giá làm theo kiểu cách điệu hình trụ . Chuông có đường kính 50cm , cao
1m , trang trí hoa văn nổi hình rồng và sóng nước . Ở góc chuông có khắc
dòng chữ quốc ngữ :
“NAM MÔ BỔN SƯ
THÍCH CA MÂU NI PHẬT TÁC ĐẠI CHỨNG MINH .
Quả hồng chung
này do thầy tọa chủ và Phật tử chùa Kim Sơn (tạo lập) dưới sự chứng minh
Chư Tôn Hoà thượng , Thượng tọa , Đại đức , Tăng ni thuộc giáo hội Phật
Giáo Việt Nam thống nhất Khánh Hòa . Trọng lượng 180kg .
Khởi công ngày
15 – 1 Tân Hợi .
Rót đồng nhày
19 – 2 Tân Hợi .
Khai trương
ngày 16 – 3 Tân Hợi .
Kính ghi .
Thích Aán Đạo .”
Chuông được đúc với chất lượng rất cao tiếng đánh
lên nghe trong trẻo , ngân nga vang rất xa .
Góc bên trái cửa
bái đường sát cửa ra vào đặt một cái trống lớn có đường kính 0,8m , dài
1m , được đặt trên một cái giá đỡ bằng gỗ giống như giá đỡ chuông , cao
1,2m , rộng 0,8 m . Trống được làm vào năm Tân Hợi , chất lượng vẫn còn
rất tốt .
Phía trên dầm cửa
chính , mặt trong bái đường có bức hoành phi làm bằng gỗ giả đá trên nền
đen , xung quanh có trang trí giải hoa cách điệu . Trong có khắc 3 chữ
Nho KIM SƠN TỰ . Đây là tấm biển được phục chế tấm biển bằng gỗ do vua
thiệu trị sắc hạ và ban tặng vào năm 1845 . (Tấm biển “gốc” này bị đốt
phá vào năm 1948 , chùa còn lưu giữ được phần xót lại của tấm bảng này)
. Tuy nhiên , tấm bảng phục chế hiện nay chỉ bằng khoảng 1/3 kích thước
thật cho vừa chỗ treo . Hi vọng khi đủ duyên , chùa sẽ có một bảng phục
chế đúng với nguyên bản .
Qua hết tòa bái
đường là tới trung âtm điện phật có phần nền cao hơn nền bái đường 10cm
phần trung tâm điện phật được xây theo kiểu tứ trụ cổ lầu gồm hai từng
mái, mỗi từng 4 mái . Đỡ lấy bộ mái là 4 trụ bằng gỗ hình vuông thuôn
dần lên trên . Liên kết các cột trụ là hai thanh xiên và hai thanh chính
, Từ mỗi cột trụ đều có 3 thanh kèo phụ và đầm phụ chạy ra 4 góc tường
và dấu đầu vào 4 bức tường .
Trên thanh chính ở
giữa trung tân chánh điện có một bức hoành phi làm bằng gỗ sơn son thết
vàng rộng 0,8m , dài 3m , có khắc nổi 5 chữ Nho lớn: SẮC TỨ QUI TÔNG TỰ.
Tấm biển này do chính chúa Nguyễn Phúc Khoác ban cho chùa vào năm Canh
Thân , niện hiệu Vĩnh Hựu thứ 6 (1740) .
Trên thanh chính
nối hai cột hai bên bàn thờ đức Phật có một bức hoành phi làm bằng gỗ
rộng 0.8m , dài 2.5m viền trang trí khá cầu kì theo kiểu
cuốn thư . Biển hoành này khắc 4 chữ Nho lớn ĐIỀU NGỰ GIÁC HOÀNG (cũng
là tôn hiệu của đức Việt Phật Trần Nhân Tông) .
Ở 2 cột phía trước
của trung tâm chánh điện có treo đôi câu đối (dài2,2m , rộng 0,25m) chữ
màu vàng được khắc nổi trên bảng gỗ sơn đen phía trên câu đối khắc hình
chữ Vạn , phía dưới khắc hình hoa sen .
Câu 1 : Bảo
Điện Trùng Quang Khai Quốc Gia Trị Bình Xương Vận .
Câu 2 : Kim
Sơn Vĩnh Trấn Kiến Dân Chúng Tín Ngưỡng Trung Tâm .
Ở hai phía cột
sau cũng có treo đôi câu đối cùng kích thước , mẫu chữ và trang trí như
đôi câu đối trên .
Câu 1 : Tuyết
Lãnh Chứng Chân Thừa Phúc Huệ Hoàn Toàn Tam Giới Thiên Nhân
Đồng Kính
Ngưỡng .
Câu 2 : Kỳ
Viên Tuyên Diệu Pháp Từ Bi Quảng Đại Thập Phương Đàn Tín Vĩnh Qui Y
Về bố cục và cách
sắp xếp các pháp khí trong tòa chánh điện như sau :
Ở giữa là bệ xi
măng có kích thước dài 2,5m rộng 1m là tòa sen màu trắng an tọa Đức Phật
Bổn Sư ở tư thế ngồi thiền .Tượng cao 1,2m rất đẹp .
Phía trước thượng
Đức Bổn sư là án thờ bằng gỗ màu gụ , có trạm trổ các hoa văn trang trí
như rồng , hoa dây …
Trước án thờ là
bàn kinh bằng gỗ màu gụ và cũng được trạm trỗ các hoa văn trang trí như
trên .
Hai bên bàn kinh
là 2 cái đôn bằng gỗ màu gu ï, cũng được chạm khắc các hoa văn cách điệu
. Cái đôn phía bên trái đỡ một cái mõ lớn được điêu khắc nhiều hoa văn
trang trí . Cái đôn phía bên phải đỡ một cái chuông gia trì lớn . Chuông
này có ghi : Sắc Tứ Kim Sơn Tự
Bên phải án thờ
Phật là một án thờ Bồ Tát Quán Thế Aâm bằng gỗ màu gụ được điêu khắc
nhiều hoa văn trang trí rất đẹp . Tượng Bồ Tát cao 1m, đứng trên tòa sen
cao 30cm, rộng 50cm .
Bên trái án thờ
phật là án thờ Đức Bồ Tát Địa Tạng Vương bằng gỗ màu gụ được điêu khắc
nhiều hoa văn trang trí rất đẹp . Tượng cao 1,2m, đứng trên tòa sen cao
30cm, rộng 50cm .
Nhà Thờ Tổ, Nhà Đông và Tây
Từ chánh điện đi
dọc theo hai hàng biên ở hai bên , phía bên phải là nhà đông , phía bên
trái là nhà tây , tiếp nối nhà tây là tăng phòng . Ở giữa là nhà thờ Tổ
. Ở đây cách bố trí của 3 tòa nha ø: Đông , Tây và Thờ Tổ đều quay chung
mặt tiền về khu sân sau (nối liền mặt sau chánh điện) của chùa .
-
Ở hàng hiên sau của chánh điện có treo một tiểu hồng chung có
đường kính miệng 35cm, thân dài 57cm . Quai chuông cấu tạo đơn giản . Ở
phần giữa chuông có khắc chìm một bài bằng chữ Nho :
“Tuế thứ Mậu
Tuất niên , tứ nguyệt , nhị thập nhật , Kim Sơn Tự , Ngọc Hội Xã.
Nhất tứ thiên
hạ Nam Thiệm Bộ Châu Kim Cứ Đại Việt Quốc , Quảng Nam xứ, Diên Ninh phủ
,Hoa Châu huyện , Phú Lộc Trung xã ,Long Tự trụ phụ .
Phật Kim hội , Thủ Nguyễn Văn Mẫn , Pháp danh Tâm
Năng ; Phạm Đình Trung , tự Tánh Trường ; Nguyễn Công Phụng , Pháp danh
Tâm Hương .
Nữ tánh Nguyễn
Thị Nhĩ , Trần Thị Đào hiệu Diệu Phổ , Nguyễn Thị Điển hiệu Diệu Hảo ,
Cao Thị Tuyên , Nguyễn Thị Hội … Thập phương tín cúng .”
Có thể xem quả
tiểu hồng chung này là một cổ vật .
-
Nhà Đông : có chiều dài 7,3m, rộng 5,3m, gồm 3 gian . Nhà xây
dựng đơn giản không có cửa , 3gian để trống . Liền với căn nhà này là
nhà bếp.
-
Nhà Tây : dài 7,3m, rộng 5,1m dùng làm nhà khách . Nhà xây dựng
đơn giản như nhà Đông . Gồm 3 gian trống không cửa . Tiếp nối căn nhà
này là tăng phòng .
-
Nhà thở Tổ .
Nhà có chiều dài
9,2m, rộng 10m,3 gian 2 chái . Phía trước có 4 cột hiên , chạy dọc tàu
mái là một bức tường che mái thượng , ở giữa đắp nổi 3 chữ Nho PHƯƠNG
TRƯỢNG ĐƯỜNG , với dòng chữ ghi bên phải : DL 1964 , bên trái ghi PL :
2507 .
Sau hàng cột hiên
ta bước vào nội điện thờ Tổ với 3 cửa chính , mỗi cửa rộng 1,2m , bằng
gỗ màu nâu .
Nội điện thờ tổ
bày trí như sau :
- Gian giữa có 1
bàn thờ, cao 1,2m, rộng 1m, dài 1,4m . Bàn thờ được xây 3 cấp . Trong
cùng , trên tường là chân dung Tổ Bồ Đề Đạt Ma ở tư thế đứng . Bậc trên
cùng đặt long vị các Tổ Sư : HT Thiệt Địa – Pháp Ấn (có kèm theo chân
dung ngài, đặt chính giữa) . HT Liễu Đức – Huệ Giáo (còn gọi là HT Đò) .
HT Đạt Huy – Từ Chiếu . HT Đạt Tiết – Từ Lễ . HT Phổ Quang (hay thiền
sư Ngộ Không – Tánh Tú) . HT Ngộ Trí – Phổ Lợi . HT Chơn Dương – Chánh
Giác . HT Đạo Phước – Bồ Đề (Ngài cũng là người khai sơn chùa Thiên
Phước , xã Diên Phú , huyện Diên Khánh ) . Thượng tọa Hải Chấn – Chánh
Ký . Thượng Tọa Thanh Hương – Như Thành . Thượng tọa Trừng Minh . Thượng
tọa Tâm Huệ – Ấn Đạo (viên tịch 1984) . Bậc thứ 2 có 1 mâm bồng bằng
đồng cao 30cm , hai bên là hai lọ lộc bình bằng sứ cao 40cm , 2 đèn cầy
chân đồng cao 60cm .
Bậc thứ 3 đặt một
mỏ có đường kính 40 cm và 1 chuông gia trì có đường kính 30m.
Trên ngưỡng bàn
thờ Tổ có 1 bảng hoành bằng gỗ sơn màu cánh gián , ở giữa chạm nổi 4 chữ
Nho : TRUYỀN ĐĂNG TỤC DIỆM . Bên phải có khắc chìm dòng chữ : Phật
Lịch nhị thiên ngũ bá tứ thập nhị niên (2542) . Bên trái khắc dòng
chữ : Tuế thứ Mậu Dần niên (1998) . Quí đông tạo .
Ở 2 cột trước bàn
thờ Tổ có đôi câu đối được khắc chìm, phủ nhũ vàng , trên bàn gỗ :
“Thiền Tông Tảo
Sáng Vu Nam Thiên Bát Nhã Tâm Hoa Kim Cổ Mậu .
Tuệ Nghiệp
Tương Thừa Ư Việt Địa Bồ Đề Đạo Thụ Diệp Chi Trường ”
2 gian hai bên có
hai bàn thờ để an vị và thờ chư hương linh người quá cố .
Ở phía trước , bên
trái chánh điện là 1 cốc 2 tầng xây theo hình lục giác , mỗi cạnh 3,4m .
Cấu trúc của cốc trang nghiêm và rất đẹp , xung quanh có cây cổ thụ, cây
cảnh xanh tốt .
Tuy chùa ở trên
đồi đá, cao, khô hạn nhưng vẫn có nhiều cây cổ thụ, cây cảnh xanh tốt và
được chăn sóc chu đáo tạo nên một không gian tâm linh thanh tịnh .
Các thế hệ
truyền thừa và trụ trì chùa :
I / Theo tài
liệu “
Chùa KIM SƠN trong sự nghiệp phục hưng bảo vệ tổ quốc Việt Nam anh hùng”
do cụ Nguyễn Hồng sinh hội trưởng hội văn hóa truyền thống dân tộc Nha
Trang Khánh Hòa – khảo biên (năm Nhâm Ngọ - 2002) thì các thế hệ truyền
thừa và trụ trì chùa Kim Sơn từ khi thượng hoàng Trần Nhân Tông cho “
tái lập Phật tự” (1301)đến nay (2006) là 23 vị:
1. Thích Đạo Lương
(1290 - ?)
2. Thích Đạo Minh
(1353 – 1399)
3. Thích Đạo Quang
( 1375 – 1437)
4. Thích Đạo Tâm
( 1397 – 1430)
5. Thích Đạo Vinh
(1445 - ?)
6. Thích Minh
Lương (1467 – 1523)
7. Thích Hỏa Long
(1489 – 1585)
8. Thích Cao Vọng
(1542 – 1615)
9. Thích Cao Phong
(1563 – 1624)
10. Thích Quảng
Sinh (1613 – 1675)
11. Thích Quảng
Thiện (1649 – 1675)
12. Thích Pháp
Cương (1692 – 1793)
13. Thích Pháp
Cường
14. Thích Pháp Ấn
15. Thích Nữ Diệu
Minh
16. Thích Quảng
Vân
17. Thích Minh
Hiển
18. Thích Ngộ Trí
19. Thích Thanh
Long
20. Thích Như
Thành
21. Thích Ấn Đạo
22. Thích Nguyên
Minh
II/ Tại nhà thờ
Tổ của chùa hiện có bài vị các vị sau :
1. Tự Lâm Tế
Chánh Tông Tam Thập Tam Thập Ngũ Thế , Húy Thượng THIỆT Hạ ĐỊA, Hiệu
PHÁP ẤN Tổ Sư Giác Linh . 2. Tự Lâm Tế Chánh
Tông Tam Thập Thất Thế , Húy Thượng LIỄU Hạ ĐỨC , Hiệu Huệ Giáo , Đại
Lão Hòa Thượng Giác Linh .
3. Tự Lâm Tế Chánh
Tông Tam Thập Bát Thế , Húy Thượng ĐẠT Hạ HUY , Hiệu Từ Chiếu , Đại Lão
Hòa Thượng Giác Linh .
4. Tự Lâm Tế Chánh
Tông Tam Thập Bát Thế , Húy Thượng ĐẠO Hạ PHƯỚC, Hiệu Bồ Đề , Đại Lão
Hòa Thượng Giác Linh .
5. Tự Lâm Tế Chánh
Tông Tam Thập Bát Thế , Húy Thượng ĐẠT Hạ TIẾT , Hiệu Từ Lễ , Đại Lão
Hòa Thượng Giác Linh .
6. Tự Lâm Tế Chánh
Tông Tam Thập Cửu Thế , Húy Thượng NGỘ Hạ THÔNG , Hiệu Phổ Quang , Đại
Lão Hòa Thượng Giác Linh 7. Tự Lâm Tế Chánh
Tông Tam Thập Cửu Thế , Húy Thượng NGỘ Hạ TRÍ , Hiệu Phổ Lợi , Đại Lão
Hòa Thượng Giác Linh.
8. Tự Lâm Tế Chánh
Tông Tứ Thập Thế , Húy Thượng CHƠN hạ DƯƠNG , Hiệu Chánh Giác , Đại Lão
Hòa Thượng Giác Linh .
9. Tự Lâm Tế Chánh
Tông Tứ Thập Thế , Húy Thượng HẢI Hạ CHẤN , Hiệu Chánh Ký , Đại Lão Hòa
Thượng Giác Linh .
10. Tự Lâm Tế
Chánh Tông Tứ Thập Nhất Thế , Húy Thượng THANH Hạ HƯƠNG , Hiệu Như
Thành Đại Sư Giác Linh .
11. Tự Lâm Tế
Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế , Húy Thượng TRỪNG Hạ MINH , Dại Lão Hòa
Thượng Giác Linh .
12. Tự Lâm Tế
Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế , Húy Thượng TÂM Hạ HUỆ , Tự Hưng Công , Hiệu
Ấn Đạo Đại Sư Giác Linh .
III/ Trụ trì
chùa hiện nay :
Tự
Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tứ Thế , Húy Thượng NGUYÊN Hạ MINH , Tự Minh
Hiền . – Thượng Tọa Trụ trì chùa từ năm 1984 .
Ghi Chú :
Đây là sơ lược lịch sử chùa . Do việc thu thập và xác minh các tài liệu
lịch sử chưa thật đầy đủ và độ chính xác còn bị giới hạn , cho nên rất
mong quí vị Thiện tri thức , các nhà nghiên cứu quan tâm giúp đỡ chỉ dẫn
để trong tương lai chùa Sắc Tứ Kim Sơn sẽ có được một bản lịch sử chùa
hoàn chỉnh .
Làng Vũ Lâm,Phủ Diên Khánh-Ninh Bình.Nay thuộc xã
Ninh Hải ,huyện Hoa Lư,
tỉnh Ninh Bình
Châu Ô , Châu Lý được nhà Trần đặt tên là Thuận Châu , Hóa Châu
vào năm 1307. Việc thu phục 2 châu này như vậy là diễn ra một
cách hết sức hòa bình êm thắm.
sách lược ngoại giao bình đẳng và đoàn kết dân tộc của Thượng
Hoàng Trần Nhân Tông (trong đó phải kể cả đến việc gả Công chúa
Huyền Trân cho Chế Mân) đã đem lại những thành quả chính trị và
an ninh thật to lớn cho quốc gia Đại Việt lúc bấy giờ.
CÙ HUÂN XU HẢI TẶC.
Cù Việt kình thiên hận bạch đầu,
Huân chưng hạo thủy khí lăng châu,
Bạch Hổ triều dương xu hải tặc,
Thanh Long bảo đị thổ hoàng thâu.
Tạm dịch:
CÙ HUÂN ĐUỔI GIẶC BIỂN.
Trắng đầu Cù Việt đứng canh trời,
Giọt châu khói tỏa nước bốc hơi,
Bạch Hổ núi ngăn quân cướp biển
Rồng Xanh gò nổi giặc thân vùi .
Rất
tiếc , trải nhiều lần can qua dưới thời Chế Bồng Nga và sau
đó,Đại An Tự đã bị phá hủy hoàn toàn.Chùa Đại An chỉ còn được
ghi lại trong sách Trung Châu Nhân Vật Ký

Chùa
Kim Sơn
Quách Tấn
Chùa ở thôn Ngọc Hội (xưa gọi là Ngọc Toản), cách thành phố Nha
Trang chừng 4,5 cây số về hướng Tây Bắc.
Tổ khai sơn là Pháp Ấn Hòa
Thượng, húy Thiệt Địa
Dựng năm nào không được rõ.
Chùa đứng trên một ngọn đồi
đá đột khởi giữa bình nguyên.
Đồi xưa kia đứng sát mé sông
Nha Trang. Trên triền phía Bắc là một gành cao ngó xuống mặt nước. Cho
nên tục gọi ngọn đồi là Núi Gành.
Truyền rằng khi Hòa Thượng
dọn núi cất chùa có được một số vàng chôn. Nên gọi núi là Kim Sơn và đặt
tên chùa là Kim Sơn Tự
Năm Canh Thân, niên hiệu Vĩnh
HỰu thứ 6 (1740), Chúa Nguyễn Phúc Khoát cải tên Kim Sơn làm Quy Tôn và
ban một tấm biển rộng lớn, sơn son thiếp vàng, khắc ba chữ đại tự "Quy
Tôn Tự" và có chú rõ năm ân tứ "Canh Thân niên tạo" cùng tám chữ lạc
khoản "Quốc Chủ Tế Từ Đạo Nhân ngự đề"
Tấm biển của chúa ban chứng
tỏ rằng chùa đã có từ thời Lê Ý Tôn, niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1740),
hoặc thời Lê Thuần Tôn, niên hiệu Long Đức (1732-1735). Lúc bấy giờ chúa
Nguyễn chưa xưng vương hiệu.
Đến năm Thiệu Trị thứ 5
(1845) nhà vua sắc hạ chùa nên theo danh hiệu cũ. Một tấm biển khắc tên
Kim Sơn Tự treo ngoài của. Còn tấm biển chúa Nguyễn Phúc Khoát sắc tứ
thì treo trong chùa để bảo tồn thắng tích.
Chùa đã nhiều lần bị hư và
nhiều lần tu bổ.
Dưới triều Khải Định
(1916-1924), vợ một hưu quan đã tự xuất gia sửa sang chùa lại. Từ ấy
người ta gọi là Chùa Bà Nghè.
Năm Mậu Tuất (1946) sau khi
tái chiếm Khánh Hòa, Pháp cho một đội binh lên đóng tại chùa Kim Sơn.
Chúng phá chùa, đốn hầu hết cổ thọ, và dựng lô cốt, đặt súng đại bác bắn
phá tứ tung.
Miếu Quá Quan và nhiều nơi cổ
tích ở trong phạm vi tầm súng đều bị phá hủy!
Sau ngày đình chiến, chùa mới
trùng tu. Kiểu chùa không được mỹ thuật. Nơi giặc xây lô cốt, nhà chùa
dựng một tiểu đình với tượng đức Quan Thế Âm.
Chung quanh chùa có mấy gốc
me cổ thọ dựng lại và một số cây mới trồng, không đủ "làm ấm cúng" cảnh
chùa. Quang cảnh tiêu điều ảm đạm. Người vãng cảnh có cảm giác đứng
trước một người bệnh đã ăn được cơm nhưng thiếu gạo nấu.
Nhưng vọng cảnh thì tuyệt!
Chùa hướng về Đông Nam, lấy
hòn đảo Bồng Nguyên, tục gọi là Hòn Miễu, ở Cửa Bé làm tiền án.
Bốn mặt núi non trùng điệp.
Biển Nha Trang ở phiá Đông trông như một vũng nước nhỏ ánh màu ngân.
Từ chân đồi đến chân núi,
mênh mông bát ngát, nào làng xóm, nào ruộng nương vườn tược, khi ẩn khi
hiện dưới nóng dừa xanh. Hòn Trại Thủy cách Kim Sơn chừng vài cây số.
Xiên xiên về hướng Đông Nam, trông như một hòn cù lao nhỏ ngập trong
thủy triều. Và thành phố Nha Trang "đồng hoá" cùng lá cây dính liền với
làng quê đồng ruộng: Những cao ốc biệt thự phố xá chỉ còn là những vệt
trắng, vệt xám, vệt đỏ, thấp thoáng trong sắc xanh của cây của núi của
trời.
Trừ trời ra, tất cả, cả núi
non, đều nằm dưới mắt. Nhìn đàn cò trắng bay cao, đám khói bay cao, cũng
phải cúi mặt xuống. Du khách ngông cuồng, nhiều khi tưởng mình "đã cao
hơn thiên hạ" rồi vậy!
Gần đây Định Phong lên viếng
cảnh, nhớ đến bài Ngôn Hoài của Không Lộ Thiền sư:
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thinh hàn thái hư
Cao hứng diễn Nôm:
Thân yên
đẹp chốn long xà
Thú vui
ngày tháng đượm đà tình quê
Có khi hề
thẳng bước
Thấu đỉnh
hề non côi
Hú dài
một tiếng thảnh thơi
Ùn ùn
lạnh suốt ngoài trời khói mây.
(Trích
Xứ Trầm Hương, tác giả Quách Tấn)
Hình ảnh
KHÓA TU MÙA XUÂN 2008
tại CHÙA KIM SƠN, NHA TRANG

Xem tiếp
Thư Ngỏ Xây Dựng Nhà Tăng
Sắc Tứ Kim Sơn
tại Thành Phố Nha Trang
---o0o---
Các Ngôi
Chùa ở Khánh Hòa
---o0o---
Ảnh và
trình bày: Nhị Tường
Cập nhật 1-11-2005
|
|