Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


 

 

 

 

Thiền Tông ở Việt Nam

GS Kiêm Đạt

 

 

   Về những lộ trình du nhập

 

Do hoàn cảnh địa lý và lịch sử nên về tôn giáo, chính trị và văn hóa nước Việt Nam ta đã từ nhiều thế kỷ chịu ảnh hưởng xa gần của Trung Hoa. Tuy nhiên, đạo Phật và dòng sử Việt, buổi ban đầu, không do Trung Hoa mà lại từ Ấn Độ du nhập.   Căn cứ vào lịch sử nước nhà thì, Đạo Phật truyền vào Việt Nam (khi đất nước ta còn gọi là Văn Lang - Giao Chỉ) do hai ngả đường bộ và thủy, giao liên giữa Ấn độ và Trung Hoa, phải ngang qua Việt Nam.   Về đường bộ đi qua miền Trung Á (Mông Cổ, Tây Tạng, Trung Hoa) rồi từ Trung Hoa qua Cao Ly và Nhật Bản.  Về đường thủy thì qua ngả Sri Lanka, Java thuộc Indonésia và Trung Hoa. Nước ta ở vào giữa hai con đường ấy, và do sự ghé lại của những thương nhân và tăng sĩ Ấn Độ đã mang hạt giống Bồ Đề - đạo Phật - trồng trên đất Giao Chỉ   ngay từ đầu kỷ nguyên Tây lịch. Rất có thể là trước kỷ nguyên Tây lịch người Việt đã có biết đến đạo Phật rồi.

Sau năm 111 trước Tây lịch, khi nước Việt đã do người Hán đô hộ, thì sự có mặt của đạo Phật - tôn giáo của Trí Tuệ và Tình Thương - là những "liều thuốc an thần" làm tươi mát những tâm hồn khô héo của người dân mất nước, nên tổ tiên ta đã tôn thờ Đức Phật, biết thâu thái những tinh hoa của Đạo làm lẽ sống để giữ lấy mình mãi còn là mình.

Trong cuốn  Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (chương 1: Đạo Phật du nhập Việt Nam - thời điểm và các thuyến du nhập), tác giả Minh Chi viết: "Một phái đoàn do hai cao tăng Uttara và Sona được phái đến Suvannabhumi, “xứ của vàng”. Sử liệu Phật Giáo Miến Điện chép rằng hai cao tăng đó đã đến Miến Điện truyền giáo. Nhưng sử liệu Phật giáo Thái Lan cũng ghi là hai cao tăng Sona và Uttara có đến Thái Lan truyền giáo. Liệu hai cao tăng đó có tiếp tục hành trình và đến Việt Nam hay không, đó là một nghi vấn mà các nhà sử học Trung Hoa và Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa làm sáng tỏ được. Có học giả dựa vào tài liệu Trung Hoa nói rằng: “Ở Giao Chỉ tại thành Nê Lê, có bảo tháp của vua Asoka. Và học giả đó xác định thành Nê Lê, mà sử liệu Trung Hoa nói tới, chính là Đồ Sơn ở nước ta hiện nay" (Sđd, trg 21 - 22), và sách “Đạo Phật Việt Nam”, đã đưa ra những luận chứng: “Khoảng 300 năm trước tây lịch, nghĩa là: ngay sau khi Đại hội Kết Tập Tam Tạng lần thứ III tại Pataliputra (Hoa Thị Thành), Ấn Độ, do vua Asoka thực hiện) và cũng sau Đại hội này đức vua đã gửi chín giáo đoàn đi truyền bá chính pháp tại các nước, từ Afghanistan (A Phú Hãn) tới đông bộ Méditerranée (Địa Trung Hải), trong đó có một giáo đoàn do hai ngài Sona và Uttara lãnh đạo, đã tới Miến Điện và toàn xứ Đông Dương kể cả Việt Nam. Nói cách khác, hồi đó, ở Giao chỉ tại thành Nê Lê, tên cũ của vùng Đồ Sơn hiện nay, cách Hải Phòng 12 cây số có bảo tháp vua a Dục (Asoka), do các Phật tử địa phương xây nên, để tri ân vua a Dục (Asoka) đã cử giáo đoàn tới đây để truyền bá Phật pháp".

Đồ Sơn gồm có mười ngọn núi (1 núi Mẹ; 9 núi con). Núi mẹ cao chừng 168 mét so với mặt bể; trên đỉnh núi này, có một bảo tháp Dục Vương được dựng vào khoảng 300 năm trước Tây lịch; sau khi tháp này tàn phế, tiếp đến tháp Tường Long do vua Lý Thánh Tông xây trên nền tháp cũ, vào khoảng giữa thế kỷ XI TL. Hiện nay, ngôi chùa Tường Long mới được tu bổ lại.

Và tác giả “Đạo Phật Việt Nam” kể: ngày 1.1.1994, trong một chuyến tham quan, được thượng tọa Thích Quảng Tùng, trụ trì chùa Dư Hàng, Hải Phòng, hướng dẫn ra Đồ Sơn để chiêm bái Phật tích tại chỗ, và rất may mắn là được đọc tám bài thơ tả cảnh vùng này, gọi là “Đồ Sơn bát vịnh”, còn ghi lại ở cuốn gia phả của họ Hoàng bằng chữ Nho, trong số tám bào thơ thì có hai bài: bài thứ năm có tên là "Tháp Sơn Hoài Cổ" nói về tháp Dục Vương (Asoka). Bài thứ ba, nhan đề: "Cốc Tự Tham Thiền", và đã được dân địa phương dịch ra chữ Việt như sau:

Phiên âm:

 Cổ tháp di hư loạn thảo đôi

Dục Vương khứ hậu ủy yên đồi!

Thiên chung bảo khí minh lưu thủy,

Cửu cấp phù đồ hóa kiếp hôi.

Tiều tử ỷ kha miên thạch đáng.

Mục nhi khu độc há sơn ôi.

Đăng cao dục hội sơn Tăng giảng,

Hà xứ chung lâu khấu nhất hồi.

Dịch nghĩa:

Tháp xưa lau cỏ tốt bời bời,

Vua Dục   vua sau  cũng đổ rồi!

Chuông nặng ngàn cân kêu đáy nước,

Tháp cao chín bậc hóa thành vôi.

Chú tiểu dựng củi nằm đo đá,

Trẻ mục lùa trâu vội xuống đồi.

Lên núi muốn cùng sư giảng kệ,

Chuông đâu mà đánh thử một hồi?

Ở dưới chân núi Mẫu Sơn, hiện có một ngôi chùa Hang (Cốc Sơn Tự) tác giả kể tiếp là đã được gặp một ông cụ coi chùa kể chuyện rằng: "Thuở xưa vào cuối đời vua Hùng Vương, ở đây có một vị sư tên là sư Bần (Bần Tăng), người Ấn Độ, lập bàn thờ Phật và tu ở trong hang núi này và sau đó, cũng viên tịch tại hang núi này. Bởi vậy, dân địa phương gọi là chùa Hang, hay Cốc Tự. Biết rằng: khi còn bình sinh, Sư Bần có giảng Đạo Phật cho Chử Đồng Tử. Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái, thì Chữ Đồng Tử có ghé thuyền vào núi Quỳnh Viên và gặp một tăng sĩ tên là Phật Quang giảng đạo Phật cho nghe. Vậy, ngày xưa gọi là Quỳnh Viên Sơn và sư Phật Quang; thì ngày nay là Mẫu Sơn và sư Bần. Vả lại, từ tỉnh Hưng Yên, đầu sông Thái Bình, có đền thờ Chữ Đồng Tử, chảy suốt ra cửa bể Đồ Sơn, cách đấy chừng năm cây số, hiện nay lại có một đền thờ Chữ Đồng Tử trên bờ sông Thái Bình, vì ở đây, Chữ Đồng Tử có cứu sống được người con trai của một gia đình, cho nên, theo thuyền thuyết địa phương, người ta đã lập đền thờ để nhớ ơn Chữ Đồng Tử".

Qua những dữ kiện trên mà ta có thể biết rõ được lộ trình của Chữ Đồng Tử, đi bằng thuyền buôn, dọc theo sông Thái Bình, từ Hưng Yên ra tới cửa bể Đồ Sơn, rồi ghé thuyền vào núi Mẫu Sơn (mà ngày xưa gọi là Quỳnh Viên Sơn) để lấy nước ngọt, và gặp Sư Bần (Sư Phật Quang) ở chùa Hang Cốc hiện nay, ngay ở sát chân núi, liền với bờ biển. Dưới đây là bài thơ thứ ba trong tám bài - Đồ Sơn Bát Vịnh - để tả cảnh chùa hang (Cốc Tự).

Phiên âm:

 Thần san quỷ tạc bất tri niên?

Thử cốc an bài nhược tự nhiên.

Ốc tự phong đài giai tự thiết,

Nhamnhư tường bích thạch như diên.

Dạ minh hiến quả liên đài hạ,

Phong tử hàm hoa bảo án tiền

Đảo ưởng tiêu ca hòa điểu ngữ,

Chung thanh hoán tỉnh lại Tăng miên.

Dịch nghĩa xuôi:

Thần quỷ nào đây đã tạc ra (chùa) tự bao giờ?

Hang này xếp đặt rất tự nhiên.

Mái hang như rêu xanh, bậc như đá mài,

Nhũ đá tựa vách tường, thềm tựa chiếu dải.

Đêm trăng chim dâng quả dưới đài sen,

Đàn ong ngậm hoa trước bàn thờ.

Tiếng sóng, tiều ca, hoà chim hót,

Chuông ngân gọi tỉnh Sư lúc ngủ say1

Sách Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh chép: Truyện Đầm Nhất Dạ: Tiên Dung Mị Nương và Chử Đồng Tử chứng minh sự có mặt của Đạo Phật vào đời Hùng Vương TK thứ III. (Triều đại 18 vua Hùng kể từ 2879 - 257 tr TL Thục An Dương Vương). Ở đây chỉ xin nhắc lại chỗ cần thiết trong truyện: Hai vợ chồng Tiên Dung Mị Nương và Chử Đồng Tử. sau khi vua cha đuổi ra khỏi nước, bèn lập ra cái chợ để buôn bán. Ngôi chợ này vẫn thường có các thương nhân ngoại quốc lui tới. Người ngoại quốc ở đây chỉ có thể là người Ấn Độ đã vượt biên giới phía bắc Ấn Độ sang vùng trù phú Myanmar (Miến Điện) rồi vào vùng Founan (Phù Nam). Trong truyện có nói rõ là hai vợ chồng gặp một đại thương gia dùng thuyền để đi buôn và nói với Tiên Dung: "Quý nhân xuất ra một thoi vàng, năm nay cùng với người nhà buôn ra ngoài biển mua vật quí, sang năm sẽ lời được một thoi". Hai vợ chồng bàn với nhau rồi đồng ý. Người chồng đã cùng với đại thương gia đi buôn ở biển. Ngoài biển có hòn đảo tên là Quỳnh Viên (sách Đạo Giáo nguyên Lưu ghi là Quỳnh Vi). Nơi đây có một am và có một vị tăng sĩ tên là Phật Quang. Người đại thương gia và Chử Đồng Tử đã ghé thuyền vào đảo để lấy nước ngọt. Dịp này Đồng Tử được vị Tăng sĩ Phật Quang thuyết pháp cho nghe nên giác ngộ và được truyền pháp khí là chiếc gậy và cái nón lá và bảo rằng: "Những cái ấy làm chìa khóa cho mọi năng lực thần bí"; Đồng Tử có pháp khí thần thông nên bỏ nghề buôn, rồi đưa thoi vàng cho người đại thương gia đi buôn và dặn, khi nào trở về ghé vào am để chở Đồng Tử cùng về với. Khi về gặp lại nhau, Đồng Tử đem Đạo Phật nói với Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ và hai vợ chồng cùng nhất trí đi tìm thầy học đạo. Sau hai vợ chồng đều đắc đạo.

Sự truyền bá Đạo Phật ở nước ta buổi sơ khai, tuy mới chỉ mở mang và khai đạo ở trị sở Luy Lâu nhưng cũng đã gây được sự chú ý của người dân bản địa, cũng như đã có xây chùa, dựng tháp.

Một sự trùng hợp lịch sử kỳ diệu là, trong sách “Lý hoặc Luận”, Mâu Tử tự xác định "ông học và theo Đạo Phật ở Luy Lâu". Bài tựa của sách Lý hoặc Luận đã cho chúng ta những dữ kiện quý báu:". Sau khi vua Hán Linh Đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ có Giao Chỉ là yên ổn. Các bậc dị nhân phương Bắc đều tới đây, phần lớn đều tin theo thuật thần tiên tịch cốc trường sinh. Hồi ấy có nhiều học giả, Mâu Tử thường lấy Ngũ kinh ra vấn nạn, các đạo gia và thuật sĩ không ai đối đáp cho xuôi được, cũng tỷ như Mạnh Kha cự lại Dương Chu -Mặc Dịch.." (Nguyễn Lang, - VNPGSL - Tì ni đa lưu chi, trang 54). (Cũng trong bài Tựa ấy)". Bèn mài chí theo Đạo Phật, cùng nghiên cứu Lão Tử, lấy huyền diệu làm rượu ngon, lấy ngũ kinh làm đàn sáo. Người thế tục đa số không biết, cho rằng Mâu Tử đã phản lại ngũ kinh mà theo dị giáo. Thực ra, nếu mở miệng ra tranh luận với họ thì cũng là phi đạo, mà im lặng thì coi như bất lực, bèn dùng bút mực, lược dẫn lời thánh hiền mà chứng giải điều mình nghĩ. Do đó gọi là Mâu Tử Lý hoặc Luận" (Sđd, trg 55, 56).

Tác giả sách “Nghiên Cứu Về Mâu tử”  viết: "Nếu Phật giáo không truyền vào nước ta từ thời vua A Dục (thế kỷ thứ 3 tr TL) để đến năm 43 khi hai Bà Trưng thất trận, một trong các nữ tướng của hai bà là Bát Nàn phu nhân đi xuất gia, như truyền thuyết dân gian đã có, thì ít nhất vào năm 100 sau Tây lịch Phật giáo đã hiện diện với tư cách một bộ phận tín ngưỡng đầy quyền uy đến nỗi dân ta đã trồng một thứ hoa để cúng Phật gọi là uất kim hương. Sự hiện diện được xác lập này đưa tới một số hệ luận đáng quan tâm, không những đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn đối với tư tưởng và văn học Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là việc ra đời tác phẩm văn học tư tưởng Phật giáo xưa nhất do Mâu Tử viết hiện biết của không những Việt Nam, mà cả Trung Hoa và Viễn Đông nữa, đó là “Lý Hoặc Luận”.

"Kể từ Trần Văn Giáp công bố quan điểm cho rằng Mâu Tử là một trong những người truyền giáo đầu tiên của Phật giáo nước ta trong Le Boudhisme en Annam des origines jusqu'au XIIIè Siècle (1932)". Ngược lại, chính bản Tự Truyện do tay ông (Mâu Tử) viết trong Lý Hoặc Luận đã xác định ông học và theo Đạo Phật tại nước ta. Nói cách khác, ông là sản phẩm của Phật giáo Việt nam, và tác phẩm Lý Hoặc Luận có thể nói là kết tinh đầu tiên của nền Phật giáo đó".1

Trong “Đạo Giáo Nguyên Lưu, gồm 3 quyển thượng, trung, và hạ của thiền sư An Thiền, viết bằng Hán Tự, thế kỷ XIX, trong đó tác giả ghi lại Đạo Phật ở Việt Nam, mở đầu với đoạn dẫn nhập tổng quát: Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi (bước đầu Thiền học ở Đại Nam). Đoạn này gồm phần Hùng Vương Phạm Tăng (Các nhà sư Ấn Độ dưới đời Hùng Vương), tác giả kể ở đây Khâu Đà La (Ksudra), cư sĩ Tu Định và con gái là A Man; Đại Nam Phật Tháp (các tháp thờ Phật ở Đại Nam). Tiếp sau là các vị sư tổ truyền giáo trong các triều đại nước Đại Nam cho đến đời Thiệu Trị (1845); các truyện thần thoại liên quan đến Đạo Phật ở Trung Hoa và ở Đại Nam. Hai quyển còn lại đặc biệt nói về Nho giáo và Lão giáo.

Truyện Cao Tăng Trung Hoa có nhận định là, lúc Phật giáo ở Trung Hoa chưa được thịnh thì ở Luy Lâu, các tăng sĩ người Aán Độ đã hiện diện ở đây truyền bá giáo lý Đức Phật rất náo nhiệt, như xây chùa, dựng tháp, mở trường và dịch kinh.   Để chứng minh cho sự kiện trên, ta hãy đọc một đoạn văn mà Thiền Uyển Tập Anh đã ghi tại cuộc đối thoại do quốc sư Thông Biện trả lời hoàng thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân Ỷ LAN - mẹ vua Lý Nhân Tông (1027 -1127) - nhân dịp bà hội tụ các bậc cao tăng trong nước về chùa Phổ Ninh, thiết trai nghi cúng dường và vấn đạo. Hôm ấy là ngày rằm tháng hai, mùa xuân, niên hiệu Hội Phong thứ V (1096), Hoàng Thái hậu hỏi về nguốn gốc đạo Phật Việt Nam.

Quốc sư Thông Biện đã trình bày những dữ kiện lịch sử Đạo Phật truyền vào Việt Nam ra sao? (Sđd):

 “ Theo sự tích của đại sư Đàm Thiên, Chính Pháp luôn luôn được vua Cao Tổ nhà Tuỳ ngưỡng mộ, và phán rằng: "Ta nghĩ đến đạo từ bi của đức Phật mà không biết làm thế nào để báo đáp ân đức của Ngài. Ta đã lạm ở ngôi cao. Ta chỉ muốn đem tất cả tài sức của ta hộ trì Tam bảo (Phật- Pháp- Tăng). Ta đã thu thập di hài của chư Tăng và đã kiến lập bốn mươi chín cây tháp thờ ở khắp nước, để làm qui củ cho nhân gian, như là bến đò và chiếc cầu cần thiết cho khách qua sông. Ngoài một trăm năm mươi ngôi chùa, ta còn muốn xây thêm nhiều chùa nữa ở khắp xứ Giao Châu, vì ta muốn rằng hạnh phúc ngự trị khắp cả thê gian. Giao Châu tuy nội thuộc Trung Hoa lại ở quá xa. Vậy phải chọn những sa môn đức hạnh và tài ba đến đó để giáo hóa chúng dân bằng pháp Bồ Đề (Bodhi)"

Đại sư Đàm Thiên    tâu:   "Xư Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc, khi Phật pháp truyền vào Trung Hoa chưa đến Giang Đông, mà tại Luy Lâu đã sáng lập trên hai mươi chế da (Caitya: tháp thờ xá lợi), đã độ hơn năm trăm tăng sĩ và dịch được mười lăm bộ kinh. Do đó, người ta nói rằng giáo pháp truyền đến Giao Châu trước Giang Đông (Trung Hoa) vậy".

"Theo đó, người ta thấy rằng Đạo Phật ở Giang Châu không khác gì ở Trung Hoa. Bệ hạ có tấm lòng thương yêu khắp nhân gian, và muốn truyền bá giáo pháp ở khắp nơi một cách bình đẳng, thì những người truyền giáo không cần thiết, mà thần nghĩ rằng, phải gửi những quan viên đến đó chăm sóc các chùa chiền nơi đó mà thôi1

Sang thế kỷ thứ II Tây lịch (168 - 189), đạo Phật  đã phát triển vững mạnh náo nhiệt do bốn vị phạm tăng: 1. Ma Ha Kỳ Vực (Marajivaka) 2. Khương Tăng Hội (K'ang seng Houei) 3.Chi Cương Lương (Tchi kiang liang)  4.Mâu Bác (Mécu - Fo)

Ba vị trên là người Ấn Độ. Ngài Mâu Bác (cũng gọi là Mâu Tử) thuộc người Trung Hoa. Bốn nhân vật trên đều đã lưu trú tại Bắc Kỳ, các ngài đã cùng với người bản địa dựng chùa Pháp Vân và nhiều chùa khác để tu niệm và truyền bá Đạo Phật ở khắp nơi trong nước.

Năm 255 - 256 cũng có một vị tăng tên Kalyànaricu (Chi Cương Lương Tiếp) người bắc Ấn Độ (Indoscythe) tới Giao Châu dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội (Saddharmassamadhi suttra), có tỳ khưu Đạo Thanh, người Giao Châu phụ dịch. Đạo Phật Việt thuở ấy đã tạo được Niềm Tin của người dân bản địa và đã có ảnh hưởng tốt trong nếp sống nhân gian.

Vào thế kỷ thứ IV, hai vị thiền sư Đạt Ma Đề Ba (Dharmadeva) và Huệ Thắng cũng đã xuất hiện trên đất Giao Châu. Thiền sư Đạt Ma Đề Bà, người Ấn Độ, tới Giao Châu truyền bá Thiền học tại đây. Thiền sư Huệ Thắng, người Giao Chỉ, là một trong những đệ tử xuất sắc của Đạt Ma Đề Bà, đã chứng ngộ thiền tâm. Sau, thiền sư (Huệ Thắng) qua Trung Hoa hoằng pháp và tịch tại chùa U Thê ở Bành Thành.

Sách Phật Giáo Việt Nam, giáo sư Nguyễn Đăng Thục đưa ra nhận định về địa thế nước ta và ảnh hưởng của nguồn văn hóa tự chủ của Đạo Phật đối với dân tộc Việt Nam:

"Điều kiện địa lý thuận lợi của đất Giao Chỉ là có đường thông với Tây Trúc tức khu vực văn hóa Ấn mà đại diện bấy giờ ở phía nam Giao Chỉ là Chiêm Thành và Chân Lạp. Do đấy mà Phật Giáo trước khi ảnh hưởng vào Trung Hoa phải từng phát triển ở Giao Chỉ trước đã. Và điều kiện Lĩnh Nam đã mở cửa xuống Đông Nam Á để tiếp đón và giao dịch với lục địa Á Châu là hải đảo Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương để sớm trở nên đất "ngã ba ngã tư giao lưu của các chủng tộc và văn hóa". Phật giáo là một tôn giáo mở cửa độc nhất trong các tôn giáo thế giới đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam đất Giao Chỉ cái nhựa sống thiết yếu để hợp nhất các khuynh hướng tư tưởng tín ngưỡng giao lưu xung khắc, thành cái ý thức hệ khai phóng của địa lý đòi hỏi. Cũng vì thế mà nhân dân tự động suy tôn người con Phật họ Lý là Lý Phật Tử lãnh đạo cuộc giải phóng và xây dựng một nước Việt Nam độc lập đầu tiên. Tuy triều Tiền Lý ngắn ngủi có nửa thế kỷ, nhưng cái ý thức hệ "Tam giáo" do Thiền tông hợp sáng trên căn bản thực nghiệm tâm linh Phật giáo, đến thời Hậu Lý đã giải phóng hẳn Việt Nam, trở nên một nước Đại Việt vững bền và cường thịnh tại khu vực "Đông Nam Á" (Sđd, trang 112)

 

Hai lý giải

 

Phật Giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu đậm của Phật Giáo  Ấn Độ  lẫn Trung Hoa. Cho nên, hiện nay nếu ở Trung Hoa Thiền tông được thịnh hành truyền bá, thì ở Việt Nam Thiền tông củng được xem như là một phái chính của đạo Phật . Đấy cũng là một lẽ dĩ nhiên, không có gì là khó hiểu.   Phật giáo truyền vào Việt Nam từ thế kỷ thứ II Tây lịch, do các vị danh Tăng người Ấn Ðộ và Trung Hoa, như các ngài: Ma-Ha-Ha-Kỳ Vực, Ngài Khương-Tăng-Hội  (người Ấn Ðộ ), Ngài Mâu-Bác (người Trung Hoa).  Trong số nầy, ngài Khương Tăng Hội thường được là tiêu biểu cho Thiền Tông.

Tuy nhiên,   một số quan điểm lại cho rằng: Trong thời gian xa xưa này, chúng ta không thể biết được các vị này thuộc tông phái nào, và truyền vào Việt Nam giáo lý gì. Nhưng chúng ta có thể biết chắc là không phải phái Thiền tông vì Thiền tông ở Việt Nam là do từ Trung Hoa truyền sang. Mà Thiền tông ở Trung Hoa thì phải đợi đến đầu thế kỷ thứ VI, dưới đời Lương-Võ Ðế (528), tổ Bồ Ðề ÐạtMa mới đưa vào. vậy thì có thể giả định là Thiền tông ở Việt Nam chỉ có thể xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ VI Tây lịch.

 Sự phỏng đoán này đã được lịch sử truyền giáo ở Việt-Nam chứng minh. Vào năm 580 (cuối thế kỷ thứ VI ), Ngài Tỳ-Ni-Ða-Lưu-Chi, làn đầu tiên truyền Thiền tông vào Việt-Nam , và là vị sơ tổ về Thiền tông Việt Nam . Sau Ngài Tỳ Ni  Đa Lưu chi củng có nhiều vị danh tăng khác đem truyền Thiền tôn vào Việt Nam, và nhờ đó, Việt Nam cũng có nhiều môn phái Thiền tông như ở Trung Hoa. Một diều đặc biệt, đáng hãnh diện cho Phật tử Việt Nam là ngoài những phái Thiền tông ở Trung Hoa truyền sang, ngay ở nước ta, cũng có một phái Thiền tông do một vị vua sáng lập, đó là phái Trúc Lâm mà vị sơ tổ là vua Trần Nhân Tông.

    Cao Tăng Truyện có chép:  Ngài Tăng Hội họ Khang, tổ tiên người nước Khang Cư nhưng nhiều đời sống ở Thiên Trúc. Thân phụ của Ngài bởi việc bán buôn  mà chuyển sang sinh sống tại Giao Chỉ. Năm hơn 10 tuổi, song thân đều qua đời, Ngài trọn lòng cư tang. Hiếu mãn, Ngài thế phát xuất gia, nghiêm cẩn tu hành. Là người cao nhã, hiểu biết sâu rộng, lại dốc chí học tập, nên Ngài thấu hiểu ba tạng, làu thông sáu kinh, thiên văn, đồ vĩ   không gì chẳng biết; lại còn khéo giảng nói, giỏi văn chương. Lúc bấy giờ Tôn Quyền đã định được Giang Đông nhưng nơi đây Phật pháp chưa lưu hành. Niên hiệu Xích Ô thứ 10 (247), Ngài đến Kiến Nghiệp dựng lập am tranh, tôn trí tượng Phật để tu hành. Bấy giờ quan dân nước Ngô mới thấy hình dáng Sa môn. Tuy thấy hình nhưng chưa hiểu đạo, nên nghi ngờ cho là lập dị. Một vị quan tâu rằng :

- Có một người Hồ vừa vào nước ta tự xưng là Sa-môn, tướng mạo sắc phục đều khác người thường, cần phải tra xét.

Tôn Quyền nói :

- Ngày xưa Hán Minh Đế nằm mộng thấy một vị thần, hiệu là Phật, đạo mà kẻ ấy tôn thờ hẳn là di phong

của Phật kia sao ?

Tôn Quyền bèn cho triệu Ngài vào gạn hỏi :

- Đạo của nhà ngươi có linh nghiệm gì ?

Ngài đáp :

- Như Lai viên tịch đã hơn nghìn năm, di cốt xá-lợi thần diệu vô cùng. Xưa vua A-dục xây 84.000 ngôi tháp để tôn thờ. Phàm việc xây dựng chùa tháp là để hiển dương sự giáo hóa của Như Lai.

Tôn Quyền cho là hoang đường, nói rằng :

- Nếu có được xá-lợi thì ta sẽ tạo tháp cúng dường, còn nếu hư vọng thì sẽ có quốc pháp.

Ngài xin kỳ hạn bảy ngày, rồi nói với đệ tử :

- Việc hưng phế của đạo pháp chỉ tại phen này. Ngày nay nếu không chí thành thì về sau có hối cũng chẳng kịp.

Ngài cùng đệ tử trai tịnh, vào tĩnh thất, lấy một bình bằng đồng đặt trên án đốt hương lễ thỉnh. Kỳ hạn bảy ngày đã hết mà vẫn lặng lẽ không ứng hiện. Ngài xin thêm bảy ngày nữa cũng vẫn y nhiên. Tôn Quyền nói :

- Đây là việc hư dối.

Lúc sắp gia hình, Ngài lại cầu xin thêm bảy ngày. Tôn Quyền đặc biệt cho phép. Bấy giờ Ngài nói với các đệ tử :

- Khổng Tử nói : “Văn Vương đã băng, định chế Lễ nhạc chẳng còn ở nơi ta ư ?” Pháp linh lẽ ra đã ứng hiện, nhưng vì chúng ta không thành cảm, thì cần gì phải mượn phép vua mà nên nguyện chết làm kỳ hạn.

Buổi chiều ngày thứ 21, mọi người vẫn không thấy gì, tất cả đều kinh sợ. Qua đến canh năm, bỗng nhiên nghe trong bình có âm thanh rổn rảng. Ngài đến xem thì quả nhiên đã có xá-lợi. Sáng sớm hôm sau, Tôn Quyền tự tay cầm bình đổ xá-lợi lên chiếc mâm đồng, nơi xá-lợi chạm đến mâm đồng liền vỡ nát. Tôn Quyền vô cùng kinh ngạc, nói rằng : “Thật là điềm hy hữu !”

Ngài bèn tâu rằng :

- Oai thần của xá-lợi đâu chỉ có phóng ánh sáng mà thôi, cho dù lửa của kiếp thiêu cũng không thể đốt cháy, chày kim cang cũng không thể đập nát.

Tôn Quyền liền khiến thử nghiệm. Ngài phát nguyện :

- Mây pháp vừa phủ khắp, chúng sinh mong nhuần thấm, xin lại hiện thần tích, để hiển thị oai linh.

Nói xong Ngài sai người đặt xá-lợi lên trên đe sắt rồi bảo một lực sĩ dùng chùy sắt đập mạnh, nhưng chùy và đe đều lõm vào mà xá-lợi thì không suy tổn. Tôn Quyền vô cùng thán phục, sai người tạo tháp cúng dường. Bởi là ngôi chùa Phật đầu tiên nơi đây, cho nên đặt tên là Kiến Sơ, và gọi nơi này là làng Phật Đà. Từ đó đại pháp hưng thịnh ở vùng Giang tả.

Sau, Tôn Hạo lên ngôi thi hành chính sách hà khắc bạo ngược, ban lịnh phá bỏ các đền thờ thần, hủy hoại các chùa tháp Phật. Một hôm Hạo sai vệ binh vào hậu cung để sửa sang vườn tược, bỗng nhiên được một pho tượng vàng cao vài thước, bộ thuộc dâng lên Tôn Hạo. Tôn Hạo sai người đặt tượng vào nơi bất tịnh, dùng nước dơ uế tưới lên, cùng với quần thần đùa cười lấy đó làm vui. Bỗng chốc toàn thân của Hạo sưng lớn. Chỗ kín đau đớn, kêu la thấu trời. Quan Thái sử đoán rằng : “Do xúc phạm đến một vị thần lớn”. Tôn Hạo liền sai người đến các miếu để cầu phước. Còn các thể nữ nghinh thỉnh tượng vàng tôn trí trên điện, dùng nước thơm tẩy rửa vài mươi lần, sau đó đốt hương sám hối. Tôn Hạo quỳ cúi đầu trên gối, tỏ bày tội lỗi, bỗng chốc bớt đau. Hạo sai người đến chùa thỉnh Ngài thuyết pháp, Ngài liền vào cung. Tôn Hạo hỏi về nguyên do của tội phước, Ngài phân tích giảng giải, ngôn từ rất tinh yếu. Tôn Hạo thông minh lãnh hội, nên vô cùng vui vẻ. Nhân đó Hạo xin được xem giới của Sa-môn. Ngài cho rằng giới văn là pháp cấm kỵ, không thể khinh suất giảng nói, bèn phân 135 nguyện trong Kinh Bản Nghiệp làm 250 việc, mục đích giảng nói các hành động đi đứng nằm ngồi đều nguyện vì tất cả chúng sanh. Tôn Hạo thấy nguyện Từ rộng lớn, nên càng tăng thêm thiện ý, cầu xin Ngài truyền trao Ngũ giới. Mười ngày sau thì bịnh lành hẳn. Hạo sai người đến tu sửa, trang nghiêm trụ xứ của ngài Tăng Hội, lịnh cho hoàng gia tôn thất phải tin phụng Tam bảo. Tại triều Ngô, Ngài luôn tuyên thuyết chánh pháp. Bởi Tôn Hạo tánh tình thô bạo, không thể hiểu được diệu nghĩa, nên Ngài chỉ dùng các việc báo ứng để khai hóa mà thôi. Vào niên hiệu Thiên Kỷ thứ 4, Tôn Hạo hàng nhà Tấn. Tháng 9 năm đó Ngài hiện chút bịnh mà thị tịch, nhằm niên hiệu Thái Khang thứ nhất (280) đời Vũ Đế nhà Tấn.

Trong khoảng niên hiệu Hàm Hòa (326 - 334) đời vua Thành Đế nhà Tấn, Tô Tuấn làm loạn, đốt ngôi tháp mà Ngài đã xây dựng, sau quan Tư không Hà Duẫn trùng tu. Bấy giờ có Bình tây tướng quân Triệu Dụ, ở đời không tin phụng Phật pháp, khinh miệt Tam bảo. Một hôm Dụ vào chùa nói với các Sa-môn rằng :

- Từ lâu nghe ngôi tháp này phóng ánh sáng, thật là việc hư dối, chưa thấy thì chẳng thể tin. Nếu tận mắt thấy được thì khỏi phải luận bàn gì.

Nói vừa dứt lời thì từ tháp bỗng nhiên có luồng hào quang năm màu phóng ra soi chiếu khắp nơi. Dụ vô cùng kinh hãi, do đó mà kính tin Tam bảo, xây dựng một ngôi tháp nhỏ ở phía Đông chùa này.

Trong khoảng niên hiệu Vĩnh Huy (650 - 655) đời vua Cao Tông nhà Đường lại thấy Ngài ở đất Việt(1), tự xưng là vị tăng du phương, nhưng thần khí kỳ đặc, người thấy phải run sợ, không biết đã chứng đắc giai vị nào. Bấy giờ vị Duy-na chùa Vĩnh Hân ra cật vấn về hành tích rồi chửi mắng đuổi đi. Vừa bước đến cửa, Ngài quay lại nói rằng :

- Ta chính là Khang Tăng Hội đây ! Nếu có thể lưu giữ lại chân thể của ta nơi đây thì sẽ tạo phước cho già-lam của ngươi.

Thoáng chốc Ngài đứng yên thị tịch trong tư thế hai mắt hơi nhắm lại, nhưng nét hào sảng vẫn không mất, hai tay đưa lên giống như đang vái chào, chân thì bước giống như sắp đi. Mọi người nghị bàn nên an táng trong nghĩa địa thì không thể nào di chuyển được linh thân, bèn xin dời đến thắng địa lập riêng một linh đường để tôn thờ. Bấy giờ người xứ Việt tranh nhau dùng nhang đèn hoa quả, phan lọng đủ màu, y phục khí vật đến cầu xin, tất cả đều thỏa nguyện.

Lúc đầu quân đội xứ Việt phần lớn đóng tại chùa Vĩnh Hân, binh sĩ ăn uống rượu thịt, còn vợ của họ thì sanh sản, làm ô uế già-lam khiến đại chúng không chịu nổi. Ngài Tăng Hội hóa hình đến yết kiến Mân liêm sứ Lý Nhược Sơ. Ngài nói :

- Mai sau Quân hầu sẽ làm Thứ sử ở xứ Việt, tôi nhờ ngài hãy di chuyển quân đội đi nơi khác.

Nói xong phất tay áo đi ra, liền mất tung tích. Lý công vừa mừng vừa sợ, ghi nhớ lời nói ấy. Về sau quả nhiên Nhược Sơ đến Việt. Nhậm chức xong, liền đến lễ bái linh tích, mới nhận ra người nói lúc trước chính là vị tăng này. Nhược Sơ liền ra lịnh triệt thoái quân đội khỏi vùng Vĩnh Hân mà lui về bản doanh. Lại có một sản phụ lúc sắp sanh mà không đèn dầu, không một tia sáng. Bỗng một vị tăng cầm đuốc từ cửa bước vào. Sáng hôm sau, người chồng vào chùa Vĩnh Hân nhận ra hình dạng ngài Tăng Hội mới biết đây là vị tăng đã trao cây đuốc cứu sản phụ đêm qua. Từ đó nhân dân thường đến cầu sanh con trai con gái. Ngài từng đến nhà Lư Diêm xin giày cỏ, vì thế về sau người xứ Việt phần nhiều thường dùng giày cỏ, tràng phan bằng vải dầu để dâng cúng, luôn có cảm ứng. Nơi nơi, Ngài thường đến nhà người để giáo hóa, nhưng không thể thuật lại hết các linh tích, chỉ gọi Ngài là Siêu Hóa Thiền Sư.Dưới đây, chúng ta tuần tự đi về các môn phái Thiền tông ấy: 1.-Phái Tỳ-Ni-Ða-Lưu-Chi;

Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi, người Ấn Ðộ là đệ tử Ngài Tăng Xán (Tam tổ Thiền tông).

Lầ n đầu tiên gặp tổ Tăng Xán ở núi Tư Không, thấy phong mạo của tổ khác thường, ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi sanh lòng kính phục, chắp tay đảnh lễ. Ngài đãnh lễ ba lần mà tổ vẫn ngồi lim dim đôi mắt chứ không nói gì hết (thiền cơ). Ngài đứng yên nghĩ ngợi một hồi, bỗng thấy trong người đổi khác, như tỏ ngộ được điều gì. Ngài liền sụp xuống lạy ba lạy. Tổ cũng chỉ gật đầu ba cái mà thôi (thiền cơ). Sau buổi gặp gỡ đầu tiên ấy, Ngài trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của tổ Tăng Xán.

Về sau, Tổ dạy Ngài sang phương Nam để truyền đaọ, ngài vâng lệnh sang Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI, trụ trì tại chùa Pháp vân ở tỉnh Hà Ðông.

Khi sắp thị tịch, Ngài gọi đệ tử là Ngài Pháp Hiển vào phòng phú chúc rằng:

" Tâm ấn của Phật, không có thể mập mờ được, Tâm ấn viên mãn như thái hư không thừa, không thiếu, không đến không đi không được, không mất, không phải đông nhất, cũng không phải sai biệt, không thường cũng không đoạn, không sanh cũng không diệt không xa xách cũng không phải không xa xách. Chỉ vì đối với vọng nên giả đặt ra tên ấy (tâm ấn) mà thôi".

Chư Phật trong ba đời do đó (tâm ấn) mà được đạo. Lịch đại Tổ sư cũng do đó mà chứng ngộ. Ta đây cũng vậy, mà ông cũng thế, cho đến các loại hữu tình vô tình cũng đều như thế cả.

Khi Đệ tam tổ Tăng Xán ấn chứng ''tâm ấn'' cho ta, đã bảo rằng: ''Ông nên sang phương Nam hoằng đạo, chớ ở đây làm gì''. Do đó, ta đi trải qua bao nhiêu chỗ mới đến đây. Ta nay được gặp ông, thật đúng như lời huyền ký ấy. Vậy ông nên nhớ kỹ lời ta.  Giờ đây nhằm lúc ta đi rồi !''

Dạy xong, Tổ Tỳ Ni Ðà Lưu Chi chắp tay ngồi yên lặng mà tịch diệt. Ðệ tử trà tỳ (thiêu) rồi thu xá lợi, xây tháp để thờ.

Về sau, vua Lý Thái Tôn có bài kệ truy tán Ngài như sau:

Nguyên văn:

Sáng tự lai Nam Quốc

Văn quân cữu tập thiền 

Ưng khai chi Phật tín

Viễn hợp nhất tâm nguyên

Hạo hạo Lăng già nguyệt

Phân phân Bá nhã liên

Hà thời hạnh tương kiến

Tương dữ thoại trùng thuyền.

Dịch nghĩa:

Mở lối qua người Việt

Nghe Ngài thông đạo thiền 

Nguồn tâm thông một mạch

Cõi Phật rộng quanh miền

Lăng già ngời bóng nguyệt

Bát nhã nứt mùi sen

Biết bao giờ được gặp

Ðàm đạo lẽ thâm huyền.

 

 Ngài Pháp Hiển Thiền-sư

Sau khi Tổ Tỳ Ni Ða Lưu Chi tịch, Ngài Pháp Hiển là vị Tổ thứ hai của phái Thiền tông Tỳ Ni Ða Lưu Chi. Ngài họ Ðỗ, quê ở Quận Chu Diên (Sơn tây bây giờ). Khi tới chùa Pháp Vân, Tổ Tỳ Ni Ða Lưu Chi thấy Ngài, thì nhìn kỹ vào mặt và hỏi:

- Chú họ gì?

Ngài Pháp Hiển hỏi lại:

- Hòa thượng họ gì?

Tổ lại hỏi:

-  Chú không có họ à?

Ngài trả lời:

-  Sao lại không có ! Nhưng đố Hòa thượng biết?

Tổ quát lên:

- Biết để làm gì?

Ngài Pháp Hiển chợt ngộ ý Tổ Tỳ Ni Ða Lưu Chi (thiền cơ) liền sụp xuống lạy, xin theo làm đệ tử và sau được truyền tâm ấn.

Ðược ít lâu, sau khi Tổ tịch, Ngài vào núi Từ Sơn tu thiền định, những loại cầm thú thường quấn quýt chung quanh. Người đời thấy thế càng lấy làm lạ và kính mộ. Ðệ tử tìm đến học đạo rất đông. Thiền tông ở trong thời kỳ này có thể nói là thạnh nhất. Ðó cũng nhờ công đức hoằng hóa của Ngài Tỳ Ni Ðà Lưu Chi và Ngài Pháp Hiển. Về sau trong pháp nầy cũng có nhiều vị thiền sư xuất sắc như Ngài Pháp Thuận, Vạn Hạnh .v.v...

 Phái Vô-Ngôn-Thông:

Ngài họ Tịnh, quê ở Quảng-châu, xuất gia ở chùa Song Lâm (Triết giang bây giờ). Tính ngài điềm đạm ít nói, nhưng sự lý gì cũng thông hiểu, nên người đời đặt danh hiệu Ngài là Vô Ngôn Thông. Ngài là đệ tử của Bách Trượng thiền sư (đệ tử của Mã Tổ).

Khi ngài mới đến yết kiến Bách Trượng Thiền sư gặp lúc Thiền sư đang dạy chúng tăng học. Một vị tăng hỏi Bách Trượng thiền sư rằng:

Thế nào là pháp môn đốn ngộ của phái Ðại thừa?

Bách Trượng thiền sư dạy rằng:

-  Tâm địa nhược thông, huệ nhật tự chiếu (nêu tâm địa được thông thì mặt trời huệ tự nhiên chiếu sáng).

Nghe được câu ấy, tự nhiên ngài Vô Ngôn Thông ngộ đạo. Năm 820, Ngài qua Việt Nam tu tại chùa Kiến Sơ, làng Phù Ðổng (Bắc Ninh), ngài ngồi xây mặt vào vách trọn ngày tham thiền nhập định. Ngài tu như thế mấy năm không ai biết, chỉ trừ vị sư ở chùa ấy là Cảm Thành thiền sư, biết ngài là bậc cao tăng trong Phật Thiền tông, nên tôn thờ Ngài làm Thầy.

Trước khi tịch  gọi Cảm Thành thiền sư mà bảo:

-  Ngày xưa tổ sư Nam Nhạc, khi sắp tịch có dặn lại bài kệ rằng:

Nhất thế chư pháp, giai tùng tâm sanh

Tâm vô sở sanh, pháp vô sở trú

Nhược đạt tâm địa, sở trú vô ngại

Phi ngộ thượng căn, thận vật kinh hứa.

Nghĩa là:

Hết thảy các pháp, đều tự tâm sanh;  tâm nếu không sanh, pháp không chổ trú. Nếu hiểu được vấn đề ấy thì làm việc gì cũng không trở ngại, cái tâm pháp ấy nếu không gặp được bậc tâm căn, chớ nên truyền bậy.''

'Ðó là lời dặn của người xưa nay ta cũng dặn lại câu ấy.

Nói xong ngài chắp tay mà tịch.

b) Vị Nhị tổ của phái Vô Ngôn Thông:   Cảm Thành thiền sư

 Thiền sư quê ở huyện Tiên Du (Bắc Ninh) trụ trì tại chùa Kiến Sơn (Bắc Ninh).

Khi Ngài Vô Ngôn Thông vân du qua đấy, thấy Ngài có đủ tư cách để truyền  đạo, nên ở lại.  Ngài Cảm Thành cũng nhận thấy ở Ngài Vô Ngôn Thông là một vị thiền sư đắc đạo, nên tôn làm thầy, sớm tối hầu hạ không hề trễ nải. Hai thầy trò rất mến nhau, do đoa Ngài Vô Ngôn Thông mới đặt cho Ngài đạo hiệu là Ngài Cảm Thành thật xứng đáng là người nối chí của Ngài Vô Ngôn Thông. Một hôm có đệ tử hỏi Ngài :

- Thế nào là Phật?

Ngài trả lời:

- Chổ nào cũng là Phật cả.

Vị đệ tử lại hỏi:

- Thế nào là tâm của Phật?

Ngài trả lời:

- Không hề che đậy chổ nào.

Ðây cũng là một câu chuyện nhỏ, nhưng nói lên được cái truyền thọ tâm pháp đặc biệt, tuy giản ước mà bao hàm nhiều ý nghĩa vô cùng.

Ngài Cảm Thành không bệnh mà tịch, và truyền tâm pháp cho Thiện Hội thiền sư.

c) Vị tam tổ của phái Vô Ngôn Thông

Ngài Thiện Hội thiền sư: Ngài Thiện Hội quê ở Siêu Loại (Bắc Ninh). Ngài là đệ tử của Cảm Thành thiền sư, hầu thầy đã hơn 10 năm, một hôm Ngài vào phòng hỏi thầy:

Trong kinh Phật có dạy: '' Ðức Thích Ca Như Lai từng tu hành trải vô số kiếp mới thành Phật, thế mà nay thầy cứ dạy rằng '' tâm tức là Phật, Phật tức là tâm'' là nghĩa làm sao? Thật đệ tử không hiểu xin thầy dạy rỏ cho.

Cảm Thành thiền sư nói:

- Ngươi nói trong kinh Phật nói thế là ai nói đó?

- Vậy lời ấy không phải là Phật thuyết sao?

- Lời ấy phải đâu là Phật thuyết. Kinh Văn Thù Phật có dạy: ''Ta trú ở thế gian để dạy chúng sanh 49 năm, chưa đặt ra một câu bằng văn tự để nói với ai bao giờ !''  Vì theo chánh đạo, nếu ta lấy văn tự để làm bằng chứng để cầu đạo, ấy là câu nệ; lấy sự khổ hạnh để cầu Phật, ấy là mê; lìa tâm ra mà cầu Phật, ấy là ngoại đạo; mà cố chấp cái tâm ấy là Phật, củng lại là ma vậy.

- Nếu bảo tâm ấy tức là Phật, thì trong tâm ấy cái gì là Phật, cái gì không phải là Phật?

- Ngày xua có người hỏi mã tổ rằng: ''Nếu bảo tâm ấy tức là Phật, thì trong tâm ấy cái gì là Phật?'' Mã Tổ trả lời:'' Thế ông ngờ trong tâm ấy, cái gì không phải là Phật, hãy chỉ vào ấy cho ta xem !''. Người ấy không chỉ được . Mã Tổ lại tiếp: '' Ðạt được thì khắp mọi nơi chổ nào cũng là Phật, mà không đạt được thì cứ sai lầm đi mãi mãi''. Thế là chỉ một lời nói nó che đi, mà thành ra sai lầm đó thôi. Người ta hiểu chưa?

Ngài Thiện Hội trả lời:

- Nếu như vậy đệ tử hiểu rồi.

- Người hiểu thế nào?

- Ðệ tử hiểu rằng khắp hết mọi nơi, chổ nào củng là tâm Phật cả.

Nói xong Thiện Hội thiền sư súp xuống lạy. Ngài Cảm Thành nói:

- Thế là người hiểu tới nơi rồi đó.

Do sự lãnh hội mau chóng đó mà ngài Cảm Thành mới đặt cho đệ tử mình đạo hiệu Thiện Hội, nghĩa là ''khéo hiểu''.

Trên đây là một vài câu chuyện đến đốn ngộ mà chúng ta thường thấy trong các vị thuộc phái Thiền tông.

Sứ truyền pháp từ thầy đến trò trong phái Vô Ngôn Thông diễn ra như thế được 15 đời. Ðến đời cư sỉ Ứng Thuận (1221) là cuối cùng.

3.- Phái Thảo Ðường:

Năm Kỷ Dậu (1069) vua Lý Thánh Tôn đi đánh Chiêm Thành về, có bắt được vua nước ấy là Chế Cũ và rất nhiều thường dân và binh lính. Số binh lính và thường dân này được phân phát cho các quan trong triều đình để làm quân hầu.  Trong số quan triều có một vị Tăng Lục. Một hôm vị này đi vắng về thấy bản ''Ngữ lục' 'của mình bị một tù binh sữa chưa lại cả. Hỏi ra thì mới biết đó là một vị thiền sư người Trung Hoa, theo tầy qua Chiêm Thành, chẳng may bị bắt làm tù binh. Vị thiền sư ấy là Ngài Thảo Ðường, đệ tử của Ngài Tuyết Ðậu Minh Giác ở Trung Hoa.

Khi biết tung tích của Thảo Ðường thiền sư, vua Thánh Tông liền sắc phong cho Ngài làm Quốc sư. Ngài Thảo Ðường lập đàn khai giảng ở chùa Khai Quốc trong thành Thăng Long. Ðệ tử đến học rất đông. Ngài Thảo Ðường lập ra một phái Thiền Tông thứ ba ở Việt-Nam . Phái Thảo Ðường truyền xuống được năm đời, đắc đạo cả thầy được mười chín vị. 

4.- Phái Trúc Lâm

Ðệ nhất tổ của phái Trúc Lâm tức là vua Trần Nhân Tông (1278-1308). Ngài mộ đạo khi còn nhỏ. Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng Thái tử, ngài cố nhường lại cho em nhưng không được, nên trèo thành trốn đi, định vào tu ở núi Yên Tử. Nhưng Ngài mới đi nửa đường thì bại lộ tung tích, bị vua cha sai quan đi bắt về. Ngài phải miễn cưỡng trở về. Sau ngài lên làm vua, trở thành một vị anh quân và giữ vững nền độc lập nước nhà trước sự xâm lăng ồ ạt, nhưng vô hiệu quả của quân Nguyên. Sau khi đuổi được giặc Nguyên, ngài truyền ngôi lại cho con là Anh Tôn, và vào tu ở núi Yên Tử, thực hiện chí nguyện thuở thiếu thời của mình. Ngài lấy hiệu là ''Hương Vân Ðại Ðầu Ðà '' lập trường giảng pháp, môn đồ tìm đến tu học kể có hàng vạn người. Ngài thường đi khắp nơi để giảng đạo và phát thuốc. Ngài tịch  lúc 51 tuổi.

Trong các phái Thiền tông ở Việt Nam, chỉ có phái Trúc Lâm là phát tích tại đất nước Việt. Trong phái này, cũng có nhiều vị thiền sư có tiếng tăm như ngài Pháp Loa tôn sư,  ngài Huyền Quang tôn sư ...

5.- Phái Lâm Tế:

Phái Lâm Tế do Ngài Nguyên Thiều khai sáng tại Trung Việt. Ngài họ Tạ, quê ở Quảng Châu (Trung Hoa). Ngài đi theo tàu buôn qua Việt Nam, trú ở phủ Qui Ninh (Bình Ðịnh) lập chùa Thập Tháp Di Ðà, Mở trường dạy học. Sau Ngài ra thuận hóa lập chùa Hà Trung, rồi lên Xuân Kinh (Huế) lập chùa Quốc Ân và dựng tháp Phổ Ðồng.

Sau ngài phụng mạng đức Anh Tôn ( Nguyễn Phúc Tráng 1687-1691) trở về Trung Quốc, tìm mời các vị danh tăng và cung thỉnh pháp tượng, pháp khí. Ngài về Quảng Ðông mời được Hòa Thượng Thạch Liêm và các danh tăng khác, cùng thỉnh được nhiều kinh điển, tượng, pháp khí trở về Nam. Chúc Nguyễn liền sắc mở đàn truyền giới rất long trọng tại chùa Thiên Mụ. Sau đó, chúa Nguyễn sắc ban ngài chức trụ trì chùa Hà Trung.

Năm Bảo Thái thứ 10 nhà Lê, ngài tịch tại chùa Hà Trung, sau khi dặn dò đệ tử và truyền bài kệ sau đây:

Tịch tịch, kính vô ảnh

Minh minh, châu bất dung

Dường đường,  vật phi vật

Liểu liểu, không vật không

Ðại ý: Thể pháp thân thanh tịnh sáng suốt như mãnh gương sạch không bụi, như ngọc minh châu, trong sáng bóng ngời. Tuy hiện tiền sự sự, vật vật sai khác, nhưng đều là thể pháp thân biểu hiện. Thể pháp thân thường vắng lặng mà không phải là không, tức là lý ''chân không diệu hữu''.

Xét trong'' Lịch truyền tổ đồ '' thì Ngài đứng về đời 69, xét về chánh thống phái Lâm Tế thì Ngài đứng về đời 33, còn xét riêng về phái Lâm Tế ở Trung Việt, thì Ngài là sơ tổ.

6.- Phái Liễu Quán:

Phái Liểu-quán xuất phát từ Liểu-Quán-Hòa-Thượng. Ngài Liểu-quán quê ở Phú-yên (Song-cầu). Ngài ra Thuận Hóa thọ giới Sang-Di với Ngài Thạch-Liêm Hòa-Thượng. Năm 1702, Ngài đến Long-Sơn cầu học pháp tham-thiền với Ngài Tử-Dung Hòa-Thượng (Tổ khai sơn chùa Từ Ðàm Huế, người Trung Hoa).

Tổ Tử-Dung dạy Ngài tham-cứu câu: ''Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ '', (muôn pháp về một, một pháp về đâu?) . Ngài tham cứu mấy năm, đến khi xem bộ Truyền-Ðăng-Lục, thấy có câu: '' Chỉ vật truyền tâm, nhơn bất hội xứ ''. Ngài liền tỏ ngộ. Năm 1742, cuối mùa thu, Ngài thọ bịnh. Trước khi lâm chung, Ngài gọi môn đồ đến dạy rằng: '' nhơn duyên đã hết, ta sắp chết đây ''.

Thấy môn đệ khóc, Ngài dạy rằng: '' các người khóc làm gì? các Ðức-Phật ra đời còn nhập niết-bàn. Ta nay đi đến rỏ ràng, về có chổ. Các người không nên khóc và đừng buồn thảm ''. 

Rồi Ngài viết bài kệ từ biệt sau đây :

Nguyên văn:

Thất thập dư niên thế-giới trung

Không không, sắc sắc diệu dung thông

Kim triêu nguyệt mãn, hoàn gia lý

Hà tất bôn ba vấn tổ tông.

Dịch nghĩa:

Ngoài bảy mươi năm trong thế-giới

Không không, sắc sắc thảy dung thông

Ngày nay nguyện mãn về nơi củ 

Hà phải ân cần hỏi tổ tông.

Viết xong, Ngài bảo môn đồ:

Sau khi ta đi, các ngươi phải nghĩ cơn vô-thường nhanh chóng, cần phải siêng năng tu học. Các người hãy cố gắng tới chớ bỏ qua lời ta.

Ngài tịch vào ngày 22 tháng 11 năm Nhâm-Tuất (1742) vào giờ Mùi, sau khi dùng nước trà xong và vui vẻ từ biệt môn đồ.

Ðến đây chúng ta cũng nên nhận định cho rỏ ràng điễm này: Như tôi nói ở đoạn trước, Thiên-Tôn do người Việt sáng lập chỉ có một Phái duy nhất do vua Trần-Nhân-Tôn làm Sơ-tổ là phái Trúc-Lâm Yên-Tử. Nhưng đến nay, chúng ta lại thấy xuất phát một phái nữa là phái Liểu-quán, do Ngài Liểu-quán một danh tăng Việt-Nam chủ xướng, như vậy có mâu thuẩn với sự nhận xét ở trên không? Thật ra, so với các phái Thiền-Tôn khác ở Việt-Nam, thì phái Liểu-quán chỉ một phái nhỏ, chỉ nằm trong phạm vi mấy tỉnh miền Trung-Việt.

Vả lại, Ngài Liểu-quán cũng là đệ-tử của Ngài Tử-Dung, một vị sư Trung Hoa thuộc phái Lâm-Tế. Do đó, pháp Liểu-quán, nếu chúng ta đi tìmm nguồn góc xa hơn một chút nữa, thì cũng chỉ là một chi nhánh của phái Lâm-tế mà thôi.

Các Kinh Sách Nói Về Thiền

Khi kinh sách nói về Thiền không thể kể xiết được. Tuy thế, đễ quý độc-giả khỏi bỡ-ngỡ trong khi nghiên cứu, học hỏi, chúng tôi xin dẫn một số sách thiết yếu sau đây:

1.-Kinh Lăng-già

2.-Kinh Lăng-Nghiêm

3.-Kinh Viên-Giác

4.-Kinh Pháp-Bảo-Ðàn

5.-Ðại-thừa Chỉ-quán

6.-Tiểu Chỉ-quán

8.-Ðồng môm Chỉ-quán

9.-Kinh Kim-cang

10.-Truyền-đăng-lục

11.-Thuyền-gia ngữ-lục

12.-Tọa-thiền chỉ nam

13.-Tông-cảnh-lục (của Ngài Tống Diên Thọ Thiền-sư)

14.-Luận Ðại-thừa khởi tín (của Bồ Tát Mã-Minh)

15.-Vô-môn-quán (của Tổng Tôn-Thiện Thiền-sư)

16.-Bích-Nham-Lục (của Phật quả Viên-ngộ)

17.-Thung-dung-lục (của Vạn tùng Lão-nhơn)

18.-Thiền-lâm Vĩnh-gia tập (của Huyền-giác)

19.-Thiền-tôn chỉ nam (của vua Trần-Thái-Tôn) .v.v...

   

     Thiền tông Việt Nam

 

 Trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam, điều mọi người thừa nhận và khẳng định đó là tính chất dân tộc của Phật giáo. Từ ngay trong bản thân Phật giáo, tính tùy thuận đã có. Tùy vùng đất, tùy địa phương, tùy dân tộc mà có sự biến đổi. Tính mềm dẻo, dễ dàng dung hợp với mọi hoàn cảnh đã là một trong những yếu tố nội sinh góp phần làm cho Phật giáo Việt Nam có được những đặc điểm riêng.

Trải qua các triều đại, đạo Phật đều thể hiện nét riêng biệt đặc thù và cả trong ba yếu tố cấu thành của Phật giáo Việt Nam là Thiền tông, Tịnh độ và Mật tông cũng tuy từng thời điểm khác nhau mà thể hiện yếu tố này nhiều hay ít hơn yếu tố khác. Từ đó cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quy định bản chất của Phật giáo Việt Nam. Trong lịch sử tuy rằng có những giai đoạn phát triển rực rỡ của Phật giáo, trong đó có yếu tố Mật tông vượt lên trên, với nhà sư nổi tiếng Từ Đạo Hạnh.... nhưng phải thừa nhận rằng trong suốt tiến trình lịch sử, Thiền tông vẫn là yếu tố, là giòng phái chủ đạo mang tính bao trùm, và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi hoạt động của Phật giáo Việt Nam.

 Khi đề cập đến các thiền sư đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ai cũng thừa nhận đó là một trong những Thiền phái tiêu biển cho Phật giáo Việt Nam và Thiền tông. Do đâu triều đại này có được những mặt tích cực đó ? Tìm hiểu điều này cũng có nghĩa là nêu lên những đặc điểm của Thiền tông Việt Nam.

- Tính vô ngã, vị tha : Đây là một trong những tính chất mang tính tiêu biểu của Phật giáo, là mục đích nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân, là phương tiện chi phối mọi hoạt động. Vô ngã và vị tha là hai yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tùy thuộc vào nhau. Khi bản ngã còn thì không có được vị tha trọn vẹn. Ở những triều đại khác, nơi mỗi nhà tu hành, ít nhiều cũng có hai yếu tố này, nhưng đặc biệt đối với triều đại nhà Trần, là giai đoạn có sự thử thách cao, đối đầu với xâm lược có tầm cỡ trên thế giới, nên để đạt được mục tiêu chung, nhằm giữ gìn nền độc lập cho xứ sở, tính chất này càng được bộc lộ mạnh mẽ. Những đố kỵ, hiềm khích, ghen ghét nhau trong vua tôi tạm thời được gác lại, để tập trung vào mục tiêu chung, thì trong các Thiền sư, tính chất vô ngã, vị tha càng được thể hiện rõ nét qua câu nói của nhà sư trụ trì trên dãy Yên Tử (Quốc sư Trúc Lâm hay Phù Vân) khuyên vua Trần Thái Tông : "Phàm là đấng làm vua cai trị muôn dân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình".

 Tinh thần nhập thế : Có "tâm vô ngã" thiền sư mới hòa mình trọn vẹn vào cuộc đời, không còn cái tôi nên không còn phân biệt hình tướng đạo đời, mới sống an nhiên, tự tại không thấy mình là nhà tu, là khác đời, và vì vậy mà không tạo thế xa cách. Tuệ Trung là một người đạo cao, đức trọng, được vua Thánh Tông khâm phục gọi là Thượng Sĩ (tức là Bồ Tát), khi hay tin giặc Nguyên xâm lược, ông rời khỏi thiền lâm ra trận. Vua Nhân Tông sau khi đổi pháp hiệu là Trúc Lâm đã đi "vân du, hành đạo" không còn mang tư tưởng mình là một vị vua cai trị muôn dân, ông đã thoát bỏ dễ dàng cái ta, đạt được tinh thần vô ngã nên mới có hành động vị tha, đi vào dân để kêu gọi hành thập thiện. Do vậy, nhập thế vào đời, điều kiện trước hết đòi hỏi ở người hành đạo, ở một thiền sư, là phải có tinh thần vô ngã, vị tha. Càng thể hiện trọn vẹn tinh thần này thì hành động càng mang lại lợi ích thiết thực. Tinh thần này còn được thể hiện qua cái nhìn và việc đánh giá cao về con người và vai trò của Tuệ Trung. Dưới con mắt của nhà Thiền, Tuệ Trunng được đưa lên tầm cao và được phá bỏ những dị biệt về hình tướng, không còn xét xem đó là một tu sĩ hay cư sĩ, là người đạo hay kẻ đời.

Như vậy, một triều đại có được tư tưởng thiền tông xuyên suốt, biết vận dụng nó làm kim chỉ nam cho mọi tư tưởng và hành động của mình, như triều Trần, nên đã tạo cho Phật giáo đời Trần một thời kỳ rực rỡ trong lịch sử, thể hiện cao tinh thàn dân tộc, ở đó tính chất nhập thế được xem là giáo lý căn bản, dùng nó làm nền tảng cho đạo đức xã hội, xây dựng một hệ thống giáo hội mới và hệ thống kinh sách mới, không lệ thuộc và chịu ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo từ Ấn Độ cũng như từ Trung Quốc.

Khi có ngoại xâm, các thiền sư đã "cởi áo cà sa khoác chiến bào". Hành động đó phát xuất từ tấm lòng từ bi, cứu khổ cứu nạn của những người con Phật, nhưng không chỉ có thế. Ở đây, xuyên suốt giòng lịch sử phát triển của dân tộc, cũng là lịch sử tranh đấu không ngừng với ngoại xâm, đã un đúc trong những con người Việt một tinh thần yêu nước nồng nàn, đã kết tinh thành truyền thống và trải qua các thời đại, tinh thần này càng phát triển.

Những vị vua nhà Trần cũng đồng thời là những thiền sư đã thể hiện được sự kế thừa, tiếp thu đạo Phật một cách chọn lọc và sáng tạo, đã bằng những hành động của mình, khơi sáng đem lại cho Phật giáo một sức sống thực sự, làm cho đạo Phật bị trở thành giáo điều, khô cứng. Qua các thiền sư đời Trần, Phật giáo đã đi vào cuộc đời, đã tồn tại trong lòng dân tộc. Ở các thiền sư đời Trần, thiền lý và thiền hành đã nhập làm một, không ph