Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


 

 

 

 

LỄ HỘI Ở VIỆT NAM

 GS Kiêm Đạt

 

Lễ hội Hưng Đạo Vương

Ngôi đền  Đồng Bằng nằm cạnh  bến sông Đồng Bằng,  thuộc thôn Đào Động,  tổng Vọng  Lỗ, huyện  Phụ Phượng  (nay là  xã An Lễ, huyệnQuỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Đền còn có tên là đền Đức Vua, đền Bát Hải. Hàng năm hội Đồng Bằng tổ chức từ ngày 20 tháng 8 cho đến 26 tháng tám âm lịch  để kỷ niệm Hưng Đạo Vương Trần  Quốc Tuấn và 2 vị tướng có công trong cuộc  kháng chiến chống quân Tống xâm lượcvào thế kỷ XIII.Vào sáng ngày 20 tháng 8, cuộc lễ "rước đức Vua" (Hưng Đạo Vương) từ đền thờ  ra đình làng để khai hội.  Trong những ngày hội ĐồngBằng, nổi tiếng hơn hết là tục đua trải. Dân  làng Đào  Động tương  truyền rằng:  vào đời  Trần, có hai vịtướng tham gia đánh giặc vùng biển; đến khi giặc tan, họ chia taynhau tại một quán nước làng Nuồi  (Hải Dương). Một người ở lại PhùNội chiêu dân lập ấp, một người  về làng Đào Động dựng làng. Sau nầyhai làng  nầy kết nghĩa giao  chạ với nhau; hàng  năm tổ chức đuatrải vui  chạ, để nhớ  những chiến công  của hai vị  tướng nầy.Sông Đồng Bằng và sông Nuồi  trở thành đường đua truyền thống củahai làng nầy. Cuộc đua được cử hành trong những ngày 22, 23 và 24tháng 8 âm  lịch. Trải đua được đóng bằng  gỗ gồi, một loại gỗnhẹ, chắc và dẻo, thớ mịn; khi thành tấm ít nứt, có thể giữ đượcnhiều năm và độ an toàn khá cao. Sang hơn thì đóng trải bằng gỗvàng tâm.Làng Đào Động có 3 trải, mỗi  trải gọi là một "tích" do người"cai mạn" đứng đầu.  Cai mạn là người có uy tín,  có kỹ thuật bơicao nhất những trải nầy không  cùng một kích thước. Loại trảiTrung Toán  dài 20m, loại  trải Đông Đào  dài 25m, loại  trảiThượng Thắng dài 22m. Những chiếc trải  hoàn toàn khác nhau về cấu  tạo và cách bố trí,trang bị bên  trong để có thể lướt nhanh  trong bất cứ trường hợpđua nào. Thông thường thì khúc giữa của trải phải phình ra, nhưngphía đầu  và phía đuôi  thì thóp lại.Mũi trải cao 0,8m so với mặt nước, không vát nhọn, mà ngang bằng,được bao một vòng  kim loại để bảo vệ chắc chắn,  tránh bị vỡ khihúc vào tường hay bất cứ một chướng ngại nào. Đầu mũi trải có gắnliền với hình đầu rồng tượng trưng bằng gỗ gọi là "ống réo". Lòngtrải rộng vừa  phải, đáy khoảng 0,5m phần  tiếp nước không phẳng,mà như một  cung tròn hình bán nguyệt, khiến  cho trải lướt đi dễdàng. Đuôi trải cao so với mặt nước chừng 1m, vát tạo với đáy mộtgóc 40 độ, sau đó xoè hình "đuôi tôm" song song với đáy khiến chotoàn bộ hình dáng chiếc trải theo hình dáng "đầu rồng, đuôi tôm".Bố trí  cấu tạo trên  trải như sau:  chính giữa lòng  trải có mộtđường "ruột rồng" rộng khoảng 0,4m  chia trải làm 2 phần dọc bằngnhau, cao bằng ngang với bề mặt  hai mạn trải và phía gắn sát đáycó đục  các lỗ thông  nước. Hai  bên  "ruột rồng" có  chỗ cho haingười có nhiệm vụ tát nước ngồi. Mỗi trải có 12 phách, tức là cácxương ngang, mỗi phách cách nhau 0,4m, hai đầu ghép với thành mạntrải, ở  giữa ghép với "ruột  rồng" được bắt vít  chặt chẽ với ốckim loại  hình hoa thị. Các  mép của phách bằng phẳng với mép trênthành mạn và "ruột rồng".Dầm bơi thường cùng loại như trải  tức là bằng gỗ tốt nhất. Dầm cóhình lưỡi mai,  chiều dài 1,2m, trong đó phần  cán dài 0,7m, phầnmái dầm  chừng 0,4m. Bánh lái  của trải có dáng  gần như bánh láicủa thuyền ngày nay, phần cán tròn sơn đỏ và phần ngập trong nướcdẹt và sơn trắng. Trên đầu của những trải đua  có đặt tượng "ông Mó" (chim phượnghoàng) và mâm lễ.  Cuộc lễ khởi đua do hội đồng  kỳ mục và các bôlão điều  khiển. Sau một tràng  pháo báo hiệu cuộc  đua bắt đầu,các "ông  mó" đều được  hất xuống sông  và trải xuất phát.  Người chấphiệu điều khiển mỗi trải đua  phất cờ, miệng hô "Giai bơi, giaikhoẻ" liên hồi;  các tay bơi đồng thanh đáp  lại "Dô huậy". Trongkhi đó, trống trên bờ thúc giục liên hồi để cổ vũ.Trải đua xuất phát từ đình bơi,  phải thực hiện một vòng tới thẻThượng (Đồng Đống)  rồi tới thẻ Hạ (Cống Đôi)  và trở về lại đìnhbơi để  phân thắng bại. Thẻ  là một cây tre  dài khoảng 10m, trênngọn tre treo lá cờ đỏ để báo  hiệu được cắm ở giữa sông. Tại thẻHạ và thẻ Thượng đều có một  người làm nhiệm vụ giám sát chặt chẽviệc tuân  thủ thực hiện các  quy định trong lúc  trải qua thẻ.Tới thẻ Thượng,  các trải đua phải vòng theo  tay phải mới đượcnhổ thẻ; nếu sai hướng thì sẽ  bị loại ngay. Việc nhổ thẻ nầy rấtkhó, nó  đòi hỏi nhịp nhàng,  nhanh gọn và dứt  khoát sao cho khinhổ thẻ  lên mà trải vẫn  giữ được thăng bằng.  Đến thẻ Hạ cũngđược nhổ thẻ và mang về đình bơi.Cuộc thi  kéo dài khoảng  3 giờ. Trải  nào về nhất,  không phạmluật  là giật  giải. Lễ  trao giải  tổ chức  trước đình bơi. Giảithưởng gồm một bánh pháo dài 1,2m,  một mâm xôi và một thủ lợn dohội đồng kỳ mục trao. Hai ngày 22 và 23 tháng 8 chỉ là giải "thămthẻ" cho nên chỉ có 3 trải của  Đào Động đua với nhau. Đến ngày 24tháng 8  mới là ngày  "chính tịch" (hóa  thần) cuộc đua;  ngoài 3trải của Đào Động lại có thêm  3 trải của làng Nuồi tham gia nữa.Đường đua vẫn như đường lần  trước. Trải nào thắng cuộc trong lầnnầy được thưởng 30m lụa điều, một bánh pháo, 10 quan tiền xanh.Dưới sông  thì không khí tranh  đua từng gang tấc,  nhưng trên bờthì lại bao  trùm không khí chan hòa giữa  các làng với nhau, mộttruyền thống tốt đẹp của những làng "nước nghĩa" với nhau.Cuộc đua kéo dài cho đến hết  ngày 24 tháng 8 thì kết thúc, trongniềm hân hoan vui thích của mọi người. Họ lại hẹn nhau trong cuộcthi trải năm tới. Chiều 25 thì tất cả các trải lại được tập trungđể làm lễ "cất  trải", sau đó được đưa vào quán  trải để giữ gìntốt đẹp. Cùng với cuộc thi bơi trải, ngày lễ hội Đồng Bằng lại còn tổ chứcnhững cuộc vui khác như đấu vật,  múa lân; ban đêm thì có hội hátchèo.Sáng ngày 26 tháng 8, làng tổ  chức cuộc rước đức Vua về đền ĐồngBằng trong  bầu không khí  trang nghiêm, kết  thúc ngày hội  hàngnăm. Có thể nói tục  đua trải ở Đào Động là một  sinh hoạt văn hoá dângian, hàm chứa  trong đó nhiều giá trị truyền  thống tốt đẹp: giátrị thể thao, văn hoá, truyền thống thượng võ và tinh thần cố kếtcộng đồng  hương thôn trong vùng  với nhau. Hiện nay  tập tục nầyvẫn còn duy trì  và được chuẩn bị, tổ chức chu  đáo hơn; số ngườitham dự cũng như xem hội đông đảo hơn.

Lễ hội Thánh Dóng

Trước đây trong thời thái bình, hàng năm cũng vào ngày 8 và 9tháng tư, tại đình làng Dóng, tên chữ là làng Phù Đổng, huyệnTiên Du, tỉnh Bắc Ninh, có mở hội kỷ niệm Thánh Dóng rất linhđình và trang trọng. Bốn xã thuộc tổng Phù đổng: Phù Vực, ĐồngViên, Đồng Xuyên và Phù Đổng chung nhau tổ chức lễ kỷ niệm nầyvới sự tham dự của xã hội xá, thuộc phủ Gia Lâm ở bên kia sôngThiên Đức.  Ngoài ra, Sóc Sơn - núi Sóc tức núi Vệ Linh, tương truyền là nơi sau khichiến thắng giặc Ân, thánh Dóng phi ngựa lên đây, bỏ lại áo giáp,cùng với ngựa sắt bay về trời.Về sau người đời lập đền thờ thánh Dóng tại Sóc Sơn và hàng nămcứ đến những ngày mùng 6 đến mùng 8 tháng giêng thì mở hội - tụctruyền rằng nùng 7 là ngày hóa của Thánh Dóng. Dân chúng trongvùng cũng gọi là hội Dóng Sóc Sơn.Khu vực núi Sóc hiện nay còn lưu lại một hệ thống các di tích thờThánh Dóng như: đền Thượng tờ Thánh Dóng và tổ chức những hội lễvà diễn xướng; chùa Đại Bi, đền Hạ, miếu Thánh Mẫu, nhà Bia,khu hành lễ và tiếp khách.Những lễ quan trọng trong đại lễ gồm: lễ khai quang, lễ tắmtượng, lễ rước dâng hoa, lễ chém tướng, lễ tất tranh lộc.Hội Thánh Dóng là một nghi thức lễ bái, thờ cúng vị anh hùng dântộc trong thời lập quốc, đồng thời trong lãnh vực khác, trở thànhmột cuộc tổng diễn xướng về thiên anh hùng ca Thánh Dóng trênmột quy mô rộng lớn về tổ chức cũng như các địa danh trong toànvùng. Qua những tài liệu văn hoá, đây là một phát triển văn hoá từ đầuthế kỷ thứ XI vào đời nhà Lê và của dân chúng các địa phương PhùĐổng, được duy trì trong bao nhiêu đời qua.Trên một lãnh vực khác, tính chất lễ hội và diễn xướng hội Dónglà một bước phát triển phong phú và đa dạng về chuyện anh hùnglàng Dóng. Qua những hình thức nầy, cốt truyện đầy thần kỳ vềThánh Dóng, mà trong đó, việc khơi dậy hình tượng của vị anhhùng dân tộc của bộ lạc đã được nâng lên thành người anh hùng dântộc.Từ trước đến nay theo quy định thì bốn làng liên hệ về thần tíchcùng nhau hội lại phân công tổ chức hội Dóng hàng năm, để kỷ niệnngày Thánh Dóng đánh thắng giặc Ân. Bốn làng đó (Phù Đổng, Phù Dực,Đổng Viên và Đổng Xuyên thì Phù Đổng đóng vai then chốt trongvai chánh tế. Trên nguyên tắc tổ chức quy định thì hai làng trên(Phù Đổng và Phù Dực) được thay phiên nhau làm hội trường điềuhành tổng quát (vị tiên chỉ làng). Còn hai làng sau thường chỉđóng vai phụ trong ngày hội; sở dĩ có chuyện nầy là trong Thầnphả cho biết: sai lầm của hai làng nầy trước kia đã xua đuổi bàmẹ của Thánh Dóng lên rừng sâu ở, trong khi bà đang mang thaiThánh Dóng.Tuy nhiên, cơ sở để phân công trong mọi việc không phải là đơn vịlàng, mà là đơn vị giáp. Giáp là đơn vị chính thức, gồm nhữngtráng đinh trong làng. Tổng Phù Đổng được phân chia ra làm 15giáp trong đó 7 giáp chính và 8 giáp phụ.Phù Đổng có 6 giáp: Ban, Phú, Chợ, Bộ, Đông, Đoài (tây). Phú Dựccó 4 giáp: Từa, Gạo, Nông, Me. Nếu năm nay giáp Đông được cử làmGiáp Hội Trưởng hay Giáp Kéo Hội, thì sang năm đến phiên của giápĐoài, các năm sau lần lượt đến phiên các giáp: Từ, Gạo, Nông,Me... Giáp Hội Trưởng có trách nhiệm tổ chức ngày hội. Giáp nầy phải cửra các chức vụ trong ngày hội như sau:- Hiệu cờ: người cầm cờ và múa cờ trong khi điều hành diễn xướnglễ chính.- Hiệu chiêng: người cầm chiêng và múa những điệu về chiêng (lẫntrống hòa chung nhau).- Hiệu trống: người cầm trống (trống cơm) và múa đánh trống. Cóhai người thay phiên.- Hiệu trung quân: người chỉ huy đội quân trung tâm trong tổ chứcquân Thánh Dóng.- Hiệu tiểu cổ: hai người chỉ huy tiên phong. Cũng có hai ngườiphụ sức thay thế khi cần thiết.Trong khi diễn xướng thì những người kể trên đây đóng vai cáctướng chính của Thánh Dóng; mỗi người được che hai chiếc lọng;chỉ riêng hiệu cờ là tượng trưng cho "Uy lực phi thường của ThánhDóng" trong chiến trận đánh quân Ân, thì được che bốn lọng màusắc khác nhau.Những lực lượng của Thánh Dóng ăn mặc giống như những pho tượngđắp ở đền thờ các vua nhà Lý tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, BắcNinh). Mình trần, đóng khố bao đen, dải khố dài được quàng chéoqua ngực, qua vai, vòng ra sau lưng, và thắt lại ở hông; bên hôngđó có đeo một túi màu đen hình sừng trâu. Đầu đội mũ vải đen thêukim tuyến và đính mặt gương tròn nhỏ; đàng sau có dây rủ xuốngtận gáy.Lễ hội Thánh Dóng được tổ chức chu đáo. Thành thử trước khi khaihội, việc chuẩn bị của 4 xã liên hệ.Ngay từ mồng 1 tháng 3 âm lịch, trước mặt Hội đồng hàng Tổngtrong vùng nầy, vị Giáp Hội trưởng đã dâng lễ "Cúng trầu" lên đềnDóng (đền Thượng) đồng thời nhận "Sổ hội lễ" có những quy địnhtruyền thống và cứ chiếu theo sổ đó để tổ chức hội, tránh nhữngthiếu sót hay sai lầm.Ngày mồng 2 tháng 3 âm lịch, sau khi Sổ hội lễ đã được phổ biếnxong, Hội đồng Giáp họp lại những thành viên chính để phân công,phân nhiệm cho từng vai một.Từ ngày mồng 6 tháng 3 âm lịch trở đi, Giáp hội trưởng rước bìnhhương lên đền Thánh Dóng và làm lễ Trình diện các Tướng (hiệu cờ,hiệu trống, hiệu chiêng) trước bàn thờ của Thánh. Trước mặt quan viên hàng Tổng, vị Thủ Từ kính cẩn trao cho GiápHội trưởng là cờ, cái trống và cái chiêng.Các thành viên đảm trách nhận các vật đó và rước về nhà, để bắtđầu tập biểu diễn. Những bô lão từng kinh nghiệm trong các lễtrước sẽ cố vấn cho từng thành viên trong khi tập dượt.Cũng trong ngày đó và theo nghi lễ trước đó, các Hiệu Trung Quânvà Tiểu Cổ cũng được nhận những vật biểu diễn của mình như trốngcon có tay cầm hay trống khẩu. Lá cờ lệnh nhuộm màu đỏ vàng, dùng trong những ngày hội trước kiađược cất ở trong đền nay được mang ra dùng trong khi tập dượt.Đến ngày lễ chánh thức thì dùng lá cờ mới.Ngày 15 tháng 3 âm lịch trở đi, mọi người trong phần vụ của mìnhphải luyện tập cá nhân hay luyện tâp theo đoàn thể (các tướngcũng như phường múa Ải Lao) phải thành thạo không một chút sơ hởnào. những người yếu kém thì được thay thế tức thì.Ngày 25  tháng 3 âm lịch,  những thành viên trong  giáp phụ tráchđến đền để quét dọn, làm cỏ, sơn màu, vẽ biểu và trang hoàng từ ngoàivào trong. Hai ngày sau lại kiểm soát lại để xem có nơi nào thiếusót hay sơ hở hay không. Đường sá, hội trường, nơi tiếp khách đềuđược sắp đặt và ghi rõ vị trí của từng người một. Ngày mồng 2 tháng 4 âm lịch đội quân Phù Giá được cắt cử trongtừng nhiệm vụ một. Ngày mồng 5 tháng 4 âm lịch là ngày tổng kết và tổng diễn tậptrong từng chi tiết để phê phán và xem những ưu khuyết điểmtrong từng vai một. Ngày hôm sau thì bổ túc những sai lầm đó.Trên đây là việc của những thành viên bên phía lực lượng Thánh Dóng. Cònbên phía giặc Ân từ phương bắc tới thì chọn những cô gái từ 10đến 13 tuổi. Ngoại trừ giáp kéo hội ra, các giáp khác được cử 2cô. Tất cả là 28 người, trong số đó chọn ra hai người thống soáigọi là Tướng Đốc và Tướng Ngựa phó soái.Các tướng ăn mặc lộng lẫy, đội mũ thêu hoa, quấn vòng xuyến vàngbạc. Giáp ban được phân công cử tướng Đốc và tướng Ngựa. Khigiáp "Ban" làm Giáp hội trưởng thì giáp "Phú" lại cử thay thế. Từ ngày mồng 6 tháng 4 âm lịch, người ta chuẩn bị tổ chức chiếntrường. Chiều hôm đó vào giờ Dậu (15 giờ chiều) lễ" Rước nước"bắt đầu. Tất cả quân, tướng đều phải tham dự lễ nầy. Đám rước đi từ đềnThượng đến giếng đền Mẫu để lấy nước. Rước nước lần nầy là để rửabinh khí để chuẩn bị cho trận đánh theo nghi thức cũ. Người takhiêng đôi chum "linh thiêng" đến đặt lên bệ bờ giếng, 80 quânPhù giá dàng ra thành 2 hàng hai bên trên các bậc tam cấp xuốnggiếng. Người đứng đầu hàng cạnh giếng  cầm gáo đồng múc nước vàchuyển đến cho người đứng bên chum. Người nầy thong thả rót nướcvào chum qua miếng vải đỏ trải trên miệng chum. Tất cả các cử chỉnầy đều được biểu diễn theo lệnh của trống, chiêng và sênh củangười xướng xuất. Sau đó người ta rước đôi chum trở về đền Thượng, chiêng trốngđánh lên từng hồi rộn rịp. Phường Ải Lao múa hát đi trước để dẫn đường. Theo niềm tin dângian, nước đó đã được Thánh Dóng ban cho để người ta sinh sống vàtrồng trọt; nay thì đem nước về đền thờ Thánh Dóng và rửa khígiới ấy để giữ uy lực trong chiến đấu và quyết chiến thắng.Người tin rằng sau khi rước nước chiều hôm đó thì sáng ngày maithường hay có mưa. Mưa xuống, theo dân chúng biểu hiện Thánh Dóngvề dự lễ hội, đồng thời cây cối tốt tươi trong mùa màng tới.   Ngày 7 tháng 4 âm lịch: Trong ngày nầy có tổ chức rước cổ chay, diễn múa rối  nước,rước khám đường và trai gái vui chơi. Vào giờ tị (11 giờ trưa) người ta rước cổ chay (chủ yếu là cơm vớicà) từ đền Mẫu đến đền Thượng, rồi tế Thánh Dóng, qua những điệunhạc của phường hát Ải Lao. Vào buổi trưa hôm đó, có múa rối nước ở hồ trước cổng đền Thượng.Chiều hôm đó, có lễ rước Khám đường. Cuộc rước nầy có ý nghĩathăm dò đường đi ra mặt trận.Vào 8 giờ tối hôm đó, thường có tục trai gái hội họp vui chơi. Họthường họp thành hai phe rồi đuổi bắt nhau trên bãi sông gần đó.Bên trai thường chỉ đóng khố và để đầu trần để khỏi bị bên gáitúm khăn áo. Tục nầy rất cổ, cho nên càng ngày càng phai nhạt đần để biếnthành cuộc họp mặt tình tự của họ. Thông thường thì quần chúngđế dự hội bị thu hút vào những đám diễn tuồng, hát chèo trong đêmhội Dóng.Ngày 8 tháng 4 âm lịch là ngày chánh lễ. Đây là ngày hội chánh với nhiều nghi lễ quan trọng trong suốtngày. Theo lịch sử thì ngày nầy để kỷ niệm Thánh Dóng đánh và phá đượcgiặc Ân, cũng là ngày ông Đổng về làng hái cà. Theo nhiều truyềnthuyết thì vào ngày nầy thông thường là "sáng mưa, trưa nắng".Thoạt tiên là lễ Rước cờ. Lễ nầy khởi đầu từ đền Mẫu đến đền Thượng, mở đầu cho ngày hộichính. Khi đám rước đến đền Thượng, pháo hoa đốt lên và các độiPhù Giá biểu diễn cách tập hợp đội ngũ của mình. Theo lệnh củangười xướng suất, đội Phù Giá xếp hàng hai rồi nhanh chóng chuyểnsang hàng bốn, quay bên trái rồi chuyển qua bên trái, rồi tiếnbước đi, lúc đầu chậm rãi nhưng dần dà thì chạy rầm rập rồi lộnvòng và đứng lại làm lễ.Họ giữ người thẳng, chân xoè ra theo dạng chữ "Bát", hai gót chạmnhau, hai tay giơ thẳng đằng trước, rồi chắp hai bàn tay trướcngực, khuỷu tay ngang vai. Cứ thế họ tiến lên phía trước, đếngần bàn thờ Thánh Dóng thì đứng ngay lại, giơ chân trái đá sangtrái, rồi giơ chân phải đá sang phải, rồi đi thụt lùi. Tất cảnhững động tác nói trên được biểu diễn khá nhanh nhẹn, hùng mạnh,nhịp nhàng, trông rất đẹp mắt. Qua các biểu diễn, đó là những độngtác có tính chất quân sự đã được cách điệu hoá, không phải là loạinghi lễ cúng bái thông thường. Khi biểu diễn, có những tiếngtrống chiêng hòa theo để điều khiển; sau cùng thì tất cả dùng tayphải rút từ trong túi ra một chiếc quạt, rồi quơ lên quá đầu,miệng "dạ" một tiếng thật to, đoạn bỏ tay xuống. Họ làm như thếđến 9 lần, rồi dàn thành hai hàng trước điện thần, cúi đầuxuống,rồi đi lùi ra, miệng lại "dạ", "dạ"... Lễ hội hoàn tất.

 Lễ hội Đống Đa (Quang Trung)

Quang Trung - Nguyễn Huệ sinh năm 1753 tại ấp Tây Sơn, làng LiênMỹ, huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.Mùa xuân năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệđã dựng cờ khởi nghĩa, chống lại những hành động tàn ác củaTrương Phúc Loan; cuộc nổi dậy đã được nhiều tầng lớp người Kinhvà người Thượng hưởng ứng nồng nhiệt.Hàng năm, lễ hội Quang Trung diễn ra tại gò Đống Đa (Hà Nội) chiến trường đẫm máu quângiặc năm xưa và tại làng Kiên Mỹ, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định,nơi quê nhà và cũng là nơi bột phát đầu tiên của cuộc khởi nghĩaTây Sơn. Thành Hoàng Đế, chợ Gò cũng là nơi tổ chức lễ hội vàdiễn xướng vào ngày đầu Xuân mỗi năm.Cũng như tại Tây Sơn, hàng năm vào ngày 5 tháng giêng âm lịch,tại khu vực gò Đống Đa, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tổ chứcngày hội giỗ trận Đống Đa để kỷ niệm trận chiến thắng vô cùngoanh liệt vào sáng ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789).Thoạt tiên đến ngày mồng 5 tháng giêng, những người có tâm phúcđến đây để làm lễ siêu độ cho những người chết trận. Dần dà vềsau, nhiều di tích chiến thắng Khương Thượng được tạo dựng lênnhư chùa Đồng Quang, chùa Phúc Khánh và khu gò Đống Đa hiện nayđược chọn làm trung tâm của những hoạt động kỷ niệm chiến thắngmùa xuân Kỷ Dậu.Từ sáng sớm ngày mồng 5 tháng giêng, không khí tưng bừng ngày giỗtrận đã náo nức với nhiều đoàn người từ nội ngoại thành Hà Nộiđến tham dự. Cửa đình làng Khượng Thượng rộng mở, khói trầm hươngnghi ngút. Lá cờ đại cổ truyền dân tộc cao ngất trước đình làngtrong khí thế kiêu hùng nhớ ngày hội lớn của dân tộc. Những lá cờngũ hành cắm la liệt khắp sân đình làng tạo một quang cảnh trangnghiêm tưng bừng. những đại diện chính quyền và hương sắc cáclàng lân cận được mời lần lượt đến dự lễ khai hội nầy. Chiêngtrống gióng giã báo hiệu vang lên. Sau tuần niêm hương, cuộc đạilễ khai mạc bắt đầu với dàn nhạc ngũ âm, cộng thêm trống đồng cổtruyền nổi tiếng.Đến trưa ngày mồng 5, sau những hồi trống chiêng báo hiệu đại lễ,thì tức thì những tràng pháo giòn giã. Cuộc rước thần mừng chiếnthắng cũng bắt đầu.  Cuộc rước nầy khởi phát từ đình làng Khương Thượng về gò Đống Đa.Tham gia cuộc rước nầy là những trai đinh làng Khương Thượng vàlàng Thịnh Hào; đi sau kiệu rước là những đoàn cờ, lọng, tán, bátbửu. Những người thủ vai chấp kích đô úy, quan viên các cấp biểutrưng lực lượng Quang Trung vào hàng ngũ, nai nịt gọn gàng trongtrang phục của ngày hội lớn.Những tràng pháo liên tục do những trung tâm làm pháo nổi tiếngđược vang lên báo hiệu cuộc diễn hành.Tất cả những nhân viên chấp hành khác cũng đều ăn mặc theo lễ phục hội cổ truyền.Đi sau là hình  tượng "Con rồng lửa" do dân các làng cùng nhau lấy rơm bện thành"con cúi" (con nùi rơm) to và dài như hình con rồng; bên ngoàiđược dán bằng giấy hay bằng mo, vẽ trang trí hình rồng lộng lẫy.Con rồng lửa được rước đi theo nhịp sênh tiền, uốn lượn trong tưthế chiến thắng.Theo sau đoàn rước và đứng chật hai bên đường từ đình làng KhượngThượng đến gò Đống Đa là khách trẩy hội mừng ngày hội lễ chiếnthắng, cũng để suy tưởng lại chiến công của người xưa.Đám rước nầy là vang bóng của những cuộc tiến quân hào hùng củaTây Sơn trong trận tấn công mùa xuân Kỷ Dậu.Ngoại trừ những năm chiến tranh, ngày lễ kỷ niệm trận Đống Đa baogiờ cũng được tổ chức chu đáo với sự tham gia của nhiều làng xãvà đại diện chính quyền các cấp. Những trò vui chơi ngày càngphong phú và được thanh niên nam nữ tham dự.Hàng năm cứ đến ngày 5 tháng 1, cùng thời lễ trận Đống Đa tại HàNội, tại nhiêu nơi ở tỉnh Bình Định như làng Kiên Mỹ, thành HoàngĐế (tức thành Đồ bàn ngày trước), nơi quân Tây Sơn đặt bản doanhtrong giai đoạn khởi nghĩa đầu tiên, thành phố Quy Nhơn... (tấtcả gồm 23 địa điểm lớn nhỏ khác nhau) đều cử hành hội lễ và diễnxướng để kỷ niệm chiến công oanh liệt của vị anh hùng Quang Trung- Nguyễn Huệ.Trong tất cả những điểm trên, đông đảo người tham dự và tổ chứctưng bừng nhất thì vẫn là lễ hội làng Kiên Mỹ.Kiên Mỹ là nơi sinh trưởng của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ vàNguyễn Huệ; nhưng trải qua thời gian và đặc biệt do sự tả thù củanhà Nguyễn Gia Long sau 1802, vùng đất Kiêm Mỹ đã không tránhkhỏi được sử tàn phá và những biến động liên tục. Dòng họ Hồ -Nguyễn của tây Sơn hiện nay đã không còn nữa. Những di tích nguyên vẹn của Tây Sơn cũngkhông còn được là bao. Tuy nhiên với niềm tự hào của dân chúngtrong vùng đối với vị anh hùng của quê hương, người dân Kiên Mỹvẫn nuôi dưỡng và lưu truyền những truyền thuyết, bảo vệ những ditích. Hàng năm vào ngày 15 tháng 11 âm lịch vào dịp lễ Thượng tân (Tết cơm mới) dânlàng cúng giỗ "Ba Ngài Tây Sơn"; tuy nhiên chỉ cúng hương hoa và"mật báo" chứ không đọc văn tế. Những đất ruộng của anh em TâySơn để lại là 3 mẫu 2 sào bị trưng thu thành công điền; tuynhiên, người dân Kiên Mỹ hàng năm dùng số tiền đó để tế đình ứclà tế anh em Tây Sơn "giao hoàn cho chủ". Và để che mắt của quanlại triều Nguyễn, dân làng Kiên Mỹ phải ngụy trang việc thờ cúnganh em Tây Sơn bằng cách khai Thành Hoàng. Lại xin sắc phong nhàNguyễn về thờ. sắc thần không còn nữa, nhưng các vị bô lão cònnhớ tôn hiệu một số vị thần thờ xưa kia là "Cao các Đại Vương TônThần; Bạch mã Thượng Đẳng Thần; Cửu Thiên Huyền Nữ; Vạn Phúc PhuNhân Chi Thần; Kiêm Niên Hành Khiển Hành Binh Chi Thần..." Nhưngsắc thần không thờ ở làng, mà thờ ở miếu Vĩnh An (xóm Chợ hay xómHưng Trung); hàng năm tổ chức cúng tế vào tháng 3 âm lịch.Du khách đến tham dự lễ hội ở đây có thể đến bằng ô tô, tàu lửa,theo quốc lộ 1, đến ngã ba cầu Ghềnh thì rẽ theo quốc lộ 19 đi GiaLai, Kontum, thêm 28km đến thị trấn Phú Phong, huyện lỵ Tây Sơn.Con đường mang tên Đống Đa nối quốc lộ 19 ở giữa thị trấn hướngvề phía Bắc một đoạn đến cầu Kiên Mỹ; đây là chiếc cầu nhỏ xinhxắn nối đôi bờ sông Côn, sẽ đưa khách đến nhà Bảo tàng QuangTrung. Bảo tàng nầy được cấu trúc năm 1972, nhưng qua chiến tranhkhông thể tiếp tục và chỉ được xây thêm vào năm 1977, nơi khôngxa nền nhà cũ của gia đình anh em Nguyễn Huệ là bao. Nơi đây cònlại một cây me, có chu vi ở gốc đến 4m, một giếng nước gắn liềnvới tuổi ấu thơ của vị anh hùng nầy.Ngay từ ngày mồng 3 và ngày mồng 4 Tết, tại Kiêu Mỹ và những lànglân cận đã rộn rịp trong không khí chuẩn bị cho ngày đại lễ. Họphân công nhau rất chặt chẻ. Nhóm thì chăng đèn, kết hoa, nhómthì dựng cổng chào, dựng sân khấu, những thanh niên trai trẻ thìsửa đường sá, dựng nhà khách, những cụ già thì quét dọn bàn thờvà sửa soạn những nghi lễ cần thiết. Ngoài ra còn trình bày lạimô hình tả lại trận đánh Hà  Hồi - Ngọc Hồi -  Đống Đa lịchsử...  trên bãi cát của con sông Côn.Ngày từ chiều ngày 4 tháng 1, tại huyện lỵ Tây Sơn những người đitrẫy hội và tham dự diễn xướng đã bắt đầu tề tựu về để kiểm điểmlại những gì cần thiết cho ngày hội. Sáng ngày 5 tháng 1, những dòng người từ Quy Nhơn và nhữnghuyện đồng bằng ngược lên, từ phía An Khê, Pleiku đổ xuống với đủnhững phương tiện khác nhau. Có những đoàn đại biểu từ các tỉnhbạn như Quảng Nam - Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa; có cả những đoàndu khách từ Huế vào, từ Sài Gòn ra.  Vào những năm kỷ niệm chẵn, khách dự lễ còn gặp đoàn đại biểu củadân tộc Bahnar với trang phục ngày lễ độc đáo từ phía Tây Sơnthượng đạo về dự lễ. Họ cũng mang theo những dàn cồng chiêng vànhững đoàn múa thượng võ của họ nữa.Hội lễ: Sau dây pháo nổ kéo dài 10 phút đồng hồ, tiếng trống đại, tiếngchiêng vang lên như giục giã báo hiệu cho lễ khai mạc đại lễ. Vịđại diện ban tổ chức nói lên ý nghĩa trọng đại của vị anh hùnglịch sử và nhấn mạnh đến nhiệm vụ của con cháu chúng ta trongviệc đền ơn đáp nghĩa.Trong không khí trang nghiêm thơm ngát mùi trầm, hàng chục ngànngười đứng trước và bao quanh sân điện thờ và nhà Bảo tàng; họcúi đầu tưởng niệm vua Quang Trung và những tướng lĩnh, nhữngbinh sĩ của người.  Lần lượt những đoàn đại biểu đến dâng hương trước điện thờ chính.Cùng trong lúc đó, dàn nhạc võ 12 trống (gọi là trống trận TâySơn) vang lên các khúc thúc  quân và ca khúc khải hoàn của thời xưa.Những du khách đến bắt đầu toả ra các nơi để thăm viếng các khudi tích chung quanh đền thờ chính, nhà Bảo tàng Quang Trung, đểôn lại trang sử oai hùng của người xưa. Sau đó, những đoàn ca, đoàn múa, đoàn võ vật trình bày những điệumúa trống võ Tây Sơn. Dẫn đầu là một cô gái tuổi vừa đôi tám, mặcáo chẽn đỏ, quần màu hồng nhạt, lưng thắt dải khăn xanh, hai taycầm dùi lướt trên 12 mặt trống cơm, một cách điêu luyện với nhữngâm thanh trầm bỗng chan hoà nhau.   Cũng trong khi đó, từng tốp nam nữ thiếu niên và thanh niên biểu diễn song kiếm, côn, quyền, đạiđao... Đây là những môn sinh của những trung tâm võ thuật BìnhĐịnh nổi tiếng truyền thống từ nhiều thế kỷ qua. Người dân trongvùng tưởng nhớ lại oanh danh một thời của "Roi Thuận Truyền,quyền An Thái".

 

LỄ HỘI CHÙA

Lễ hội các chùa Tứ Pháp

Tứ Pháp là những ngôi chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện ở vùng Dâu (gồm các chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng và chùa Dàn) thuộc vùng Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Ngoài ra Tứ Pháp cũng được thờ vùng Tây bắc tỉnh Hải Hưng như tại các đình chùa ở An Lạc, Đình Dù, Liễu Hạ, Liễu Trung, Nguyên Xá, Nhạc Lộc, Nhạc Miếu, Ôn Xá, Thái Lạc, Thanh Xá, Tuấn Di, Dị Sử. 

Hàng năm những ngôi chùa nầy tổ chức lễ vào ngày mồng 8 tháng 1âm lịch, vào những kỳ hạn hán, dân các làng nầy còn tổ chức cầu mưa (đảo vũ) và những cuộc rước trọng thể ở những làng thờ Tứ Pháp. Chẳng hạn như cuộc rước ba bà Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi đến chùa Un (làng Ôn Xá) nơi thờ Pháp Điện.

Chùa Dâu tên chữ là Diên Ứng Tự, tọa lạc trên đất làng Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Hàng năm lễ hội mởvào ngày 17 tháng giêng âm lịch, đúng vào ngày sinh của Phật mẫu Man Nương. Chánh hội thì lại được mở vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch, trùng với dịp lễ Phật Đản; đây cũng là ngày kỷ niệm khánh thành tượng Tứ Pháp. Theo tài liệu của "Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh" thì: Trong số những nhà sư người Ấn Độ đến Việt Nam, có nhà sư Khâu Đà La (Ksudra), cũng thường được gọi là Già La Chà Lê (Kalacarya), có nghĩa là "ông thầy đen" đã đến cư ngụ và thuyết pháp tại thành Luy Lâu.   Chùa Dâu  cách xa thành phố Hà Nội chừng 30 cây số, theo đường tỉnh lộ. Chùa cũng có tên là chùa Cổ Châu dưới đời nhà Lý, chùa Thiền Định dưới đời nhà Trần và chùa Diên Ứng dưới đời Hậu Lê. 

Chùa Dâu được xem là ngôi chùa xưa nhất của Việt Nam; nếu tính theo lịch sử vào khoảng thứ II sau Công nguyên và là  công trình kiến tạo chung của toàn vùng. Trong giai đoạn trung tâm Luy Lâu được thành lập thì Chùa Dâu  là nơi mà những tăng sĩ người Ấn Độ thường qua lại để truyền giáo. Cũng trong thời kỳ nầy, có những ngôi chùa khác như chùa Đậu (tức chùaThành Đạo) chùa Tướng (tức chùa Phi Tướng) chùa Dàn (tức chùa Phương Quang) chùa Keo (tức chùa Trùng Nghiêm).

Chùa Dâu cũng liên quan đến thiền sư Ấn Độ, ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến truyền giáo vùng nầy. Trong thời gian nầy chùa Dâu  nằm trong vị trí những trung tâm giao dịch buôn bán sầm uất nhất của thành Luy Lâu, nằm phía ngã tư Thuận Thành (tỉnh Hà Bắc).   Trục giao thông xưa nầy ngã theo hai chiều khác nhau: một chiều hướng chạy về phía vùng Đông Triều, Phả Lại ra mặt biển; chiều hướng thứ hai chạy về vùng Hải Hưng, Khoái Châu về miệt cao nguyên. Nhiều giai thoại kỳ thú chung quanh huyền thoại xây dựng  chùa Dâu.

  Sách Lĩnh Nam Chích Quái (Trần Thế Pháp) và Thoái Thực Ký Văn (Trương Quốc Dụng)  lại cho rằng: (...) Nguyên chùa Dâu có nhiều liên quan đến chuyện nàng Man Nương. Nàng vốn là con gái của một nông phu thuộc làng Mân Xá, thuộc miệt hạ lưu bên bờ sông Đuống. Vào tuổi nhỏ, nàng đã bắt đầu  tìm hiểu Phật Pháp, nên một mình từ bờ Nam con sông Đuống dùng thuyền qua bờ phía bắc để theo học kinh sách với thiền sư Khâu Đà La tại chùa Linh Quang (nằm trong địa phận của xã Phật Tích, huyện Tiên Sơn). Thiền sư Khâu Đà La vốn theo Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng, lại kết hợp thêm những tư tưởng tín ngưỡng của người bình dân, có nhiều phép lạ, cho nên có ảnh hưởng sâu rộng trong dân chúng của trung tâm Luy Lâu hồi đó.

Nhưng rồi, con đường học hỏi Phật Pháp của nàng Man Nương đã không hoàn mãn. Tương truyền có một hôm, nàng đang ngủ trong chùa Linh Quang, thì thiền sư Khâu Đà La sau giờ nhập thất đã bước qua người của nàng. Sau đó thì nàng thụ thai. Mãi cho đến 14 tháng sau đó, thì nàng sanh được một bé gái kháu khỉnh  hình dáng như Phật Bà Quan Âm. Nàng bồng con đem đến giao trả cho thiền sư. Ngài im lặng nhận lấy và mang bé gái đến bờ sông Đuống.

Khi đến một gốc cổ thụ bên bờ sông thì thiền sư niệm thần chú rồi dùng cây thiền trượng gõ vào giữa thân cây. Một đường nứt lớn được mở rộng ra và nhà sư đã đặt bé gái vào gốc cây; chẳng bao lâu thì thân cây khép kín lại như  cũ. Ngay từ hôm đó, từ gốc cây, đã tỏa ra một mùi hương thơm ngát toả khắp vùng.   Dân chúng tin là có thần linh, thường đến cúng bái cầu khẩn và đều được toại nguyện.

Thiền sư Khâu Đà La ở lại một thời gian ngắn ngủi sau đó, thì cũng từ giã thành Luy Lâu để trở về Thiên Trúc. Trước khi lên đường, thiền sư tặng cho nàng Man Nương cây thiền trượng của ngài. Theo lời căn dặn của thiền sư Khâu Đà La thì công dụng của cây thiền trượng sẽ giúp cho nông dân trong làng nếu gặp những kỳ hạn hán. Nếu không gặp mưa thì chỉ việc mang cây thiền trượng đến gần gốc cổ thụ kia, cắm xuống đất và cầu nguyện. Kết quả sẽ nhưý nguyện.

Man Nương nghe theo và sau đó đã từng giúp dân làng quanh năm được mưa thuận, gió hòa, mùa màng thu hoạch tốt đẹp. Nhưng rồi một đêm khuya nọ, trời sấm sét nổi lên, mưa to gió lớn, cây cổ thụ trốc gốc và ngả xuống. Cây ngã ngay xuống giòng sông Đuống, để trôi dần về khu vực của làng Dâu mang luôn theo thân xác của con gái nàng Man Nương.

Dân làng tin là cây thần, tìm cách để khiêng cây cổ thụ lên bờ. Nhưng họ đã tập trung đông đảo dân làng để trục cây lên, mà cây không nhúc nhích chút nào. Nàng Man Nương vô cùng ngạc nhiên. Nhưng rồi nàng vô tình dùng dãi yếm của mình, buộc nhẹ vào thân cây và kéo lên dễ dàng.

Chùa Dâu nằm trên một khu đất rộng ven con sông Dâu - một chi lưu của sông Đuống – nay trở thành một trong những khu di tích nổi tiếng của miền Bắc được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử quan tâm đến. Những vị thiền sư đã từng đặt chân đến cư ngụ và thuyết pháp ở ngôi chùa lịch sử nầy phải kể đến: Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Pháp Hiền, Quan Duyên, Trì Bát, Định Không, Thiện Hội... 

 Trước đây, chùa Dâu chỉ là một ngôi đền có tên là Pháp Vân; nhưng sau cũng đã được sửa chữa và trùng tu lại nhiều lần. Ngôi chùa nầy hiện nay vẫn còn ghi lại nhiều vết tích kiến trúc và điêu khắc của nhà Hậu Lê. Kiến trúc của ngôi chùa nầy theo kiểu "nội công ngoại quốc". Những phần chính của chùa bao gồm: tòa chánh điện, đại bái đường, Phật điện, nhà hậu đường. Trong điện chính nay còn thờ tượng của Phật Bà Pháp Vân; hai bên có tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ.

Nghệ thuật tạo hình của những pho tượng theo kỹ xảo VN thế kỷ XVII.  Những nhà nghiên cứu mỹ thuật Phật Giáo nhận định: qua nhữngtruyền thuyết chung quanh vị sư Khâu Đà La và những pho tượng về Tứ Pháp, thì ngay trong buổi đầu, đã có sự kết hợp chặt chẻ giữa Phật Giáo trong lúc mới du nhập với nền tín ngưỡng dân gian cổ truyền qua sự kiếp lập chùa chiền. Tuy nhiên, khó có thể hình dung rõ những ngôi chùa dựng lên trong giai đoạn nầy có hình dáng như thế nào?  

Theo sách "Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh" có ghi: nhà sư Khâu Đà La đã "lập am dưới gốc cây đa" để tu hành. Như vậy, chùa trong giai đoạn nầy chỉ là am nhỏ. Cũng có thể ức đoán rằng: những ngôi chùa đầu tiên vớn là những đền thờ các vị thần truyền thống, rồi những nhà tu hành hay tín đồ đã đặt thêm điện thờ Phật xen kẻ vào. Không phải người ta đặt tượng Tứ Pháp vào các chùa mà đã đặt những tượng Phật vào những đền thờ Tứ Pháp.  

Những tổ chức hội lễ và diễn xướng ở chùa Dâu cũng như hệ thống  Tứ Pháp như sau:  Hội lễ ngày 17 tháng 1: tương truyền là ngày sinh của Phật mẫu Man Nương; đây là hội thi bánh dày nổi tiếng ở làng Dâu. Để chuẩn bị, hai giáp Đông và Trung, giành mỗi giáp ba sào ruộng tốt cấy lúa nếp; bắt đầu từ ngày 16 tháng 1 các giáp xay giã, chọn nếp tốt, sau đó là các công việc làm bánh.  Sáng sớm ngày 17, chiêng trống nổi lên, các Giáp trưởng điều hành rước bánh ra chùa lễ Phật, rồi dự thi.  Bánh dự thi đường kính là 50cm, phủ giấy điều chung quanh.

 Hàng năm những ngôi chùa nầy tổ chức lễ vào ngày mồng 18 tháng 1âm lịch, vào những kỳ hạn hán, dân các làng nầy còn tổ chức cầu mưa (đảo vũ) và những cuộc rước trọng thể ở những làng thờ Tứ Pháp. Chẳng hạn như cuộc rước ba bà Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi đến chùa Un (làng Ôn Xá) nơi thờ Pháp Điện. Theo tục truyền không bao giờ được rước tượng của bà Pháp Điện ra khỏi chùa Un được.

Theo dân trong làng, mỗi khi rước tượng Pháp Điện ra, nhiều nhà trong làng phát hỏa ở những ngôi nhà theo hướng mắt của bà nhìn. Ba bà trẩy hội chùa Un là nghi lễ truyền thống khắp trong tỉnh Hà Bắc. Ngoài lễ Cầu mưa là hội lễ chính trong dịp nầy, còn cuộc "rước giao hiếu" giữa các làng có thờ Tứ  Pháp.

 

  Lễ hội  chùa Hương

 

Hội chùa Hương được khách thập phương từ trong nước cũng như từ  ngoài nước về tham dự. Lễ nầy bắt đầu đón khách thập phương từ ngày rằm tháng giêng và cứ thế kéo dài cho đến ngày rằm tháng ba âm lịch. Tuy nhiên, khách vãn cảnh chùa để tìm những hương sắc nổi tiếng thì quanh năm suốt tháng tưởng không bao giờ dứt cả. Hội chùa Hương được đánh giá là lễ hội và diễn xướng về tôn giáo được ngưỡng mộ hơn hết. Đã vậy, không gian của cảnh quan chùa Hương rất rộng lớn bên cạnh vùng sông Đáy bao la. Tuy nhiên lễ chính thức thì được cử hành từ ngày 15 cho đến ngày 20 tháng 2 âm lịch. 

Theo những chi tiết được ghi trong Tự Phả của chùa Trong thì ngày 19 tháng 2 âm lịch chính là ngày sinh và ngày 18 tháng 2 âm lịch là ngày hoá của bà Chúa Ba (mà dân chúng thường quan niệm là hóa  thân của đức Quan Thế Âm Bồ Tát), cho nên trong hai ngày nầy không khí trong suốt dặm đường dài từ ngoài vào trong náo nức hơn bao giờ hết. Hàng năm ngày 6 tháng giêng là lễ Mở cửa rừng, sau khi chuẩn bị xong mọi cuộc chỉnh đốn cần thiết để đón khách thập  phương. 

Lễ Mở cửa rừng: Lễ nầy được khai sinh từ năm 1762, còn được gọi là Lễ Khai Sơn do Thiền Sư Huệ Đăng tổ chức hồi đó. Lễ được tiến hành ở đền Trình  (tức là Ngũ Nhạc). Ngôi đền Trình vì điạ thế cho nên không lớn  lắm, được kiến trúc (1755) theo kiểu chữ "tam", với vị thế phong thủy mang hình ảnh của "thượng sơn lâu đài, hạ sơn lưu thủy", có đủ sơn triều, thủy tụ, tiền án, hậu chẩm.   Đền toạ lạc phía trước núi và được gắn một phần sâu vào lưng núi.

 Tương truyền thì vùng đất nầy trường kia thường có nhiều cọp dữ về, cho nên tại đó lại có thêm đền thờ Sơn Thần (Thần hổ), theo tập tục tín ngưỡng  thời nguyên thủy. Về sau thì Sơn Thần đã được chuyển hoá dần để   trở thành Nhân Thần và được ghi chép theo Thần phả đầy đủ.

Thần phả tại đây còn cho biết thêm rằng; Hùng Lang, một trong những vị tướng của Thánh Dóng đã vào đây tổ chức phục kích và giết được Thạch Linh, tướng của nhà Ân.  Như đã nói, lễ Mở cửa được tổ chức vào 5 giờ sáng ngày mồng sáu  tháng giêng, với một nghi lễ khác đặc biệt: sau lễ Mộc dục thì  tiếp theo lễ tạ chúa Rừng (Ông Hổ), lễ Thần núi, lễ Cầu mùa, rồi đến lễ Cầu an.  Vì tính chất của những lễ nầy liên quan đến sinh  hoạt của dân chúng trong vùng cho nên dân trong bốn xã lân cận  đều đến tham dự rất đông đúc. Sau ngày lễ nầy thì dân chúng trong vùng mới được phép vào khu rừng phía sau để săn bắn hay khai thác những thổ sản.

Lễ Nhập đền: Vì đền Trình là ngôi đền đầu tiên nằm trong hệ thống những đền chùa trong toàn cảnh Hương Tích, cho nên khi lễ Mở cửa rừng được cử hành thì đó cũng là lễ Khai trương cho toàn chùa chiền vùng nầy. Dân chúng khắp nơi chờ đợi sẵn sau ngày lễ để có thể đi vào các tuyến đến những ngôi chùa danh tiếng trong vùng nầy.  

Lễ hội: Lễ hội chùa Hương được trải dài trọng mùa Xuân từ sau ngày Mở Cửa Rừng cho đến cuối tháng ba. Rồi sau đó những ngày lễ Phật Đản, lễ Trung Nguyên, lễ Trùng Cửu, lễ vía Liễu Hạnh Thánh Mẫu, lễ Bà  Chúa Thượng Ngàn, lễ Vân Hương Thánh Mẫu, bất cứ lễ hội nào cũng  được thập phương đến cúng bái. Trong những ngày đó, từ bến Yếnthuyền tấp nập chen chúc nhau đi vào, từ bến Trò thuyền ra;  khách lên, khách xuống hết chùa nầy sang động khác, trên bến dưới thuyền nườm nượp. Những nơi có lên đồng bóng thì con công đệ tử ở  lại lâu hơn, và trong những trường hợp nầy thì lễ hội lại càng nghiêm trang, đa dạng hơn.  Đi lần từ bến Trò, dọc theo những con đường đất để leo lên chùa Thiên Trù (bếp trời) miên man nào là nhang đèn, vàng mã, những hàng quán nhỏ bán trầm hương, trầu cau, quán cơm, thậm chí có những ngôi quán bán loại "gậy lụi" để khách hành hương dùng đểchống leo núi chùa Hương.

Con đường từ chùa Ngoài vào chùa Trong vào khoảng 2km, nhiều dốc cao, mấp mô; tuy nhiên không vì thế mà khách hành hương bỏ cuộc. Họ nối đuôi nhau thành một suối người liên tục, từng lớp, từng nhóm từng đôi, từng đoàn, lên lên, xuống  xuống.  Khách thập phương chỉ mong tham quan lễ bái cho cùng khắp các  chùa chiền trong vùng; mỗi khi vào hội, mọi chùa, đền, hang, động thì mọi người như bừng tỉnh hẳn. Họ chuẩn bị những lễ vật cúng bái rất tươm tất, xin xăm bói quẻ cầu mong gặp nhiều may mắn, an   khang, thịnh vượng. Dù những ngôi chùa xa xuôi, trong hang động, nhưng toàn thể hương án, điện thờ, đồ thờ đều được lau chùi sạch sẽ, đèn nến sáng trưng, khói hương nghi ngút. 

Đi chùa Hương là để lễ Phật và như vậy, đất Hương Sơn như bao nhiêu khách thập phương gọi cảnh quan toàn vùng là "đất Phật".  Những vị tăng sĩ đảm trách công việc trông nom hương khói, cúng bái trong chùa là chư Hoà Thượng hay Thượng Tọa dù trong thời chiến hay thời bình.  Hương Sơn tiếp nhận khách thập phương cho nên nguồn tín ngưỡng nơi đây mang tính chất dân gian; sự pha trộn giữa Phật Giáo và  Lão Giáo không thể nào tránh được, theo nhu cầu thờ phượng của quần chúng.

Trong chùa, ngoài việc thờ Tam Tôn, Tam Thế Phật, cũng đã tiếp nhận thêm những tín ngưỡng cổ của địa phương; chẳng hạn như nhiều ngôi chùa của quần thể nầy có tục dùng bái giới tự  nhiên (thờ thần đá, tín ngưỡng phồn thực), tín ngưỡng thờ Thần bản mệnh, đạo Tứ Phủ. Đi lễ chùa ở đây, sẽ gặp sự hỗn dung của các cách thờ cúng dân gian. Tại ngôi chùa chính, bức tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát Chuẩn đề có nhiều đường nét điêu khắc theo kiểu dáng nghệ thuật đời Hậu Lê, bên cạnh đó là một hệ thống các tượng Phật như ở nhà Tam Bảo thuộc chùa Ngoài.

 Trong động chúa Tiên có 5 pho tượng bằng đá: đó là tượng Cửu Thiên Huyền Nữ, tượng Phạm Thiên, Đế Thích, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Sự hỗn dung trong tín ngưỡng nầy khiến cho thập phương cảm thấy gần gủi hơn trong tín ngưỡng và lễ bái, cầu khẩn.   Tại chùa còn có quả chuông đồng ghi rõ "Bảo Đài Hương Tích Sơn Hồng Chung" có niên đại vào 1655.

Qua những biavăn, di tích lịch sử kể cả những di vật khảo cổ học khai quật được, là dấu ấn hoạt động văn hoá - tôn giáo. Bia cổ nhất là  "Thiên Trù Tự Bi Ký" dựng lên năm 1686. Giáo sư Nguyễn Văn Huyên khi viết về thờ cúng Hương Sơn nhấn  mạnh: "(...) Con người sinh sống ở đây trong vùng đồng bằng, xa dần rừng núi,  cho nên Nhạc Phủ (Mẫu Thượng Ngàn vùng rừng núi) đã mờ nhạt đi  nhiều.

 Thiên Phủ thì do triết lý âm dương nỗi trôi, cho nên đã chuyển   thành thờ Cửu Thiên Huyền Nữ. Địa phủ, Thủy phủ được tôn thờ, do đó quyền năng cai quản đất đai thuộc về các bà Chúa Xứ, bà Chúa Hòn,Chúa Động, kể cả bà Mẹ xứ sở người Chăm - Pa trở thành bà Chúa Ngọc, bà Hồng, cô Hồng. Về ý nghĩa thiêng liêng tôn thờ, là tiếp tục tôn thờ triết lý sáng tạo âm dương ngũ hành, cho nên có Ngũ Hành Nương Nương, Bà Thủy, bà  Hoả.  Về ý  thức nhớ lại  nguồn ở việc  thờ bà Chúa Tiên  (Liễu Hạnh) ở bà Thiên Hậu (Tứ Vị Nương Nương), bà mẹ Thai Sinh (ở người Hoa). 

Thành thử ý niệm thiêng liêng về triết lý thờ Mẫu ở Nam Phần Việt Nam, cũng như trong tín ngưỡng thờ thần, đã được sự hỗn dung từ nhiều nguồn, nhiều phía. Như thế, vừa giữ được tính chất truyền thống trong tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu, lại vừa có tinh thần sáng tạo nữa...". 

Việc tổ chức nơi thờ cúng của  miền  Bắc cũng không giống nhau. Nếu ở Bắc Phần Việt Nam, thờ Mẫu thường được tổ chức ở những phủ, những đền cũng như những đạo quán và thông thường là chiếm một phần trong các chùa chiền, thì ở đây trước tiên thường thấy phổ biến Mẫu ngự ở các đình làng. Việc thờ nầy thường chung với các thần ở trong chính tẩm hay có miếu thờ riêng ở sân  đình làng.

Thông thường, để thể hiện biểu tượng thiêng liêng về Thánh Mẫuở Hương Sơn bằng cách viết chữ Hán trên bài vị: Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ Hành Nương Nương, Chúa Tiên, Chúa Ngọc...Ngoài động Hương Tích, du khách còn có thể rẽ qua khu rừng Mơ, để đến lễ bái chùa Hinh Bồng, rồi từ đó men theo con suối Tuyết để vào đền Mẫu Hạ thờ Vân Hương Thánh Mẫu và bà Chúa Thượng Ngàn; từ đây một quần thể khác gồm có: núi Thuyền Rồng, núi Con Phượng, hòn Đầu Sư Tử, vách đá Kỳ Sơn Tú Thủy; từ đây xuống bến Tuyết  để đi vào một thắng cảnh khác: chùa Bảo Đài.   Leo lên núi nầy cho đến Bạch Tuyết Môn, vào điện Cô, du khách tới thăm chùa Tuyết Sơn còn có tên là Ngọc Long Động. Nơi đây vào năm 1770, chúa Trịnh Sâm có  khắc vào bài thơ "Đăng Tuyết Sơn Hữu Hứng".

 

Lễ hội chùa Keo

Chùa Keo tọa lạc tại làng Keo, tức xã Vũ Nghĩa, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Chùa có tên là Thần Quang Tự. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi chép về kiểu kiến trúc nầy như sau:  Ngày trước, còn xây cột đá ở bên cạnh, sau đó hàng trăm người thợ đã dựng lên; rồi dùng dây đồng để ràng lấy đỉnh tháp. Chỏm tháp cũng được trang điểm những hoa văn nhỏ cực kỳ tinh vi làm bằng đồng. 

 Những di tích nổi tiếng nầy, trải qua nhiều thương hải tang điền, thì nay đã không còn lại là bao nhiêu nữa. Nhưng theo những tài liệu được ghi trong Không Lộ Thiền Sư Ký Ngữ Lục năm 1061,   thì nhà sư Không Lộ đã dựng lên ngôi chùa Nghiêm Quang tại địa phận của làng Giao Thủy (cũng gọi là làng Keo) ở về phía hữu ngạn của con sông Hồng.

 Sau khi thiền sư  Không Lộ qua đời thì chùa Nghiêm Quang được đổi tên là chùa Thần Quang.   Năm 1611, trận lụt lớn trong vùng sông Hồng đã cuốn phăng đi tất cả làng  mạc trong vùng kể cả chùa Keo nữa. Dân chúng trong làng đã di chuyển về vùng Đông Nam hữu ngạn sông Hồng dựng chùa Keo ở khu vực làng Hành Thiện;  còn số người khác thì đến lập nghiệp tại phía đông bắc tả ngạn sông Hồng và dựng lên chùa Keo ở Thái Bình.

Những chứng liệu cho biết là chùa làng  Keo ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình rộng đến 58,000m2  và hàng chục công trình khác nhau. Bên ngoài chùa có đến hailớp tam quan, rồi đến sân  lát đá, hồ sen, chùa thờ Phật, gác chuông, nhà tổ và khu tăng xá. Phía sau chùa có nhiều bửu tháp mà quan trọng hơn cả vẫn là tháp của ngài Không Lộ. 

Trong những công trình kiến trúc tại chùa Keo thì gác chuông của chùa nầy quả là một công trình nghệ thuật dựng lên bằng gỗ khá quy mô. Phía dưới là một nền bằng gạch, trong khung hình vuông. Gác chuông có ba tầng,  được cấu tạo theo kỹ thuật những con sơn được lắp mộng và chồng  lên nhau khá thẩm mỹ. Trong gác tầng dưới cùng  có khánh đá và chuông đồng lớn hơn hết; tầng giữa có chuông trung bình; tầng trên cùng cóchuông nhỏ hơn. Thông thường thì dùng chuông dưới cùng, tiếng chuông vang dội cả một vùng.

Mỗi năm chùa có hai ngày hội lớn chùa làng Keo: hội mùa Xuân và hội mùa Thu. Những ngày hội nầy được tổ  chức rất trang trọng và đa dạng, bao gồm lễ rước kiệu ngài  Không Lộ, rước hương án thờ, long đình, hội  thuyền rồng. Những cuộc thi bơi trải trên sông Trà Lĩnh, thi biểu diễn những loại nhạc khí như kèn trống và trình  bày những điệu múa.

 Về chuyện thiền sư Không Lộ có nhiều truyền thuyết.Ngài tên thật là Nguyễn Chí Thành; chịu ảnh hưởng của Mật Giáo do từ ngài Vô Ngôn Thông truyền thừa. Ngài từng sang Ấn Độ học giáo lý  và bùa phép Mật Tông và đắc quả Lục trì thần thông có nhiều khả năng  trị bệnh.  

Tục truyền rằng Không Lộ đã có công trong sự tạo thành bốn tác phẩm lớn thời Lý được gọi là Tứ đại khí: tháp chùa Báo Thiên, tượng Phật A Di Đà chùa Quỳnh Lâm, đỉnh chuông Phổ Minh và chuông  chùa Phả Lại.  Tuy  nhiên nhiều thuyết đã bác bỏ về việc kiến tạo  các công trình nầy của ngài Không Lộ. Hiện nay, tại chùa Keo còn  bảo lưu được nhiều di vật  tương truyền là của ngài Không Lộ. 

Hội vui Xuân tại chùa Keo tổ chức chánh thức vào ngày mùng 4 tết, nhưng trước đó phải chuẩn bị từ tháng 10 năm trước; hội lễ nầy cũng kéo dài cho đến ngày 15 tháng giêng mới chấm dứt. Hội Xuân tại chùa Keo mang tính chất nghi lễ nông nghiệp và thi tài với những trò vui chơi khác như; thi bắt vịt, thi ném pháo, thi nấu cơm... giữa những thành viên trong làng và các giáp liên hệ.   Ngày lễ chính vẫn là lễ cúng Phật với đủ mọi nghi thức cổ truyền;  lễ nầy cũng để cầu mong cho dân chúng trong vùng được mọi sự an  lành.

 Hội lễ nầy cũng gắn liền với sự tích của thiền sư Dương  Không Lộ, một vị quốc sư vào đời nhà Lý, đã từng trụ trì tại chùa Keo và được công nhận là vị tổ thứ nhất của chùa. Ngày 13 tháng 9 là tuần 100 ngày mất (ngài Không Lộ viên tịch vào ngày 3 tháng 6 âm lịch). Ngày 14 tháng 9 là ngày sinh của Thiền sư, theo đó lễ hội hàng năm cũng được tiến hành. 

Thiền sư Dương Không Lộ (? -1119) vốn làm nghề chài lưới, quê ở vùng Hà Nam Ninh, là bạn của các nhà sư danh tiếng như: Từ Đạo Hạnh và Giác Hải thiền sư, cũng nổi tiếng về những phép thần thông biến hoá.   Cuối đời mình, thiền sư về quê, dựng chùa Keo và viên tịch tại chùa nầy.  Ngay từ ngày kỵ của thiền sư (ngày 3 tháng 6) các nghi lễ cũng đã được cử hành trọng thể: lễ kỵ Thánh, dân chúng trong làng dâng bánh bìa, làm bằng bột gạo nếp trộn với mật ong tinh chất, nấu cách thủy trong hai ngày hai đêm liền. Bốn trai đinh trong làng được chọn trang trí tượng Thánh phải ăn chay nằm đất cả một năm  ròng và phải tắm rửa sạch sẽ trước khi vào điện thờ tòng sự. Tượng Thánh được tắm bằng nước dừa tốt nhất, sau đó xức phấn thơm trộn với nước hạt bưởi. Những xiêm áo hàng năm của Thánh có gần 100 vuông lụa; các công việc nầy làm xong trước ngày rằm tháng tám.

 Ngày 11 tháng 9, cây phướn cao hơn 100 thước ta (40m) được trồng trước tam quan ngoại. Trên cây phướn treo cờ đại rộng đến 25m2, chung quanh tam quan ngoại còn có 8 lá cờ của 8 giáp; chính giữa có thêu hàng chữ "Cung phụng Thánh tổ".   Đồng thời tại sân  lát đá trước tam quan toàn thể trai làng tham dự kỳ sát hạch để chọn 42 người tham dự các lễ rước: kiệu, hương án, long đình,  thuyền rồng và tiểu đỉnh trong ngày lễ Thánh.  

Ngày 12 tháng 9, lại tuyển chọn trong số 42 trai làng để lấy 4 người vào đòn gồng. Từ ngày 10 tháng 9 cho đến ngày 12 tháng 9, các giáp hạ thủy 8 chiếc thuyền bơi trải, từ sông Trà Lĩnh ngay trước cửa chùa ra đến sông Hồng trên một quảng dài 4 cây số.  Mỗi chiếc thuyền tham dự dài 12m, có từ 8 đến 10 đôi bơi chèo, một người chấp hiệu (cầm mõ) và một người lái, với ý tập dượt để chọn người tham dự trong buổi lễ.  Sáng ngày 13 tháng 9, lễ hội chính thức khai mạc. Trước hết là cuộc rước nhang án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh từ chùa Keo ra tam quan, rồi tối rước trở về lại.   Cuộc thi bơi trải của 8  giáp trên sông Trà Lĩnh từ cửa chùa đến sông Hồng. Dân chúng đứng hai bên bờ cổ võ cho thuyền đua của giáp mình. Tiếng trống, tiếng  phèn la đánh liên hồi. Hội thi bơi trải trong dịp lễ chùa Keo  được xem là mục hấp dẫn nhất và đặc sắc nhất.  

Chiều ngày 13 tháng 8, tại Giá Roi, có hội "thi thầy đọc", với sự tham dự của các thầy cúng có giọng đọc hay và hay văn thuộc hạ lưu sông Hồng. Đặc điểm của hội thi nầy là các thầy tự sáng tác ra văn cúng, theo đề tài lễ Thánh và bằng văn nôm với lời văn và giọng đọc sinh động pha chút trào phúng theo phong cách sinh thời của thiền sư Không Lộ. 

 Kết thúc hội thi, vị chủ hội chọn lấy 4 người xuất sắc để trao giải thưởng trong những địa hạt khác nhau. Vào khoảng 12 giờ đêm,   có lễ tế gốc cây phướn, tuy đơn giản nhưng nghiêm trang, theo một nghi thức cổ truyền khá độc đáo.Ngày 14 tháng 9, hội lễ kỷ niệm ngày sinh của Thánh, với lễ rước  kiệu long trọng: trống giục từ lúc 3 giờ sáng; đến 6 giờ sáng thìcuộc rước bắt đầu. Đi đầu là hai con ngựa màu hồng và bạch, đặt trên bánh xe có 8 người túc vệ; sau đó là 8 lá cờ thần; tiếp đến là tốp người vác đồ bát bửu; sau cùng là rước thuyền rồng, phường bát âm, long đỉnh. Đến chùa, các lễ hội tiếp diễn.

 

 Lễ hội chùa Thầy

Cũng như chùa Láng ở quận Đống Đa, chùa Thầylà nơi trụ trì của ngài Từ Đạo Hạnh trong giai đoạn sau cùng của đời ngài. Chùa nầy tọa lạc trong khu vực của dãy núi Sài Sơn, thuộc làng Hoàng Xá, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.  

Theo tài liệu được ghi lại trong Đại Nam Nhất Thống Chí thì: Chúa Trịnh Căn từng đến vãn cảnh chùa nầy đã viết trong một bài Ký ghi trên vách núi Sài Sơn:   "Chùa Thầy cũng tựa như một viên ngọc quý, vươn lên  giữa những đám sỏi đá, khắp nơi rạng ngời vẻ tươi thắm trong khắp bốn mùa quanh năm. Khi vào động trên của chùa,  thì giống hệt như lạc vào cõi thanh hư, trên vách động hiện lên sắc mây màu ráng trời chiều. Khu vực ao rồng thì được thông lên bến siêu độ giải thoát; cầu tiên in hình nhật nguyệt. Hình tựa như bình phong chắn  ngang, sông trải dài như giải lụa...".

Trong thơ của Chu Mạnh Trinh có viết:  Siêu linh như cõi chùa Thầy,  Ao rồng, động thẵm, chốn nầy thanh hư. 

Trong thời gian đầu tiên thì chùa Thầy chỉ là một ngôi am nhỏ, nhà tranh vách đất, nơi là sư Từ Đạo Hạnh dùng làm chỗ tu trì của mình trong giai đoạn sau cùng. Nơi  nầy được gọi là Hương Hải Am, căn cứ theo một bài văn từ của ngài Từ Đạo Hạnh viết ra.  Cho đến đời vua Lý Nhân Tông thì chùa được trùng tu lại đại quy mô. Chùa được kiến  tạo theo hai quần thể riêng biệt với nhau: chùa Cao và chùa Dưới. Chùa  Cao tức là  Đỉnh Sơn Tự sau nầy;  chùa Dưới tức là Thiên  Phú Tự, hay  chùa Cả. Năm 1655, dưới triều Hậu Lê, Dĩnh Quận Công và Hoàng Quốc  Công cùng các hoàng thân quốc thích trong  triều đã góp công của trùng   tu thêm cho chùa Thầy;  chương trình tu tạo trong lần nầy bao gồm những công trình cơ bản như sau: ngôi chánh điện, nhà Tổ, nhà Hậu, toà nhà bia, gác Thanh Vân...  

Tài liệu của cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim cho biết:  Ngôi chùa Thầy được dựng lên trong hình thái một con rồng đang tung mình lên; về tiền diện của ngôi chùa có ngọn núi Long Đẩu nằm về bên phía trái; sau lưng của chùa thì được tựa vào dãy Sài Sơn khá vững chắc; chùa quay về hướng Nam khá thanh thoát rộng rãi. Xen kẻ vào giữa hai ngọn Long  Đẩu và Sài Sơn là hồ Long Trì.   Sân trước của chùa tựa như là hàm rồng được mở rộng ra: một cảnh quan như thế được tạo thế phong thủy hoành tráng.

 Năm 1603, Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan đến viếng cảnh chùavà hiểu được cảnh sắc bố trí, nên cho xây thêm hai chiếc cầu có mái ngói: cầu Nhật Tiên và cầu Nguyệt Tiên. Hai chiếc cầu tựa như haichiếc răng nanh của rồng, tăng thêm vẻ uy nghi của toàn cảnh.   Du khách thường đi theo một hành trình: chùa Cao - chùa Một Mái -  hang Bụt Mọc - hang Thánh Hóa - hang Cắc Cớ - động Gió Lùa - chợ Trời - rồi trở lại Ao Rồng - nhà Rối phía trước ngôi chùa chính. 

Chùa Cao cũng được gọi là am Hiển Thụy, nằm vào vị trí đẹp trong  khu vực, tòa kiến trúc gồm 3 gian, có gác chuông cao, vách chùacó nhiều bút tích của các danh nho như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan... sau chùa Cao là hang Thánh Hóa.

Theo tục truyền, để được đầu thai làm vua nhà Lý, chính vào giờ sinh của Dương Hoán (con trai của Sùng Hiền Hầu, cháu gọi vua Lý Nhân Tông bằng bác) thì ở hang Thánh Hóa, thiền sư Từ Đạo Hạnh trút xác để hoá thân vào  Dương Hoán, mà sau nầy vì không có con nối nghiệp cho nên vua Lý Nhân Tông đã truyền ngôi lại cho Dương Hoán tức là vua Thần Tông(1128 - 1138). Hang nằm lưng chừng núi đá, lối vào hang chênh vênh, theo tục truyền trong hang có di cốt của ngài Từ Đạo Hạnh. 

Sau cuộc leo vào hang Thánh Hóa trở ra sân chùa Cao tiếp tục vào hang Cắc Cớ huyền nhiệm; muốn vào hang phải mang theo đuốc và lửa; càng xuống sâu thì hang càng rộng, với nhiều ngóc ngách, lối đá rêu phong trơn tuột với những cột đá sáng long lanh như được khảm bạc dát vàng,  những âm thanh tưởng chừng như từ cõi âm tyvang lên, những lỗ thông ra ngoài hang để ánh sáng luồn vào nhảy múa trong màn đêm. Trong tận cùng của hang động tục truyền có hài cốt của quân nhà Triệu do Lữ Gia chỉ huy trong cuộc chiến chống  lại nhà Hán từ đầu thế kỷ thứ II trước Công nguyên.  

Ngược chiều với hang Cắc Cớ, từ sân chùa Cao đi lên là chợ Trời, nằm chính trên đỉnh núi Thầy. Trên một diện tích không rộng, chung quanh là thành đá lởm chởm, tương truyền đây là chỗ tụ hội của các tiên ông từ thượng giới xuống. 

 Trở lại chùa Thầy, ngôi chùa được mang tên dân gian là chùa Cả,   gồm có ba tòa lộng lẫy: chùa Thượng, chùa Trung và chùa Hạ. Tòa kiến trúc nầy mang phong cách kiến trúc nghệ thuật của thế kỷ  XVIII, nhưng vốn trước kia do vua Lý Thần Tông dựng lên mà sau nầy được tu bổ lại. Trong chùa có tượng vua Lý Thần Tông và ngài Từ Đạo Hạnh, hai pho tượng tục truyền là đại diện cho 2 kiếp khác  nhau của Pháp sư. Pho tượng ngài Đạo Hạnh tạc bằng gỗ bạch đàn,cấu tạo theo khớp của tay chân, có lắp máy giật, làm cho pho  tượng cử động được, lúc đứng lên, lúc ngồi xuống. 

Hai bên chùa Cả là hai chiếc cầu Nhật Tiên và Nguyệt Tiên (gọi   chung là Nhật Nguyệt Tiên Kiều) do Trạng Bùng điều động xây cất   lên. Trước chùa Cả có hồ, giữa hồ có nhà rối nước trong dịp hội lễ của  những thời điểm khác nhau; tương truyền chính ngài Từ Đạo Hạnh đã sáng tạo ra trò múa rối truyền lại cho dân chúng sau nầy. Ông được thờ làm Thần tổ của múa rối nước Việt Nam.Thiên Phúc Tự tức chùa Cả ở hướng dưới của Sài Sơn được bố cục theo  hình đồ chữ tam, phân chia làm ba lớp tương xứng liên hoàn với nhau khá chặt chẻ.

 Phía ngoài của chùa là nhà Chánh tế của thập phương; phía giữa là ngôi Chánh điện thờ Tam thế Phật; phía sau hết là nơi thờ ngài Từ Đạo Hạnh. Nhiều tài liệu kiến trúc và mỹ thuật lại diễn dịch rằng: Ba lớp nầy là biểu tượng chính yếu cho ba thánh kiếp của nhà sư Từ Đạo Hạnh, suốt theo quá trình tu hành của ngài. Về sau, nhiều nhà kiến trúc lại điểm xuyết thêm nhiều nét tân kỳ; chẳng hạn như pho tượng toàn thân của ngài Từ Đạo Hạnh được tạc theo loại gỗ kim bạch đàn được lấy từ núi Tiên Yên; bên trong lại được lập thêm máy móc chuyển động được.

Nhiều truyền thuyết lại cho rằng chính ngài Từ Đạo Hạnh đã bày ra trò chơi múa rối được truyền bá khắp nhân gian. Ý nghĩa  là: cuộc đời tranh chấp trên thế gian nầy chỉ là hư ảo như trò múa rối.  

Ngày nay, hằng năm trong dịp tế lễ ngài Từ Đạo Hạnh ở chùa Láng cũng như chùa Thầy cũng đều có tổ chức tục múa rối. Lễ hội tổ chức từ ngày mùng 5 tháng ba âm lịch, khách thập phương đã đến vãn chùa, nhưng tập trung đông nhất là ngày 7 tháng 3, ngày chính hội; mọi người từ bốn phương tám hướng đến lễ bái, cúng dường, đồng bóng, xin xăm.. rất đông đúc.  Dân làng Đoài cùng với hàng ngàn, hàng vạn khách thập phương,  nhất là người dân từ thành phố Hà Nội đổ về dự hội.

 Lễ Túc yết được tổ chức vào lúc 0 giờ ngày 8 tháng 3 (âm lịch).   Những người tham gia chủ lễ có: vị chánh bái, các bô lão, ban quản trị; phía sau có 4 học trò và 4 đạo thầy. Vật cúng là: heo trắng, mâm xôi, mâm trái cây, mâm trầu cao, một đĩa gạo muối. Vào lễ, vị   chánh bái niêm hương. Hai người xướng lễ thay phiên nhau điều hành toàn thể buổi lễ theo trình tự sắp đặt sẵn. Kế đến là phần khởi cổ: nhạc trỗi lên,chuông trống bát nhã, dâng hương, chúc tửu, hiến trà. Dâng hoa rồi  cúng rượu ba tuần, cúng trà ba lần. Người chủ sớ đọc văn tế. Heocúng được lật ngữa trước khi khiêng đi. Lễ cáo chung. Cũng có khi diễn những vỡ tuồng anh hùng liệt sĩ khác như: Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Trần Bình Trọng, Sát Thát. Bài bản đã được biên dựng từ trước. Mỗi năm có thêm phần bổ sung trong trường hợp những phần nào cần được cập nhật hoá.

Lễ xây chầu được tổ chức trước chánh điện. Vị chánh bái khấn vái, dâng lễ và trình tấu về ý nghĩa của lễ. Trước khi xây chầu, vị chánh bái làm lễ Tam sái. Tam sái là 3 lượt rãi nước bằng cành  dương liễu. Nước rãi tượng trưng cho mưa rơi xuống, cây cối mùa  màng tốt tươi. Lễ nầy được tổ chức vào 4 giờ sáng ngày 8 tháng ba (âm lịch).  Nghi thức cúng tế đại cương gần giống như lễ túc yết.   Lễ nầy là  phần quan trọng nhất cũng là phần hoàn mãn cho lễ tế. Sau đó thì  thỉnh những bài vị trở về đền. 

Hào hứng nhất tại chùa Thầy là múa rối nước. Múa rối nước cũng là một thể điệu diễn xướng dân gian truyền thống vào những ngày đầu năm. Rối nước được biểu diễn trên mặt nước, thường được gọi là sân khấu nước. Những người xem thì đứng chung quanh bờ hồ. Giữa hồ có dựng lên thuỷ đình, có màng   che là hậu trường của rối nước, nơi các nghệ nhân dấu mình điều khiển các con rối trên mặt nước, qua những bộ điều khiển đặt ngầm dưới nước. Trong thủy đình, còn có dàn nhạc đệm và diễn viên hát theo những động tác của những con rối. Tất cả đều phù hợp với nhau, được tập luyện công phu.  

Múa rối nước có từ lâu đời; theo Lĩnh Nam Chích Quái (Trần Thế  Pháp) rối nước có từ đời Trần (1225). Để có rối nước, phải tạo hình những con rối khéo léo từng nhân vật, có "bộ điều khiển",   thành thạo các động tác của rối. Nhiều trò diễn cần đến dăm bảy  nghệ nhân; có khi con rối cách xa người điều khiển đến 7 mét.  Những vùng có rối nước là phường rối Bình Phú, Chàng Sơn, Thạch  Xá (huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây), phường rối nước Nam Chấn (tỉnh Thái Bình), phường rối nước Bắc Chấn (tỉnh Nam Định).

 

 Lễ hội Cảnh Dương

Trong những làng duyên hải miền Trung nổi tiếng về hội lễ phải kểđến Cảnh Dương. Cảnh Dương là một ngôi làng đánh cá ven biển, nằmvề bờ nam sông Rờn, cách đèo Ngang khoảng 9 cây số về phía nam, nơi mà Đào DuyTừ trước đây thường  đóng quân để xây lũy Trường Dục. Lễ Thành hoàng của làng nầy đồng thời cũng là ngày lễ hội Tết,nên những trò diễn xướng rất đa dạng. Đặc biệt nhất ở đây có diễnBát Cầm Đoạn.Thi thổi cơm: Sau khi  hành lễ Nguyên Đán xong thì bao giờcũng khởi đầu là cuộc thi thổi cơm. Đơn vị tham gia cuộc thi nầy làtừng tốp 4 người đại diện cho các phe trong làng, tất cả có 12 tốp cho 12 phe.Bắt đầu cuộc thi, mỗi người trong tốp cầm một chiếc đĩa cạn lòng,chạy ra giếng cách đó chừng 1/2 cây số lấy nước về vo gạo; trongkhi đó thì hai người khác dùng hai thanh tre kéo cọ vào nhau đểđánh cho ra lửa, không được những mồi lửa hộp quẹt hay cây diêm.Khi có nước, có gạo xong cho vào nồi, thì treo nồi lên đầu mộtcần câu dài. Một người vác cần câu đi trước, người đi sau cầmđuốc nấu cơm; đi vòng quanh sân đình vừa đi vừa đối đáp. Đồngthời cũng phải để ý trông nom đến con cóc buộc cạnh sân chơi,không để cóc nhảy ra ngoài vòng vôi quy định. Tốp thi nào nấu cơmchín, lại vừa ngon, vừa chăm sóc được con cóc theo quy định thì được trúng giải.Chèo cạn: ngoài cuộc thi nấu cơm còn trình diễn chèo cạn. Chèocạn được tổ chức tại sân đình làng hay bãi sông; ngưòi xem vâychung quanh. Ở giữa là mô hình thuyền rồng đan bằng tre nứa, cóbánh xe lăn; trong thuyền có thể ngồi được 7 người; họ vừa hátvừa làm động tác chèo thuyền và nhích lên dần như kiểu thuyền đãvươn lên được. Tham gia chèo cạn là nam giới từ 18 đến 24 tuổi; mỗithuyền có 6 người, 1 người cầm lái, 1 người điều khiển và 5 người kia thìchèo. Những điệu hát thông thường là hò xô và hò xuống. Hò xô làhò theo thể điệu thông thường do những người chèo hát lên; hòxuống là tiếng dặm của người cầm lái thuyền. Ngoài hai điệu trêncòn các thể điệu khá: Hò hụi, hò khoan, hò dô hậy, hát nam, hátkhách.Bát cầm đoạn: Bát cầm đoạn là những khúc hát được chia làm bốn phần,trong đó có phần Mở  đầu và phần  Kết cuộc được  trình bày phớt  quatheo thể điệu của hát chèo; 6 đoạn còn lại là phân chia nội dung những tuồnghát chèo nầy làm sáu phần cân xứng nhau.Một số nhà nghiên cứu thì cho rằng danh xưng hát chèo là do chữ TrạoPhường đọc lệch đi mà ra, trong phiên âm Hán Việt. Nội dung của nhữngbài hát chèo trong giai đoạn nầy đa số lấy những đoạn trong truyện tíchTrung Hoa; một số thì tham dự trong những buổi đám ma chay (lễ TếNgưu) do những thân chủ mời; thời gian còn lại thì đi hát dạo. Dân chúng đuanhau xem và trả tiền hay tán thưởng bằng tiền. Nhạc khí thường dùng để háttrong thời gian nầy gồm: sanh nhịp, trúc địch, yêu cổ, địch cổ, đới cầm.Nội dung hát chèo gồm những thể loại sau đây: Những truyện thơ đã có từ trước: Lưu Bình Dương Lễ, Thạch Sanh LýThông,  Trương Chi Mị Nương, Phạm Công Cúc Hoa. Những sáng tác mô phỏng: Kim Nham truyện, Trương Viên trả thù, MảiThần, Mông Chính lập thân... Những truyện cổ tích bình dân: Tấm Cám, Mười tám đời Hùng Vương, MỵChâu Trọng Thủy, Trầu Cau, núi Vọng Phu...Nói chung những nội dung trên nhằm vào mục đích khuyên dạy người đời:Tích thiện phùng thiện, ác giả ác báo, Trai thời trung hiếu làm đầu,Gái thời tiết hạnh là câu trau mình... Vì mục đích của hát chèo là thoả mãn những nhu cầu tinh thần và tâmlý của người bình dân, cho nên hát chèo thường đem những vấn đề thời sự được mọi người nhắc nhởnhiều nhất trong vùng, sau đó thì mượn những sự tích xưa tương tự nhưthế để trình bày.Tại Cảnh Dương cũng thường tổ chức vào hội lễ tại chùa làng trò chơi ném cầucho toàn tổng tham dự. Trước khi vào trò chơi thường có đám rước lớn từ miếu đến chùa hay đình để cúng lễ vịThành hoàng là Hoàng Giáp Thái Công Khanh.

    Lễ hội Đào Xá

Làng Đào Xá nay là xã Đào Xá, huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phú, nằmphía Tây bờ sông Đà.  Theo tục truyền, làng Đào Xá có từ thuở các vuaHùng, là khu vực giao tranh trong cuộc chiến Sơn Tinh, Thủy Tinh.Quanh năm làng Đào Xá tổ chức hơn 10 lễ hội trọng thể; những hộilễ quan trọng tại Đào Xá là: hội lễ Múa trâu, lễ Cầu thánggiêng (lễ múa voi, thổi cơm thi), lễ Cầu tháng bảy.Lễ Múa trâu: Trâu trong ngày lễ làm bằng bột nếp, được dùng tronglễ múa  Xuân Ngưu. Lễ  nầy ngày trước  có ý nghĩa  mua vui cho bà Trang Thị trong thời kỳ thai nghén.Lễ cầu tháng giêng: Lễ được tổ chức vào ngày 27 tháng giêng âmlịch, khi dân làng chuẩn bị để vào ngày mùa nghề nông hàng năm.Lễ cầu tướng Lý: Lễ cầu ngày mùng chín tháng giêng hàng năm chínhlà ngày lễ tướng Lý Thường Kiệt chiến thắng quân nhà Tống. Ngàylễ thường tổ chức hội đua thuyền trên sông Đà để kỷ niệm chiếnthắng của danh tướng Lý Thường Kiệt.Tại làng Đào Xá, huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phú hằng năm vào ngàymồng 3 Tết trở đi đều có hội Múa trâu mùa xuân. Đình làng nầy thờ hai vị Thành hoàng là Hùng Hải đại vương vàTrang Phu nhân và ngày hội nầy có tương quan đến cuộc đời của họtrước đây.Cuộc lễ được diễn tiến như sau:  Trước hết phải nặn hai con trâu bằngbột, một con màu đỏ tượng trưng cho trời và một con màu xanh biểu hiện cho đất. Ngoàita còn có 28 con trâu nhỏ hơn màu vàng, nâu, đen, trắng tiêubiểu cho Nhị thập bát tú.  Những con trâu nầy được đặt lên trên bànthờ. Bên cạnh có hai bát nước, một bát đựng quả trứng tượng trưng cho ý nghĩa phồn thực(sinh con đẻ cái), còn một chiếc bát kia có đựng hình của chiếcgầu giai. Ngay sau khi đó thì những người hầu đồng và cung văn chuẩn bị từgian nhà bên cạnh đi vào. Cuộc hầu bóng bắt đầu. Những bà đồngcầm những con trâu nầy đưa lên cao và múa theo đàn hát của cungvăn.  Người chủ tế cầm chén nước rải lên những con đồng. Cuộc lễ nầynhằm vào mục đích cầu mưa cho mùa màng sắp tới. Chonên dù trong hoàn cảnh nào, lễ múa trâu xuân cũng được tổ chức.Sau lễ múa trâu, các hội diễn xướng được trình bày như sau: cuộc thi đua trải,cuộc thi nấu cơm, cuộc thi hát đối đáp, cuộc thi ném cầu. Sau khi tế lễ và ăn uống xong thì hội "chen" bắt đầu. Vị tiên chỉtrong làng là người điều hành hội chen. Những người tham dự theotừng cặp, đa số là nam nữ thanh tân; nhưng những ông già, bà cảcũng có thể tham dự buổi lễ chen nầy. Trong khi chen thì bên nambắt đầu tấn công trước từng đôi một chen nhau, ôm lấy nhau và sờsoạng nhau, bất chấp cả lễ nghi, tôn giáo. Họ có thể làm bất cứhành động gì mà không sợ phải bị vạ.Đến ngày thứ nhì thì bên nữ tấn công trước và những hành động củahọ cũng không hề e dè. Họ đưa nhau ra tận ngoài những cánh đồnghoang để chen nhau cho đến khi mệt nhừ thì cùng nhau trò chuyện,tâm tình. Trong buổi lễ cuối cùng thì hội chen tổ chức ngay tại sân đìnhlàng. Sau khi hoàn tất buổi lễ, thì đèn được đều được tắt hết vàcuộc chen nhau bắt đầu, với những thái độ sỗ sàng, táo bạo do từhai bên, trước sự chứng kiến của cha mẹ họ khuyến khích thêm.Đặc biệt là tổ chức đánh cờ người tổ chức đan xen vào rước thần.Điều đầu tiên là chọn quân cờ. Quân cờ ngoài việc ứng trên bàn cờcòn phục vụ cho uộc rước thần. Nếu cuộc cờ kéo dài mà đến cuộc rướcthần thì tạm ghi hiện trạng, lo rước thần, ngày sau tái diễn. Bàn cờ được vạch ngay trướcsân đình làng. Những điểm trên bàn cờ thường có ghế con, để quân cờ ngồi. Nơi có tướng, sĩ tượng thìtrang hoàng cực kỳ lộng lẫy. Chung quanh bàn cờ có ghế quan kháchxem đánh cờ. 32 quân cờ có cán gỗ sơn son, biển đề tên quân cờ 4 mặt. Đội cờ ngườigồm 1 tổng cờ và 32 quân (16 nam, 16 nữ).Tổng cờ phải là người giỏi cờ, hiểu những tọa độ của cờ, nhanhmắt và có uy tín. Những người đóng các quân cờ do các giáp tuyển ra.Giáp trưởng cho dân trong giáp chọn lấy. Tổng cờ chỉ huy toàn bộ cuộc cờ. Làngcử người người giỏi cờ ra tranh giải.Tại đây cũng thường tổ chức vào hội mùa Xuân tại chùa làngtrò chơi ném cầu cho toàn tổng tham dự. Trước khi vào trò chơithường có đám rước lớn từ miếu đến chùa để cúng lễ vị Thành hoàng làHoàng Giáp Thái Công Khanh. Sau đó  có lễ phóng sinh, phóng đăng, rồi đến lễ cầu an cho dân chúng trong khắp làngxã.

   Lễ hội Đình Bảng

Đình Bảng có tên nôm là làng  Báng (xưa là rừng báng), cùng nhiềutên gọi khác như Cổ Lãm (đời Đinh), Thiên Đức (đời Lý), Đông Ngàn(đời Trần)... Đình Bảng nổi tiếng vì đây là quê hương của các vuanhà Lý, với 8 đời vua có  công lớn trong sự nghiệp phục hưng nướcĐại Việt.  Đình Bảng hiện là  một xã lớn gồm  13 thôn thuộc huyệnTiên Sơn, tỉnh  Hà Bắc.  Hội lễ Đình Bảng tổ chức từ ngày 12 đến 16 tháng 2 âm lịch, gồm cóhội đền và hội đình. Hội đền Đình Bảng  còn gọi là đền Lý Bát Đế (8  vị vua nhà Lý) làLý Thái  Tổ, Lý Thái Tông,  Lý Thánh Tông, Lý  Nhân Tông, Lý ThầnTông, Lý Anh Tông,  Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông.  Ngoài ra còn thờthêm thân mẫu của Lý Công Uẩn và 8 vị hoàng hậu.Khác với hội đình, hội đền mở  vào tháng ba âm lịch hàng năm, kếtthúc ngày 18 cùng tháng để kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn lên ngôi vua.Do đó, hội nầy còn được gọi  là hội Đăng Quang. Dịp nào làng đượcmùa nhiều năm liền thì tổ chức hội đền rất lớn.Khi mở  hội, việc đầu  tiên là bầu  vị Cai đám.  Nhân vật nầy  làngười thay mặt làng đảm nhiệm toàn bộ mọi việc của hội đền. 32 vị giáptrưởng phải họp  trước và nhiều ngày để cân  nhắc người xứng đángsau đó mới đưa ra làng lựa chọn. Cai đám phải là người có uy tín vớilàng, gia đình hòa thuận, con cái  đầy đủ, kinh tế khá giả,  không có khuyết tật.Bầu xong Cai đám, làng phải có  cơi trầu, nậm rượu đến tận nhà vàđua trống Đại vào tận nhà rước  Cai đám ra đền trình Thánh, trướckhi vào hội. Ngay hôm đó, gia đình Cai đám cũng mổ lợn, bày cỗ cúng tế giatiên. Nếu cha mẹ còn thượng tại thì Cai đám phải mặc áo thụng đỏ,sắm riêng một cỗ để "mừng cố".Cai đám biểu trưng cho sự tốt  đẹp, trong sạch của xóm làng, thaycho vua Lý Thái Tổ ra đền để làm lễ tạ ơn đức Thánh Mẫu, tạ ơn tổtiên nên rất  được mọi người trọng vọng, tin  tưởng. Vì vậy, ngaysau khi nhậm chức, Cai đám phải sống chay tịnh, ăn riêng một mâm,không đến nhà người có tang chế và  cũng không tham gia những việc "cótính chất dơ bẩn". Phạm lỗi thì  bị bãi chức và chọn lại. Sau khiđã được rước  ra đền, Cai đám sẽ  là người cai quản và làm chủ  tế trongsuốt  4 ngày (15  - 18 tháng  3 âm lịch) lễ đền. Trong những ngày từ  15 đến 18 tháng 3, ngày nào  cũng có tổ chứclễ tế hiến sinh gồm một con  trâu mộng được thui chín và một bưngxôi to. Tế xong thì ăn tại chỗ một phần, phần kia thì chia về giađình để mọi người đều được hưởng lộc. Sáng ngày  15/3 cai đám  rachùa  Rận  (Cổ Pháp) làm  lễ bái đức Thánh Mẫu, đức Thánh Văn, đức Thánh Tam Bảo. Sáng ngày 16/3 cũngra chùa dâng  oản chuối, rồi mới về  tế lễ ở đền và  chuẩn bị chongày chánh lễ. Theo lệ định thì  lễ nầy được tổ chức ở trước chùavì Lý Công Uẩn vốn sinh ra tại ngôi chùa nầy. Mâm cỗ của ngày hộido các  giáp biện sắm  theo từng lượt.  Đình Bảng có  32 giáp, mỗigiáp được  chia 8 mẫu ruộng  công dùng cho những  hội hè đình đámcho nên dân trong các giáp không phải đóng góp thêm. Mỗi năm làngmổ 12 con  trâu mộng để tế lễ  (4 con dùng ở hội  đền, 8 con dùngtrong 8 ngày giỗ  của các vị vua nhà Lý). Trong hội đền  nầy, rước kiệu  là nghi lễ  long trọng nhất, thu hút rất nhiều người tham  dự. Làng chuẩn bị lễ rước rất chu đáo.  Trước khi vào đám  3 tháng, phải tuyển  chọn 3 ông "thếtướng", 16  tướng nam, 16 tướng  nữ. sau đó, chọn  phường nhạc cótín nhiệm,  chọn người cầm cờ,  chọn tráng đinh khiêng  kiệu, kéongựa... Đình Bảng  có tục đắp đường rước kiệu  từ đền Đô lên chùaCổ Pháp,  gọi là "đường  rước kiệu", chỉ  dành riêng cho  hội đền.Đường rộng rãi,  quang đảng, nhưng lại hơi gồ  ghề, với dụng ý làđể cho nhịp độ của đám rước  chậm lại, tăng thêm phần trang trọngcủa cuộc rước.Tám cỗ kiệu trang hoàng lộng lẫy  được rước từ đền Đô đến chùa CổPháp, để tăng ni  hành lễ, sau đó rước trở về  lại đền. Trước khirước, 3  ông thế tướng vào  đền thắp nhang hành  lễ. Thế tướng lễxong, lui  ra rồi dẫn  đầu đám rước  lên đường.Những vị thế  tướng cởi trần, đóng khố vàng,  mỗi ông vác một cáidùi  (thờ trong  đền) gọi  là  "dùi  trái dành".  Họ được  xem là"thánh" do  vua Lý ứng  vào trong  đêm  hội lễ. Sau  thế tướng làphường  nhạc. Tiếp  theo phường  nhạc là  hương án  tiền gồm có 4kiệu, 4 ngựa chiến bằng gỗ, do  các tráng đinh cởi trần, đóng khốbao, đội mũ quai rìu, khiêng kéo.Sau thế tướng là Cai đám mặc  áo thụng xanh, quần trắng, đội mũ yquan, đi  hia, che lọng.  Tiếp theo là  hương án hậu  là các chứcsắc, hương lão  và dân chúng khăn áo chỉnh  tế. Theo lệ, đám rướcphải có  32 cây cờ  đại của  32  giáp, do những  thanh thiếu niêntrong lứa tuổi  từ 13 đến 16 vác  giáp đi theo. Đi theo  hương áncòn có bát bửu,  có 8 tướng nam mặc áo màu lam  và 8 tướng nữ mặcáo dài  đỏ, tất cả  đều có lọng  che.Rước kiệu  đền Lý Bát Đế  là một đám rước  khổng lồ, hoành tráng.mang tính  hoàn thiện về  nghi thức lẫn  tính thẩm mỹ.  Không chỉriêng Đình Bảng, mà người hàng tổng  kéo về cuồn cuộn đi theo đámrước như tượng trưng cho một  cuộc diễu hành biểu dương lực lượngĐại Việt và thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với các bậc tiền bối đãcó công trong lịch sử nước nhà.

 Lễ hội Đồng Cổ

Đền Đồng Cổ ở thôn Nam, phường Yên Thái, huyện Quảng Đức, thànhThăng Long, nay thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Đền thờ "Thiên hạ minh chủtôn thần" tức là thần núi Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá.Khi vua Lý Thái Tổ mất, ba vị hoàng tử Vũ Đức, Đông Chinh và DựcThánh tranh chấp quyền hành với nhau, gây biến loạn trong triều;trong khi đó thì thái tử Lý Phật Mã được các vệ sĩ Lý Nhân Nghĩa,Lê Phụng Hiểu giúp sức giẹp yên được.Sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tông ban tước hiệu cho thần núiĐồng Cổ, vì vị thần nầy đã báo mộng cho nên biết trước được ba vịhoàng tử mưu phản. Vua lại xuống chiếu giao cho quan Hữu Ty dựng đềnthờ ở phía sau chùa Thánh Thọ (1028) lấy ngày 25 tháng ấy dựng đàn thề, chỉnhđốn đội ngũ. Vua dẫn triều thần đến đó lễ bái rồi lập đàn thềrằng: "Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thì xin Thần minh giếtchết..."Các quan lại sắp hàng ngũ từ cửa Đông cũng tề tựu đến trước vịthần cùng uống máu ăn thề. Hàng năm cứ lấy ngày đến  lễ báivà ghi nhớ lời thề nầy. Các vua nhà Trần vẫn còn giữ lại nghi lễ nầy;đến đời Lê thì đổi nơi thề ở bờ sông; còn đền Đồng Cổ thì sai quan bộ Lễ đến cúngtế như thường lệ.  Hoàng Giáp Trần Bá Lãm (1757 - 1815) có bài thơ vịnh đền Đồng Cổnhư sau:Liên hoa bát điệp mộng sơ tinh,Hà xứ sơn thần tự hiển linh.Tha niên Trần Cảnh di thần khí,Dao vọng minh đàn thảo sắc thanh.Dịch:Hoa sen tám cánh mộng tàn canh,Nào chốn sơn thần đến hiễn linh.Ngày sau Trần Cảnh thay thần vị,Xa ngóng đàn thề sắc cỏ xanh.(Ngô Đức Thọ)Múa Lăng Ba Khúc: Diễn xướng tại lễ hội nầy nằm trong hệ thống ca múa"ngũ trò Bôn", còn được gọi là "Tiên Kim Bôi". Cho đến nay không ai tìm ra được nguồn gốc của khác múahát nầy. Theo một số tài liệu ghi trong Thần phả của làng, nơinổi tiếng nhất về múa Lăng Ba Khúc thì ông tổ nghề múa nầy là LưuNhạn Tổ sáng tác (Lưu Nhạn Tổ người làng Kim Bội đậu 7 khoa tútài, có tên ghi trong văn hội Kim Bôi). Mãi cho đến nay, vẫn chưacó một giải thích nào rõ ràng về tên của trò diễn xướng nầy. Vănbản trò nầy được ghi chép lại cùng với văn bản các trò như TiênCuội, Hoà Lan, trò Thủy, trò Ngô ổ Cổ Bôn.Khi diễn trò nầy phải có 15 người tham dự: một người điều khiểngọi là chúa Tiên, 12 người thủ vai quần tiên; còn 2 người đánhchiêng trống thì gọi là "biện". Khi khởi sự, người biện đánh lênmột hồi chiêng, trống, chúa Tiên đi trước, quần tiên 9 con)chia làm hai hàng đi theo chúa Tiên, người thì nhún nhẩy đủngđỉnh. Người biện đánh 3 tiếng chiêng và trống, thì quần tiên vái4 vái. Vái xong, tất cả múa và hát lên.Điệu múa phổ biến nhất trong lề lối diễn xướng này thông thường là: muá Bát dật và múa Lục cúng. Múa Bát dật là điệu múa lễ thức, dùng để múa trong những dịp tế đàn NamGiao, tế Cung miếu hay tế tại đàn Xã Tắc hằng năm.Khi trình diễn loại nầy, phải đủ 8 hàng vũ sinh toàn là đồng nam;mỗi hàng có 8 người, tổng cộng là 64 người. Trong khi múa, nhữngvũ sinh được phân chia làm hai ban: Văn vũ sinh và Võ vũ sinh.bên võ thì cầm cờ tinh, tượng trưng cho chiến đấu; còn bên Vănthì cầm cờ mao tượng trưng cho sự điều động. Mỗi bên được hướngdẫn do một vũ sư. Những Võ vũ sinh tay trái cầm một cái mộc sơnson thếp vàng, còn bên tay phải thì cầm cái búa, lưỡi có thếpvàng, cán sơn son. Tất cả vừa múa vừa hát. Còn bên Văn vũ sinh, tay tráicầm ống sáo sơn son; tay phải thì cầm cái vũ bằng chuôi chim trĩ, cũng vừa múa và hát. Khi hát,phải theo hai lối: hoặc nối tiếp nhau; hoặc đồng ca bên võ và bênvăn.Múa Lục cúng là điệu múa nầy cũng tương tự như múa tôn giáo. Vào thờivua Minh Mạng thứ 5 trở đi, thì dùng theo lối "Lục cúnghoa đăng" cũng một dạng thức của múa Phật Giáo. Nhưng trong thểđiệu cung đình thì múa Lục cúng cần đến 48 vũ sinh (tức là gấp 8lần) bên nam cũng như bên nữ. Những vũ sinh nầy lại được hoátrang về y phục cũng như phấn son theo kiểu Kim Đồng và Ngọc Nữ.Trên nguyên tắc thì đây là loại múa hình tượng; ngoài ra cũng sửdụng đến những kỹ thuật của hát xiếc và tạp kỹ, đòi hỏi luyện tậpcông phu, như trường hợp chồng người lên ba bốn tầng cao ngất.Những thế múa bằng tay cũng phải hợp theo những thế múa của chân.Kết cấu của loại múc Lục Cúng trong Cung đình cũng là cách kếtcấu theo một bức tranh sinh động toàn cảnh, nhất là đoạn sau cùngcủa điệu múa gồm 6 khúc hát liên tục nhau. Những bài hát trong Lục cúng là: Thanh nhạc, Long ngâm, Đăng Đằngcung, Tỳ bà, Bình bán, Nhã nhạc.Hát xoan trong ngày hội này là một điệu hát và diễn xướng cũng còn đượcgọi là hát cung đình vì thường được trình bày trong cung điện nhà vua vànhững lễ hội quan trọng khắp nơi. Loại hát nầy vốn có từ lâu đờivà gắn liền với niều phong tục địa phương, trong những hội mùađất Bắc và trong dịp tế Thành hoàng.Theo những nhà dân tộc học thì hát xoan gắn liền với một số truyền thuyết Hùng Vương và sau nầy cũng được canh cải đi nhiều.Khi tổ chức hát xoan thường kèm theo những lễ tục khác: kéo co,đánh vật, cờ người...Hát xoan thường được tổ chức vào dịp lễ mùa Xuân. Hát xoan đượctổ chức theo từng Phường; mỗi Phường được quy định trong mỗilàng. hệ thống tổ chức ca hát nầy tương đối chặt chẽ, huấn luyệncông phu. những phường hát xoan nổi tiếng nhất là tại Vĩnh Phú,trong những phường An Thái, phường Kim Đôi, phường Phù Đức và nổitiếng hơn hết là hát xoan phường Thét.Khi mở đầu cho một cuộc hát xoan, các phường hát tham gia lễ KhaiHội, lễ cúng thành hoàng, đình miếu vào ngày mồng 5 Tết. Sau đóthì mới bắt đầu cuộc hát ở các đình nước nghĩa. Trong tổ chức,mỗi phường xoan thường đến hát ở một số cửa đình quy định sẵn từtrước, để tránh khỏi sự trùng hợp nhau.Từ trước việc phân định vùng hát xoan tại những cửa đình nướcngĩa như sau: Phường hát xoan Phù Đức hát tại các đình Phù Ninh,Đức bác, Y Kỳ, tây Cốc; phuờng hát xoan An Thái thường hát tạicác đình Cao Mại, Hương