Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 
Nhà Xuất Bản Văn Hóa - Thông Tin

Hà Nội - 1997

CHÙA HÀ NỘI

Nguyễn Thế Long

Phạm Mai Hùng

 

Mục Lục

 

PHẦN II 

 

1. Chùa Am Cây Đề (Thanh Ninh Tự)

2. Chùa Anh Linh* (Anh Linh Tự) 

3. Chùa Bà Đá

4. Chùa Bảo Tháp (Thượng Phúc Tự)

5. Chùa Bát Tháp (Bát Tháp Tự)

7. Chùa Bồ Đề 

8. Chùa Bộc (Sùng Phúc Tự)

9. Chùa Cầu Đông (Đông Môn Tự)

10. Chùa Chân Tiên (Chân Tiên Tự)

11. Chùa Châu Long

12. Chùa Chèm (Hàm Long Tự)

13. Chùa Cổ Linh (Cổ Linh Tự) 

14. Chùa Cổ Loa (Bảo Sơn Tự) 

15. Chùa Diên Phúc (Diên Phúc Tự)

16. Chùa Diên Phức (Diên Phức Tự)

17. Chùa Duệ (Quảng Khai Tự)

18. Chùa Đại Áng (Thiên Phúc Tự)

19. Chùa Đại Cát (Sùng Khang Tự)

20. Chùa Đại Lan (Đại Lan Tự) 

21. Chùa Đào Xuyên (Thánh Ân Tự)

22. Chùa Đông Ba* (Sùng Ân Tự) 

23. Chùa Đông Phủ (Minh Long Tự) 

24. Chùa Đồng Quang (Đồng Quang Tự)

25. Chùa Đức Hậu* (Linh Sơn Tự) 

26. Chùa Giáp Nhất (Phúc Lâm Tự)

27. Chùa Hà  (Thánh Đức Tự)

28. Chùa Hiển Quang* (Hiển Quang Tự)

29. Chùa Hòa Mã (Thiên Quang Tự)

30. Chùa Hòe Nhai (Hồng Phúc Tự) 

31. Chùa Hòe Thị*  (Hương Đỗ Tự)

32. Chùa Hộ Quốc (An Khánh Tự)

33. Chùa Huy Văn Điện Dục Khánh

34. Chùa Huỳnh Cung (Sùng Phúc Tự) 

35. Chùa Hưng Ký (Hưng Võ Thiền Am)

36. Chùa Ích Vịnh* (Phúc Long Tự)

37. Chùa Keo (Trùng Nghiêm Tự) 

38. Chùa Khương Hạ* (Phùng Lộc Tự) 

39. Chùa Khương Trung* 

40. Chùa Kiến Sơ* 

41. Chùa Kim Giang (Diên Phúc Tự) 

42. Chùa Kim Liên (Hoàng Ân Tự)

43. Chùa Kim Quan* (Ấn Quang Tự)

44. Chùa Kim Sơn  

45. Chùa Kỳ Vũ* (Kỳ Vũ Tự)

46. Chùa Lạc Thị* (Linh Quang Tự)

47. Chùa Lại Đà* (Cảnh Phúc Tự)

48. Chùa Láng (Chiêu Thiền tự)

49. Chùa Liên Phái (Liên Tôn Tự)

50. Chùa Linh Quang* (Linh Quang Tự)

51. Chùa Linh Quang Phòng* (Linh Quang Phòng Tự)

52. Chùa Linh Quang (Linh Quang Tự) 

53. Chùa Linh Ứng (Linh Ứng Tự) 

54. Chùa Linh Ứng* (Linh Ứng Tự)

55. Chùa Linh Ứng (Linh Ứng Tự)

56. Chùa Long Quang* (Long Quang Tự)

57. Chùa Lý Quốc Sư

58. Chùa Mai Phúc (Minh Tông Tự)

59. Chùa Mặt Dụng (Mặt Dụng Tự)

60. Chùa Mễ Trì Thượng (Thiên Trúc Tự)

61. Chùa Một Cột

62. Chùa Mỹ Quang (Linh Quang Tự)

63. Chùa Nam Dư Hạ (Thiên Phúc Tự) 

64. Chùa Ham Dư Thượng (Nghiêm Thắng Tự)

65. Chùa Nam Đồng (Càn An Tự)

66. Chùa Nành (Pháp Vân Tự) 

67. Chùa Nền (Đản Cơ Tự)

68. Chùa Nga My

69. Chùa Ngọc Hồ (Ngọc Hồ Tự)

70. Chùa Ngọc Hồ (Ngọc Hồi Tự)

71. Chùa Ngọc Quan 

72. Chùa Ngọc Trục (Đại Phúc Tự)

73. Chùa Ngũ Xã* (Thần Quang Tự)

74. Chùa Nguyên Xá* (Thanh Lâm Tự) 

75. Chùa Nhân Hòa* (Phúc Lâm Tự)

76. Chùa Nhổn (Càn Phúc Tự)

77. Chùa Phổ Giác (Phổ Giác Tự)

78. Chùa Phú Thị (Đại Dương - Sùng Phúc Tự)

79. Chùa Phú Xá (Phúc Lâm Tự)

80. Chùa Phúc Hậu (Phúc Thắng Tự) 

81. Chùa Phúc Lý (Liên Phúc Tự)

82. Chùa Phùng Khoang (Thanh Xuân Tự)

83. Chùa Phụng Thánh

84. Chùa Quán La* (Khai Nguyên Tự)

85. Chùa Quán Sứ 

86. Chùa Quang Minh (Quang Minh Tự) 

87. Chùa Quảng Bá (Hoàng Ân Tự) 

88. Chùa Quỳnh Đô* (Bạch Minh Tự)

89. Chùa Sen Hồ* (Vạn Xuân Từ)

90. Chùa Sở (Phúc Khánh Tự) 

91. Chùa Sùng Phúc* (Sùng Khánh Tự) 

92. Chùa Sùng Quang (Sùng Quang Tự)

93. Chùa Tàm Xá* (Linh Ứng Tự)

94. Chùa Tào Sách  

95. Chùa Thái Cam* (Tân Khai Linh Tự)

96. Chùa Thanh Am* (Đông Linh Tự) 

97. Chùa Thanh Nhàn  

98. Chùa Thánh Chúa

99. Chùa Thiên Niên (Trích Sài) 

100. Chùa Thiên Phúc (Thiên Phúc Tự)  

101. Chùa Thiên Phúc

102. Chùa Thiền Quang, Chùa Quang Hoa, Chùa Tháp Hoa (Thiền Quang Tự, Quang Hoa Tự, Pháp Hoa Tự) 

104. Chùa Thúy Lĩnh* (Diên Khánh Tự)

105. Chùa Thượng Đồng* (Hiền Ứng Tự)

106. Chùa Tiên Linh (Chung Linh Tự) 

107. Chùa Thiên Phúc (Tiên Phúc Tự) 

108. Chùa Tình Quang* (Tình Quang Tự)

109. Chùa Trấn Quốc   

110. Chùa Triều Khúc*

111. Chùa Triệu Khánh (Triệu Khánh Tự)

112. Chùa Trung Tự* (Phúc Long Tự) 

113. Chùa Trùng Quang* (Trùng Quang Tự)

114. Chùa Trường Lâm* 

115. Chùa Tự Khánh (Tự Khánh Tự)

116. Chùa Tự Khoát (Hương Phúc Tự)

117. Chùa Ứng Linh* (Ứng Linh Tự)  

118. Chùa Vạn Phúc* (Chung Linh Tự)

119. Chùa Văn Trì  (Bồ Đề Tự)

120. Chùa Văn Hồ (Tào Sách Tự)

121. Chùa Vĩnh Phúc* (Vĩnh Khánh Tự) 

122. Chùa Vĩnh Trù (Vĩnh Trù Tự)  

123. Chùa Vũ Thạch*  

124. Chùa Vua  (Hồng Khánh Tự)

125. Chùa Xã Đàn (Kim Yên Tự) 

126. Chùa Xuân Đồ Hạ (Sùng Phúc Tự)

127. Chùa Yên Hòa (Báo Ân Tự)

128. Chùa Yên Nội (Thanh Quang Tự) 

129. Chùa Yên Phú (Thanh Vân Cổ Tự)

130. Chùa Yến Xá (Thanh An Tự)

 


 

PHẦN II ^

Giới thiệu các ngôi chùa ở Hà Nội đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa từ năm 1962 đến 1994 

1. CHÙA AM CÂY ĐỀ (THANH NINH TỰ)

Chùa Am Cây Đề ở số nhà 2 phố Lê Trực, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội. Thanh Ninh là tên làng được dùng để đọi tên chùa. Tên chùa Am Cây Đề xuất hiện năm Cảnh Hưng 7 đời vua Lê Hiến Tông (1746) khi một viên quan họ Trịnh cho xây một am nhỏ dưới gốc cây bồ đề trước cửa chùa.

Chùa thờ Phật, ngoài ra còn có đền Ngọc Thanh là nơi thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo cùng các thân quyến. Tương truyền chùa được xây từ đời vua Lý Thái Tông niên hiệu Thiên Thành (1031) và là một trong 95 ngôi chùa nổi tiếng ở nước ta thời bấy giờ. Dấu tích khởi dựng không còn nữa, năm Cảnh Hưng nguyên niên (1739), chùa được dựng lại đơn sơ nên có tên gọi là “Chùa Cỏ”. Từ thời Lê về trước, khu vực quanh chùa là nghĩa trang của kinh thành vì thế nên viên quan họ Trịnh mới xây am nhỏ để thờ các cô hồn. Theo dân gian, vào đầu xuân Kỷ Dậu, một số thi hài của nghĩa quân Tây Sơn hi sinh khi giải phóng thành Thăng Long đã được an táng quanh chùa.

Chùa được xây trên một khu đất cao, trước đây là một khuôn viên rộng rãi, có nhiều cây cổ thụ. Hiện nay, chùa gồm cổng, sân, đền Ngọc Thanh và tòa tam bảo. Cổng chùa được xây kiểu tam quan có 3 cổng nhỏ, trên có 4 mái nhỏ. Đền Ngọc Thanh nằm theo hướng bắc, trông thẳng ra cổng. Đền có kiến trúc hình chuôi vồ gồm bái đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Đền lợp ngói ta, hai đầu xây kiểu bít đốc, các vì làm kiểu kèo cầu quá giang, tường gạch quây quanh.

Tòa tam bảo của chùa cũng hình chuôi vồ gồm tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Chùa dựng trên nền cao, quay hướng đông - nam, xây kiểu tướng hồi bịt đốc. Các vì làm nhiều dạng khác nhau (có thể do đã sửa chữa nhiều lần). Ở tiền đường, vì kèo làm kiểu “thượng chồng giường giá chiêng, hạ kẻ”. Các vì kèo có chạm hoa lá, vân mây xoắn, tứ linh, tứ quý.

Chùa hiện còn giữ được 35 pho tượng tròn. 12 pho ở đền Ngọc Thanh, 3 đôi lọ lộc bình sứ, 1 đôi chóe sứ men trắng vẽ lam, 4 long ngai, 2 cửa võng, 5 hoành phi, 1 ống bút, 1 chuông đồng đúc niên hiệu Cảnh Thịnh 6 (1797) có tên là “Thanh Ninh tự hồng chung”.

Năm Gia Long 7 (1808) sư cụ Tịch Quang trụ trì tại chùa đã cho trùng tu, tô tượng và đúc chuông. Tấm bia “Thanh Ninh thiền tự bi kí” do tiến sĩ Phạm Quý Thích soạn năm 1779 có ghi: “Bên ngoài cửa tây thành Thăng Long nước ngọt mà đất thì hoang vu, chùa Thanh Ninh ở đó”.  Đến năm Khải Định 8 (1923) chùa lại được trùng tu. Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, chùa đã bị giặc đốt phá. Năm 1949 sư cụ Đàm Thìn đã cho xây lại chùa và đền Ngọc Thanh vì vậy dấu tích cũ không còn nữa.

Chùa đã được Bộ văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật ngày 22.7.1981.

 

2. CHÙA ANH LINH * (ANH LINH TỰ)

Chùa Anh Linh thuộc xã Cổ Nhuế huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7 km về phía bắc. Đi theo đường Hoàng Hoa Thám đến chợ Bưởi, qua Nghĩa Đô, rẽ tay phải khoảng 3 km là đến di tích.

Tương truyền chùa Anh Linh được lập từ thời Trần, do công chúa Trần Khắc Hãn vâng lệnh vua cha là Trần Nhân Tông, chiêu mộ những người bị phiêu tán đến phía bắc kinh thành Thăng Long để khai hoang và lập ra xã Cổ Nhuế. Khi lập làng cũng đồng thời lập chùa để thờ Phật.

Chùa có mặt bằng hình chữ “đinh”, tiền đường gồm 3 gian xây kiểu “tường hồi bít đốc”. Hai bộ vì gian giữa làm kiểu “giá chiêng, con nhị”, phần cốn nách làm kiêu kể chuyền. Thượng điện gồm 5 gian. Một bên là nhà tổ, một bên là nhà Mẫu. Chùa đã bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp, đã qua nhiều lần sửa chữa. Tượng Phật trong chùa đầy đủ, có phong cách nghệ thuật cuối thời Nguyễn. Chùa còn lưu trữ được tấm bia Cảnh Trị đời Lê (1664) và bia năm Tự Đức 12 (1864).

Chùa Anh Linh (cùng với đền Bà Chúa) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật ngày 21.1.1993. 

3. CHÙA BÀ ĐÁ

Chùa Bà Đá có tên chữ là Linh Quang tự (linh quang nghĩa là ánh sáng thiêng liêng), ở số 3 phố Nhà Thờ, cạnh bờ Hồ Hoàn Kiếm.

Chùa được xây từ đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) ở làng Báo Thiên.

Chuyện kể có một người dân làng Báo Thiên đã đào được một pho tượng bằng đá hình dáng một phụ nữ. Người ta cho rằng đây là tượng của Phật Đức Bà nên đã lập đền thờ bức tượng và gọi là đền Bà Đá. Sau đó dân làng xây thành ngôi chùa, đón sư về thờ cúng đức Phật. Chùa hiện nay đã được sửa chữa nhiều lần. Chùa không có tam quan như các chùa khác, lối vào là một ngõ hẹp sâu khoảng 9 m. Tiền đường xây kiểu chữ nhất (-), Trung đường xây kiểu chữ đinh (J), được nối liền với nhau, tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Các bộ vì kèo được kết cấu theo lối chồng giường. Mặt chùa hướng về phía bắc. Pho tượng bằng đá đã bị mất trong một vụ chùa bị hỏa hoạn thời Pháp thuộc. Trong chùa có nhiều tượng gỗ sơn son thếp vàng. Trên cao có tượng Tam Thế, dưới là tượng Di Đà Tam Tôn. Sau đó là tượng Thích Ca Liên Hoan, có tượng Văn Thù và Phổ Hiền ở hai bên. Hàng dưới là tượng Thích Ca sơ sinh. Các tượng đều có kích thước lớn so với chùa. Nhà bái đường không có tượng hộ pháp như thường thấy. Chùa có nhiều đồ thờ, cũng không rõ năm chế tạo, chỉ có hai quả chuông được đúc vào năm 1823 và 1881, cùng một cái khánh đúc năm 1842.

Chùa Bà Đá nguyên là “chốn tổ” của thiền phái Lâm Tế, một trong hai phái lớn của Phật giáo ở miền bắc Việt Nam. Chùa Bà Đá hiện nay là trụ sở của thành hội Phật giáo Hà Nội.

 

4. CHÙA BẢO THÁP (THƯỢNG PHÚC TỰ)

Chùa Bảo Tháp còn được gọi là chùa Bồ Đề, hay chùa Bồ Tát, hoặc gọi theo địa danh của làng là chùa Thượng Phúc. Chùa Bảo Tháp thuộc địa phận thôn Thượng Phúc, xã  Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Theo truyền thuyết, chùa Bảo Tháp được xây dựng từ thời Trần bởi một vị cao tăng họ Hồ là dòng dõi hoàng thân đã tự bỏ quan tước về dây tu luyện. Vào đời vua Trần Hiến Tông, do gặp cơn binh biến bất ngờ, kinh đô rối loạn Minh Từ Hoàng thái hậu phải bỏ kinh thành về đây lánh nạn sau đó quy y niệm Phật và trở thành người trụ trì ở nạn sau đó quy y niệm Phật và trở thành người trụ trì ở đây. Dấu vết của giai đoạn này không còn gì ngoài một tấm bia đá mang niên hiệu Quang Thái thứ 3 (1390).

Chùa Bảo Tháp hiện nay có quy mô khá lớn, được trải dài trên khu đất thoáng mát bên sông Nhuệ. Chùa quay mặt nhìn ra sông, phía ngoài cùng là tam quan, ba gian đơn giản. Qua tam quan là một lối đi lát gạch dẫn thẳng vào sân rộng tới tiền đường. Tiền đường gồm 7 gian. Bộ vì mái làm theo kiểu “chồng giường kẻ chuyền” với 4 hàng chân cột. Trên các xà nách, kẻ nách chạm khắc hoa lá và hoa văn. Chỗ nối với thượng điện trên hai lá gió chạm khắc một hoạt cảnh được phỏng đoán là Đường Tam Tạng cùng 3 đồ đệ đi thỉnh kinh ở Tây Trúc, mảng chạm này khá đẹp và lạ. Sau tiền đường là thượng điện năm gian, bộ vì chủ yếu được bào trơn kẻ soi, không có chạm khắc gì đặc biệt. Sau thượng điện là một khoảng sân rộng với hai dãy hành lang. Giữa sân dựng phương đình làm kiểu nhà vuông. Bộ vì làm kiểu chồng giường giá chiêng. Các kết cấu gỗ đều được chạm nổi hoa lá, rồng lá, rồng mây, phượng khá tỉ mỉ và chau chuốt. Chùa còn có một số công trình khác như hậu cung, trên bộ vi mái, chạm hổ phù; cốn nách chạm trùng mai hóa long. Điện thờ Mẫu, nhà tổ, nhà trai, v.v… không có gì đặc biệt.

Chùa Bảo Tháp có nhiều di vật quí, ngoài tấm bia đã nói ở trên chùa còn có 1 khánh đồng (1,1 m x 1,36 m) làm năm 1843, chuông đồng (cao 1,15 m) làm năm 1813, bia gỗ (0,48 m x 1,63 m) khắc bài kí nói về việc tu sửa chùa làm năm Bảo Thái 7 (1726). Hệ thống tượng pháp có 75 pho gồm các bộ Tam Thế, Quan Âm Nam Hải, Di Đà Tam Tôn, Thập Điện Diêm Vương, tượng Đức Thánh Tổ… Các pho tượng này đều có niên đại thế kỷ 19, là những tác phẩm nghệ thuật đẹp.

Chùa Bảo Tháp là một công trình kiến trúc cổ nhưng đã bị mai một khá nhiều. Tuy nhiên với những di vật và những mảng chạm khắc còn lại, chùa Bảo Tháp vẫn là nơi ghi dấu nét nghệ thuật kiến trúc tài hoa của nhân dân.

Chùa đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật ngày 28.9.1990.

 

5. CHÙA BÁT THÁP (BÁT THÁP TỰ) ^

Chùa Bát Tháp (Bát Tháp tự) còn gọi là chùa Vạn Bảo ở phố Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội.

Chùa Bát Tháp xây dựng trên đoạn ngọn núi Vạn Bảo, một ngọn núi thấp ở kinh thành Thăng Long vào thời Lý Trần. Sau chùa đã khai quật được nhiều di vật thời Lý, Trần. Đến năm Gia Long thứ 2 (1803), dân làng Vạn Phúc hợp cả chùa trên núi Voi và chùa Vạn Bảo thành chùa Bát Tháp. Về tên gọi Bát Tháp, Biệt Lam Trân Huy Bá giải thích vì chùa có “ngọn tháp đế hình bát”. Chùa quay về hướng nam, có tam quan, tòa tam bảo, nhà tổ và khu vườn phía sau. Tòa tam bảo nằm trên vị trí cao nhất của ngọn Vạn Bảo Sơn, có mặt bằng hình chuôi vồ, gồm tiền đường 7 gian, 2 dĩ và hậu cung 3 gian.

Trong chùa còn giữ được nhiều pho tượng, di vật, chạm khắc mang phong cách thế kỷ 19, trong đó có quả chuông đúc năm Gia Long 2 (1803).

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 5.9.1989.

 

6. Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự)^

Chùa Bắc Biên còn gọi là chùa An Xá, tên chữ là: Phúc Xá tự, thuộc xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Chùa Bắc Biên có nguồn gốc từ chùa An Xá, một danh làm cổ tích ở thành Đại La có từ trước triều Lý  Thái Tổ. Năm 1010, dân làng chuyển chùa ra bãi giữa sông để nhường đất cho triều Lý xây dựng cung điện. Đến năm 1893, dân làng lại chuyển ngôi chùa từ hữu ngạn sang tả ngạn, sau lại lùi về phía chân đê vì bờ sông lở dần. Năm 1920 dân làng lại chuyển ngôi chùa đến vị trí hiện nay.

Chùa xây dựng trên một khu đất rộng 2880 m2, trước chùa có ao thả sen. Chùa có tam bảo bố cục hình chuôi vồ, tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian.

Chùa thờ Phật, trong chùa còn giữ được quả chuông ghi về Lý Thường Kiệt, một nhà quân sự, chính trị, ngoại giao tài giỏi trong lịch sử dân tộc thời nhà Lý. Minh chuông ghi rõ Lý Thường Kiệt sinh ở làng An Xá, ông có công đầu với dân làng nên được dân làng suy tôn là thổ địa (vị tổ có công đem lại ruộng đất cho dân làng).

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 21.1.1989.

 

7. CHÙA BỒ ĐỀ ^

Chùa Bồ Đề thuộc xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7 km về phía Tây.

Chùa Bồ Đề là một ngôi chùa có quy mô kiến trúc vừa phải, đã qua nhiều lần sửa chữa. Chùa có tam quan đẹp, tòa tam bảo và nhà tiền đường, thượng điện được xây theo kiểu bít đốc, Chùa có đầy đủ hệ thống tượng Phật. Chùa có 1 quả chuông cũ và 1 chuông đúc năm 1814.

Tương truyền khi nghĩa quân Lam Sơn bao vây thành Đông Quan (Hà Nội) có đóng bản doanh tại chùa và đình Cự Chính.

Chùa Bồ Đề (cùng đình Cự Chính và gò Đống Thây) đã được Bộ Văn hóa và thông din xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật 28.9.1990.

 

8. CHÙA BỘC (SÙNG PHÚC TỰ)^

Chùa Sùng Phúc nằm ven đường Chùa Bộc, thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Theo tấm bia cổ nhất ở chùa có niên hiệu Vĩnh Thịnh năm Bính Thìn (1676) thì chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê. Chùa đã bị đốt cháy trong cơn binh8 lửa của trận đại phá quân Thanh ở gò Đống Đa (1789). Ba năm sau, sư trụ trì chùa là Lê Dình Lượng đã quyên cúng và trùng tu lại. Từ đó đến nay, chùa đã qua nhiều lần tu sửa.

Kiến trúc chùa gồm cổng, tam bảo, nhà tổ, vường tháp, có khuôn viên rộng. Xung quanh chùa có hồ tắm voi, gò kéo cờ, gò đánh cồng là những dấu tích liên quan đến cuộc chiến đấu của vau Quang Trung ở vùng này vào ngày mồn 5 tết âm lịch năm Kỷ Dậu (1789). Chùa còn bảo tồn được nhiều di vật quý gồm các pho tượng Phật, 3 bia cổ (bia Vĩnh Trị nguyên niên thời Lê Hy Tông (1676), bia Chính Hòa, Bính Dần (1686) và bia Nhâm Tí niên hiệu Quang Trung (1792)), một quả chuông có niên hiệu Cảnh Thịnh. Đặc biệt trong chùa có pho tượng Đức Ông mà nhiều nhà sử học cho rằng đó chính là tượng vua Quang Trung. Ngày 22.4.1962 nhà sử học Trần Huy Bá khảo sát pho tượng “Đức Ông” lạ và thấy phía sau bệ gỗ có dòng chữ khắc: “Bình Ngọ tạo Quang Trung tượng” (1846). Phía trên tượng treo bức hoành phi khắc 4 chữ: “Uy Phong Lẫm Liệt”. Đôi câu đối treo 3 bên tượng Đức Ông viết:

“Động lý vô trân, đại địa sơn hà đống vũ.

Quang Trung hóa Phật, tiểu thiên thế giới chuyển phong vân.”

Có thể dịch nghĩa câu đối như sau:

“Trong động không bụi nhỏ, đất nước rộng lớn để lại một tòa lâu đài rưởng cột làm dấu vết.

Giữa ánh sáng thành Phật, thế giới cõi tiểu thiên, gió mây đều cảm động mà chuyển vần.”

Nghĩa ẩn ý:

Sau trận phá thánh, quét sạch quân xâm lược trên núi sông rộng lớn còn lưu lại tòa nhà cao rộng.

Vua Quang Trung đã tung ra ức vạn tinh binh làm xoay chuyển cả tình thế.

Cùng với 13 gò chôn xác quân Thanh xung quanh như gò Đống Đa, gò Đống Thiêng, gò Trung Liệt, núi Cây Cờ, gò Đầu Lâu, nghĩa địa Khâm Tử và chùa Đồng Quang và những dấu tích quanh hồ, chùa Bộc là một di tích lịch sử của cuộc chiến đấu giải phóng đất nước cuối thế kỷ 18.

Chùa đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 13.1.1964.

 

9. CHÙA CẦU ĐÔNG (ĐÔNG MÔN TỰ) ^

Chùa ở số nhà 38B phố Hàng Đường, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Chùa có tên chữ là Đông Môn tự, cũng gọi là Chùa Cửa Đông. Theo bia “Đông Mon tự ki” dựng năm Vĩnh Tộ 6 (1024) thì chùa do một người tên là Đạo Án và vợ, hiệu là Diệu Bi đem khu đất cúng và xây dựng chùa. Khi mọi việc làm xong, vợ chồng Đạo Án được chúa Trịnh Tráng ban khen.

Chùa đã được tu sửa và mở rộng nhiều lần vào những năm 1624, 1639, 1712 và 1817, vì vậy kiến trúc của chùa mang phong cách đầu thời Nguyễn, còn giữ vài dấu vết thời Lê. Các mảng chạm bong, kênh vênh, chạm nổi được thể hiện tập trung trên vì kèo ván mê và hai cốn, cửa gian tiếp giáp giữa tiền đường và hậu cung với những mặt hổ phù, rồng vờn mây, hoa lá…

Trong chùa có tới 60 pho tượng. Ba pho tượng Tam Thế có giá trị nghệ thuật cao, có bộ mặt nữ, có vòng đeo cổ, được tạc vào thế kỷ 18. Tượng Tuyết Sơn có áo buông trên vai, lộ tấm thân gầy, nét mặt thanh tao, thoát tục, có dáng gần với tượng Tuyết Sơn ở chùa Nành (Gia Lâm) và chùa Tây Phương (Hà Tây). Tượng Di Lặc to gần bằng người thực, bụng phệ, khuôn mặt có nụ cười rạng rỡ, viên mãn. Các pho tượng khác như Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Thích Ca Sơ Sinh… cũng có giá trị nghệ thuật. Đặc biệt ở chùa Cầu Đông còn có một bàn thờ có tượng Trần Thủ Độ và vợ là Trần Thị Dung là những người có công mở mang cơ nghiệp nhà Trần.

Chùa Cầu Đông còn lưu giữ tấm bia cổ, dựng vào những năm Vĩnh Tộ 6 (1624), Dương Hòa 5 (1699), Vĩnh Thĩnh 8 (1712). Chùa có quả chuông niên hiệu Cảnh Thịnh (1800).

Hiện nay do việc mở mang phố xá, chùa bị thu hẹp lại nhiều Trong việc giữ gìn khu phố cổ, việc giữ gìn bảo vệ chùa chùa Cầu Đông cần được quan tâm đặc biệt, chùa cần có “một không gian sinh tồn” và cảnh quan phù hợp.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày  5.9.1989.

 

10. CHÙA CHÂN TÊN (CHÂN TIÊN TỰ) ^

Chùa Chân Tiên (Chân Tiên tự) ở số nhà 151 phố Bà Triệu, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Chùa thờ Phật.

Theo truyền thuyết, chùa Chân Tiên dựngv ào đời vua Lý Thánh Tông (thế kỷ 12), hồi đó chùa có tên là chùa Báo Thiên ở thôn Tiên Thị (khu vực Nhà Thờ Lớn). Đến thế kỷ 18, chúa Trịnh Sâm đi chùa Báo Thiên nhằm giữ lại địa danh gốc của chùa ở thôn Tiên Thị, giáp thôn Chân Cầm. Khi thực dân Pháp xây trại giam Hỏa Lò đã chuyển chùa Chân Tiên về chỗ hiện nay. Chùa đã sửa chữa một số lần. Chùa quay hướng tây, cổng và tam quan sát phố Bà Triệu. Bên trong có tam bảo, điện Mẫu, nhà tổ, trai phòng, vường tháp. Tòa tam bảo hình chuông vồ, gồm tiền đường 5 gian, làm kiểu đầu hồi bít đốc, thượng điện 4 gian. Trong chùa còn giữ được một số mảng chạm khắc trên kiến trúc, tượng, di vật, đồ tự khí mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18, 19.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 2.3.1990.

 

11. CHÙA CHÂU LONG ^

Chùa hiện ở số 44 phố Châu Long, phương Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội. Vào thế kỷ 19 chùa thuộc thôn Châu Long, tổng An Thành, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức.

Chùa thờ Phật. Theo sử liệu thư tịch cổ, chùa có từ lâu. Thời Trần đã có một công chúa đến tu là Khiết Cô. Chùa đã trừng tu nhiều lần, lớn nhất là các năm Mậu Thìn (1808) đời vua Gia Long, năm Tần Sửu đời Thanh Thái (1901) và năm Nhâm Thân (1932) đời Bảo Đại.

Chùa hiện còn tiền đưuờng 5 gian, chuôi vồ 3 gian. Kiến trúc có 8 cửa võng chạm trổ lộng lẫy, sơn son thép vàng, các hình chạm trổ rất tinh xảo. Bộ tượng thờ, khám thờ, bia đá, hoành phi câu đối, chuông đồng đều là những hiện vật Mỹ thuật có giá trị cao.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 5.2.1994.

 

12. CHÙA CHÈM (HÀM LONG TỰ)^

Chùa thuộc xã Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội.

Chùa Chèm tên chữ là Hàm Long tự. Một tấm bia hưng công có niên đại Vĩnh Trị thứ 12 (1688) ghi rằng: cụ sinh đồ Nguyễn Đinh Ban, tên chữ là Pháp Trung cùng vợ là Nguyễn Thị Gái, hiệu là Từ Minh, người xã Thụy Phương đã hưng công làm các công trình ở chùa Hàm Long là tiên đường, thượng điện, nhà thiêu hương nội và ngoại, hậu phòng, gác chuông, hành lang bên tả, bên hữu, hai tòa tam quan nội, ngoại, 13 pho tượng và một quả chuông đồng… Vì thấy chùa chưa được đẹp, ông bà đã bỏ tiền nhà ra mua sắm gỗ lim, chọn tìm thợ giỏi xây dựng các công trình… như vậy chùa Hàm Long được xây dựng từ trước đó (trước năm 1688).

Chùa tọa lạc trên một khu đất cao ráo thoáng mát. Tòa tiền đường được bố cục hơi khác biệt so với các ngôi chùa trong vùng, gồm 2 dãy nhà song song. Nếp ngoài 5 gian mặt bằng, 6 hàng chân cột, các cột đều tạo bằng cột vuông xây bằng gạch, đỡ các vì kèo chồng giường, nếp nhà này làm kiểu chồng diêm hai tầng 8 mái. Mái thượng lợp ngói mũi hài, các cốn nách đều được chạm khắc.

Hậu cung, nhà giải vũ, tam quan (gác chuông) nhà Mẫu đều có kết cấu thanh thoát hài hòa.

Tượng Phật gồm 30 pho được làm bằng gỗ và đất sét, vào những thời kì khác nhau. Tượng Di Đà Tam Tôn. Thế Tôn, Quan ÂM Chuẩn Đề, Ca Diếp được làm vào thời Lê trung hưng. Một số pho tượng làm vào thế kỷ 18, 19 và 20.

Chùa Chèm hiện nay là một ngôi chùa còn khá nguyên vẹn theo bố cục và cấu trúc thời xưa. Các công trình kiến trúc của chùa được bố trí hài hòa trong một khuôn viên khép kín, ấn hiện dưới những cây cổ thụ. Những pho tượng trong chùa là một bộ sưu tập tượng tròn có giá trị cao. Nhiều pho tượng thực sự là những tác phẩm Mỹ thuật hoàn hảo. Trong chùa còn lưu giữ nhiều đồ thờ có giá trị.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 29.1.1993.

 

13. CHÙA CỔ LINH (CỔ LINH TỰ) ^

Chùa Cổ Linh thuộc xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội vào khoảng 15km về phía Nam đi theo bờ sông Hồng. Chùa Cổ Linh làm gần với đình Trung Lập tạo thành một cụm kiến trúc mang tính chất lịch sử và tôn giáo.

Chùa có quy mô kiến trúc lớn, nhiều tòa kế tiếp nhau gồm tiền đường, thượng điện, nhà thờ tổ và nhà thờ Mẫu. Tiền đường bao gồm 5 gian xây bít đốc tay ngai, trên bờ nóc có dắp mặt trời, phía trước 2 trụ xây vuông rên đỉnh trụ đắp phượng chụm đuôi thành hình quả giành. Tiền đường có cửa trước kiểu bức bàn bằng lim, vì kéo kiểu chồng giường giá chiêng, hạ kẻ chuyền với 6 đường cột. Trên kiến trúc chạm khắc đề tài tứ linh tứ quý với phong cách nghệ thuật cận đại. Thượng điện chùa gồm 3 gian nối với tiền đường, vì kéo theo kiểu chồng giường giá chiêng, xà nách. Trên thượng điện và tiền đường gồm đủ các pho tượng thờ theo kiểu bài trí thường gặp là các pho Tam Thế, Di Đà Tam Tôn v.v. Tượng của chùa đều được tạo tác công phu nghệ thuật, tuy về cỡ không lớn lắm. Bên cạnh những tượng pháp trong chùa còn có hệ thống cửa võng được chạm trổ sơn son thếp vàng tăng phần trang nghiêm lộng lẫy.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 13.3.1994.

 

14. CHÙA CỔ LOA (BẢO SƠN TỰ) ^

Chùa cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Chùa Cổ Loa có tên chữ là Bảo Sơn tự. Từ trung tâm Hà Nội đi qua cầu Chương Dương, thị trấn Gia Lâm, qua cầu Đuống theo quốc lộ số 3 đến cây số 17 rẽ tay phải 3 km đến chọ Sa, rẽ trái 300m đến ngã tư rẽ phải 100m là đến di tích.

Chùa thờ Phật, kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc” ở giữa chữ công, trước là nhà tiền tế, hai bên là hành lang. Chùa còn giữ được những bức cốn tứ linh thế kỷ 19, và nhóm di vật có giá trị gồm 134 pho tượng xếp đặt ở hậu cung, thiêu hương, tiền tế, hành lang và nhà Mẫu. Các pho Tam Thế, Di Đà, Quam Âm Chuẩn Đề, Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Nam Hải, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, tòa Cửu Long, Hộ Pháp, Kim Cương, Thập bát La Hán, Liễu Hạnh, Trần Hưng Đạo, Thái Thượng Lão Quân… Chùa có 5 bia từ thế kỷ 17 - 19, hai chuông đồng Gia Long 2 (1803), một khánh đồng, bình hương đồng, đồ gốm sứ và đồ thờ cúng khá đẹp.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 21.6.1993.

 

15. CHÙA DIÊN PHÚC (DIÊN PHÚC TỰ)^

Chùa Diên Phúc thuộc thôn Mai Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km về phía bắc, cạnh đường đi đến thị trấn Đông Anh.

Tương truyền chùa Diên Phúc được xây dựng từ lâu đời. Chùa nằm cạnh đình  làng Thái Bình, quay về hướng nam. Chùa gồm tiền đường, thượng điện, nhà Mẫu và nhà tổ. Tiền đường gồm 3 gian, 2 chái. Thượng điện có 3 gian, nhà Mẫu có 3 gian: chái, nhà tổ có 3 gian. Chùa cồn giữ được nhiều mảng chạm gỗ và các di vật mang phong cách thế kỷ 18 và 19. Hệ thống tượng Phật trong chùa đầy đủ, cũng như các chùa khác, không có gì đặc sắc.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 31.1.1992.

 

16. CHÙA DIÊN PHỨC (DIÊN PHỨC TỰ)^

Chùa Diên Phức ở thôn Gia Lâm, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Di tích cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 km. Từ Hà Nội qua cầu Chương Dương đến cầu Chui, rẽ theo đường 5, rẽ trái, đi khoảng 10km là đến di tích.

Chùa thờ Phật, quay hương nam, mặt bằng hình chuôi vồ. Tiền đường 3 gian 2 dĩ, hậu cung 2 gian, vì kiểu chống giường, trang trí văn hình học cách điệu.

Trong chùa có nhiều hiện vật quý như: các pho tượng gỗ, nhang án, bia đá, chuông đồng.

Các ngày lễ hội:

10 tháng 1: Lễ khai tạ, mổ lợn tế.

11 tháng 2: Sinh nhật Đức Thánh, mở hội 3 ngày, rước kiệu.

10 tháng 3: Đại hội mừng công, mở hội 10 ngày, làm bánh dầy, mía. Ăn mặc theo lối xưa, 22 người phù giá. 19 tháng 3: Rước lên chùa Xuân Quan (chợ Giàn - Hà Bắc), lễ đại thỉnh pháp, thỉnh Phật, hát cửa đình.

10 tháng 8: Ngày hóa nhật, tế lễ, gói bánh chưng đường mật.

2 tháng chạp: Tế lễ 3 ngày do 2 quan đám đảm nhiệm.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 28.4.1994.

 

17. CHÙA DUỆ (QUẢNG KHAI TỰ) ^

Chùa Duệ thuộc thôn Tiền, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 6km về phía tây - bắc. Chùa nguyên là của giáp Khánh Duệ nên được gọi là chùa Duệ.

Tương truyền chùa được xây từ đời Lý Nhân Tông (1172 - 1128) là nơi tu hành của nhà sư Lê Đại Điện, tên là Lê Nghĩa. Theo bản ngọc phả ghi năm 1579 và bản sao 1737 thì Lê Nghĩa, sau khi cha mẹ chết, liền biến nhà mình thành chùa để thờ Phật và cha mẹ. Đại Điên cùng học kinh Phật và pháp thuật với Từ Vinh người làng Yên Lãng. Từ Vinh dùng pháp thuật chống lại Diên Thành Hầu  nên đã bị Diên Thành Hầu nhờ Đại Điên giết chết, vứt xác xuống sông Tô Lịch. Sau đó con Từ Vinh là Từ Lộ đã đi tu và học pháp thuật giết chết Đại Điên để trả thù cho cha.

Chùa đã được tu sửa nhiều lần, nguyên dạng còn lại là của lần tu sửa năm 1936, 1985 và 1994.

Kiến trúc chùa gồm tam quan, tam bảo, điện Mẫu và nhà phụ. Tam quan chùa chia làm 3 gian, bộ vì mái làm kiểu quá giang, gian giữa là nơi treo quả chuông đúc năm Gia Long 14 (1815). Từ tam quan vào tòa tam bảo quan một sân gạch. Tòa tam bảo hình chuôi vồ, tiền đường gồm 5 gian, hậu cung 1 gian xây kiểu tường hồi bít đốc. Trên bờ nóc trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt. Các vì kèo làm kiểu kèo cầu quá giang, bốn bức cốn chạm hình long phượng, sơn son thếp vàng.

Trong chùa còn giữ được một số pho tượng Phật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18 - 19. Bên cạnh các tượng Phật lại có tượng Đại Điên to bằng người thật, ngồi trong khám. Bên cạnh có bia đá dựng năm Bảo Đại 16 (1941) chép 3 đạo sắc phong cho Đại Điện vào năm Gia Long 9 (1810), Duy Tân 9 (1915) và của Khải Định, nhân tứ tuần đại khánh.

Điện Mẫu ở bên trái tòa tam bảo, gồm 3 gian, các vì kèo kiểu cầu, bào trơn đóng bén đơn giản, ở đây có một quả chuông nhỏ đúc năm 1920.

Cùng với các chùa xung quanh vùng, chùa có lễ hội hàng năm cùng với chùa Láng vào mùa xuân.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 5.9.1989.

 

18. CHÙA ĐẠI ÁNG (THIÊN PHÚC TỰ) ^

Chùa Đại Áng thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Từ Hà Nội đi theo đường số 1 đến thị trấn Văn Điển rẽ theo đường 70 rồi theo bờ sông, khoảng 7km nữa là đến di tích.

Chùa Đại Áng có 3 phần: Tiền đường, thiêu hương, thượng điện. Chùa còn giữ được hệ thống tượng pháp tương đối phong phú: Tuyết Sơn, Di Lặc, Quan Âm Chuẩn Đề, Cửu Lonh; tiêu biểu nhất là tượng Cửu Long và tượng Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay. Ở tòa Cửu Long, ngoài 9 con rồng phun nước và tắm cho đức Phật ta còn thấy cả một thế giới thần tiên: Ở chính giữa là hình đức Phật sơ sinh, xung quanh là một lớp tượng to nhỏ khác nhau tìm đến với Phật với ý nguyện từ bi hỉ xả cho mọi người được ấm no hạnh phúc. Tượng Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay cao 4m, tuy sao chép lại mẫu tượng Quan Âm ở chùa Bút Tháp vào cuối thế kỷ 19 nhưng khá đẹp và ít thấy ở Hà Nội. 60 pho tượng ở chùa được tạo tác rất tỉ mỉ có giá trị thẩm Mỹ cao, có thể coi phật điện của chùa như phòng trưng bày về nghệ thuật điêu khắc Phật giáo.

Chùa Đại Áng là một công trình kiến trúc gắn với đời sống văn hóa và tinh thần của cư dân nông nghiệp ngoại thành Hà Nội.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 2.10.1991.

 

19. CHÙA ĐẠI CÁT (SÙNG KHANG TỰ)^

Chùa Đại Cát thuộc thôn Đại Cát, xã Liên Mạc huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 17 km về phía tây - bắc, có thể đi theo bờ hữu ngạn đê sông Hồng.

Chùa được dựng cạnh đình trên một khu đất cao rộng cạnh làng. Chùa gồm có tam quan xây gạch, tòa tam bảo hình chuôi vồ. Tiền đường gồm một gian 2 chái, hậu cung 1 gian. Chùa còn có gác chuông có quả chuông đồng đúc năm Mậu Ngọ (?). Chùa cũng còn lưu giữ được nhiều di vật đồ gỗ chạm khắc có giá trị và một bia đá dựng năm Ất Hợi niên hiệu Cảnh Hưng (1789). Hệ thống tượng Phật của chùa khá đầy đủ.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 31.1.1992.

 

20. CHÙA ĐẠI LAN (ĐẠI LAN TỰ)^

Chùa Đại Lan thuộc thôn Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 17 km về phía nam ven bờ sông Hồng.

Chùa Đại Lan trước ở bờ sông nên đã bị lở, dân làng chuyển các đồ thờ cúng và tượng Phật vào nghè vì vậy nghè của làng đã trở thành chùa. Chùa mới gồm 2 nếp nhà, nếp trước là nhà tiền tế dùng làm nơi hội họp và tế lễ, nếp sau dùng làm tam bảo. Tiền thế xây 5 gian xây kiểu “tường hồi bít đốc”. Tòa tam bảo hình chuôi vồ, gồm tiền đường 3 gian và thượng điện có 2 gian. Chùa còn đầy dủ hệ thống tượng Phật. Trong chùa có nhiều mảng chạm khăc trang trí, di vật có niên đại thế kỷ 19 - 20. Tượng Phật cũng có niên đại tương tự.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 21.1.1989.

 

21. CHÙA ĐÀO XUYÊN (THÁNH ÂN TỰ)

Chùa Đào Xuyên tên chữ là “Thánh Ân tự”, ở thôn Đào Xuyên, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Chùa được xây dựng từ khá lâu, theo bia ở chùa cho biết thì năm 1635 chùa đã được tu tạo và được sửa chữa nhiều lần. Lần sau cùng vào năm Duy Tần 10 (1910) chùa đã được làm lại hoàn toàn.Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”, có quy mô khá lớn. Chùa gồm nhà thiêu hương, thượng điện, tòa tam bảo, nhà tổ và các công trình phụ. Tòa tam bảo quay hướng đông nam, có kiến trúc kiểu chuôi vồ. Tiền đường có 7 gian 2 dĩ. Nhiều Bộ phận được chạm khắc tinh tế.

Chùa còn giữa được pho tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhân có niên đại thế kỷ 16. Tượng bằng gỗ mít, cao 1,35m (không kể bệ) ngồi trên bệ sen hình lục giác (nếu kể cả bệ thì cao 2,31m). Tượng có 42 tay lớn và 610 tay nhỏ. 42 tay lớn chìa ra phía trước và xung quanh với nhiều động tác, hình dáng khác nhau, tay thì cầm vật báu, tay thì bắt quyết, không tay nào giống tay nào. Còn 610 tay nhỏ thì xếp thành nhiều lớp hai bên sườn và phía sau, xếp vào nhau như những nan quạt, tạo nên một quầng tròn phía sau tượng, như một vòng hào quang tỏa sáng quanh người. Đầu tượng đội mũ pháp sư, được trang trí những hạt tròn, sơn son thếp vàng óng ánh góp phần làm tăng thêm uy linh và đức độ của Phật Bà Quan Âm. Mặt tượng đầy đặn, đôn hậu, mắt lim dim nhìn xuống như đang tập trung tinh thần vào điều gì đó. Mũi tượng thẳng, má bầu, miệng nhỏ, tai dài đeo hoa, tóc chảy dài ra phía sau. Dáng mặt của tượng là một phụ nữ Việt Nam. Tấm áo cà sa khoác trên người chảy dài xuống hai bên lẫn trong các nếp áo. Tượng trong tư thế ngồi yên tĩnh, thế “tham thiền nhập định” nhưng vẫn toát lên vẻ động của một tâm hồn sôi nổi. Những cánh tay sinh động với nhiều dáng, những nếp áo mềm mại chạy dài, phủ trên một tấm thân cân xứng, nở nang… đã thể hiện sức sống của mỗi con người, có những nét gần gũi với bóng dáng hiền dịu của các cô gái nông thôn khỏe mạnh. Tượng được tạc ngồi trên một tòa sen do con rồng đội, nổi lên trên mặt biển sóng nhấp nhô. Tòa sen cao 0,50m gồm 13 cánh sen chính, 13 cánh sen phụ và 20 cánh cách điệu, bố trí xen kẽ thành 2 lớp trên, dưới. Rồng được thể hiện với bộ mặt dữ tợn, những cánh tay gân guốc với những chiếc móng sắc nhọn, mắt lồi nhìn thao láo ra phía trước, mồm rộng, mũi to căng phồng (Rồng ở dây tượng trưng cho loài ác quỷ ma vương, thế lực đen tối). Việc đội tòa sen của rồng biểu hiện sự quy phục Phật pháp. Về mặt thẩm mỹ, điều đó tạo nên sự tương phản giữa cái ác và cái thiện, góp phần làm tăng thêm vẻ nhân hậu, dịu dàng, thiện tâm và sự huyền diệu của Quan Âm. Bệ tượng cao 0,5m có mặt lục giác, được chia làm 3 phần, phần giữa thu hẹp. Trang trí trên bệ tượng là các hình mây lửa, sóng nước,… chính nhờ các trang trí này mà có thể đoán định tượng được tạo tác vào cuối thế kỷ 16.

Chùa cũng còn nhiều tượng tạo tác vào thế kỷ 18 - 19.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 9.1.1990.

 

22. CHÙA ĐÔNG BA* (SÙNG ÂN TỰ) ^

Chùa Đông Ba thuộc xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội vào khoảng 20km về phía tây bắc.

Chùa nằm gần sát đê sông Hồng.

Chùa Sùng Ân còn gọi là chùa Đông Ba. Ở đây còn sót lại một số viên gạch thế kỷ 16 cho phép khẳng định chùa đã có lịch sử lâu đời. Theo tấm bia “Hậu Phật bi kí” ở chùa cho biết vào năm Bảo Thái 10 (1729), chùa Sùng Ân được mở rộng tam bảo, năm sau sửa chữa thêm gác chuông, tô tượng cũ và làm thêm tượng mới những dấu ấn của những lần trùng tu này không còn bao nhiêu. Chùa Sùng Ân được xây dựng sát đình. Chùa có mặt bằng chữ công gồm tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Nhìn chung kiến trúc không có gì đặc biệt ngoài những mảng chạm hỏ phù trên các cốn mê của nhà thiêu hương. Hệ thống tượng pháp với bộ Tam thế, Di Đà Tam Tôn, Quan Âm Tống Tử, Thiện, Ác, Thập Điện Diêm Vương, Đức Ông, Thánh Tăng, tượng Mẫu, gồm 33 pho và một bức phù điêu đá tạc người có công đóng góp sửa chùa ở thế kỷ 17, là những tác phẩm nghệ thuật đẹp. Chùa còn 2 quả chuông đồng thời Lê và 14 tấm bia đá, 2 tấm có niên hiệu Bảo Thái và Vĩnh Khánh (1729 và 1773).

Chùa Đông Ba ngoài giá trị lịch sử còn có sưu tập nghệ thuật quý cần được bảo vệ.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 22.4.1992.

 

23. CHÙA ĐÔNG PHỦ (MINH LONG TỰ) ^

Chùa Đông Phủ ở xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Chùa còn có tên là Hưng Long tự, tục gọi là chùa Nhót, hoặc theo sự tích chùa gắn với nhị vị vương bà nên còn gọi là chùa Đền.

Theo lời kể của dân làng, chùa có từ đời nhà Lý. Hai con gái vua Lý là Từ Thục (chị) và Từ Huy (em) đã rời bỏ kinh thành về tu ở chùa Đông Phù năm 1072. Hai bà được vua cha ban cho 3000 mẫu ruộng. Toàn bộ số ruộng này hai bà đem chia cho dân cả vùng gồm 9 làng thuộc tổng Nam Phù xưa và 10,5 mẫu cho Ninh Xá. Hai bà đã cho dựng điền trang, dạy dân khai khẩn ruộng đồng, đem giống mới về trồng cấy, dạy dân làm nghề thủ công.

Do công lao của hai bà đối với nhân dân phía đông nam Thăng Long, nhà vua đã phong sắc cho hai bà là “Đại Thánh bao phong đại bồ tát hồng liên toa hạ” và hai nàng hầu là Quỳnh Hoa và Quế Hoa được phong “Địa tăng trang vị dực bảo trung hưng thượng đẳng thần”.

Hiện nay chùa còn giữ được 2 đạo sắc phong cho Lý Liễu đoan trang công chúa năm Cảnh Hưng 44 (1785) và Chiêu Thống 1 (1787).

Chùa hiện còn tam quan, tiền đường, hành lang, thiêu hương, điện Mẫu, nhà tổ. Trong chùa có 42 pho tượng lớn nhỏ, tượng nhị vị vương bà và tượng nhị vị tiên cô. Ngoài ra trong chùa còn có hoành phí, kiệu bát công, kiệu rước, khám thờ và quả chuông Hưng Long thiên tự hồng chung bi kí, tấm bia đá khắc năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Tộ (1620).

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 9.1.1990.

 

24. CHÙA ĐỒNG QUANG (ĐỒNG QUANG TỰ)^

Chùa Đồng Quang tên chữ Hán là “Đồng Quang tự” thuộc phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội.

Theo tấm bia dựng năm thứ 8 niên hiệu Tự Đức (1856) khoảng niêm hiệu Thiệu Trị (1840 - 1847) quan tổng đốc Hà Nội là Đặng Hầu (Đặng Văn Hòa) sai thu táng những thi hài chết trong trận Đống Đa (1789) ở đầu đường, cuối ngòi thành 12 gò, lấy nhân công, tiền của 2 trại Thịnh Quang và Nam Đồng để làm mộ điện. Đến năm Tự Đức 4 (1851) quan kinh lược Nguyễn Đăng Giai khi Mở đường, mở chợ mới ở vùng này lại thấy nhiều xương khô nên sai đắp thêm một gò mộ nữa. Nguyễn Đăng Giai kêu gọi các nhà hảo tâm dựng thêm ở tự đàn 4 gian nhà nữa tức là chùa Đồng Quang. Tháng 2 hưng công, tháng 6 xong. Năm Bính Tuất niên hiệu Đồng Khánh. (1886) tri huyện Thọ Xương cải tạo lại chùa Đồng Quang, làm hai tòa tả hữu. Tới năm 1915 nhà sư trụ trì đã sửa chữa chùa, làm nhà hữu tu, xây cổng. Hiện nay kiến trúc của chùa chia làm hai phần, chùa thờ Phật và tự đàn. Chùa quay về hướng nam, phía ngoài có cổng, chùa hình chữ công (I) gồm tiền đường 5 gian, thượng điện 3 gian. Tự đàn hình chữ nhị (=) thờ người chết trong trận Đống Đa. Trong khuôn viên chùa còn có nhà tổ, tả vu, vườn tháp và các công trình phụ.

Chùa chính có kiến trúc hình chữ đinh gồm tiền đường và thượng điện.

Tiền đường có 5 gian, bờ nóc đắp hổ phù đội tòa sen, hai dầu hồi đắp rồng hướng vào giữa. Kiến trúc chùa theo kiểu chồng giường giá chiêng, hạ kẻ, phần trên của 2 vì hồi theo kiểu kẻ chuyền. Nền nhà lát gạch vuông.

Thượng điện gồm 3 gian dọc, vì kèo làm theo kiểu “chồng giường giá chiêng”. Ở 2 vì ngoài 2 vì giữa” thượng chồng giường giá chiêng, hạ kẻ”. Giữa 2 hàng cột của thượng điện xây bệ cao dần để đặt tượng.

Nghệ thuật trang trí chùa Đồng Quang được tập trung ở bộ khung nhà và các đồ gỗ, chủ yếu là ở mặt các cốn giường, kẻ và câu đầu. Đề tài trang trí là các hình hổ phù, rồng lá, mây lá, vân mây, được chạm nổi bong kênh. Diềm mái được chạm các hoa giấy, hổ phù. Các đầu kẻ, bẩy chạm hình rồng mai lão, trúc lão. Cốn hiên chạm hoa cúc, tùng lộc. Hai cốn nách trên vì giữa trang trí rồng mây chạm nổi, rồng có đầu nổi cao, thân ẩn hiện trong mây. Đây là đặc điểm chạm trổ của khoảng đầu thế kỷ này. Trong chùa còn có các cửa võng được chạm thủng với các hoa lá và xen kẽ những hình người đầu rồng, và các loài thủy tộc cua cá…

Chùa hiện có 37 pho tượng, trong đó có 19 pho trên tam bảo, 14 pho tượng Mẫu và 4 pho tượng ở đền thờ Quang Trung, ngoài ra còn 7 cửa võng sơn son thếp vàng, 5 khám thờ v.v…, 14 bia đá và 2 quả chuông.

Nhìn chung, chùa Đồng Quang được xây có niên đại muộn song nó găn  với lịch sử trận chiến thắng Đống Đa nên được coi như là một chứng tích - đánh dấu một vùng đất mà xưa kia đã làm trường thi, chọn những người có sức khỏe và sau là chiến trường năm 1789.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 27.12.1990.

 

25. CHÙA ĐỨC HẬU* (LINH SƠN TỰ) ^

Chùa Đức Hậu thuộc thôn Đức Hậu, xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội. Di tích cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km. Đường đi đến thị xã Sóc Sơn, rẽ tay phải qua núi đôi đến ngã tư Thó đi tiếp 1km nữa là đến di tích.

Chùa Đức Hậu cũng không ghi dựng năm nào. Mặt bằng chùa dựng hình chữ đinh, gồm tiền đường xây bít đốc tay ngai trụ trước và phần thượng điện; phía trước sân gạch và xây cổng một cửa.

Tiền đường gồm 7 gian 2 dĩ, gồm 16 cột gỗ - các cột ở gian giữa vuông, còn 4 cột sát tường tròn. Các cột hiên xây gạch. Phía trước 5 gian làm cửa bức bàn, gian đầu hổi có cửa sổ chữ nhật trổ hình chữ. Các vì kèo theo kiểu thượng chồng giường ở trên, chồng xà ở dưới ở hai vì đốc. Các vì giữa kiểu thượng giá chiêng, trụ kẻ đầu, xà con nhị đè quá giang gối cột, trung cốn ván đè xà nách gối tường cả trước sau.

Thượng điện nối liền tiền đường, bằng nóc với tiền đường, gồm 5 gian 4 vì kèo 8 cột gỗ vuông, đốc không có vì kèo mà gối tường. Các vì là kiểu quá giang, một trụ đỡ kèo suốt. Chỉ có vì giáp tiền đường làm kiểu gái chiêng gánh thượng lương, dưới là cốn ván trên xà gối tường. Hai bên thượng điện có hành  lang rộng, dọc hành lang có trụ đỡ mãi.

Phần trang trí nghệ thuật của chùa Đức Hậu chủ yếu ở tiền đường vào 2 vì giữa. Ở phần chính giữa nối với thượng điện có bức cửa võng được chạm trổ cầu kì, phía trên cửa võng có trạm hổ phù và triện cúc dây, hai cốn nách trạm hình tam li hóa hí cầu rất sinh động. Các vì khác có các họa tiết chạm nổi các đề tài hóa long v.v…

Chùa còn có nhà tổ, điện mẫu gồm 5 gian, xây bít đốc tay ngai trụ biểu nhỏ, kiến trúc đơn giản kiểu truyền thống chống cốn kẻ chuyền, tiện kẻ, hậu bẩy.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 10.3.1994.

 

26. CHÙA GIÁP NHẤT (PHÚC LÂM TỰ) ^

Chùa giáp Nhất ở thôn Giáp Nhất, xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7km về phía Tây.

Chùa gồm nhà tiền đường và thượng điện, nhà tổ, khuôn viên rộng rãi, có cây xanh. Tương truyền chùa được xây dựng từ khá sớm, đã bị hủy hoại bởi nhiều cuộc binh lửa. Hiện nay chùa còn hệ thống tượng Phật mới được tạo lại vào năm 1941. Chùa còn giữ tấm bia khắc năm 1892 ghi việc trùng tu chùa. Năm 1973 chùa đã sửa lại tòa tam bảo và dựng nhà tổ.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 31.1.1992.

 

27. CHÙA HÀ (THÁNH ĐỨC TỰ) ^

Chùa Hà trước đây thuộc xã Dịch Vọng huyện Từ Liêm, nay thuộc thị trấn Nghĩa Tân, huyện Từ Liêm Hà Nội; nằm cạnh đường 32 đi Sơn Tây.

Tương truyền chùa được làm từ lâu, đến đời vua Lê Hy Tông có 2 người làng  Thổ Hà sang ngụ để bán các hàng gốm. Hai người này làm ăn phát đạt đã cúng tiền để xây dựng chùa bằng gạch ngói vào năm Chính Hòa nguyên niên (1680). Từ đó 2 làng Thổ Hà và Dịch Vọng Trung kết nghĩa, đặt tên xóm và chùa  là Bối Hà nên cũng từ đó có tên là chùa Hà.

Chùa quay hướng tây, có kiến trúc chữ Đinh, tòa tam bảo có 5 gian, hậu cung có 3 gian. Phía sau là nhà tổ, hai bên là nhà hậu, mỗi nhà 3 gian. Bên cạnh là điện Mẫu, bên phải là đình Hà. Phía sau nhà tổ có một tháp thờ sư tổ.

Chùa đã bị giặc Pháp đốt phá vào năm 1947 nên các tượng Phật bị thiêu hủy không còn, phần lớn là mới được tạo tạc từ sau năm 1950, có thể chỉ có tượng Đức Ông và Phật Bà Quan Âm là cũ xưa. Chùa có một quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh thứ 7 đời Tây Sơn, chuông cao 1,30m có khắc chữ Thánh Đức tự chung”. Chuông có bài văn chuông do Nguyễn Khuê viết nói về những người cúng tiền đúc chuông. Đến thời Nguyễn Gia Long có lệnh xóa các dấu vết thời Tây Sơn, dân Bối Hà đem chuông giấu xuống ao làng, sau đó khi xây lại tam quan mới vớt lên nên niên hiệu chuông không bị đục như nhiều chuông khác.

Chùa Hà còn là di tích cách mạng, từ năm 1944 đây là nơi gặp gỡ liên hệ công tác của thành ủy Hà Nội. Ngày 15.8.1945 đồng chí Nguyễn Quyết, bí thư thành ủy Hà Nội đã triệu tập cán bộ và đội viên tự vệ và thanh niên tuyên truyền xung phong để chuẩn bị tổng khởi nghĩa cướp chính quyền. Năm 1982 Sở Văn hóa và thông tin Hà Nội đã gắn biển di tích cách mạng.

Trong những năm gần đây chùa đã được xây dựng lại tam bảo, điện mẫu, tạc thêm tượng Phật, tu sửa xung quanh làm cho khuôn cảnh trí thêm đẹp đón tiếp nhiều người đến lễ bái.

 

28. CHÙA HIỂN QUANG* (HIỂN QUANG TỰ) ^

Chùa Hiển Quang thuộc xã Dương Hà huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội cách trung tâm thành phố vào khoảng 15km về phía đông bắc. Đi qua cầu  Chương Dương, cầu Chui cầu Đuống đến thị trấn Yên Viên rẽ tay phải độ 1 km là đến di tích.

Theo văn bia còn lưu giữ chùa Hiển Quang xưa kia có quy mô lớn trong thời kì kháng chiến chống Pháp đã bị bom đạn phá hủy, chùa mới được làm lại. Chùa có kiến trúc mặt bằng hình chữ “đinh”. Tiền đường gồm 3 gian xây kiểu “tường hồi bít đốc” các vì kèo đơn giản bao trơn đóng bén. Các mảng chạm được thể hiện ở phần kẻ, bẩy hiên với đề tài tùng cúc. Thượng điện là 2 gian đọc, có vì kèo gióng lên tiền đường. Bên trong thượng điện xây bệ theo cấp cao dần từ ngoài vào trong để đặt tượng.

Hệ thống tượng của chùa còn lưu giữ được những pho có phong cách điêu khắc thế kỷ 19. Các đồ tế khí cũng có niên đại như vậy. Chùa còn giữ được một bia đá niên hiệu Chính Hòa đời Lê Hi Tông (1671 - 1675)

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 11.5.1993.

 

29. CHÙA HÒA MÃ (THIÊN QUANG TỰ) ^

Chùa Hòa Mã ở số 3 phố Phùng Khắc Khoăn, phương Ngô Thì Nhậm quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Tương truyền chùa được xây dựng từ khi thành lập làng, chùa được xây cạnh đền, quay về hướng đông. Chùa gồm có tiền đường và tòa tam bảo, kiến trúc thành hình chuôi vồ. Tiền đường có 5 gian, hậu cung có 4 gian. Quy mô kiến trúc vừa phải. Chùa đã được sửa chữa nhiều lần. Hệ thống tượng Phật trong chùa đầy đủ, không có gì đặc biệt. Hiện nay chùa bị lấn chiếm nghiêm trọng, xâm phạm đến kiến trúc và cảnh quan của chùa ở tất cả các mặt.

Chùa mở hội hằng năm vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch (ngày Phật đản), mang sắc thái của một làng quê nông nghiệp.

Chùa (và đền) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 17.12.1986.

 

30. CHÙA HÒE NHAI (HỒNG PHÚC TỰ) ^

Chùa Hòe Nhai có tên chữ là Hồng Phúc tự, vì vậy cũng được gọi là chùa Hồng Phúc. Chùa thuộc địa phận phường Hòe Nhai, tổng Thượng, huyện Vĩnh thuận, kinh thành Thăng Long; này ở số 19 phố Hàng Than, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, Hà Nội.

Tương truyền chùa được xây dựng từ đời nhà Lý. Chùa đã sửa chữa và xây lại nhiều lần vào các năm 1699, 1703, 1812, 1894, 1920, 1946. Căn cứ vào tấm bia dựng năm Chính Hòa 24 (1703) do tiến sĩ Hà Tông Mục soạn có ghi rõ, chùa được dựng lại bến Đông Bộ Đầu, nên giới sử học nhờ đó xác định được trận đánh quân Nguyên ngày 29.1.1258 là ở gần chùa Hòe Nhai hiện nay.

Chùa gồm 2 bái đường trong và ngoài, chạy song song, mỗi tòa 5 gian; chính điện gồm 3 gian; nhà tổ gồm 7 gian ở phía sau, nằm song song với tiền đường, tạo nên bố cục kiểu chữ công (I). Bên phải nhà tổ là kinh viện (nhà để kinh), bên trái là nhà kho và nhà bếp. Tiền đường trong được làm thêm vào năm Thành Thái 11 (1899), được sửa chữa vào năm 1920. Tiền đường ngoài được làm thêm vào năm 1946. Trong thượng điện còn giữ được nhiều bức cốn chạn hình tứ linh và các cửa võng sơn son thếp vàng. Nhìn chung kiến trúc nhà chùa mang phong cách kiến trúc thế kỷ 19.

Chùa có nhiều tượng Phật, được bầy thành 6 lớp:

- Lớp 1: Bên phải tiền đường là nhóm tượng Đức Ông và 2 Hộ Pháp. Bên trái là tượng Thánh Hiền, hai bên là 2 vị Đại Si và Diệu Nhiên.

- Lớp 2: Tượng Cửu Long đứng trên tòa sen, hai bên là Đế Thiên, Đế Thích. Phía ngoài là Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi 9 ngà và Văn Thù cưỡi thanh sư.

- Lớp 3: Giữa là tượng Phật “Dược Sư”, hai bên là Nhật Quang và Nguyệt Quang.

- Lớp 4: Giữa là tượng Thích Ca, tóc trên đầu xoắn hình ốc, tay bắt quyết. Hai bên là Bồ Tát Đại Ca Diếp và Át Nan Tôn Giả.

- Lớp 5: Giữa là tượng Phật A Di Đà ngồi trên tòa sen, chân xếp vòng tròn, hai tay để trước lòng bàn chân. Ngực khắc hình chữ Vạn. Hai bên là tượng Quan Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí.

- Lớp 6: Chính giữa thượng điện là 3 pho tượng Tam Thế: Vị Lai, Hiện Tại và Quá Khứ.

Ở hai bên tả, hữu thượng điện có pho tượng đặc biệt không chùa nào có là tượng Phật ngồi trên một ông vùa đang phủ phục, tượng Quan Âm Thị Kính, Hộ Pháp và 2 hàng Thập Điện Diêm Vương, mỗi bên 5 vị.

Ở nhà tổ và nhà Mẫu còn có tượng Mẫu trong khám thờ và tượng các sư tổ. Tổng số tượng ở chùa là 68 pho, được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như đồng hun, gỗ quý, đất nện. Hầu hết được sơn son thếp vàng, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18.

Chùa có một quả chuông mang niên hiệu Tự Đức 17 (1864), một khánh đồng cao 1m, rộng 1,5m, đúc năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức 3 (1734) đời Lề Thần Tông.

Sân chùa có 2 ngọn tháp cao 3 tầng. Chùa mới dựng một tháp vào năm 1963 tên là Ấn Quang để kỷ niệm hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu để phản đối Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Trong chùa có 28 chiếc bia. Qua những tấm bia này, chúng ta biết được chùa là trụ sở của một phái Phật giáo lớn ở miền Bắc là phái Tào Động. Phái Tào Động có sư tổ thứ nhất là hòa thượng Thủy Nguyệt, tổ thứ hai là thiền sư Chân Dung; tính đến năm Nhâm Thân (1932) thiền sư Tam Nghĩa Thích Nhân Từ, phái Tào Động đã trụ trì ở đây được 47 đời. Nhiều thiền sư đã được các vua phong sắc. Hiện nay chùa còn giữ một đạo sắc phong do vua Lê Hiển Tông phong cho thiền sư Trần Văn Chức năm Cảnh Hưng 11 (1750).

Trước đây chùa nằm trên một diện tích rộng, đến thời Pháp thuộc đã bị thu hẹp một phần để làm đường. Ngày nay khuôn viên của chùa vẫn còn bảo tồn được dáng dấp cổ kính. Tuy nhỏ nhưng “chùa Hồng Phúc ở Hà Thành, núi Nùng như vạt áo, sông nhị như giải lưng, Hồ Trúc Bạch chắn ngang, dòng Tô Lịch vòng lại, đây thật là chốn tùng lâm lâu đời của đất Thăng Long” (Văn bia 1703).

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 21.1.1989.

 

31. CHÙA HÒE THỊ* (HƯƠNG ĐỖ TỰ) ^

Chùa Hòe Thị thuộc thôn Hòe Thị (tên nôm là Canh Chợ) xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Từ trung tâm thành phố đi qua Cầu Giấy, Cầu Diễn, qua làng Thị Cấm, gần tới Ngã tư Canh sẽ nhìn thấy đình và chùa làng Hòe Thị, tọa lạc trên một khu đất rộng có nhiều cây cổ thụ.

Tương truyền chùa Hòe Thị được xây dựng vào khoảng thế kỷ 17. Chùa đổ nát và đến năm 1928 đã được xây dựng lại. Chùa quay hướng tây nam. Chùa có tam quan ngoại bên lề đường 70. Tam quan nội được xây 2 tầng, có một quả chuông đúc năm 1932. Chùa xây trên một khu đất cao, tiền đường gồm 5 gian rộng, nhà hậu cung 3 gian. Chùa có đầy đủ các tượng Phật, có pho tượng Quan Âm Chuẩn Để có 24 tay. Phía trái chàu là nhà Tổ, điện Mẫu và nhà Tổ xây theo hình chữ môn. Ở đây có một quả chuông nhỏ đúc năm Thành Thái thứ 8 (1896).

Chùa (đã đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 9.1.1990.

 

32. CHÙA H QU