Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 
Nhà Xuất Bản Văn Hóa - Thông Tin

Hà Nội - 1997

CHÙA HÀ NỘI

Nguyễn Thế Long

Phạm Mai Hùng

 


 

LỜI NÓI ĐẦU ^

Phật giáo từ khi được truyền vào Việt Nam hồi đầu công nguyên đã hòa nhập với tín ngưỡng bản địa và có sức sống mạnh mẽ. Đã có thời kì Phật giáo là quốc giáo và quốc học. Phật giáo đã góp phần củng cố ý thức tự chủ độc lập dân tộc trong thời kỳ đầu và góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước và cùng với Nho giáo trong hàng chục thế kỷ qua. Chùa là nơi thờ Phật đã có ở khắp làng quê Việt Nam từ mấy ngàn năm nay là hình ảnh đã in sâu trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam.

Lên chùa lễ Phật hay văng cảnh vào các ngày lễ, ngày rằm, mồng một là sinh hoạt tinh thần của văn hóa Việt Nam, đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón nhận. Cuốn sách này sẽ giúp bạn đọc những hiểu biết sơ lược về Phật giáo, quá trình phát triển ở nước ta và ở kinh đô Thăng Long, nội dung triết lý với các thiền phái, các lễ và quan niệm Phật giáo của dân gian. Bên cạnh đó, cuồn sách cũng giúp hiểu biết tổng quát về kiến trúc của các ngôi chùa, giá trị Mỹ thuật của các pho tượng Phật. Nói tóm lại cuốn sách giúp bạn hiểu biết cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ của Phật giáo và các ngôi chùa Việt Nam.

Ở thành phố Hà Nội, trừ nội thành, ở ngoại thành có bao nhiều làng thì gần như bấy nhiêu chùa, cuốn sách mới chỉ giới thiệu được hơn 120 ngôi chùa đã được Bộ văn hóa và thông tin xếp hạng di tích lịch sử nhà nước cùng với ngôi chùa quen thuộc. Trong việc giới thiệu các ngôi chùa đã được xếp hạng ở Hà Nội, có những ngôi chùa được miêu tả khá đầy đủ, đó là những ngôi chùa được nhiều người quen biết vì giá trị lịch sử, kiến trúc hay nghệ thuật, còn những ngôi khác chỉ được giới thiệu những nét tiêu biểu, đặc sắc. Nội dung giới thiệu các chùa được căn cứ chủ yếu vào hồ sơ xếp hạng các di tích của Cục bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa và thông tin và Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội, có tham khảo các sách cổ, các sách viết gần đây và các bài viết trên các báo Thủ Đô, Thủ đô Hà Nội, Hà Nội Mới, Người Hà Nội, Văn Hóa… Nhân đây chúng tôi cũng xin bầy tỏ lòng cảm ơn các đồng chí ở Cục bảo tàng Bộ Văn hóa và thông tin đã nhiệt tình cung cấp cho những tư liệu một số chùa để giới thiệu với đông đảo bạn đọc được biết vẻ đẹp của các ngôi chùa ở thủ đô Hà Nội.

Giáo lý Phật giáo cao siêu, thâm diệu, vi tế, mênh mông được diễn tả trong mấy vạn pho sách kinh khổng lồ, các bậc cao tăng nghiền ngẫm cả đời cũng chỉ lĩnh hội được phần nào; nay vì mục đích chủ yếu là giới thiệu các chùa ở Hà Nội, không thể không nói mấy lời rất sơ lược về đạo Phật ở Việt Nam để bạn đọc dễ nhận biết đạo Phật và các ngôi chùa thời phật là văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Do sự hiểu biết rất hạn chế, do tư liệu về các chùa hầu hết trước đây đều truyền miệng và khác nhau nên cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc bổ khuyết và xin chân thành cảm ơn.

Ngày Phật đản, năm Ất Hợi (1995)

Các tác giả

 

PHẦN I ^

CHƯƠNG MỞ ĐẦU ^

- Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một phương châm cần được quán triệt trong mọi hoạt động văn hóa trên đất nước ta hiện nay. Bản sắc văn hóa dân tộc mang một nội dung ý nghĩa rộng rãi đó là một tổng thể những đặc trưng diện mạo về tinh thần và vật chất, về lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, đạo đức và tình cảm, văn học và nghệ thuật… nó cũng biểu hiện trong các di sản vật chất hữu thể như kiến trúc, đình chùa, miếu mạo, nhà cửa. Hai phần hữu thể và vô thể đó gắn bó hữu cơ với nhau, khó có thể tách rời, đã tạo nên cái riêng biệt của dân tộc ta trong trường kì lịch sử và tồn tại mãi cho đến ngày nay. Hiểu biết, nhận rõ, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong công cuộc hội nhập vào cộng đồng thế giới ngày nay không phải là việc làm của riêng những nhà hoạt động văn hóa mà là của mỗi người Việt Nam trên mọi lĩnh vực trong đời sống hàng ngày. Hiểu biết về đạo Phật và những ngôi chùa đã được xây dựng từ bao đời trên đất nước ta và ở thủ đô Hà Nội cũng chính là hiểu rõ thêm bản sắc dân tộc Việt Nam ta vậy.

Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ban hành năm 1984 nhằm: “Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trong việc giáo dục truyền thống dựng nước của nhân dân Việt Nam, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu thẩm Mỹ và văn hóa của nhân dân…” Trong danh sách các di tích đã được xếp hạng từ năm 1962 đến nay, bên cạnh các đình đền… đã có rất nhiều chùa thờ Phật được nhà nước xếp hạng. Ở thủ đô Hà Nội những chùa được xếp hạng ngay từ đầu như chùa Một Cột, chùa Trần Quốc, chùa Láng, chùa Hòe Nhai, chùa Liên Phái… tính đến nay (4 - 1994) đã có tới 128 chùa đã được xếp hạng.

- Từ rất xa xư, các mái chùa cổ kính đã góp phần tô điểm cho làng quê Việt Nam. Cây đa bến nước, mái đình, mái chùa không tách rời trong tâm trí kỷ niệm của mỗi người dân xe quê hương, nhớ tới nơi chôn rau cắt rốn, nhớ tới tổ tiên ông bà, họ hàng, làng xóm. - Tiếng chuông chùa thu không vang lên trong những buổi hoàng hôn đã đi vào nhịp sống thường nhật của mỗi người dân. Đã có một thời kì dài trong lịch sử dân tộc, Phật giáo là quốc giáo, dù sau này không còn giữ địa vị độc tôn nhưng tinh thần từ bi bác ái của Phật giáo vẫn thấm sâu trong tâm hồn người Việt. Lên chùa lễ Phật, vãng cảnh, không phải chỉ là việc làm của các Phật tử mà là của đông đảo các tầng lớp nhân dân và thật sự là một nét đẹp trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Không thể nào coi việc lên chùa vãng cảnh lễ Phật là lạc hậu hay mê tín như có một người, trước hết nó giúp người ta gác lại mọi lo toan nhọc nhằn của đời thường hoặc những sầu não về tinh thần hay vật chất trong cuộc đấu tranh kiếm sống… “Thế gian là một bể khố”, nhưng lần lên chùa lễ Phật đã đem lại cho con người những giây phút thanh thản, hướng tới cái Thiện, cái Chân, cái Mỹ của cuộc sống. Tâm hồn con người khi được tiếp xúc với điều thiện sẽ có những khát khao trong sáng hơn để làm cho bản thân vươn lên những  biểu hiện nhân tình. “Con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội”, nhưng con người cũng là một sinh vật, một sinh vật cao cấp hơn tất cả các sinh vật khác. Để khác và trên tất cả các sinh vật khác, bên cạnh việc vươn lên nắm lấy tri thức khoa học tự nhiên và xã hội, phục vụ cho đời sống con người ngày càng văn minh hơn, còn một mặt nữa mà con người cần phải cố gắng vươn tới để hoàn thiện mình, đó là lĩnh vực tinh thần, tâm hồn, đạo đức, tình cảm. Trong mỗi lĩnh vực việc vươn lên là vô tận, không giới hạn. Chỉ có sự hài hòa giữa trí thức với tâm hồn, đạo đức và tình cảm, con người mới dần dần tự hoàn thiện mình, tách xa khỏi loài thú và vườn lên thánh thiện hơn như những Bồ Tất và Phật Thích Ca… Lên chùa lễ Phật có thể khẳng định là sinh hoạt văn hóa mang bản sắc dân tộc cần được bảo tồn, tôn trọng, tùy theo nhận thức nhu cầu cần thiết thuộc cõi tâm linh của mỗi người. Đó cũng là quyền tự do tín ngưỡng mà hiến pháp đã ghi nhận và cũng là quyền con người của xã hội văn minh.

Trong một xã hội văn minh phát triển, luật lệ dù hoàn chỉnh đến đâu cũng không thể ngăn ngừa được tội phạm, vả lại có biết bao nhiêu điều ác mà chưa là tội phạm thì điều gì có thể giúp cho con người Việt Nam ta đẩy lùi điều ác dù nó rất nhỏ bé để làm điều thiện, tại sao ta không khuyến khích cổ vũ nhất là điều đó đã được cả dân tộc tin theo trong quá trình lịch sử. Một vấn dề cơ bản của nhân sinh là tính người ta vốn “bản ác” hay “bản thiện”. Ngày nay, chúng ta hiểu con người có quan hệ chặt chẽ với giáo dục và hoàn cảnh môi trường, vai trò chủ động của con người trong việc hình thành nhân cách, tại sao chúng ta lại không thừa kế những di sản thành tựu của mấy ngàn năm lịch sử để làm cho con người có điều kiện vươn lên hoàn thiện trên nhiều bình diện của cuộc sống muôn mầu muôn vẻ? Việt Nam là một xã hội ở phương Đông, từ mấy chục thế kỷ nay dân tộc ta đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo và Nho giáo. Những yếu tố tích cực của Phật giáo và Nho giáo còn tồn tại lâu dài trong đời sống văn hóa dân tộc, là di sản văn hóa dân tộc, đã có tác dụng không nhỏ đến việc thúc đẩy xã hội phát triển.

Chúng ta không quan niệm một xã hội văn minh phát triển chỉ có vẻ mặt vật chất kỹ thuật, về tổng sản lượng quốc dân, về mức thu nhập bình quân… mà một xã hội phát triển văn minh cần phải phát triển cả về mặt tinh thần với những giá trị nhân bản cao quý với cuộc sống văn hóa tốt đẹp. Trong nhiều thế kỷ, ở Việt Nam ta những giá trị nhân bản của Phật giáo đã thấm sâu trong nhân dân cần được khơi dậy, phát huy trong đời sống thường ngày. “Người người làm việc thiện, nhà nhà làm việc thiện, ngày ngày làm việc thiện”, đó là điều xã hội ta mong ước. Có biết bao nhiêu việc thiện cần khuyến khích làm. Có biết bao nhiêu điều ác dù nhỏ li ti trong đời sống thường ngày như trong quan hệ với bạn bè, với hàng xóm láng giềng, với đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới trong cơ quan ở mọi nơi, mọi chỗ, trên đường đi, trong chợ búa, trong buôn bán giao dịch… dưới muôn hình vạn trạng, cần được đẩy lùi, ăn năn, hối hận, triệt tiêu. Tất cả những cái xấu, cái ác đó chỉ có thể bị đẩy lùi nếu như chúng ta biết phát huy tổng hợp những di sản, bản sắc văn hóa tinh thần của dân tộc, những yếu tố tích cực của Phật giáo trong cuộc sống hiện nay. Trong mỗi con người Việt Nam ta, cần được khơi dậy tính thiện một cách tự giác tích cực, điều đó thì khó một ai có thể “lên lớp” cho người khác, chỉ khi nào nó trở thành nhu cầu của mỗi người. Lên chùa lễ Phật hướng tới điều thiện vốn dĩ là bản sắc văn hóa dân tộc, cần được nhìn nhận đúng đắn và khuyến khích.

Lên chùa lễ Phật để hướng tới điều thiện  là nhu cầu của cõi tâm linh, hướng tới cái Chân, cái Thiện cũng còn là để hướng tới cái Mỹ, để cảm nhận vẻ đẹp của các ngôi chùa. Chùa Việt Nam nào cũng có vẻ đẹp, mỗi chùa có một vẻ đẹp riêng. Như trên đã viết, cái đẹp của ngôi chùa trước hết gắn liền với cái nhân, cái thiện mà kiến trúc của chùa biểu hiện cái nội dung đó. Mỗi ngôi chùa gắn liền với lịch sử xa xưa của một vùng, một làng xóm, ở đó những người sống trong chùa và ngoài chùa đã bằng công sức mồ hôi và trí tuệ của mình, xây dựng nên những giá trị tinh thần và vật chất của mỗi miền và của cả đất nước. Có người đã góp phần tích cực vào việc xây dựng nhà nước Đại Việt ngay từ buổi đầu dựng nước như Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, Huyền Quang… Nhiều người đã dốc cả cuộc đời vì cái thiện, là những tấm gương về điều thiện cho dân chúng trong vùng noi theo. Đã có thời kì trong hàng trăm năm, chùa là trường học, là nơi truyền bá cái thiện, truyền bá văn hóa. Ngày nay ở vùng đồng bào Khơ me Nam Bộ, chùa vẫn còn là trường học cho thanh thiếu niên trong vùng, chùa và trường là một đủ cho thấy ý nghĩa văn hóa của ngôi chùa trong lịch sử dân tộc.

Cái đẹp mà người lên chùa còn tìm thấy nữa là ở kiến trúc của ngôi chùa, mỗi chùa được xây dựng có một vẻ đẹp riêng bởi bàn tay khéo léo của những nhà kiến trúc dân tộc tài tình: nhà sư và dân chúng. - Cái đẹp của ngôi chùa còn thể hiện rất rõ ở những pho tượng Phật với nhiều tư thế khác nhau. Vẻ đẹp nhân bản của những pho tượng Phật đã thể hiện tâm hồn của những người đã hi sinh cả cuộc đời cho sự cứu vớt chúng sinh người đã hi sinh cả cuộc đời cho sự cứu vớt chúng sinh ra khởi bể khổ, đã được những nghệ nhân dân gian sáng tạo, dù họ có phải tạo tác theo một công thức nào đó. Người lên ngôi chùa sẽ tìm thấy ở trong hàng chục Pho tượng vẻ đẹp tinh thần tùy theo cảm hứng tư tưởng và nghệ thuật của mỗi người.

Cái đẹp bên trong của ngôi chùa kết hợp với cái đẹp bên ngoài của hình dáng kiến trúc cụ thể, với cảnh quan môi trường xung quanh sẽ được cảm nhận tăng lên ở mỗi người tùy theo sự lĩnh hội, cái hữu thế và cái phi vật chết của văn hóa Việt Nam. Lên chùa lễ Phật để cảm nhận cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ, góp phần nâng tâm hồn nhân văn của con người Việt Nam, chính là giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

 

CHƯƠNG II ^

VÀI NÉT VỀ ĐẠO PHẬT Ở VIỆT NAM VÀ HÀ NỘI

Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước công nguyên. Người sáng lập lại ra đạo Phật là Siddharha (Tất Đạt Đa), họ là Gautama (Cổ Đàm) là con vua Suddhodama, trị vì bộ tộc Sakya ở miền Bắc Ấn Độ. Ông sinh ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch của Trung Hoa và Việt Nam. (Các sách viết về lịch sử Phật Thích Cau Mâu Ni viết đức Phật sinh “ngày trăng tròn”, tháng Vaiskha, tức ngày 30 tháng 2 âm lịch Ấn Độ, tức ngày 15 tháng 4 âm lịch Trung Hoa và Việt Nam. Khi các nhà sư Ấn Độ truyền bá đạo Phật ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch), vào khoảgn năm 563 trước công nguyên và mất khoảng năm 438 trước công nguyên, thọ 80 tuổi.

Xã hội Ấn Độ thời đó theo đạo Bàlamôn (Brahmanisme) và được phân chia thành 4 đẳng cấp:

1. Giới tu sĩ Bàlamôn (Brahmas) là người da trắng, dòng Aryan, chịu trách nhiệm về tôn giáo, là đẳng cấp tối cao của xã hội.

2. Giới vương tướng (Kshatryas) gồm các vương công quý tộc (tướng lĩnh) là những người bảo vệ trật tự, xã hội, công lý.

3. Giới thực nghiệp (Vaishyas) gồm các tiểu chủ công nghiệp và thương nghiệp, có nhiệm vụ quản lý và làm tăng của cải xã hội.

4. Giới lao động (Shudras) gồm những người lao động chân tay ở nông thôn và đô thị, sản xuất ra của cải và lương thực.

Ngoài những người được xếp trong 4 đẳng cấp trên còn một loại nữa là lớp người cùng khổ gọi là Parias.

Thái tử Siddhartha đã nhận thấy nỗi khổ của con người với kiếp sống sinh, lão, bệnh tật; bất bình trước sự phân chia đẳng cấp và kì thị mầu da, nên đã từ bỏ đạo Bàlamôn, đến năm 29 tuổi, sau khi sinh trưởng một con trai tên là Rahula, đã quyết chí bỏ nhà ra đi tu hành tìm con đường giải thoát cho loài người khỏi mọi đau khổ trên đời.

Từ đó Siddaharth được mọi người gọi là Sakya Muni (Thích Ca Mầu Ni), có nghĩa là hiền nhân của dòng họ Sakya. Sakya Muni đã đi tìm nhiều nhà tu hành để hỏi nguyên nhân và cách giải thoát nỗi khổ cho con người nhưng không ai trả lời cho ngài được thỏa mãn. Ngài đã rút 5 người bạn cùng chí hướng đến vùng núi chân dãy Himalaya (núi Tuyết Sơn) để tu theo lối khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một hạt kê, một hạt vừng là uống một ngụm nước trong 6 năm liền, nhưng không thấy kết quả. Nhận thấy lối tu hành đó đã không đạt được kết quả, ngài đã ăn uống cho lại sức và đã đến ngồi dưới một gốc cây pipai để tập trung suy nghĩ trong 49 ngày đêm. Ngài đã tìm ra nguyên nhân nỗi khổ của chúng sinh, quy luật của cuộc sống và cách giải thoát khỏi mọi khổ đau.

Trong suốt 49 năm sau khi đã thành Bụt (bậc Giác Ngộ), ngài đã đi khắp lưu vực sông Hằng để truyền bá tư tưởng của ngài mà ta quen gọi là đạo Phật. Đạo Phật đã nhanh chóng được truyền bá sang khắp châu Á xung quanh Ấn Độ.

Đạo Phật từ Ấn Độ được truyền sang Việt Nam vào buổi đầu công nguyên do các thương gia và tăng sĩ Ấn Độ đến Việt Nam bằng đường biển. Trong thời gian lưu lại Giao Châu (Việt Nam), các thương gia Ấn Độ có các tăng sĩ đi theo, đã đốt trầm, đọc kinh, thờ Phật. Lúc đầu các nhà sư Ấn Độ giảng kinh và làm các nghi lễ cho thương gia Ấn, sau đó họ truyền bá cho nhân dân Giao Châu con đường giải thoát, theo đạo Phật. Trị sở của quận Giao Chi lúc đó là Luy Lâu (còn gọi là Dâu, nay ở Thuận Thành, Hà Bắc) đã sớm trở lại một trung tâm đạo Phật đầu tiên ở nước ta vào cuối thể kỷ thứ 2. Hai nhà sư Ấn Độ là Maha Ksudra (Khâu Đà La) và Mada Jivaka (Kỳ Vực) đã đến vùng Luy Lâu vào khoảng năm 168 - 189. Theo các sách sử thì chính từ Luy Lâu, các nhà sư Ấn Độ đã đi lên phương Bắc và truyền đạo Phật sang Bành Thành (kinh đô của nước Sở ở hạ lưu sông Trường Giang, thuộc tỉnh Giang tô ngày nay) rồi từ đó truyền lên Lạc Dương (kinh đô nhà Đông Hán, trên bờ sông Lạc, phía nam sông Hoàng Hà, thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay). Khi vua Tùy Văn Đế Châu, làm chùa để thờ Phật thì lúc đó nhà sư Đàm Thiên đã nói với vua Tùy: “Giao Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới tới Giang Đông (đất Ngô) chưa đầy đủ gì thì ở Luy Lâu của Giao Châu đã có tới 20 ngôi bảo sát (chùa), độ được hơn 500 vị tăng và dịch được 15 cuốn kinh Phật rồi. Thế là đạo Phật truyền đến Giao Châu trước khi đến Giang Đông”. Mẩu đối thoại này đã được quốc sư Thông Biện thuật lại cho thái hậu Ỷ Lan nghe tại cuộc họp các sư tại nhà chùa Trần Quốc nào năm 1096.

Chính do đạo Phật được truyền vào nước ta từ Ấn Độ trước tiên nên trong ngôn ngữ Việt Nam xuất hiện tiếng Bụt là do phiên âm tiếng Bouddha và nhiều truyện cổ dân gian Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của đạo Phật như chuyện Tấm Cám… Từ Phật để phiên âm Bouddha cũng được dùng là do sau này khi các nhà sư Trung Hoa sang dùng để giảng kinh Phật, phiên âm qua tiếng Hán.

Tại Giao Châu khi đó một người Trung Hoa tên là Mâu Bác, cũng gọi là Mâu tử, sinh vào khoảng 165 - 170, chạy sang lánh nạn, từ chối làm quan với thái thú Sĩ Nhiếp, đã học đạo Phật cùng tiếng Phạn (Sanscrit) với các nhà sư Ấn Độ và tinh thông Phật pháp. Ông đã viét sách Lý Hoặc Luận (bàn luận về cách xử lý những điều mê hoặc, sai lầm) gồm 37 câu hỏi và đáp để giới thiệu về đạo Phật. Sách viết bằng chữ Hán, lời tựa có đoạn viết: “Sau khi Hán Linh Đế mất (189), trong nước (Trung Hoa) rối loạn, chỉ có đất Giao Châu tạm yên, những bậc dị nhân phương bắc đều đến ở đây, nhiều người theo thuật tịch cốc trường sinh của thần tiên. Thời ấy có nhiều bậc học giả đến đây, tôi (Mâu Tử) thường đem Ngũ Kinh ra vấn nạn, nhiều đạo gia và thuật sĩ không làm sao đối đáp được”. Sách cũng cho biết đạo Phật ở Giao Châu được trực tiếp truyền từ Ấn Độ sang chứ không phải từ Trung Hoa sang, các nhà sư Giao Châu khi đó mặc áo cà sa đỏ, học kinh Phật bằng tiếng Phạn, khi giao tiếp không quỳ.

Đạo Phật đã phát triển mạnh ở Ấn Độ từ khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên đến thế kỷ thứ 5 sau công nguyên rồi sau đó lu mờ dần trước sự phát triển của Ấn Độ giáo. Trong quá trình phát triển đạo Phật đã phân chia ra làm 2 phái: phái Tiểu Thừa (Hinayâna) và phái Đại Thừa (Mahayâna). Tiểu Thừa có nghĩa là “cỗ xe nhỏ”, ngụ ý chỉ chở một người. Phái Tiểu Thừa chủ trương tuân theo sát những giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni, giữ nghiêm giác ngộ (Phật hóa) cho bản thân mình. Phái Tiểu Thừa phát triển xuống phía nam như Sry Lan ca, sang Thái Lan, Cămpuchia và Đông Nam Á nên cũng gọi là Nam Tông. Đại Thừa nghĩa là “cỗ xe lớn”, ngụ ý chở được nhiều người. Phái Đại Thừa chủ trương không câu nệ, cố chấp vào giáo lý, rộng rãi trong việc thựchiện giáo luật, thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ, thờ nhiều Phật kể cả các Bồ Tát (Boddhisattva). Phái Đại Thừa phát triển lên phương bắc như Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản… nên còn gọi là Bắc Tông.

Do đạo Phật được truyền vào Việt Nam đầu tiên và trực tiếp từ Ấn Độ nên đạo Phật ở Việt Nam ban đầu là đạo Phật Tiểu Thừa, Nam Tông. Sau này khi các thiền sư Trung Hoa sang truyền đạo Phật ở Việt Nam lại mang mầu sắc Đại Thừa và dần dần sau này xu hướng Đại Thừa là chủ yếu.

Khi đạo Phật được truyền đến Giao Châu thì tín ngưỡng của dân bản địa là đa thần giáo, thần linh ở mọi chỗ: thần Sấm, thần Sét, Mưa, thần Núi, thần Sông (Sơn Tinh, Thủy Tinh) thần cây Đa, thần ông Táo, người chết còn linh hồn tại cùng người sống và che chở cho họ. Khổng giáo và Lão giáo chưa xâm nhập vào Giao Châu mạnh mẽ và sau này khi được phổ biến rộng rãi thì người Giao Châu coi đó là phương tiện của kẻ đi áp bức đô hộ nên đã không được tiếp nhận bởi đông đảo dân chúng. Đạo Phật truyền vào trên mảnh dất Giao Châu không có sự cản trở của Khổng giáo và Lão giáo, lại dung hợp với tín ngưỡng bản địa nên dã được tiếp thu dễ dàng như “nước thầm vào lòng đất”. Thuyết nhân quả, nghiệp báo phù hợp với quan niệm Ông Trời trừng phạt kẻ ác, cứu giúp người hiền lanh. Thuyết luân hồi phù hợp với quan niệm về linh hồn tồn tại ssau khi xác chết đã tan biến… Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã thu nhập nhiều yếu tố từ Phật giáo Ấn Độ, truyện Tấm Cám là một truyện nhân quả nghiệp báo trong đó Bụt (lấy từ chữ Buddha của chữ Phạn) đóng vai Ông Trời, thấy được những bất công trên đời cứu giúp người hiền lành, kiếp luân hồi được thể hiện trong nhiều lần hóa kiếp của cô tấm. Trong dân chúng, đạo Phật chỉ là một tín ngưỡng bình dân.

Quan niệm về Phật (Bụt). Dân Giao Châu coi Phật như một đấng có phép thần thông hiểu biết mọi chuyện trên đời như ông Trời nhưng không ở trên cao nhìn xuống, mà rất gần gũi con người. Bụt có thể hiện ra để cứu giúp những người bị oan ức bất công nhưng khác với ông Trời ở chỗ không trừng trị kẻ tàn ác. Bụt là đấng tối cao không mất đi, có thể biến hiện, không gì có thể làm mất hoặc tan biến được.

Quan niệm về Pháp. Người dân Giao Châu quan niệm về phép Bụt biến hiện thần thông để cứu đời giúp người, dân chúng thường đọc để tỏ lòng quy kính Bụt và cầu mong Bụt che chở. Theo phép Bụt dân chúng đọc tam quy (lúc đầu có thể là tiếng Phạn sau đó là tiếng mẹ đẻ hoặc Hán Việt), cúng đường tăng sĩ, bố thí cho người nghèo cho kẻ đói ăn. Phép Bụt cũng tin ở nghiệp báo luân hồi và linh hồn bất diệt.

Quan niệm về Tăng. Người Giao Châu cho đó trước hết là những SA Môn Ấn Độ, là những tu sĩ khoác áo vàng, đầu cạo trọc từ bỏ đời sống gia đình, của cải, thờ Bụt. Đọc kinh chữ Phạn, sống trên sự cúng dường của những người theo Bụt. Ngoài Tăng Môn người Ấn Độ có Tăng Môn là người đã sinh sống tại Giao Châu, còn người bản địa chưa thấy ghi lại.

Quan niệm về nghiệp báo và luân hồi. Người Giao Châu quan niệm làm thành thì gặp lành, ở ác thì sẽ gặp ác. Tín ngưỡng về linh hồn tồn tại ngoài thể xác sau khi chết và vẫn tồn tại dễ dàng chấp nhận thuyết luân hồi, dẫn người ta đến chỗ lo ăn ở nhân từ hiền lành, thương người và tu tạo phúc đức. Muốn vậy phải từ bi bác ái cứu giúp và tu tạo phúc đức. Muốn vậy phải từ bi bác ái cứu giúp người ốm đau hoạn nạn, bố thí kẻ nghèo nàn, cho cơm ăn, nước uống, không trả thù người khác. Người dân phải làm công đức, dâng thức ăn cho Tăng Môn, cho on người đói ăn. Kinh Tứ Thập Nhị Chương có nói đến việc bố thí: “Cho một trăm người ác ăn cơm, có công đức, nhưng công đức ấy không nhiều bằng cho một người hiền ăn cơm”.

Đạo Phật đã thâm nhập vào đời sống của dân Giao Châu một cách tự nhiên không gặp phản ứng và trở ngại vì những giáo lý của Phật giáo không chống đối lại tín ngưỡng bản địa mà lại hòa nhập cùng những tín ngưỡng đó. Nay đối với Khổng giáo và Lão giáo do những người Hán cai trị và tị nạn chiến tranh phương bắc truyền sang thì Phật giáo cũng tìm cách hòa đồng mà không chống đối. Chính sách “Lý Hoặc Luận” của Mâu tử đã sử dụng kho tàng giáo lý của Khổng, Lão để phiên dịch kinh Phật và truyền đạt Phật giáo làm cho nhiều người theo Khổng, Lão thấy được chiều sâu và giá trị của đạo Phật một cách dễ dàng. Mâu Tử đã trả lời: “Ngũ Kinh ngày xưa đối với tôi chỉ là hoa mà chưa là trái…”, “Không chắc là đất Hán nằm giữa. Tôi kính trọng đạo Phật và tôi học Phật, không phải vì vậy mà tôi bỏ Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng. Vàng ngọc không gây tì vết cho nhau, bích ngọc và mã não để chung không sao cả. Khi ông cho người khác là lầm lạc có nghĩa là chính ông đã lầm lạc không?…”, “Xe và thuyến không đi cùng một lối, nhưng đều đưa người tới chốn”.

*

* *

Để thành Phật (bậc Giác Ngộ) các Phật tử về sau lại có nhiều biện pháp để đạt tới (tu hành). Đạo Phật bao gồm 3 tông phái là Thiền Tông, Mật Tông và Tịnh Độ Tông. Đạo Phật khi vào Việt Nam cũng bao gồm 3 tông phái là Thiền Tông, Mật Tông, và Tịnh Độ Tong.

THIỀN TÔNG

Thiền (rút gọn của từ Thiền Na là phiên âm của tiếng Phạn Dhyna) có nghĩa là tĩnh tâm, tập trung trí tuệ để suy nghĩ (thiền) tự mình tìm ra chân lý để trở thành Phật. Tu theo Thiền Tông đòi hỏi khả năng trí tuệ, công phu tĩnh tâm suy nghĩ nên chỉ thích hợp với tầng lớp thượng lưu có học.

Nhà sư Khương Tăng Hội (gốc người Sogdiane vùng Trung Á) sinh ở đất Giao Chỉ là người khởi thủy Thiền Tông tại nước ta trước tiên từ nửa sau thế kỷ thứ 3. Theo Khương Tăng Hội, Thiền học không chỉ là những phương pháp hành đạo mà còn là một căn bản triết học về tâm học. Khương Tăng Hội viết: “Tâm là không có hình, không có tiếng, không có trước, không có sau, thâm diệu, vi tế, không có tóc tơ, hình thức…” Thiên là phương pháp để chính tâm, nhật ý, tập trung điều thiện duy trì trong tâm, ý thức những ý niệm nhơ bẩn để thử diệt. Thiền có 4 trình tự:

- Nhất thiền là khử bỏ tham ái, ngũ yêu là sự (như sắc, thanh, hương vị, xúc) diệt trừ 5 sự ngăn che là tham dục, giận dữ, mê ngủ, dâm lạc, hối hận, nghi ngờ.

- Nhì thiền là đã thoát li oán thù, tiến tới diệt trừ quan niệm thiện ác chống nhau, ý niệm vui sợ đều bị triệt, mười điều ác tuyệt dứt, không còn gì xâm nhập tới tâm.

- Tam thiền là giữ gìn tâm một cách kiên cố, cả thiện và ác không thâm nhập được.

- Tứ thiền là cả thiện và ác đều bỏ, tâm yên và sáng như ngọc.

Đạt được tứ thiền thì muốn là gì cũng được.

Khương Tăng Hội cũng chính là người đã truyền Thiền học sinh đất Đông Ngô (Trung Hoa). Khi các nhà sư Vinitaruci, Vô Ngô Thông… đến Việt Nam vào thế kỷ thứ VI, IX thì các chùa ở Việt Nam đã là những Thiền viện rồi. Tiếc rằng những sách sử Phật học không còn ghi chép sự phát triển của Thiền học trong các thế kỷ thứ 4 và 6, vì vậy khi nói tới Thiền Tông Việt Nam là người ta chỉ thấy ghi chép các Thiền phái là Thiền phái Vinitaruci, Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền phái Thảo Đường, Thiền phái Trúc Lâm, Thiền phái Lâm Tế, Tào Động, Liên Tông.

1. Thiền phái Vinitaruci. Vinitaruci (Tì ni đa lưu chi) là người Ấn Độ qua Trung Hoa truyền bá đạo Phật rồi đến chùa Pháp Vân ở làng Cổ Châu, Long Biên vào năm 580 và mấy năm 594. Khi ông đến chùa Pháp Vân thì ở đó có Thiền sư Quán Duyên đang dạy Thiền học cho Phật tử. Thiền phái Vinitaruci gồm 19 thế hệ, thiền sư Y Sơn thuộc thế hệ 19, mất năm 1213.

2.  Thiền phái Vô Ngôn Thông. Năm 820 nhà sư Trung Hoa Vô Ngô Thông từ Quảng Châu qua Việt Nam tu ở chùa Kiến Sơ, làng Phủ Đổng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh (nay là Gia Lâm, Hà Nội). Kiến Sơ là một chùa mới được thành lập đã có một vị tăng là Lập Đức trụ trì. Vô Ngôn Thông mất vào năm 826. Thiền phái Vô Ngô Thông gồm 17 thế hệ đến thế kỷ XIII. Thiền phái Vô Ngô Thông chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa sâu đậm hơn trong việc trình bầy lịch sử Thiền, trong tổ chức tự viện, trong sử dụng thoại đầu và ở chỗ ảnh hưởng Tịnh Độ giáo. Các thiền sư trong Thiền phái này thay vì chỉ dùng các kinh Bát Nhã, đã sử dụng rất nhiều các kinh Viên giác, Pháp Hoa, nhấn mạnh đến chủ trương Đốn ngộ và Vô Đắc vốn rất gần gũi với Thiền phái phương nam của Trung Hoa, nhưng Thiền phái này cũng rất gần gũi với đời sống xã hội, tham dự vào đời sống nhập thế trong khi vẫn duy trì sinh hoạt tâm linh độc lập.

Thiền phái Vô Ngô Thông nhấn mạnh thuyết đốn ngộ, chủ trương con người có thể trong giây lát đạt được giác ngộ, khỏi cần đi qua nhiều giai đoạn tiệm tiến. Thiền phái Vô Ngôn Thông nhấn mạnh nguyên tắc vô đắc, có nghĩa là sự giác ngộ không thể do một ai khác trao truyền cho mình mà phải tự thực hiện lấy. Phương pháp “thoại đầu” được sử dụng giữa thế kỷ IX, là một câu nói hay một mẩu đối thoại có tác dụng thúc dẩy hay phát khởi sự đạt ngộ nơi tâm tư người thiền. Thiền phái Vô Ngô Thông cũng chịu ảnh hưởng của Mật giáo, được kế truyền với các thiền sư Không Lộ (Minh Không), Giác Hải và Nguyện Học.

3. Thiền phái thảo Đường. Năm 1069 vua Lý Thánh Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành có bắt được một nhà sư Trung Hoa sang đó truyền đạo Phật là Thảo Đường. Khâm phục sức học và đạo đức của Thảo Đường, vùa đã phong làm quốc sư. Thảo đường trụ trì tại chùa Khai Quốc (Trấn Quốc ngày nay) ở kinh thành Thăng Long. Thiền phái Thảo Dương có khuynh hướng tri thức và văn học, dung hợp Phật giáo và Nho Giáo. Khuynh hướng này cũng đã ảnh hưởng đến các thiền phái Vinitaruci và Vô Ngô Thông và thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Thiền phái Thảo Đường gồm có 19 người trong 6 thế hệ, có tới 9 người là cư sĩ gồm vua và quan như Lý Thành Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông.

Dưới thời Đinh, Lê, Lý, Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của dân tộc. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng phong thiền sư Ngô Chân Lưu làm Tăng thống. Các thiền sư tham gia cố vấn chính trị cho các vua được gọi là quốc sư. Vạn Hạnh, Khô Đầu, Thông Biện, Viên Chiếu là những tăng sĩ được ban danh hiệu quốc sư. Năm 1010 khi Lý Thái Tổ lên ngôi đã chọn những người xuất sắc cho đi xuất gia. Năm 1016 ở kinh đô Thăng Long có tới 1000 người đã được tuyển chọn để xuất gia làm tăng sĩ và đạo sĩ. Cuối đời Lý số tăng sĩ quá nhiều, những tệ lậu đã nẩy sinh, vua Lý Cao Tông đã cho khảo hạch các tăng quan và sa thải bớt. Dưới thời Lý, vua đã sàin sang Trung Hoa lấy kinh Tam Tạng nhiều lần và cho xây dựng các nhà tàng kinh như Bát Giác, Đại Hưng, Trùng Hưng, chép và khắc lại kinh.

Các nhà sư thiền phái Vinitaruci như Lá Quý An, Pháp Thuận, Vạn Hạnh còn sử dụng sấm vĩ học và phong thủy học để củng cố ý thức độc lập ổn định tình hình triều đình phong kiến tự chủ những khi có tranh chấp lộn xộn. Sấm truyền đã có tác động ổn định nhân tâm nhanh chóng. Khi Lê Ngọa Triều tàn ác bị mọi người ghét bỏ thì thấy xuất hiện chuyện một con chó trắng trên lưng có hai chữ thiên tử bằng lông đen, để nói lên vào năm Tuất (chó) sẽ xuất hiện một người tuổi Tuất lên làm thiên tử (Lý Công Uẩn). Chuyện sét đánh chết cây gạo thành một bài thơ có những câu như sau:

Chữ Hán:

Thụ căn điều điểu

Mộc biểu thanh thanh

Hòa đao mộc lạc

Thập bát tử thành

Đông a nhập địa

Dị mộc tái sinh

Chấn cung kiến nhật

Đoài cugn ấn tinh

Lục thất niên gian

Thiên hạ thái bình.

Dịch nghĩa:

Gốc cây thăm thẳm

Ngọn cây xanh xanh

Cây hoa đào rụng

Mười tám hạt thành

Cành Đông xuống đất

Cây khác lại sinh

Đông mặt trời mọc

Tại sao ẩn hình

Sáu bảy năm nữa

Thiên hạ thái bình.

Sách Đại Việt sử kí toàn thư viết: “Nhà sư Vạn Hạnh tự đoán riêng rằng: Trong câu “Thụ căn điểu điểu”, chữ căn là gôc, gốc tức là vua, chữ điểu đồng âm với chữ yểu, có nghĩa là nhà vua chết yểu (Lê Ngọa Triều sẽ chết sớm). Trong câu “Mộc biểu thanh thanh”, chữ biểu là ngọn, ngọn là bầy tôi, chữ thanh là xanh đồng âm với chữ thanh là thịnh, nghĩa là một trong số quân thần sẽ lên nắm chính quyền. Ba chữ hòa, đao, mộc viết lại thành chữ Lê, lạc là rớt, tức là nhà Lê sẽ đổ. Ba chữ “Đông a nhập địa” thì chữ đông và chữ a gộp lại thành chữ Trần (nhà Trần sẽ nối tiếp nhà Lý. “Nhập địa” để chỉ người phương bắc sẽ vào cướp (nhà Minh sang cướp nước). Trong câu “Dị mộc tái sinh” để chỉ một cây khác lại nổi lên (chỉ nhà Hậu Lê)… Mấy câu sau ý nói vua thì thứ nhân ở phương Tây lặn mất trong vòng sáu bảy năm nữa, nhà Lê hiện ra thì nhà Lý sẽ mất.

4. Thiền Phái Trúc Lâm

Đến đầu thế kỷ XIII, 3 thiền phái Vinitaruci, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dân hòa nhập thành một. Do ảnh hưởng lớn của Trần Thái Tông Tuệ Trung thượng sĩ sự sáp nhập của 3 Thiền phái đã đưa tới sự phát triển của Thiền phái Yên Tử thành Thiền phái Trúc Lâm tức là Thiền phái duy nhất đời Trần. Thiền phái này với người mở đầu là Thiền sư Huyền Quang, xuất phát từ núi Yên Tử. Tổ thứ 2 là Thiền sư Viên Chứng hiệu là Trúc Lâm, được phong quốc sư, là thầy của vua Trần Thái Tông. Thiền phái Trúc Lâm gồm 23 thế hệ. Vua Trần Thái Tông và Thánh Tông, cư sĩ thuộc thế hệ thứ 3, 4. Vua Trần Nhân Tông xuất gia, lấy hiệu là Trúc Lâm Thiền sư thuộc thế hệ thứ 6.

Năm 1236 vua Trần Thái Tông bỏ ngôi vua lên núi Yên tửu định đi tu, Viên Chứng là đệ tử của Huyền Quang đã nói với vua: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không phải đi tìm được cực nhọc bên ngoài”. (Tựa “Thiên Tông Chỉ Nam”). Thiện sư cũng khuyên vua trở về trị dân: “Đã làm vua thì không còn có thể làm theo ý thích của mình được nữa. Phải lấy ý muốn của dân làm ý thích của mình được nữa. Phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình. Phải lấy lòng dân làm lòng của mình. Nay dân đã muốn vua về thì vua không làm sao được”?

Trần Thủ Độ đem các quan lên núi  Yên Tử đón vua về, đã nài nỉ nhiều lần, vua vẫn không nghe liền nói: “Vua ở đâu thì lập triều đình ở đó”. Và: “Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì được, nhưng còn sơn hà xã tắc thì sao. Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng láy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thên hạ”.

Trần Thái Tông đã viết: “Trẫm cùng mọi người trong triều trở về kinh, miễn cưỡng lên ngôi báu. Ròng rã trong mười năm trời mỗi khi việc nước nhàn rỗi, trẫm lại tụ họp các bậc kì đức để học hỏi đạo thiền. Các kinh điển của hệ thống giáo lý chính, không kinh nào là trẫm không nghiên cứu”. Trong bài tựa kinh “Kinh Cương Tam Muội”, Trần Thái Tông viết: “Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc quên cả sớm chiều. Công việc thì có hàng vạn thứ mà thời gian nhàn rỗi không có được bao nhiêu. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, trẫm cố học hành thêm. Chữ nghĩa thì chưa biết được bao lăm cho nên ban đêm đến giờ khuya vẫn còn phải thức để đọc sách, học sách Nho rồi học kinh Phật”.

Trần Thái Tông sau khi ở núi Yên Tử về được 2, 3 năm đã lập Viện Tả Nhai để làm nơi học tập đạo Phật và mời các bậc kì đức đến đàm đạo về thiên học. Các thiền sư đó là: những người đang giảng dạy Phật giáo tại kinh đô Thăng Long: Tức Lự, Ứng Thuận, Đại Đăng; Thiên Phong và Đức Thành là 2 thiền sư từ Trung Hoa sang cũng có đến đàm đạo với vua.

Trần Thái Tông đã viết các sách: Thiền Tông Chỉ Nam, Kinh Cương Tam Muội Kinh chú giải, Lục Thì Sám Hối Khoa Nghi, Bình Đẳng Lễ Sám Văn, Khóa Hư Lục, Thi tập. Những sáng tác đó đã thể hiện nhu yếu của một tâm hồn muốn luôn luôn tự đánh thức mình trong cuộc đời, muốn thực hiện một cái gì có giá trị vĩnh cửu cho con người, đó là sự ngộ đạo. Vua không phải là một người tầm thường chỉ muốn hưởng thụ những lạc thú cuộc đời, muốn vươn tới và tự nhủ đừng đánh mất mình trong ham thú hình sắc, thanh âm, hương vị, cảm xúc.

Thái Tông ở ngôi vua 32 năm, sau đó nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, lên làm Thái thượng hoàng, lui về ngự ở cung Thiền Trường.

Một ông vua đời Trần đã xuất giai là Trần Nhân Tông, Trần Nhân Tông tên tục là Trần Khâm, là con của Trần Thánh Tông, sinh năm 1258, lên ngôi vua năm 20 tuổi, ở ngôi 14 năm, làm Thái thượng hoàng 5 năm, đến năm 41 tuổi (1299) xuất gia; mất năm 1308, lúc 51 tuổi. Năm 1299 Trần Nhân Tông cho xây một thiền am trên núi Yên Tử gọi là Ngự Dược Am vào tháng 7, đến tháng 8 thì xuất gia, đặt pháp hiệu là Trúc Lâm. Từ đó trở đi Thiền phái Yên Tử trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và dân gian. Một ông vua đã đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên đem lại hòa bình cho đất nước, khi xuất gia đã làm cho cả nước hướng về Yên Tử. Đạo Phật trở thành yếu tố tâm lý liên kết toàn dân trong mục đích xây dựng vào bảo vệ đất nước, có vai trò lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân.

Trúc Lâm đã góp phần tích cực cho việc xây dựng một xã hội trên nền tảng luân lý Phật giáo, lấy giáo lý Thập thiện làm cơ bản cho đạo đức xã hội. Cuối năm 1304 vua Trần Anh Tông mời vua cha về cung và xin làm Bồ Tát tâm giới tại gia, Nhiều quan lại trong triều thấy vua Anh Tông xin thụ giới tại gia cũng đã phát nguyện xin theo và trở thành phật tử, Truyền thống Phật giáo Yên Tử đến đời của Trúc Lâm đã mang nặng tính xã hội và nhập thế và được gọi là Phật giáo Trúc Lâm, một thiền phái liên hệ mật thiết với chính trị và phong hóa xã hội. Tháng 3 năm 1301 Trúc Lâm đi Chiêm thành để quan sát Phật giáo tại đây, đã đàm đạo với vua Chiêm Thành là Chế Mân củng cố tình hữu nghị và hòa bình giữa hai nước. Trong cuộc viếng thăm này vua, “Trúc Lâm thiền sư” đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm. Vua Chiêm dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ vào năm 1305 (4 năm sau). Đến năm 1307 hai châu này được đổi thành Thuận và châu Hóa.

Năm 1308 Trúc Lâm mất, thiền sư Pháp Hoa nối pháp, trụ tì ở chùa Siêu Loại. Trúc Lâm đã để lại những sách: Thièn Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu Lục, Thạch Nhất Mị Ngữ, Đại Hương Hải Ấn Thi Tập và Tăng Già Toái Sự.

Thiền phái Trúc Lâm phát triển nhanh chóng. Năm 1313 Pháp Loa trụ trì tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, quy định chức vụ tăng sĩ, làm sổ tăng tịch kiểm tra tự viện. Pháp Loa thấy số lượng tăng sĩ quá đông nên quyết định 3 năm mới có một lần độ tăng, số người bịi thải ra có đến hàng ngàn người. NGăm 1239 số tăng sĩ xuất gia trong giáo hội của Trúc Lâm đã đến trên 15.000 người, Số tự viện là trên 100 ngôi. Tính đến năm 1329 Pháp Loa đã xây 5 cây bảo tháp, hai cơ sở hành đạo Quỳnh Lâm và Báo Ân với trên 200 tăng đường, đúc tới 1300 tượng Phật lớnn nhỏ bằng đồng. Vua Trần Anh Tông nhân ngày lên làm Thái thượng hoàng đã cho đúc 3 tượng đồng Phật Di Đà, Thích Ca và Di Lặc, mỗi tượng cao 17 thước ta, Vua Anh Tông cũng đã cúng (năm 1308) 100 mẫu ruộng của riêng, năm 1313 cúng 5 vạn quan tiền để bố thí, sau đó cúng 500 mẫu ruộng, bảo vật thờ tự, vật liệu xây dựng vào chùa Bảo Ân. Các vương công quý tộc trong triều đình cũng đua nhau cúng hiến tiền và ruộng. Chùa Quỳnh Lâm có tới 1000 mẫu ruộng và 1000 tá điền.

Nối tiếp Pháp Loa là Huyền Quang. Ông sinh năm 1254, nhiều hơn Pháp Loa tới 30 tuổi. Ông đã đi thi hương, thi hội, làm quan trong triều khoảng 20 năm rồi xuất gia, trụ trì tại chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Sách “Tổ Gia Thực Lực” có ghi lại chuyện hàm oan của ông với một cung nữ là Điểm Bích.

Sau Huyền Quang, Thiền phái Trúc Lâm không còn hưng thịnh nữa. Huyền Quang ở trên núi Côn Sơn, ít giao du liên lạc với quan trong triều. Do quá dựa vào triều đình không biết tìm thế đứng trong dân gian, khi sự ủng hộ của triều đình không còn, do sự phát triển  của Nho giáo đang lấn tới nên Phật giáo tất sẽ suy. Phật giáo đời Trần hưng thịnh đến cực độ, đã liên kết nhân tâm trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Tinh thần từ bi và khoan dung của đạo Phật trong lúc đất nước bị ngoại xâm đã dẫn đến sự đoàn kết nhất trí, nêu cao ý thức độc lập quyết đánh tại Hội nghị Diên Hồng. Phật học trong đời Trần đã phát triển mạnh mẽ ở triều đình và giới trí thức trẻ ở kinh đô Thăng Long, việc họcp Phật Trúc Lâm là một nền phật giáo độc lập, là xương sống của nền văn hóa quốc gia phục vụ cho người Việt Nam, chính vì vậy nên khi nhà Minh sang xâm chiếm đã tìm cách thu hết các sách vở đem về Kim Lăng và năm 1419, chúng đã chở các sách của chúng sang thay thế.

Theo các sách còn lại, đời Trần có khoảng 30.000 tăng sĩ, 15 quốc tự, chùa do vương hầu và người giàu có tạo dựng là 330 chùa, chùa do quần chúng tạo dựng là 9.000 chùa, tổng số vào khoảng 9.500.

* Do sự phát triển mạnh mẽ của đạo Phật dưới thời Lý - Trần, nền văn hóa Phật giáo đã tạo nên 4 công trình nghệ thuật lớn mà các sách thường nói tới là An Nam tứ đại khí.

1. Tượng Phật chùa Quành Lâm. Chùa Quỳnh Lâm được xây dựng vào khoảng thế kỷ II ở Đông Triều (Quảng Ninh), có pho tượng Di Lặc bằng đồng cao 6 trượng (1 trượng vào khoảng 4 mét, cao gần 24m) được đặt trong một Phật điện cao 7 trượng. Đứng cách xa 10 dặm vẫn còn trông thấy nóc điện.

2. Tháp Báo Thiện, Tháp Báo Thiên do vua Lý Thánh Tông cho xây vào năm 1057 trong khuôn viên chùa  Sùng Khánh ở phía tây Hồ Lục Thủy (Hồ Gươm ngày nay). Tháp gồm 12 tầng cao 20 trượng, xây bằng gạch và đá, riêng tầng thứ 12 đúc bằng đồng. Năm 1914 quân Minh xâm chiếm nước ta đã cho phá tháp đồng để đúc súng. Đến khi Pháp xâm chiếm Hà Nội đã cho xây nhà thờ trên nền tháp cũ.

3. Chuông Quy Điền. Năm 1011 vua Lý Nhân Tông sau khi cho xây dựng chùa Diên Hựu, Một Cột đã cho xuất hàng vạn cân (ta) đồng để đúc chuông treo trong một tháp chuông cao 8 trượng. Nhưng khi đúc xong, chuông to và nặng quá (tương truyền chuông cao 3 trượng (12m), đường kính 1,5 trượng (6m) nên không treo lên được đành để ằm ở ngoài ruộng, là tổ cho loài rùa đến ở nên gọi là chuông Quy Điền.

4. Vạc Phổ Minh. Được đúc vào thời Trần Nhân Tông (1279 - 1293( và đặt tại chùa Phổ Minh, làng Tức Mạc, Nam hà, (quê hương vua Trần). Tương truyền vạc sâu 4 thước ta (1,6m), rộng 10 thước (4m) nặng trên 7 tấn. Vạc to có thể nấu được cả một con bò mộng. Trẻ con có thể chạy nô đùa rên thành miệng vạc. Đến nay vẫn còn trụ đã kê chân vạc trước sân chùa Phổ Minh.

Tất cả các thành tựu khoa học kỹ thuật đó đều dã bị quân Minh sang xâm chiếm nước ta phá theo lệnh của vua Minh Thành Tổ năm 1406 và 1407.

Dưới đời Trần, đạo Phật không còn được độc tôn như các thời trước, Nho giáo đã phát triển, bên cạnh các kì thi Tam giáo (Phật, Lão, Nho) đã có tổ chức các kì thi Nho học riêng đào tạo tầng lớp trí thức Nho học, một số đã công kích đạo Phật như Lê Bá Quát, Trương Hán Siêu.

Lê Bá Quát viết trong bia chùa Thiện Phúc ở Bắc Giang phê phán việc tôn sùng đạo Phật quá mức trong triều đình và dân chúng.

“Đạo Phật lấy phúc, họa cảm động người ta mà sao được lòng người sâu xa bền chặt đến thế? Trên từ vương công dưới đến dân thường, hễ đối với đạo Phật dâng hết của cũng không tiếc. Nếu được ủy thức trông coi làm chùa thì hớn hở như đã nắm chắc tả khoán để được báo lại ngày mai. Cho nên từ trong kinh thành đến ngoài châu phủ, thôn cùng ngõ hẽm, không có lệnh mà theo, không phải thề mà tin, chỗ nào có người ở là có chùa, rồi lại dựng, nát rồi lại sửa, chuông trống lâu đài so với nhà dân đã chiếm phần nửa, xây dựng rất dễ mà tôn sùng cũng rất rộng…”.

Trương Hán Siêu cũng viết văn bia chùa Khai Nghiêm, Bắc Giang: “Chùa đã đổ lại đựng, đó không phải là ý của ta, bia dựng và khắc thì việc gì ta nói. Hiện nay thánh triều đem giáo hóa nhà vua như cơn gió thổi lên để chấn chỉnh phong tục đồi bại, thì dị đoan cần bỏ chính đạo nên theo. Phàm kẻ sĩ phu không phải đạo Nghiêu Thuần không nên tâu ở trước vua. Không phải đạo Khổng mạnh không nên chép thành sách, thế mà nhiều kẻ không làm thế, cứ chăm chăm lầm rầm niệm Phật thì hòng nói dối ai?”

Dưới thời Lê, không còn các kì thi Tam giáo nữa, Nho giáo đã trở thành quốc giao. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tìm thấy ý thức hệ để củng cố chế độ phong kiến là Nho giáo. Năm 1429, vua Lê đã bắt các tăng sĩ và đạo sĩ phải đến dự khảo thi, ai thi hỏng bắt hoàn tục. Vì khảo hạch này theo lối từ chương của Nho giáo làm cho chỉ có những người hay chữ mới được gọi là tuâhnfh chân chính còn dù những người mộ đạo và tâm thành nếu không diễn đạt được đức tin và kiến thứuc của mình bằng văn chương cũng bị hoàn tục.

Nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã công kích các kì thi tam giáo đời Trần.

Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư đã phê phán: “Đạo chỉ là một, nogài đạo tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, không còn có gì gọi là đạo nữa… Do thế người đời mê tín, uống thuốc ăn quả để cầu thành tiên, ăn chay tụng kinh để hòng thành Phật nhưng hỏi đến tôn chỉ của Tiên, Phật đều không biết gì. Chính như lời Cổ Hoan đã nói, tín đồ Phật giáo là sa môn đánh dấu thuyền, tín đồ Lão giáo là đạo sĩ ôm gốc cây (ý nói cố chấp) có gì là thông mà đáng thi, (thi Tam giao đời Trần) mà là cũng cho đỡ giáp khoa với ất khoa?”.

Vào thế kỷ 15 chỉ có nhà nho Lương Thế Vinh, đậu trạng nguyên năm 1463, đã viết “Thiền Môn Khoa Giáo” và đề tựa “Nam Tông Tự Pháp Đồ”.

5. Thiền phái Lâm Tế, Tào Động, Liên Tông

Vào khoảng giữa thế kỷ XVII, một số cao tăng từ Trung Hoa sang Đại Việt hành đạo. Sau gần một thế kỷ rưỡi loạn lạc đầy bạo động, lòng tin vào Tống Nho đã lung lay, bất lực và suy thoái. Các chúa Trịnh và Nguyễn tuy không hành đạo, chỉ là tín đồ Phật giáo nhưng đã tìm thấy ở Phật giáo chỗ dựa tinh thần là một nguyên nhân dẫn đến sự phục hưng Phật giáo. Thiền phái Lầm Tế từ Trung Hoa được truyền sang, ở Đàng Ngoài do các thiền sư Chuyết Chuyết Minh Hành, ở Đàng Trong do thiền sư Nguyễn Thiều Minh Hoằng. Đồng thời thiền phái Tào Động cũng được truyền sang Đại Việt lần đầu, ở Đàng Ngoài do thiền sư Thủy Nguyệt sang du học đem về, Đàng Trong do các thiền sư Hưng Liên và Thạch Liêm đưa tới.

Chuyết Chuyết sinh năm 1590 tại Phúc Kiến. Năm 1630 ông đi thuyền qua Miên rồi qua Chiêm Thành và đến Đại Việt. Năm 1633 đến Thăng Long, giảng dạy Phật pháp ở chùa Khán Sơn, sau đó dời về chùa Phật Tích. Chúa Trịnh Tráng và vua Lê Huyền Tông rất kính trọng. Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên xuất gia tại chùa Phật Tích. Chúa Trịnh Tráng cho trùng tu chùa Ninh Phúc ở Bút Pháp. Chuyết Chuyết sang trụ trì ở đó mà mất năm 1644, thọ 55 tuổi. Chuyết Chuyết thuộc về thế hệ thứ 34 dòng Lâm Tế. Khi Chuyết Chuyết mất thì Minh Hành trở thành viện chủ chùa Ninh Phúc. Ông mất năm 1659, được dựng tháp ở chùa để thờ.

Vào thế kỷ XVII Thiền phái Tào Động được truyền vào Đại Việt cả ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Thiền sư Thủy Nguyệt quê ở Hưng Nhân, Thái Bình đã sang học tại Hồ Châu 3 năm, sau khi về nước đã trụ trì ở Đông Triều, Hải Dương. Thiền Phái Tào Động được tịnh hành cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVII, các chùa Hàm Long, Hòe Nhai và Trấn Quốc đều thuộc Thiền phái Tào Đọng.

Thiền phái Liên do Lân Giác thượng sĩ sáng lập. Ông tên là Trịnh Thập là con của Trịnh Bình em ruột chúa Trịnh Cương, được lập phủ đệ ở phường Hồng Mai (nay là Bạch Mai), sau đó biến thành chùa để tham Thiền và đọc kinh Phật, đặt tên là chùa Liên Hoa. Lân Giác thượng sĩ đã đến Yên Tử học đạo với nhà sư Tuệ Đăng. Ông là tổ thứ nhất của dòng Liên Tông. Chùa Liên Tông đến đời Thiện Trị đổi tên là chùa Liên Phái (vì phải kiêng húy vua). Thiền sư Phúc Điền, thuộc thế hệ sau đã trụ trì ở chùa Liên Tông (Liên Phái, Bạch Mai) đã biên soạn sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục, được khắc và in vào năm 1859.

MẬT TÔNG

Mật Tông là giai đoạn phát triển thứ 3 của Phật giáo Đại Thừa ở Ấn Độ. Giai đoạn thứ nhất là Bát Nhã, giai đoạn thứ 2 là Duy Thức. Mật Tông bắt nguồn từ tư tưởng của Bát Nhã và tín ngưỡng dân gian Ấn Độ. Mật Tông chấp nhận sự có mặt của các thần linh được thờ cúng trong dân gian, do đó đạo Phật được phát triển sâu rộng trong sinh hoạt quần chúng. Ở Việt Nam khuynh hướng này rất phù hợp với phong tục tín ngưỡng của người Việt nên Mật Tông trở thành một yếu tố khá quan trọng trong sinh hoạt thiền môn. Theo Mật Tông, trong vũ trụ có tàng ẩn những thế lực siêu nhiên, nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên kia thì ta có thể đi nhanh trên con đường giác ngộ thành đạo khỏi phải đi tuần tự từng bước. Sự sử dụng thế lực thần linh thần chú, ấn quyết… có thể hỗ trợ cho thiền quán hành đạo. Chính vì khuynh hướng này của Mật Tông nên Phật giáo đã bao trùm mọi tín ngưỡng dân gian trong lòng nó ở Ấn Độ cũng như ở Việt Nam. Các thiền sư Vạn Hạnh, Thiền Nham, Đạo Hạnh đều thể hiện những yếu tố này.

Vào năm 1963, phát hiện ở Trường Yên, kinh đô Hoa Lư có một bia trụ đá tám mặt khắc bài kệ của kinh Tổng Trì của Mật Tông do vua Đinh Liễn tạo dựng, điều đó cho ta thấy Mật Tông được phổ biến dưới triều Đình và Tiền Lê. Một nhà sư Mật Tông là Mahamaya người gốc Chiêm Thành giỏi cả tiếng Phạn lẫn tiếng Hán, làm quan dưới thời Lê Đại Hành, đã thoát ra khỏi ngục khi bị vua giam, khuyên dân chúng Thanh Hóa không nên giết hại súc vật để thờ cúng. Sách Đại Việt sử kí toàn như có ghi chép một nhà sư Mật Tông Tây Tạng tên là Du Chi Bà Lam đến Việt Nam vào thời Trần Nhân Tông: “Ông dung mạo đen sạm, tự nói là 300 tuổi, có thể xếp bằng nổi trên mặt nước, lại có thể thu cả ngũ tạng lên trên ngực, làm cho bụng lép đi như không có gì…” Đồi Trần Minh Tông cũng có một nhà sư từ Ấn Độ sang, cũng có thể nổi trên mặt nước.

Yếu tố Mật giáo trong đạo Phật ở Việt Nam trong buổi đầu thời kì độc lập tự chủ cũng đã dựng nên chuyện thiền sư Minh Không sang Trung Hoa xin đồng, vác hết cả kho đồng trong một tay nải mang về nước.

Ông tự là Không Lộ, họ Nguyễn, tên là Chí Thành sau khi đi Tây Trúc học kinh, đã về quê dựng chùa Diên Phúc, muốn đúc tượng Phật nhưng không đủ đồng nên đã đi sang Trung Hoa để xin vua cho đồng. Minh Không mặc áo cà sa, chống tích trượng vào triều, ngỏ ý xin đồng. Vua Trung Hoa thấy Minh Không đi một mình, đường về Đại Việt xa xôi ngàn dặm, bèn nói là cho Minh không tùy ý lấy bao nhiêu thì lấy.

Không ngờ Minh Không với một chiếc tay nải trên vai đã lấy hết đồng trong kho của vua. Vua tiếc mà không làm sao lấy lại được vì đã chót nói lấy bao nhiêu tùy ý rồi. Mang đồng về đúc xong đỉnh tháp Báo Thiên (Hà Nội), chuông chùa Diên Phúc (huyện Giao Thủy) nơi Minh Không trụ trì, vạc Phổ Minh và tượng Phật. Minh Không đọc bài kệ:

“Nổi trên mặt đại cương

Cánh tay nặng ngàn cân

Kho đồng trong một túi

Giây phút vượt ngàn trùng”.

Sau đó vua Lý Nhân Tông đã phong Minh Không là quốc sư. Đến khi vua Lý Thần Tông bị bệnh, mọc long đầy người và rống lên như mãnh hổ, triều đình đã sai sứ đến chùa Diên Phúc đón Minh Không về kinh chữa. Minh Không nói đã biết trước chuyện đó cách đây 30 năm, lấy một nồi cơm nhỏ nấu cơm thết đãi sứ và quân lýnh, nhiều người ăn mà vânhững không hết. Đến khi xuống thuyền lên kinh đô thì thiền sư đã làm phép cho thuyền đi nhanh như tên bắn, mọi người thức dậy thì đã nhìn thấy tháp Báo Thiên. Vào đến triều đình thấy vua đang lồng lộn gầm thét, Minh Không nói to thì vua sợ, không dám lồng lộn nữa. Minh Không sai nấu một chảo dầu sôi, bỏ vào đấy 100 cây đinh sắt rồi lấy tay khoắng đầu, với đinh ra và ném lên người vua. Tự khắc lông lá trên người vua rụng hết và khỏi bệnh!

Minh Không sinh năm Bính Thìn, ngày 14 tháng 6 năm Giáp Tuất, được tạc tượng thờ trong chùa Lý Quốc Sư huyện Thọ Xương (nay ở phố Lý Quốc Sư).

Câu chuyện nhà sư Đạo Hạnh (để báo thù cho cha, đã tu ở chùa Thầy, tụng kinh Mật giáo dù một vạn tám nghìn lần, đã đắc đạo, và dùng pháp thuật đánh chết Đại Điên) đã cho thấy Mật Tông là một dòng của Phật giáo dưới thời Lý (theo Thiều Uyển Tập Anh ngữ lục). Hiện nay các chúa Láng, Thánh Chúa (Hà Nội) và chùa Thầy (Hà Tây) bên cạnh việc thờ Phật, đều có thờ Đạo Hạnh.

TỊNH ĐỘ TÔNG

Theo một số tài liệu Trung Hoa thì các nhà sư Samghavaman (Kha Tăng Khải) ở thế kỷ thứ II, Kumarijiva (Cựu Ma La Thập) ở thế kỷ thứ 4 và Kalyâcn (Cửu Lương Đa Xá) ở thế kỷ thứ V đã đặt nền móng cho Tịnh Độ Tông ở Ấn Độ. Tịnh Độ Tông được truyền vào Việt Nam từ sớm qua câu chuyện viết vào năm Tống Vĩnh Sơ (420 - 422) như sau:

“Sư Đàm Hoàng đi về phương nam, đến Phiên Ngung dừng lại ở chùa Đài, sau đến chùa Viên Sơn ở Giao Chỉ tụng Vô Lượng Thộ kinh và Quán Kinh, lòng nguyện vãng sinh Tịnh Độ…”.

Khác với Thiền Tông, Tịnh Độ Tông với phương pháp tu hành đơn giản, chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài (tha lực). Các tín đồ Phật tử nhờ luôn niệm danh “Phật A Di Đà” nên được sự giúp đỡ của ngài sẽ đạt được chính quả. Sự giúp đỡ từ bên ngoài rất quan trọng, Phật Thích Ca đã có lần thuyết giảng rằng: “Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm. Nhưng một hòn đá dù to đến mấy, nếu đặt trên bè thì nó vẫn nổi” Thực ra Tịnh Độ Tông là biện pháp tu hành đáp ứng nguyện vọng của đa số quần chúng thất học, chính vì thế nên sau khi ra đời, Tịnh Độ Tông đã phát triển nhanh chóng. Theo Tịnh Độ Tông cái tâm hơn cái học vấn. Phật tử thành tâm tin vào Phật A Di Đà, ngày ngày niệm Phật thì sẽ được an cư lạc nghiệp, khi chết (giải thoát) sẽ được về cõi Tịnh Thổ. Tịnh Độ Tông gợi cho Phật tử hướng về cõi Tịnh Độ, nơi yên tĩnh trong sáng, không có khổ đau, đó cũng là chốn Tây Phương cực lạc, là nơi do công đức của Phật đã kiến tạo trải qua nhiều kiếp. Theo Tịnh Độ Tông thì không có phân biệt người thông kinh sử với người không có thuộc kinh, người ngay với kẻ dữ, người tu hành với kẻ sống trần tục, mọi người đều bình đẳng trước Phật A Di Đà trong những lúc tưởng niệm đến Ngài, sẽ được ngài giúp đỡ, lúc từ giã cõi đời sẽ được Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Tịnh Thổ. Nhờ cách tu đơn giản như vậy nên trong dân gian người ta tin Phật ngày càng đông và tượng A Di Đà ở chùa nào cũng có và được tạc to, mỹ thuật.

Đối với đại đa số dân Việt Nam trước đây, số người biết chữ Hán để đọc kinh Phật rất hiếm, người có điều kiện đi học thì nhằm mục đích để thi đỗ ra làm quan, vì vậy biện pháp tu theo tâm, hướng về Phật và niệm danh Phật A Di Đà của Tịnh Độ Tông là một cách thu hút dễ dàng đông đảo người dân. Vì vậy, từ sau đời Trần, khi Phật giáo bị các nhà nho công kích, không còn được triều đình nâng đỡ nữa thì đạo Phật vẫn được phổ biến trong dân chúng với Tịnh Độ Tông.

Tuy đạo Phật phân chia ra thành 3 tông phái Thiền Tông, Mật Tông và Tịnh Độ Tông nhưng khi được truyền bá và thâu nhận ở Việt Nam thì không có sự tách biệt rạch ròi mà là một tổng hợp các tông phái cùng với tin ngưỡng bản địa, không có tông phái nào thuần khiết. Tuy Thiền Tông chủ trương: “Tâm là không có hình, không có tiếng, không có trước, không có sau, thâm điệu, vi tế, không có tóc tơ hình thức”, nhưng các Thiền sư ở Việt Nam đã để lại rất nhiều trước tác về đạo Phật và văn học có giá trị. Thiền phái Vinitaruci lại pha trộn với Mật Tông, nhiều thiền sư tham gia chính trị góp phần củng cố nền độc lập tự chủ, đánh đuổi ngoại xâm. Mật Tông cũng có một vị trí trong đạo Phật ở Việt Nam do phục vụ cho những nhu cầu chữa bệnh, ước muốn của người dân trong khi chưa làm chủ được các hiện tượng xã hội và tự nhiên, đã kết hợp với tín ngưỡng bản địa, nên vẫn tồn tại trong dân chúng cho đến ngày nay. Đạo Phật ở Việt Nam không có sự tách bạch giữa các phương pháp tu hành để giải thoát, chủ trương dung hợp giữa tự lực và tha lực, có sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ từ bên ngoài, kết hợp Thiền Tông với Tịnh Độ Tông.

Sự kết hợp giữa các tông phái đã được thể hiện ngay trong các chùa trong việc thờ Phật. Chùa ở Việt Nam có rất nhiều tượng Phật, Bồ Tát, La Hán, A Di Đà, Quan Âm, mỗi loại tượng cũng lại có nhiều dạng như Thích Ca Thuyết Pháp, Thích Ca Sơ Sinh, Thích Ca Tuyết Sơn, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập Niết Bàn. Quan Âm có Phật Bà Quan Âm, Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Thị Kính…

* * *

Vào thế kỷ XVIII trong nước có nhiều cuộc chiến tranh, loạn lạc, chùa chiền bị đổ nát, đạo Phật cũng không có điều kiện phát triển. Sau khi nhà Tây Sơn dẹp được chúa Nguyễn và chúa Trịnh, đã quan tâm chấn hưng đạo Phật, xuống chiếu chỉ xây cất các chùa lớn đẹp (chùa Kim Liên, chùa Tây Phương…) cho chọn các nhà sư có học thức và đạo đức trông coi chùa và giảng kinh Phật cho dân chúng.

Đến thế kỷ XIX các vua triều Nguyễn cũng cho tu bổ các chùa. Năm 1830 vua Minh Mệnh giao cho bộ Lễ triệu tập cao tăng các tỉnh về kinh để xem xét, cấp giới đạo và độ điệp, cả thấy được 53 người. Nhiều thiền sư đã viết các sách kinh Phật.

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, đất nước có nhiều biến động do tiếp xúc vưói văn hóa phương Tây, đạo Phật đã có những chấn hưng, với những tổ chức Phật giáo 3 kì, có báo chí để phổ biến giáo lý. Những cuộc tranh luận về đạo Phật đã nổi ra xoay quanh những vấn đề như Phật giáo vô thần hay hữu thần, linh hồn và thể xác, phật tử xuất thế hay nhập thế…

Đạo Phật đã thâm nhập trong đời sống của người Việt Nam như vào trong máu thịt, có thể nói là phần lớn người Việt Nam không theo đạo Thiên Chúa thì đương nhiên theo đạo Phật dưới nhiều hình thức như tu tại gia, lên chùa lễ Phật ngày lễ và ngày rằm và mồng một, treo trong nhà ảnh Phật hoặc lúc đau khổ gặp nạn niệm “Na Mô A Di Đà Phật”… Theo số liệu năm 1993 của Ban tôn giáo chính phủ thì số tín đồ Phật từ xuất gia vào khoảng 3 triệu người, số thường xuyên đến chùa lễ Phật vào khoảng 10 triệu người, số chịu ảnh hưởng của đạo Phật vào khoảng vài chục triệu người.

 

CHƯƠNG III ^

GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT - ĐẠO PHẬT DÂN GIAN

Đạo Phật là một tôn giáo lớn ở Ấn Độ cổ đại, đã trở thành một tôn giáo thế giới, ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống tinh thần của nhiều dân tộc phương Đông trong đó có Việt Nam chúng ta. Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính sự giác ngộ của con người với cuộc sống đức độ, đạo Phật đã nhanh chóng chiếm được niềm tin và tình cảm của đông đảo dân chúng. Vấn đề chính và cấp bách nhất đối với Phật Thích Ca là giải thoát nhân loại, Người đã nói: “Cũng như nước của tất cả các đại dương chỉ có một vị, vị mặn của chất muối, tất cả đạo lý của ta chỉ có một hướng, hướng giải thoát” hay: “Ta chỉ dạy một điều: KHỔ và DIỆT KHỔ”.

Giáo lý đạo Phật được thể hiện trong các thuyết pháp về Tứ Diệu Đế (bốn chân lý kì diệu) và Thập Nhị Nhân Duyên (12 mối quan hệ trong sự tồn tại của con người).

Tứ Diệu Đế là:

1. Khổ Đế. (Dukhha) là chân lý về bản chất nỗi khổ của loài người. Đạo Phật cho cuộc đời là bể khổ, những đau khổ đó là sinh, lão, bệnh, tử. Con người triền miên trong ngũ trọc, cũng gọi là ngũ uẩn thì không sao dứt ra khỏi khổ. Ngũ uẩn là: sắc uẩn (hình thể con người), thụ uẩn (sự cảm giác), tưởng uẩn (sự tưởng tượng), hành uẩn (các hành vi), thức uẩn (ý thức).

2. Tập Đế hay Nhân Đế. (Samudaya) là chân lý về nguyên nhân nỗi khổ. Con người khổ là do ái dụcvô minh (do ham muốn và kém sáng suốt), do tham, sân, si (tham lam, giận dữ và ngu dốt). Con người ta vướng vào tham muốn sống, tham sướng, tham mạnh… tìm mọi cách thỏa mãn lòng tham, lòng ham không thỏa mãn sẽ gây đau khổ.

3. Diệt Đế (Nirodha) là chân lý về cách diệt khổ. Nỗi khổ của con người sẽ bị diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ là cái dục và vô mình. Sự tiêu diệt khổ đau trong con người đạt được, được gọi là Niết Bàn (Nirvana) nghĩa là dập tắt ngọn lửa phiền não.

4. Đạo Đế (Magga). Là chân lý chỉ ra con đường diệt khổ. Con đường diệt khổ, giải thoát đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), phải rèn luyện tư tưởng (định) và phải khai sáng trí tuệ (tuệ). Việc rèn luyện giới, định, tuệ được cụ thể hóa trong BÁT CHÍNH ĐẠO (tám con đường chân chính). Bát chính đạo là:

a. Chính kiến là cần hiểu biết đúng đắn, kiến giải chính xác, thành thực mà tin tin theo.

b. Chính tư duy là suy nghĩ đúng đắn.

c. Chính ngữ  là nói năng thành thật, hòa ái.

d. Chính nghiệp là làm những việc tốt.

e. Chính mệnh là nuôi sống mình bằng nghề nghiệp chính đáng, lương thiện, làm mà sống, không ăn bám, bóc lột.

g. Chính niệm là luôn luôn nghĩ đến những điều lành, điều thiện.

h. Chính tịnh là nỗ lực làm cách tiến bộ nhanh chóng.

i. Chính định là định tâm trí, tập trung tư tưởng vào một vấn đề đã được cho là chính đáng.

Trong 8 con đường vạch ra thì chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh thuộc về lĩnh vực rèn luyện đạo đức (GIỚI), chính niệm, chính định thuộc về lĩnh vực rèn luyện tư tưởng (ĐỊNH), chính kiến, chính tư duy, chính tính tiến thuộc về lĩnh vực khai sáng trí tuệ (TUỆ).

Bát chính đạo là con đường trung đạo dắt dẫn chúng sinh đang mê muội tham lam, trầm luân trong bể khổ đi vào con đường sáng suốt, dẫn tới cõi Niết Bàn. Mỗi người đều có Phật tính (giác ngộ) đều có thể nỗ lực làm được theo được.

Thập nhị nhân duyên ^

Triết lý Phật giáo quan niệm con người ta sinh, tử trong vòng luân hồi không ngừng trong 6 cõi là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Sa bà (trần thế) và cõi Tịnh (Tây Phương cực lạc). Nhân duyên quả báo là 2 trạng thái nối tiếp và tương quan mật thiết với nhau, nghĩa là phải có nhân mới có quả, không có quả thì cũng không có nhân. Có thể gieo nhân gặt quả ngay tức thời, có thể gieo nhân đời này gặt quả ngay tức thời, có thể gieo nhân đời này gặt quả đời này, có thể gieo nhân đời trước gặt quả đời sau, có thể gieo nhân từ các đời trước, gặt quả các đời sau. Trong quan hệ nhân quả thì nhân duyên là những tác động giúp cho nhân sinh quả. Nhân và quả có 12 quan hệ gọi là thập nhị nhân duyên, đó là: Con người có thân thì có khổ (ốm đau, già nua, bệnh tật). Gốc cửa khổ là sinh (tức sự chuyển trong luân hồi). Gốc của sinh là hữu (tức ý thức về sự tồn tại của mình). Gốc của hữu là thủ (tức ham muốn kéo dài đời sống). Gốc của thủ là ái (tức dục tính làm người ta đam mê). Gốc của ái là thụ (tức cảm giác). Gốc của thụ là xúc (tức xúc giác). Gốc của xúc là lục nhập (mắt nhập sắc, tai nhập thanh, mũi nhập hương lưỡi nhập vị, thân nhập xúc, ý nhập pháp) gốc của lục nhập là hình danh (tức hình thái và tên gọi). Gốc của hình danh là thức (ý thức về bản thân). Gốc của thức là hành (chỉ những khái niệm làm cho ta muốn hàng động). Cuối cùng gốc của hành là vô minh (tức là không sáng suốt).

Luật Nhân quả chỉ có tác dụng trong vòng luân hồi. Về mặt xã hội, nó chỉ ra sự khổ não của con người có nguyên nhân từ ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức). Từ ngũ uẩn mà xuất hiện sự đối lâp: ác và thiện, tốt và xấu, đau khổ và hạnh phúc. Lòng tham, sân, si gây ra nghiệp chướng và luân hồi là vòng luẩn quẩn từ trần gian đến địa ngục. Nghiệp chướng phụ thuộc vào bản thân cuộc sống tu luyện đạo đức của mỗi người. Cuộc đời mỗi người đều do tiền kiếp quyết định. Con người sẽ có thể tránh được do cuộc sống đức hạnh của mình. Muốn từ bỏ vòng luân hồi con người phải tu nhân tích đức, từ bi bác ái. Đó là biện pháp để giải thoát của con người cũng đồng thời là vấn đề đạo đức xã hội, đó cũng chính là giá trị nhân bản cao quý chủ yếu của giáo lý đạo Phật.

Do sự phát triển, Phật giáo có 2 khuynh hướng Phật giáo Đại Thừa và Phật giáo Tiểu Thừa, Phật giáo Tiểu Thừa nhấn mạnh do vô minh mà tạo nghiệp (do không sáng suốt nên tạo nên nghiệp khổ), muốn diệt nghiệp phải cầm được để sáng suốt không lầm lẫn. Phật giáo Đại Thừa chủ trương vô ngã: nghĩa là đối với bản thân phải nghiêm khắc sửa mình bằng thiên định, tự kiểm điểm, phát triển trí tuệ và nhẫn nhịn, đối với mọi người phải từ bi bác ái vị tha, ngăn ngừa điều ác, khuyến khích điều thiện có nghĩa là phải bố thí và tích đức.

GIỚI PHÁP (những điều ngăn cấm trong tu hành)

Tăng ni trong chùa được phân chia thành sa di (sramanera) ta quen gọi là chú tiểu, nữ được gọi là sa-di-ni (sramanekira); tì khưu, nữ là tì khừu ni, hòa thượng và thượng tọa, ta quen gọi là sư ông, sư cụ.

Sa-di có 10 giới là:

1. Không sát linh.

2. Không trộm cắp.

3. Không nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều và chửi mắng.

4. Không dâm dục.

5. Không uống rượu.

6. Không dùng nước hoa và trang điểm bằng hoa.

7. Không được dùng giường nệm lớn sang trọng.

8. Không được khiêu vũ hát xướng.

9. Không được sử dụng vàng bạc.

10. Không được ăn ngoài giờ ăn.

Tì khưu có 250 điều giới. Tì Khưu ni có 348 điều giới.

Những người tu tại gia được gọi là cư sĩ. Họ theo 10 điều giới:

1. Không giết hại sinh mạng, phải tìm cách bảo vệ sinh mạng.

2. Không trộm cướp,phải thực hành bố thí.

3. Không tà dâm, phải bảo vệ danh dự và hạnh phúc kẻ khác.

4. Không nói dối, phải nói thật.

5. Không nói lời li gián, phải nói lời xây dựng và hòa giải.

6. Không chửi rủa, phải nói lời nhẹ nhàng dễ mến.

7. Không nói lời thêu dệt, phải nói lời tạo nên sự tín nhiệm kính yêu.

8. Không để tâm tham dục điều khiển mình, phải sống giản dị.

9. Không để tâm giận dữ oán thù, phải phát triển tâm từ bi.

10. Không níu chặtt thành kiến, phải cởi mở để trao đổi.

Tinh thần từ bi là một đặc điểm lớn trong triết lý của Phật giáo. Từ bi là lòng thương yêu bao la khiến người ta vận dụng tất cả khả năng tâm tư và mọi phương tiện để làm cho mọi người, mọi sinh vật thoát khỏi khổ đau và được an vui. An vui cho chúng sinh có nghĩa là tất cả mọi sinh vật trên thế gian không chỉ riêng loài người. Không chỉ xóa cái khổ hiện tại mà phải diệt trừ tận gốc mọi nguyên nhân gây nên nỗi khổ. Dứt khổ và được vui là 2 khía cạnh của cuộc đời. Người thực hiện từ bi là hoàn toàn tự nguyện hiến dâng tình thương, làm vơi nỗi đau khổ trên thế gian, không chịu một áp lực nào, một điều kiện nào, người từ bi tự thấy được tinh thần yên vui hạnh phúc. Người từ bi được chết trong yên lành và sẽ tái sinh vào cảnh đời tốt đẹp.

VIỆC ĐỌC KINH VÀ NIỆM PHẬT^

Kinh Phật là hệ thống giáo lý của Phật giáo được ghi trong 3 bộ: Tạng Kinh (bộ Kinh), Tạng Luật (bộ Luật), Tạng Luận (bộ Luận). Kinh Phật ghi những lời Đức Thích Ca giảng dạy lúc sinh thời là hệ thống lý luận về vũ trụ và nhân sinh, về sự giải thoát con người ra khỏi khổ cảnh của vòng sinh tử luân hồi. Mục đích của sự tu hành là giải thoát. Những phương pháp tạo dựng công đức được gọi là tu Phúc. Tu Phúc chưa đủ để giải quyết vấn đề sống chết mai sau, vì vậy phải tu Huệ. Tu huệ là đọc kinh, niệm Phật và ngồi thiền. Niệm Phật là một lối ngồi thiền dễ thực hành hơn hết vì niệm Phật cũng đưa tới sự định tâm.

Việc đọc kinh, nhắc lại lời dạy của đức Phật một cách đều đặn giúp người tu hành nhớ lại và suy ngẫm về lời Phật dạy, tĩnh tâm, cảm hứng về trí tuệ và tâm linh nhằm dồn tới sự đồng nhất thế với vũ trụ bao la. Với sự tập trung và điều khiển hoàn toàn bằng tâm và ý, ngồi theo thế thiền định tĩnh lặng, nhà tu hành cầu giải thoát để nhất thế hóa với vũ trụ, để tiến tới cái KHÔNG kì diệu cao siêu theo lời dạy của Phật. Con người ta ai cũng có phật tính, trong đời sống đấu tranh sinh tồn đã làm mờ đi phật tính sẵn có, đẩy con người biệt lập với cái KHÔNG, với vũ trụ, với thế giới xung quanh cho đến lúc chết. Muốn phá bỏ các lớp bao quanh Phật tính, đạt tới khả năng đồng nhất thể với cái KHÔNG của vũ trụ thì việc đọc kinh Phật theo một số lượt nhất định bằng cách đếm, đánh dấu các hạt trong tràng hạt (108 hạt) là việc làm để đạt tới cái Tầm Vô Tâm, cí Không. Việc đọc kinh niệm Phật. Việc đọc kinh niệm Phật, về thực hành không có gì phức tạp, có thể làm được ở mọi nơi mọi lúc, song đòi hỏi tấm lòng, sự tĩnh lặng, suy ngẫm, cầu tới sự giải thoát, sẽ giúp cho người đọc những khả năng kì diệu.

Với người dân bình thường, niệm Na Mô A Di Đà Phật cũng là một phương pháp tu hành đạt được chính quả. Tuy đơn giản nhưng phải có sự suy nghĩ sâu mới có thể hiểu được. Na Mô A Di Đà Phật nguyên là tiếng Brahama (Ấn Độ) được phiên âm ra chữ Hán.

Na Mô nghĩa là quy mệnh, quy lễ, kính lễ.

A Di Đà nguyên âm là Amitabha có nghĩa là vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức.

Phật chính âm là Buddha có nghĩa là giác ngộ, chính giác, đại giác, “Niệm A Di Đà Phật” có nghĩa là niệm cả danh và hạnh của ngài… Một người biết đem sinh mạng của mình quay về kính lễ, tin theo đức Phật A Di Đà với cái tâm “bồ đề” hẳn là người đã biết hối lỗi. Người đó sẽ không còn tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, gian dối với mọi người. Người đó biết phục thiện, biết phục tùng chính đạo, biết cứu nhân độ thế, biết thương cha mẹ, thương vợ, thương chồng cùng người quyến thuộc. Vì vậy mà ở chỗ nào và lúc nào ta cũng nên niệm “Na Mô A Di Đà Phật”.

Về pháp môn niệm Phật, có tài liệu cho rằng, các đệ tử mỗi ngày niệm 500 lần, niệm liên tục cho đến khi chết mới được siêu thoát về Tây Phương cực lạc. Có 4 hình thức niệm Phật:

- Tụng niệm là niệm danh Phật trước bàn thờ Phật.

- Mật niêm là danh Phật ở nơi không có bàn thờ Phật.

- Quán niệm là vừa niệm danh vừa tưởng nhớ đến công đức của Phật.

- Chuyên niệm là khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi làm, lúc nào cũng niệm danh và tưởng nhớ đến công đức của Phật.

Để đến được cõi Tây Phương cực lạc, miền Tịnh Thổ, khi niệm Phật, các đệ tử phải có đủ 3 điều kiện sau đây:

- Đức tin chắc chắn và mạnh mẽ.

- Lập nguyện vững vàng.

- Thực hành theo đúng chí nguyện.

Phật A Di Đà là giáo chủ của cõi Tây Phương cực lạc vì vậy tượng Phật A Di Đà có rất nhiều trong các chùa Việt Nam. Theo kinh Phật thì A Di Đà là hóa thân của Phật Thích Ca thời quá khứ. Phật Thích Ca chỉ sống có 80 năm để truyền giáo và sau đó nhập Niết Bàn. Trong khi chờ Phật Vị Lai và Di Lặc tiếp dẫn chứng sinh ra khỏi kiếp luân hồi xuất hiện thì Phật A Di Đà làm nhiệm vụ đó. Trong các chùa Việt Nam, tượng Phật A Di Đà làm nhiệm vụ đó. Trong các chùa Việt Nam, tượng Phật A Di Đà khi thì ngồi bên trái Phật Thích Ca, khi thì ngồi chính giữa thượng điện trong bộ Di Đà Tam Tôn.

Cõi Tây Phương cực lạc hay miền Tịnh Thổ là miền đất thanh tịnh, trong sạch, đối lập với thế giới Sa Bà là thế giới trần gian đang sống đầy khổ ải. Thế giới cực lạc đã được Phật Thích cA nói đến cách đây 25 thế kỷ, cách thế giới Sa Ba chúng ta đang sinh sống hơn mười muôn ức cõi Phật. Ở nơi dân chúng hết mọi khổ đau, sống an vui.

ĐẠO PHẬT DÂN GIAN VIỆT NAM ^

Xét ngay từ yếu tố nội sinh, Phật giáo đã mang tính thích ứng. Khi truyền vào một nước nào, miền nào cũng đã thích ứng ngay với phong tục tập quán của địa phương và những tín ngưỡng bản địa. Do sự thích ứng ấy mà các thần linh bản địa đều có vị trí trong chùa như thần Khuyến Thiện, Trừng Ác, Thổ Địa… Tín ngưỡng dân gian đã “Phật hóa” và “hóa Phật” ngay ở giai đoạn đầu tiên và trong suốt quá trình. Ở Việt Nam một nước nông nghiệp, người ta tôn thờ những hiện tượng thiên nhiên như Mưa, Sấm, Chớp nên khi đạo Phật du nhập voà Việt Nam người dân đã lấy ngay các vị thần đặt vào Việt Nam người dân đã lấy ngay các vị thần đặt cho chùa, thành: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Tục lễ bái tín ngưỡng của dân địa phương được thực hành ngay trong phạm vi nhà chùa ngay tại chánh điện cùng với nơi thờ Phật.

Những hiện tượng mê tín dị đoan, đồng bóng… cũng được kết hợp với lễ Phật như trên đã viết là do ảnh hưởng của Mật giáo nhưng cũng có nguyên nhân là người dân cần tới sự che chở, cầu mưa, cầu khỏi bệnh, tai qua nạn khỏi; những bài kinh, bài chú, sớ dâng sao, giải hạn đã tồn tại là vì vậy. Trong một số chùa người dân thờ Phật Dược Sư, còn gọi là Dược Sư Lưu Li Q    uang Phật với biểu tượng thờ cúng đèn 4 ngọn với ý mong được cứu độ qua khỏi bệnh tật. Đèn Dược Sư là một cây đèn cao gồm một trù hình bát giác có 7 tầng, mỗi tầng tỏa ra 7 nhánh, mỗi nhánh là một ngọn đèn (49 ngọn).

Đạo Phật ở Việt Nam cũng như Trung Quốc, do thích ứng với tin ngưỡng bản địa, với việc thờ cùng tổ tiên nên trong chùa cũng thường có các tượng thành hoàng hoặc anh hùng dân tộc như Đức Thánh Trần hoặc Quan Công và ở các nhà hậu đường thường có thờ hậu. Vì vậy nhiều chùa thờ Phật thường có dạng “Tiền Phật hậu Thánh”.

Trong quan niệm đạo Phật dân gian, mục đích gần nhất của sự tu hành là tạo thêm công đức (punya), là sự tập hợp của những hành động tốt, là một kho tàng vô hình đảm bảo cho hạnh phúc của tương lại. Nếu có nhiều công đức người ta sẽ được sống an lành trong kiếp này và trong những kiếp sau, không những cho mình mà còn cháu mình cũng có thể được thừa hưởng. Muốn tạo công đức phải làm công quả. Công quả là một danh từ bình dân có có nghĩa là có công thì có quả. Giữ giới, ăn chay, tụng kinh, làm chùa, đúc tượng, cúng chùa, chẩn tế cho người nghèo khổ, cho cô hồn đòi lạnh là những việc làm tạo nên công đức. Nếu không