Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

VIỆN HÓA ĐẠO

 

 

50 NĂM

Chấn Hưng PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

Sa môn THÍCH THIỆN HOA soạn.

---o0o---
 

Tập 1

 

50 NĂM (1920-1970)

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

hay là “GHI ƠN TIỀN BỐI”

 

 

Mục Lục

I. Lời Nói Đầu

II. Diễn Văn

III. Quyết định số 0176–V. H. Đ

IV. Ghi ân Tiền Bối

1. Phật-giáo du nhập Việt Nam lần đầu tiên

2. Phật-giáo trải qua các triều đại

3. Thời kỳ Phật-giáo suy đồi (dưới thời Pháp thuộc)

4. Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo VN (1920)

MIỀN NAM

a)      – Hội lục hòa và tạp chí Pháp Âm

b)      – Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học

c)      – Liên đoàn học xã ra đời

d)      – Hội lưỡng xuyên Phật học

MIỀN TRUNG

a)      – Hội An Nam Phật học

b)      – Phật học đường Báo Quốc và Kim Sơn

c)      – Phật học đường Trúc Lâm và Tây Thiên

d)      – Phật-giáo tỉnh Bình Định và Đà Nẵng

MIỀN BẮC

a)      – Bắc Kỳ Phật-giáo tổng hội

b)      – Chùa Quán Sứ

c)      – Chùa Một Cột

d)      – Những vị đã góp công ít nhiều xây dựng PGVN

5. Phật-giáo Nam Tông Việt Nam

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ NĂM 1945-1963

MIỀN NAM

a)      – Phật học đường Phật Quang, Liên Hải,  Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang

b)      – Phật học đường Nam Việt và chùa Ấn Quang

MIỀN TRUNG

a)      – Phật học viện Nha Trang

b)      – Tu Viện Nguyên Thiều

6. Giáo Hội Tăng già toàn quốc.

7. Tổng hội Phật-giáo Việt-Nam

8. Sáu tập đoàn Phật-giáo

a)      – Giáo Hội Tăng già Nam Việt.

b)      – Hội Phật học Nam Việt.

c)      – Giáo Hội Tăng già Trung Việt.

d)      – Hội Phật học Trung Việt.

e)      – Giáo Hội Tăng già Bắc Việt.

f)       – Hội Việt Nam Phật-giáo Bắc Việt.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM GẶP ĐẠI NẠN (1963)

Danh Sách Chư Thánh Tử Đạo

Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất Ra Đời

TỔNG KẾT

1. Phật-giáo Việt-Nam quá khứ.

2. Phật-giáo Việt-Nam cận đại.

3. Phật-giáo Việt-Nam ngày nay.

V –Di ảnh và tiểu sử Chư Thánh Tử Đạo.

1. BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC.

2. ĐẠI ĐỨC THÍCH NGUYÊN HƯƠNG

3. ĐẠI ĐỨC THÍCH THANH TUỆ

4. NI CÔ THÍCH NỮ DIỆU QUANG

5. THƯỢNG TỌA THÍCH TIÊU DIÊU

6. PHẬT TỬ HỒNG THỂ (THƯƠNG PHẾ BINH)

7. ĐẠI ĐỨC THÍCH QUẢNG HƯƠNG

8. ĐẠI ĐỨC THÍCH THIỆN MỸ

9. ĐẠI ĐỨC THÍCH HUỆ HỒNG

10. PHẬT TỬ NGUYỄN THỊ VÂN

11. ĐẠI ĐỨC THÍCH THIỆN HUỆ

12. NI CÔ THÍCH NỮ DIỆU TRI

13. NI SƯ THÍCH NỮ THANH QUANG

14. NỮ PHẬT TỬ ĐÀO THỊ YẾN PHI

15. NỮ SINH PHẬT TỬ NGUYỄN THỊ HUỆ

16. NỮ PHẬT TỬ ĐÀO THỊ TUYẾT

17. NI CÔ THÍCH NỮ TRÍ TÚC (BẢO VỆ HIẾN CHƯƠNG P.G.)

18. NI CÔ THÍCH NỮ TRÍ CHƠN (BẢO VỆ HIẾN CHƯƠNG P.G.)

19. NI CÔ THÍCH NỮ HUỆ LẠC (BẢO VỆ HIẾN CHƯƠNG P.G.)

20. ĐẠI ĐỨC THÍCH HẠNH ĐỨC (BẢO VỆ HIẾN CHƯƠNG P.G.)

21. NI CÔ THÍCH NỮ THÔNG HUỆ

22. NỮ PHẬT TỬ NHẤT CHI MAI (CẦU HÒA BÌNH V.N.)

23. THƯỢNG TỌA THÍCH THIỆN LAI (CẦU HÒA BÌNH V.N.)

24. NI CÔ KHẤT SĨ LIÊN TẬP (CẦU HÒA BÌNH V.N.)

25. NỮ SINH PHẬT TỬ QUÁCH THỊ TRANG

26. PHẬT TỬ PHAN VĂN HÒA VÀ NGUYỄN VĂN PHÁT

27. PHẬT TỬ THIỆN CHÍ HUỲNH VĂN THIỆN

28. ĐẠI ĐỨC THÍCH THIỆN ÂN

29. HUYNH TRƯỞNG PHAN DUY TRINH

30. HUYNH TRƯỞNG NGUYỄN ĐẠI THỨC

31. ĐẠO HỮU LÊ VĂN MỸ

 

 

 

 

LỜI NÓI ĐẦU  ^

“Uống nước nhớ nguồn”, đó là lẽ thường tình của con người, huống hồ là Phật tử.

Hôm nay hàng Phật-tử chúng ta đang sống trong hào quang tươi sáng của Phật, trong một tổ chức có quy-mô, trong một đường lối giáo dục có phương pháp và trong một tinh-thần thống nhất ý chí-hành động. Đó là nhờ sự gắng công thường xuyên, ý chí bất khuất của các bậc Tiền-Bối trong Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo Việt-Nam, 50 năm về trước, của 3 miền Nam, Trung, Bắc.

Gần 100 năm về trước, quê hương Tổ quốc của chúng ta bị người Pháp đô hộ, Dân tộc ta và những gì mang nặng dân-tộc tính, có tinh thần quốc gia đều bị thực dân Pháp bóp chẹt. Phật-giáo Việt-Nam nằm trong tình trạng ấy.

Nhưng không hẹn mà nên, 50 năm về trước, các vị Tiền Bối cùng nằm trong một thời kỳ, cùng trong một hạnh nguyện, đã khởi xướng và đẩy mạnh Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo Việt-Nam.

Kết quả của nữa thế-kỷ hoạt-động trong chông gai, trong sự khủng bố chèn ép nặng nề, là cơ sở Phật-giáo đã lan đến hạ tầng thôn xóm; giáo lý nhà Phật không còn quanh-quẩn trong các Tu Viện mà đã quảng bá sâu rộng vào các tầng lớp dân chúng; phạm vi giáo dục Phật-giáo không còn đóng khung ở Bậc lão-thành mà đã đi sâu vào Thanh thiếu nhi Phật tử; nào Trường Bồ-đề, nào các Phật-học viện, rồi đến Đại-học Vạn-Hạnh…

Song song với công cuộc phát huy đời sống tâm linh, lãnh vực hoạt-động từ thiện xã hội như: Cô nhi-viện, Ký-nhi-viện, v.v… đã gây nhiều ảnh hưởng lớn lao trên toàn quốc.

Với những thành quả lớn-lao như thế, chúng ta không thể không nghỉ đến công đức của các vị Tiền-bối. Do đó, Hội Đồng Viện Hóa-Đạo đã quyết định tổ chức hàng năm, lễ kỷ-niệm “GHI ÂN NHỮNG BẬC TIỀN-BỐI HỮU CÔNG TRONG PHONG-TRÀO CHẤN-HƯNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM” vào ngày Phật Thành-Đạo (Mùng 8 tháng Chạp) và bắt đầu từ Phật Lịch 2513 năm Kỷ Dậu (1970) tại trụ sở Tam Viện Hóa-Đạo chùa Ấn Quang Sài Gòn. 

Bài “GHI ÂN TIỀN BỐI” này, bắt nguồn từ lòng tri ân không bờ bến, đối với các bậc Tiền Bối và đã đọc lên trong buổi đại-lễ nói trên; rồi được sửa lại, thêm vào những đoạn cần-thiết và đổi đầu đề là “50 Năm Chấn hưng Phật-giáo Việt-Nam” Tập I. Sau tập này, chúng tôi sẽ viết tiếp quyển “Phật-giáo Việt-Nam ngày nay”, tức là quyển “50 Năm Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam” tập II.           

Quyển sách này viết ra nhằm các lợi ích sau đây: 

1. Để Tăng Ni và Phật tử thấy Phật-giáo Việt-Nam đã viết thành 1 trang lịch-sử vàng son oai-hùng và oanh-liệt, gần 2000 năm cứu quốc và kiến-quốc, luôn luôn chống ngoại xâm, trung-thành với quốc gia dân-tộc, cùng dân-tộc đồng an đồng nguy, mua chuộc không được, áp lực không sợ, không dựa quyền thế và không làm tay sai cho ngoại bang (xem đoạn tổng kết của quyển sách này, từ trang 128 đến trang 138). Là Phật-tử phải có bổn-phận giữ-gìn trang lịch-sử quý báu này.

2. Để Tăng Ni và Phật tử đều thâm cảm hồng-ân sâu dày của Tiền-bối. Quý Ngài đã đóng góp rất nhiều công-lao gian khổ và sự-nghiệp Chấn-hưng Phật-giáo trong nữa thế-kỷ vừa qua.

3. Để Tăng Ni và Phật Tử tin tưởng phấn khởi trước sự trổi dậy, tiến triển của Phật-giáo Việt-Nam trong 50 năm vừa qua, từ khi suy đồi thậm tệ, đến lúc thực sự phục-hưng.

4. Để Tăng Ni và Phật tử sẽ ý thức trách-nhiệm hay bổn phận của mình, hăng hái tiếp nối, và duy trì sự-nghiệp của Tiền bối. 

Tập sách này, chỉ là tài-liệu sơ-khởi, đương nhiên còn phiến-diện, vì công trình vỏn vẹn chỉ có một mình tôi! Lại còn phải đảm-đang rất nhiều công việc. Tôi ước mong tập tài liệu này có thể giúp ích về sau, để soi sáng cho những công-trình hoàn bị hơn, thuộc loại giáo-sử này. Kính xin Quý liệt vị Thiện Tri Thức vì lợi ích chung, hoan hỷ bổ-túc cho những điểm thiếu sót, để khi tái bản được hoàn-bị.

Chùa Ấn Quang

[1]Ngày rằm tháng chạp năm Kỷ Dậu (1970)

Sa-môn Thích Thiện Hoa.


 

 

DIỄN VĂN ^

Của Thượng-Tọa Thích Thiện-Hoa, viện Trưởng Viện Hóa-Đạo G.H.P.G.V.N.T.N, đọc trong lễ kỷ-niệm lần đầu tiên (8/12 Kỷ dậu, Phật Lịch 2513) Ghi ân các bậc tiền-bối hữu- công trong phong-trào chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam, hậu bán thể-kỷ 25, Phật lịch. 

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. 

Thưa Quý Liệt vị,

Như mọi người đã biết, cách đây hơn thế-kỷ, Dân tộc Việt-Nam mất chủ quyền độc lập từ ngày thực dân Pháp mang quân sang xâm chiếm nước ta. Cũng từ ngày đó, Phật-giáo Việt-nam, một tôn giáo dân-tộc, có mặt trên đất nước này gần 2000 năm lịch- sử, đã đau đớn bước vào con đường suy-vong chung với dân-tộc!.

Tuy nhiên, hoàn cảnh tủi nhục chung ấy đã thúc đẫy lòng yêu nước mến đạo của dân-tộc, nên đã có những Anh Hùng cách mạng đứng lên chống lại ách thực dân, giành độc lập cho xứ sở. Cũng trong tinh-thần ấy, Phật-giáo Việt-Nam cũng có những Bậc Tăng-sĩ, Cư-sĩ nhiệt tâm với tiền-đồ Đạo-pháp, đã tìm mọi cách khôi-phục lại truyền-thống tín ngưỡng của dân-tộc bằng mọi cách, để duy trì truyền-bá chánh-pháp, giữ lại những đạo-lý luân-thường, phong-tục tập quán Văn-minh cổ-truyền của đất nước, đã chịu nhiều ảnh-hưởng Phật-giáo, hầu đóng góp công nghiệp tranh thủ chủ-quyền và sinh tồn cho Tổ-quốc và Đạo-pháp, chống lại những gì phi Dân tộc do ngoại bang mang đến. 

Thưa Quý Liệt Vị,

Hôm nay, đã đến lúc chúng ta những người thừa kế có nhiệm vụ kiểm-điểm lại sự nghiệp của tiền nhân, đồng thời kính cẩn ghi vào “Lịch sử Phật-giáo Việt-Nam cận đại” những thành-tích riêng biệt của những bậc Tiền Bối, hữu công trong Phong-trào Chấn-hưng Phật-giáo, để chúng ta noi theo đó mà tiếp tục giữ gìn, và để cho những hậu-côn, tương lai của chúng ta noi gương học hỏi. 

Bởi các lẽ trên, trong đại-hội Cư-sĩ toàn quốc kỳ I vừa rồi, Giáo-hội Phật-giáo Việt-nam Thống-nhất đã chính thức công-bố một Tuyên-cáo liên quan nhiều vấn-đề quá-khứ, hiện-tại và vị-lai, cả đối nội cũng như đối ngoại của Giáo-hội, trong đó điểm đầu tiên nhất: Giáo-hội long trọng ghi nhận công-đức lớn lao của các bậc Tăng-sĩ, Cư-sĩ tiền-bối  hữu công trong sự nghiệp Chấn hưng Phật-giáo, từ gần nửa thế-kỷ qua tại–Việt-nam. Và tiếp theo đó một quyết-định của Giáo-hội đã được ban-hành ngày 16/12/1969, thiết-lập ngày kỷ-niệm hàng năm, đối với các Thánh Tăng đại-sĩ, các vị Cư-sĩ Bồ-Tát tại-gia, thuộc các miền Nam Trung Bắc và Nam Bắc Tôn hữu công, trong quá-khứ hoặc hiện-tại, vào dịp lễ kỷ-niệm Đức Phật Thành Đạo, mùng 8 Tháng 12 âm-lịch.

   Hôm nay, để cuộc lễ đầu tiên vừa mới thiết lập đầy đủ ý nghĩa, Giáo hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất và toàn thể Phật-giáo đồ thành tâm tưởng niệm:

-     Quý vị sáng-lập các Hội, các Đoàn, và các cơ-sở Văn-hóa Xã-hội có mục đích khuyến khích nghiên-cứu, giáo-dục, học tập chánh-pháp và thực hành theo chánh pháp;

-     Quý vị sáng-lập và Chủ-trì các cơ quan đào tạo Tăng-tài, các vị Pháp sư, Giảng-sư, Giáo-sư hữu công, hữu danh,v ..v …

-     Quý vị phiên-dịch kinh-điển, trước tác và ấn hành các Văn phẩm, họa phẩm, điêu khắc, ca nhạc, kiến trúc v.v … có giá trị liên quan trực- tiếp, gián-tiếp trong việc phổ biến giáo-lý hình ảnh màu sắc Đạo-Phật;

-     Quý vị sáng-lập và chủ-trì các cơ-quan ngôn luận, truyền bá và Việt-hóa giáo pháp.

-     Quý vị đã hy sinh tánh mạng vì hộ-trì chánh pháp, quý vị kiến-tạo và duy-trì các Tòng-lâm, các danh-lam thắng tích Phật-giáo, quý vị Phụng thủ Tam-Tạng Thánh-Giáo;

-     Quý vị hằng Tâm hằng Sản, hữu danh, vô danh, Quý vị hộ trì Tam- Bảo đã đóng góp xứng đáng, quý giá cho các Phật-sự trong quá-khứ.v.v… 

Đại-khái, chúng ta ghi nhớ công-đức quý vị đã có công duy-trì, truyền-bá xây dựng Phật-giáo Việt-nam, trong thời kỳ đen tối của Lịch- sử Dân- tộc và Đạo-pháp, dưới sự phong tỏa, kỳ thị, kiểm soát của thực dân và các thế lực tay sai từ 1920 đến nay. Pháp hiệu, phương danh và tiểu sử của các vị ấy sẽ được thiết lập sau, vì phải hết sức thận trọng, cân nhắc để xác định đúng mức công nghiệp có tính-cách và giá-trị lịch-sử của các Ngài, hầu tránh những lỗi lầm thiếu xót trước khi đưa Quý Ngài vào lịch sử. Nhất là tìm hiểu sâu xa sự liên hệ giữa sự Chấn-hưng Phật-giáo với sự quật-cường của Dân-tộc đã nhịp nhàng như thế nào, để chứng minh rằng: Dân tộc và Đạo pháp có sự gắn liền và bất khả phân, đồng an đồng nguy, trong quá trình lịch sử; để chúng ta thêm tin tưởng và dấn thân phục vụ cho tương lai, bất cứ trong lãnh vực nào mà dân-tộc cần đến. 

Thưa quý Liệt vị,

Tục ngữ có câu: “Cây có gốc, nước có nguồn”. Quả vậy, Giáo hội PGVNTN chúng ta được thiết-lập đến nay tuy mới 6 năm tròn, nhưng nó đã được thai nghén trưởng dưỡng từ gần nữa thế-kỷ trước. Chúng ta là những người thừa hưởng sự nghiệp vẻ vang của tiền nhân để lại. Do đó chúng ta, những người hiện tại, có nhiệm vụ làm thế nào trang sử Phật-giáo Việt-Nam của thời vàng son Đinh-Lê-Lý-Trần, và thời Chấn-hưng cận-đại, được nối liền và sáng chói tới tương lai!

Có như thế, mới mong được đền đáp phần nào công ơn xây dựng của tiền-hội, chúng ta cần phải cố gắng và hy -sinh nhiều hơn nữa trong tương lai, mới mong giữ vững được những công-trình sự-nghiệp cao cả của tiền nhân để lại.

Trước khi dứt lời, chúng ta hãy giành một phút mặc-niệm và cầu nguyện cũng như hồi hướng công đức giữ Đạo, dựng Đạo của các vị Tiền-Bối cho Hòa Bình đất nước và sự trường tồn của Giáo-hội.

Trân trọng kính chào Quý Liệt Vị. 

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật 
 


 

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT ^

VIỆN HÓA ĐẠO

243, Sư Vạn Hạnh

Số: 0176–VHĐ/VP/QĐ

VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO

-         Chiếu Giáo-chỉ ngày mồng 8 tháng 12 Phật lịch 2509 (14-12-65) của Đức Tăng Thống Ban Hành Hiến chương G.H.P.G.V.N.T.N. được tu chỉnh bởi đại hội khoáng đại kỳ II,

-         Chiếu Biên bản đại hội G.H.P.G.V.N.T.N. kỳ III, ngày 20-08-68, lưu nhiệm chức vụ Viện-trưởng Viện Hóa-Đạo G.H.P.G.V.N.T.N

-         Chiếu giáo chỉ số 08 ngày 20-08-68 phê chuẩn và tấn phong Ban-Chỉ Đạo Viện Hóa-Đạo của Đức Thắng Thống.

-         Chiếu Tuyên-cáo ngày 01-12-1969 của Viện Hóa-Đạo Giáo-hội Phật-giáo Việt-Nam Thống-nhất. 

-         Chiếu Biên-bản phiên họp Hồi đồng Viện Hóa-Đạo ngày 12-12-69. 

QUYẾT ĐỊNH.

Điều 1:  - Nay trân trọng thiết lập ngày kỷ-niệm pháp-định các vị Tăng-sĩ, Cư-sĩ Tiền-bối thuộc Nam Bắc Tôn tại Nam Trung Bắc, hữu công trong Phong trào Chấn- hưng Phật-giáo Việt-Nam, trong hậu bán thế-kỷ 20, Phật Lịch (1920-1963 Dương lịch).

Điều 2:  - Ngày kỷ niệm trên được ấn-định vào ngày mồng 8 tháng Chạp âm-lịch, nhằm ngày Thành-đạo của Đức Bổn-Sư.

Điều 3:  - Các giáo phái Phật-Giáo Nam Bắc Tông trong Giáo hội, các Ban Đại diện Giáo-hội và các cấp nhiệm-vụ lập danh sách và tiểu sử  các vị Tiền-bối hữu công, trình lên Giáo-hội Trung-Ương, để ghi vào sử Phật-giáo Việt-Nam cận đại.

Điều 4:  - Quý vị Phó Viện-Trưởng, Tổng Thư-Ký, Tổng vụ trưởng, Tổng-vụ Tăng sự, Tổng-vụ Cư-sĩ, Tổng-vụ Thanh niên chiếu nhiệm vụ thi hành quyết định này.

Phật lịch 2513–Sài gòn, ngày 16 tháng 12 năm 1969.

Thượng Tọa Thích Thiện Hoa.

(ấn, ký) 

 

Nơi nhận:

- Các Tổng vụ, Vụ.

- Các cơ quan trực thuộc Viện Hóa-Đạo.

- Các B. Đ. D. Giáo hội các cấp trong ngoài nước “để chiếu hành”.

 


 

GHI ÂN TIỀN BỐI ^

Bài của Thượng tọa Thích Thiện-Hoa, Viện-Trưởng Viện Hóa-Đạo đọc tại chùa Ấn Quang, trụ sở tạm của Giáo Hội P. G. V. N. T. N. vào ngày “đại lễ tri ân những vị hữu công trong Phong trào Chấn hưng Phật-giáo Việt-Nam” gần nữa thế-kỷ (1920-1963), nhân ngày Phật Thành Đạo, mùng 8 Tháng Chạp năm Kỷ Dậu (15.01.1970)

Kính bạch: Đức Tăng-Thống,

Kính bạch chư Tôn Trưởng-lão Hòa-thượng,

                        Thượng-tọa, Đạ-đức Tăng, Ni,

Kính thưa: Đại diện Quý Giáo phái,

Kính thưa: Quý quan khách, đồng bào Phật-tử,

Kính thưa: Quý Liệt Vị, 

Hôm nay, là ngày “Đại lễ Phật Thành-Đạo”, cũng là ngày Đại lễ tri ân đầu tiên kẻ còn người mất, hữu công trong sự nghiệp Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam” gần nữa thế-kỷ nay. (1920-1963)

Thừa lệnh Đức Tăng Thống và Hội đồng lưỡng viện, nhân danh Viện-Trưởng Viện Hóa-Đạo, Tôi xin thành kính tuyên dương thành tích hoạt động và phương danh những bậc hữu-công trong Phong trào Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam, gần 50 năm trở lại đây. 

 

BA ĐIỀU SƠ XUẤT

Trong bài nầy, chúng tôi xin cáo lỗi trước, có 3 điều sơ-xuất mà chúng tôi không sao tránh khỏi được; xin quý liệt vị từ bi hoan hỷ:

1.- Phong trào Chấn-hưng Phật-giáo, gần nữa thế-kỷ nay, Quý vị hữu công với Đạo rất nhiều và thành tích, công đức của Quý vị vô biên, với thời gian ngắn ngủi này, chúng tôi không thể nào nhớ hết và tuyên dương hết được;

2.- Còn rất nhiều vị Tiền-bối danh-đức, nhất là ở miền Trung và miền Bắc, mà chúng tôi chưa được hân-hạnh biết tới, nên cũng không biết làm sao sưu tầm được đầy đủ;

3.- Ngày giờ năm tháng, xứ sở, thành tích hoạt động của Quý liệt vị, chúng tôi ghi được phần nào, còn bao nhiêu, không biết làm sao ghi được đầy đủ.

 

[2]
 

PHẬT GIÁO DU NHẬP VIỆT NAM LẦN ĐẦU TIÊN ^

Thưa Quý liệt vị,

Chúng ta hãy nghiêm chỉnh và thành kính, từ từ lật lại từng trang lịch sử Phật-giáo Việt-Nam. Chúng ta thấy Phật-giáo bắt đầu có mặt trên Quê hương Tổ quốc Việt Nam vào cuối Thế-kỷ thứ II, tức là năm 189 sau Tây Lịch, đến nay–1970–là 1781 năm, gần 20 thế-kỷ, do bốn vị cao tăng truyền giáo:           

1.      Ngài Mâu-Bác (người Trung-hoa)

2.      Ngài Khưu-Tăng-Hội (người Ấn-Độ)

3.      Ngài Ma-Ha Kỳ-Vứt (người Ấn-Độ)

4.      Ngài Chi-Cương-Lương (người Ấn-Độ).

 

Có hình

Chân-dung Tổ KHÁNH-ANH

Thượng-Thủ Giáo-Hội Tăng-Già Toàn quốc (1959)

Pháp-chủ Giáo-Hội Tăng-Già Nam-Việt (1957). 

 

PHẬT GIÁO TRẢI QUA CÁC TRIỀU ĐẠI [3] ^

Phật-giáo trải qua bao nhiêu triều đại, cho đến Đinh, Lê, Lý, Trần có rất nhiều vị Thiền-sư và Phật-tử đã thực sự giữ vai trò cứu nước giúp dân, đem lại Hòa Bình an vui cho Dân tộc và xứ sở. Những triều đại này, thành những triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Dân tộc Việt-Nam, đồng thời cũng đã viết thành những trang sử vàng son nhất cho Phật-giáo Việt-Nam, như quý Ngài:

- Khuông-Việt Thái- Sư

- Vạn-Hạnh Thiền-Sư

- Cảm-Thành Thiền-sư

-Trúc-Lâm Tam Tổ

- Viên-Chiếu Thiền-Sư

- Đổ-Thuận Thiền-Sư.

- Huệ-Sinh Thiền-Sư

- Đa-Bảo Thiền-Sư

- Thiền-Lão Thiền-Sư

- Lý Thái-Tổ (Lý Công Uẩn)

- Lý Thái-Tôn

- Tuệ Trung Thượng Sĩ (tức Trần Quốc Toản ).vv.

            Quý vị danh Tăng trên đây đã được lịch sử Phật-giáo Việt-Nam cũng như lịch sử Dân tộc Việt-nam ghi đậm công đức, thành tích uy danh rồi. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ thành kính tri ân và ghi lại thành tích “Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam” và uy danh của Quý liệt vị, trong vòng gần 50 năm trở lại đây, để cho đoàn hậu côn kính mộ và noi gương mà thôi.

 

THỜI KỲ PHẬT GIÁO SUY ĐỒI ^

Thưa Quý liệt vị,

Từ khi quê hương Tổ quốc của chúng ta bị người Pháp đô hộ, họ đã cố tình thay hết tất cả những gì quý báu của Dân tộc Việt-Nam ta, bằng cách thế vào đó những cái gì của họ:từ Tôn giáo, Văn hóa, giáo dục, phong tục, tập quán, …

   Như muốn loại trừ ảnh hưởng của Phật-giáo và Nho giáo, thì họ bỏ hết chữ Nho và thay bằng chữ Pháp. Nhưng chỉ dạy người dân đủ biết để làm nô lệ cho họ. Vì chén cơm manh áo, nên chúng ta mỗi ngày mỗi nhiều bỏ hết chữ Hán, học theo chữ Pháp. Do bỏ chữ Hán nên chúng ta không đọc được kinh Phật; Vì lúc bấy giờ kinh sách Phật toàn chữ Hán.

   Không đọc được Kinh sách Phật, nên tín đồ không hiểu giáo lý của Phật là gì. Bắt đầu từ đó họ xa dần Đạo Phật. Đạo Phật bắt đầu suy đồi. Cho đến tín đồ không biết Đạo Phật là gì, ai là người khai sáng Đạo Phật, giáo lý Đạo Phật ra sao. Đến nỗi toàn quốc không có một ngôi trường học Phật! Đạo Phật là một Đạo của Dân tộc Việt-Nam rất lâu đời,-1781 năm (đến năm 1970) gần 20 thế-kỷ-gần 90% dân chúng theo Đạo Phật (theo bản điều tra của Phó Thủ Tướng về dân số Đô Thành, thì năm 1962 (Trang 117, 118, 119) Phật-giáo đồ chiếm 85,40% dân số; đến năm 1967 (trang 13, 14) thì Phật-giáo đồ chiếm 87,24% dân số. Nếu kiểm tra miền Tây, miền Đông Nam phần thì có lẽ bằng hoặc trên số này. Và nếu kiểm tra ở miền Trung thì có lẽ trên 90% dân chúng theo Đạo Phật. Nhưng Đạo Phật bị kỳ thị ghép vào Dụ số 10, như một hiệp hội không hơn không kém. Mặt tiền các đại lộ của Đô thành không có một ngôi Chùa nào được chường mặt, trái lại phải rút hình vào những đường hẽm hay trong xó! Mỗi khi Đại lễ hay rằm lớn, làm chay, làm phước, thuyết pháp, giảng đạo, … đều phải xin phép chính quyền. Chư Tăng thường bị chính quyền bắt đi lính, làm xâu hoặc canh gác. Phật-giáo thời bấy giờ bị kỳ thị và suy đồi tột độ! Chỉ còn hình thức cúng bái, mê tín dị đoan. Chư tăng hầu hết chỉ lo đi cúng đám, làm nghề sinh nhai. Đến nổi ông Tăng không khác gì người tục! Đạo Phật bấy giờ bị người chê là yếm thế, tiêu cực hay nhu nhược. Ông Tăng không còn giá trị gí cả!.

 

Có hình

Sa môn LÊ KHÁNH HÒA (54 tuổi)

Chủ nhiệm Phật học tạp chí “Từ Bi âm”

Chánh hội trưởng Ban trị sự Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học, năm 1931

Người quê quán ở Bến Tre (Chùa Tiên Linh) chẳng nài lao khổ, tìm bạn đồng chí, quyết tâm lo Chấn hưng Phật-giáo. Bốn năm tiêu tứ mới lập thành được hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật Học.           

Lúc bấy giờ toàn quốc chỉ còn một ít ngôi chùa Tổ duy trì đạo mạch, thỉnh thoảng có mở một vài trường hương, trường kỳ!

 

Có hình

Hòa Thượng THÍCH TRÍ THIỆN

Trụ trì chùa Tam bảo Rạch Giá.

Bị tù và chết tại Côn Đảo vì tội “Yêu nước Chống Pháp”

Miền Nam có Chùa Tổ: Giác Viên, Giác Lâm (Sài gòn) Giác Hải, (Tổ Từ Phong ở chùa Giác Hải ChoLon có công dịch kinh và khắc bản, như bộ Quy Nguyên Trực Chỉ, …Tổ có óc cải tiến), Phi Lai, Tây An (Châu Đốc), Thiên Thai (Bà Rịa), Tuyên Linh (Bến Tre) Long Triều (Sài Gòn), Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), Tam Bảo (Hòa Thượng Nguyễn Văn Đồng trụ trì chùa Tam Bảo Rạch Giá và sư Thiện Chiếu vì tội “ái Quốc chống Pháp” mà Hòa Thượng bị tù ở Côn Đảo cho đến ngày bỏ xương; còn sư Thiện Chiếu thì bị đánh đập tù đầy đến Bại xuội thành Phế nhơn)…

Miền Trung có chùa Tổ: Thiên Tôn, Tây Thiên, Trúc Lâm, Từ Hiếu, Từ Đàm, Quốc Ân, Báo quốc Tra Am (Huế); Thập Tháp, Long Khánh, Linh Phong (Bình Định); Thiên Ấn, Quang Lộc (Quãng Ngãi); Từ Quang (Tổ Từ Quang Phú Yên giải kinh dịch sách rất nhiều), Bát Nhã, Bảo Tịnh (Phú Yên), …

Miền Bắc có chùa Tổ: Vĩnh Nghiêm, tế Các, Bằng Sở, Mật Ứng, Hương Tích, Trung Hậu, Phú Ninh, Phúc Thỉnh, Đồng Đắc, Hưng Ký, …

 

Có hình

Tổ CHÍ-THIỀN, Chùa Phi Lai, Châu Đốc.

Đạo đức Ngài sáng chói trong một thuở khắp miền Nam


 

PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM (1920) ^

Vì thấy sự suy đồi xuống dốc tột mức của Phật-giáo Việt-Nam mà đau lòng, đồng thời nhờ ảnh hưởng Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo ở Trung Hoa, do báo Hải Triều Âm cổ xúy, nên bắt đầu từ năm 1920, chư Tôn Hòa Thượng Trưởng Lão, Thượng Tọa, Đại Đức họp lực với một số Phật tử Cư sĩ có nhiệt tâm với Đạo, bắt đầu lo việc Chấn Hưng Phật-giáo, mở các trường gia giáo để đào tạo Tăng tài và thỉnh thoảng có thuyết pháp cho tín đồ nghe.

CÁC TRƯỜNG GIA GIÁO Ở MIỀN NAM:

Chùa Tuyên Linh của Tổ Khánh Hòa ở Bến Tre,

Chùa Phi Lai của Tổ Chí Thiền ở Chợ Voi, Châu Đốc.

Chùa Giác Hoa ở Bạc Liêu dạy 100 Ni (Bà Hai Ngó đệ tử Tổ Phi Lai. Bà phát tâm xuất gia, cất chùa Giác Hoa, mở trường gia giáo, tứ sự cúng dường cho 100 học Ni, tu học trong 1 năm–1927–tại Bạc Liêu).

Chùa Kim Huê, Vạn An, Phước Long ở Sa Đéc.

Chùa Long An của Tổ Khánh Anh ở Trà Ôn (1931), …

Chùa Tổ Đình của Thiên thai Thiền Giáo Tông, là chùa Long Hòa (Phước Tuy) do Tổ Huệ Đăng khai gia giáo năm 1936.

 

CÁC TRƯỜNG GIA GIÁO Ở MIỀN TRUNG:

Chùa Thập Tháp ở Bình định,

Chùa Từ Quang, Bát Nhã ở Phú Yên.

Chùa Thiên Ấn, Quang Lộc ở Quãng Ngãi, …

 

CÁC TRƯỜNG GIA GIÁO Ở MIỀN BẮC:

Chùa Sở, Chùa Bát Tháp, Chùa Bồ Đề, ….

 

Có hình

 

BAN HỘI VIÊN SÁNG LẬP HỘI NAM KỲ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

 

CHƯ HÒA THƯỢNG:

 

1 - H. T. Khánh Hòa.               2 - H. T. Trí Thiền.                   3 - H. T.Từ  Phong.

4 - H. T. Huệ Quang.               5 - H. T. Chánh Quả.               6 - H. T.Thiện Dư. 

CÁC CƯ SĨ:

 

7 – Ông Trần Nguyên Chấn.   8 – Ông Nguyễn Văn Cần.  9 – Ông Huỳnh Văn Quyền.

10 – Ông Trần Văn Khuê.     11 – Ông Phạm Ngọc Vinh  12 – Ông Nguyễn Văn Nhơn.

13 – Ông Lê Văn Phổ.

 

THỜI KỲ VẬN ĐỘNG (1920)

 

+MIỀN NAM ^

A – Hội Lục Hòa Và Tạp Chí Pháp Âm:^

Đến năm 1920, tại miền Nam, quí Sư Cụ họp nhau lập “Hội Lục Hòa” (Không phải giáo hội Lục Hòa Tăng bây giờ), mục đích để đoàn kết và vận động Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo.

Đến tháng Giêng, năm Kỷ Tỵ, Tổ Khánh Hòa đích thân đi vận động hầu hết các Chùa lớn ở miền Nam, và Tổ còn cử một phái đoàn do Sư Thiện Chiếu hướng dẫn, ra Trung và Bắc để vận động Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo, được một số hưởng ứng. Tổ là người đầu tiên và có công lớn nhất trong “Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo” ở miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung. Mặc dù thân gầy nhiều bệnh, nhưng Tổ không lúc nào xao lãng Phật sự.

Tổ còn cho ra tạp chí Pháp Âm để cổ động cho Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo. Phục lực với Thầy, Sư Thiện Chiếu cho xuất bản tờ Phật Hóa Tân Thanh Niên, để cổ động trong giới Thanh niên Tăng, Ni và Phật tử. Đây là hai tờ báo Phật-giáo đầu tiên bằng chữ Việt, mở đầu cho các tờ báo Phật học tạp chí bằng chữ Việt sau này. Ngoài hai tờ báo nói trên, sư Thiện Chiếu còn xuất bản  một số Phật học tùng thư, được đa số trí thức hoan nghênh.

– THIÊN THAI THIỀN GIÁO TÔNG VÀ TẠP CHÍ BÁT NHÃ ÂM:

Năm 1931 Ngài Hòa Thượng Huệ Đăng chùa Thiên Thai, thành lập Thiên Thai Thiền Giáo Tông, Thiện Hữu Hội và cho xuất bản tạp chí Bác Nhã Âm là một cơ quan ngôn luận có nhiệm vụ truyền bá giáo lý trong toàn quốc một cách sâu rộng.

Có hình

 

 

CHÙA LINH SƠN số 149 Đường Douaumont, Sài Gòn

(Ảnh chụp hồi lễ khánh thành ngôi Pháp Bảo Phường

và ngôi Duyệt Kinh Thất, trong tháng Décember 1929)

Sánh với các ngôi chùa tốt ở Lục Châu thì chùa Linh Sơn thua kém nhiều lắm, song xem cảnh đẹp hơn và hợp với việc nghiên cứu Phật học, vì chùa ấy ở nơi rún Nam Kỳ, dễ bề cho Tăng đồ và thiện tín trong các Tỉnh tới lui mà lo sự vun bồi nền đạo đức.

 

Có hình

 

 

CÁC VỊ GIÚP VIỆC TRONG TÒA SOẠN TỪ BI ÂM

Kể từ bên trái qua bên mặt những vị ngồi ghế:

1 – Nguyễn Văn Nhơn (Thủ Bổn).                     2 – Trần Nguyên Chấn (Quản Lý).

3 – H.T. Bích Liên (Chánh Chủ Bút).                 4 – H.T. Nguyễn Chánh Tâm (Chủ Nhiệm).

5 – Phạm Ngọc Vinh (Chủ Nhơn).                     6 – Liên Tôn (Phó Chủ Bút).

 

Những người đứng:

1 – Dương Văn Thắng (Tiến Sư)                       2 – Giác Nhựt (Trợ Bút)

3 – Thiên Dụng (Trợ Bút)                                  4 – Võ.

 

B – Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật Học: ^

   Đến ngày 26.8.1931, lần đầu tiên, một Hội Phật Học ra đời, lấy tên là “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học”, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn số 149 Đường Douaumont (Tức đường Cô Giang bây giờ) Sài Gòn. Hội ra tạp chí Từ Bi Âm (Ngày 1.1.1932) để truyền bá giáo lý; lập Pháp Bảo Phường, thỉnh Tam Tạng Kinh Trung Hoa làm tài liệu nghiên cứu. Hội làm cho Phật Pháp được sáng tỏ trong đương thời.

Những nhân vật hữu công với hội này:

Bên chư Tăng có:

-     Tổ Khánh Hòa chùa Tuyên Linh Bến Tre.

-     Tổ Huệ Quang chùa Long Hòa Trà Vinh.

-     Tổ Trí Thiền chùa Tam Bảo Rạch Giá.

-     Tổ Từ Phong chùa Giác Hải Chợ Lớn.

-     Tổ Chánh Quả chùa Kim Huê Sa Đéc.

-     Tổ Chí Thiền chùa Phi Lai Châu Đốc.

-     Tổ An Lạc chùa Vĩnh Trường Mỹ Tho.

-     Hòa Thượng Nguyễn Chánh Tâm chùa Thiên Phước Trà Ôn.

-     Hòa Thượng Tâm Quang chùa Viên Giác Bến Tre.

-     Hòa Thượng Lên Phước Trí ở Kế Sách Sóc Trăng.

-     Hòa Thượng Huệ Thành chùa Thành Linh Cà Mau.

-     Hòa Thượng Toàn Chơn chùa Pháp Võ Châu Đốc.

-     Hòa Thượng Diệu Pháp chùa Long Khánh Trà Vinh.

-     Ngài Yết Ma Nguyễn Văn Chức chùa Tam Bảo Hà tiên.

-     Ngài Giác Thọ Thiện Tâm chùa Đại Giác Biên Hòa.

-     Hòa Thượng Huệ Định chùa Phước Long Sa Đéc.

-     Hòa Thượng Từ Phong chùa Liên Trì Bến Tre.

-     Hòa Thượng Thiện Dư.

 

Bên cư sĩ có:

-     Ông Trần Nguyên Chấn.                                     - Ông Nguyễn Văn Cần.

-     Ông Huỳnh Văn Quyền.                                      - Ông Trần Văn Khuê.

-     Ông Phạm Ngọc Vinh.                                        - Ông Nguyễn Văn Nhơn.

-     Ông Lê Văn Phổ …

Tổ Khánh Hòa hiến một ngôi chùa tư cho Hội, để lập Pháp Bảo Phường, thờ Tam Tạng Kinh (Hiện nay vẫn còn ở chùa Linh Sơn số 149 đường Cô Giang Sài Gòn).

Hòa Thượng Bích Liên và Liên Tôn làm Chánh Phó chủ bút tạp chí Từ Bi Âm. Cụ Trí Độ (Bình Định), Thượng Tọa Thiền Dung (Mỹ Tho), Thượng Tọa Giác Nhựt (Cần Thơ), và Thượng Tọa Nhựt Chánh đều làm trợ bút.

Các cư sĩ ở Trà Vinh thỉnh Tam tạng Kinh ở Trung Hoa về cúng cho Hội, để làm tài liệu nghiên cứu (hiện nay vẫn còn thờ ở chùa Linh Sơn).

 

MỘT TẤM GƯƠNG

Vì đóng góp chung cho nền Chấn Hưng Phật-giáo nước nhà, nên ngoài sự hy sinh xác thân già yếu, Tổ Khánh Hòa còn đem chùa tư của mình hiến cho Hội, cất Pháp Bảo Phường để thờ Tam tạng Kinh.

Hòa Thượng Nguyễn Chánh Tâm trụ trì chùa Thiên Phước trà Ôn (Cần Thơ), đem ruộng tư chùa mình hiến cho Hội để đóng góp vào Phật sự công cộng, mặc dù ruộng chùa Ngài không nhiều.

Chúng tôi trích lại trong Từ Bi Âm, số 25, về lời phát nguyện của Hòa Thượng Chánh Tâm sau đây, để ghi đậm ơn đức của Ngài đối với Tiền đồ Phật-giáo và cũng để làm gương soi cho hậu thế.

 

TỜ NGUYỆN CÚNG LÚA RUỘNG.

Tôi là Hòa Thượng Nguyễn Chánh Tâm, pháp danh Thiện Quang, trụ trì chùa Thiên Phước, ở làng Thiện Mỹ, Tổng Bình Lễ, quận Trà Ôn (Cần Thơ), làm tờ này bằng lòng cúng cho Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu phật Học, hội quán chùa Linh Sơn Sài Gòn, 15 năm huê lợi về ba mẫu năm sào (3 ha 30a) ruộng hạng nhứt của Thiên Phước Tự đứng bộ tại làng Hạnh Tân, Tổng Bình Lễ, cần Thơ.

Hội có quyền cho mướn sở ruộng ấy, kể từ tháng Giêng năm 1933, mà lấy lúa tá điền để trợ giúp sự hành-động Từ-Bi-Âm và nuôi Tăng đồ học đạo.

Nếu Tôi chết trước trong hạng 15 năm nói trên đó, thì các người Pháp tử của tôi ở cai quản chùa Thiên Phước cũng phải tuân theo lời nguyện của tôi đây, mà để cho Hội cho mướn sở ruộng đó, lấy huê lợi mà trợ Đạo.

Sài gòn le II Décember 1932

THIÊN PHƯỚC TỰ

Hòa Thượng NGUYỄN CHÁNH TÂM.

 

Có hình

 

Bốn Hòa Thượng ở Lưỡng Xuyên Phật học.

Nhiếp ảnh 1935, kể bên mặt qua:

1 – Ngài Huệ Quang Chánh Tổng Lý.               2 – Ngài Từ Phong Đại Đạo Sư.

3 – Ngài An Lạc Chánh Hội Trưởng.                4 – Ngài Khánh Anh Pháp sư.

 

C – Liên Đoàn Học Xã ra đời: ^

Đến năm 1933, Liên Đoàn Học Xã ra đời, mục đích để đào tạo Tăng tài và hoằng dương chánh pháp. Đây là một Phật Học Đường tuần hòa và liên tục, mỗi chùa đài thọ chi phí 3 tháng; ban ngày dạy học, ban đêm thuyết pháp. Bắt đầu từ chùa Long Hòa ở Tiểu Cần, Vĩnh Bình, tiếp đến chùa Thiên Phước Trà Ôn (Sư cụ Khánh Anh và Sư Cụ Pháp Hải làm Pháp sư dạy trường này) rốt sau đến Chùa Viên Giác Bến Tre rồi bị tan rã.

Những nhân vật hữu công trong Liên Đoàn Học xã như: Tổ Khánh Hòa (Bến Tre), Huệ Quang (Tiểu Cần), Khánh Anh (Trà Ôn), Pháp Hải (Vĩnh Long), Hòa Thượng Chánh Tâm (Trà Ôn), Hòa Thượng Viên Giác (Bến Tre)…và các phật tử bổn đạo của các chùa trên.

 

D – Hội Lưỡng Xuyên Phật Học: ^

Đến năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra đời, muc đích để đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp. Hội thỉnh Đại Tạng Kinh và Tục Tạng Kinh để làm tài liệu nghiên cứu (do Ông Ngô Trung Tín và cụ Huỳnh Thái Cửu thỉnh cúng cho Hội),và xuất bản tạp chí Duy Tâm Phật Học, để làm cơ quan hoằng pháp. Hội mở Phật Học Đường Lưỡng Xuyên (1935) để đào tạo Tăng, Ni (về sau trường Ni dời về chùa Vĩnh Bữu ở thôn Bến Tre).

 

Có hình

 

THÍCH HỌC ĐƯỜNG của HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC Trà Vinh

Lễ Khai giảng năm 1935, từ bên mặt kể qua:

1 – Ngài Huệ Quang Chánh Tổng Lý.               2 – Ngài Từ Phong Đại Đạo Sư.

    3 – Ngài An Lạc Chánh Hội Trưởng.                            4 – Ngài Khánh Anh Pháp sư.

Đứng phía sau là Tăng sinh của trường.

 

Có hình

 

Đây là Thích Học Đường của Hội Lưỡng Xuyên Phật Học Trà Vinh.

Kỷ niệm ngày khai trường nhằm mùa hạ 1935.

 

Một số chư Tăng xuất thân từ trường này, hiện nay dự vào hàng giáo phẩm cao cấp của Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất Trung Ương: Hòa Thượng Thiện Hòa, Thượng Tọa Thiện Hoa, Thượng Tọa Huyền Quang, Thượng Tọa Hành Trụ, Thượng Tọa Quảng Liên, …

Những nhân vật hữu công với hội này:

Bên chư Tăng có:

Sư cụ Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh, Pháp Hải (Vĩnh Long) Liên Trì, Viên Giác (Bến Tre), Kim Huê, Vạn An, Bửu Chung (Sa Đéc) và Giác Hải (Cholon), …

Bên cư sĩ có quý Ông:

Huỳnh Thái Cữu, Ngô Trung Tí, Trần Văn Giác, Phạm Văn Liêu, Thái Phước, Thái Khánh, Lữ Long Giao, Nguyễn Văn Khỏe, Phạm Văn Luông, Trần Thến, Nguyễn Văn Nhơn, Ngưyễn Văn Thọ (tức Đại Đức Thích Trường Lạc) đều ở Trà Vinh, và Ông Trần Huỳnh, chủ bút Duy Tâm Tạp Chí (Sa Đéc), …

Cũng trong thời gian này, tại Sài gòn có Ông Đoàn Trung Còn chủ trương phiên dịch, sáng tác và xuất bản một số kinh sách Phật đáng kể.

 

Có hình

 

BAN TRỊ SỰ HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC

Từ mặt qua trái; Cụ HUỆ QUANG Chánh Tổng Lý, Cụ DIỆU PHÁP Phó Tổng Lý, Cụ PHÁP HẢI Trụ trì chùa Hội Quán, Cụ KHÁNH HÒA Đốc Học Sư Trường Phật Học, Cụ TÂM QUANG Cố vấn, Cụ KHÁNH ANH Pháp sư Trường Phật Học.

 

BÊN CƯ SĨ CÓ:

Ông TRẦN VĂN GIÁC Phó Thủ Bổn, Ông NGUYỄN VĂN KHỎE Kiểm soát,

Ông PHẠM VĂN LIÊU Phó Hội Trưởng, Ông SƠN SAU Kiểm soát,

Ông THÁI PHƯỚC Thủ Bổn, Ông PHẠM VĂN LUÔNG Thư ký.

 

 

+ MIỀN TRUNG ^

A – Hội An Nam Phật Học: ^

Sau Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học 1 năm, đến năm 1932 tại miền Trung, Hội An Nam Phật Học ra đời, trụ sở đặt tại chùa Từ Đàm-Huế.

Những vị sáng lập:

Bên Tăng có Tổ Giác Tiên (Cố Viện Chủ chùa Trúc Lâm), ...

Bên cư sĩ có Bác sĩ Lê Đình Thám Pháp Danh Tâm Minh, ...

Hội mở nhiều chi hội ở các Tỉnh, Quận, Xã khắp cả miền Trung. Hậu thân của Hội An Nam Phật Học là Hội Phật Học Trung Việt.

Hội thỉnh Đại Tạng Kinh để làm tài liệu nghiên cứu và ra tờ tạp chí Viên Âm (1934) để hoằng dương chánh pháp. Bác sĩ Lê Đình Thám (Tâm Minh) làm hội trưởng kiêm chủ nhiệm và chủ bút tạp chí Viên Âm. Hội thành lập Gia đình Phật Hóa Phổ đầu tiên (tức hiện nay là Gia đình Phật tứ) và lập Trường Bồ Đề trước nhất.

 

Có hình

 

CHÙA TỪ ĐÀM HUẾ

 

Tổ MINH HOẰNG TỪ DUNG kiến tạo từ đời nhà Lê Nam Quý Vị 1683 đến nay (1970) là 287. Trụ sở của Tổng Trị Sự và tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên Huế. Nơi đầu tiên phát động Phong trào Phật-giáo tranh đấu năm 1963.

B –Phật Học Đường Báo Quốc và Kim Sơn: ^

Hội mở Phật Học Đường tại chùa Báo Quốc (1935) để đào tạo Tăng tài, sau dời về Tòng Lâm Tu Viện Kim Sơn (1945). Những vị xuất thân từ trường này, hiện nay dự vào hàng giáo phẩm cao cấp của Giáo hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất Trung Ương và miền Trung như: Thượng Tọa Thiện Minh, Trí Quang, Thiện Siêu, Trí Tịnh, và Trí Thành, …

Hội còn Tổ chức các đoàn thể thanh niên Phật tử như: Đoàn thanh niên Phật học Đức dục, Gia đình Phật Hóa Phổ, Đồng Ấu Phật Tử. Người xuất thân từ Thanh Niên Phật Học Đức Dục, hiện nay là Thượng Tọa Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Giáo sư Võ Đình Cường (Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia đình Phật tử Việt Nam), ...

 

Có hình

 

Tổ GIÁC TIÊN.

Cố viện chủ chùa Trúc Lâm (Huế).

 

C –Phật Học Đường Trúc Lâm và Tây Thiên: ^

   Trước Hội An Nam Phật Học ra đời, hàng năm Quý sư Cụ tại Huế thường thỉnh Tổ Phước Huệ và Phổ Huệ ở chùa Thập Tháp Bình Định ra Huế dạy Phật Pháp. Tổ Thập Tháp dạy Phật pháp cho chư Tăng tại Huế đã 4 đời. Đến chúng tôi (T.T. Thích Thiện Hòa, T.T. Thiện Hoa) là đời thứ tư. Tổ đã nhiều năm ra Huế và được mời vào Hoàng cung giảng kinh từ đời vua Thành Thái đến Vua Bảo Đại, nên được suy tôn là Quốc Sư. Cụ Lê Đình Thám, Trí Độ và các Thầy Đại Học tại Huế, đều là học trò của Tổ. Có thể nói Phật-giáo miền Trung được hưng thịnh như ngày nay, một phần lớn do công của Tổ xây đắp. Nhờ ảnh hưởng này mà Quý sư cụ ở Huế họp nhau mở trường Trung Học Phật-giáo ở chùa Trúc Lâm, sau dời về chùa Tây Thiên. Còn trường Sư nữ thì mở tại chùa Diệu Đức.

 

Có hình

 

PHẬT HỌC ĐƯỜNG BÁO QUỐC HUẾ.

(Nhiếp ảnh năm Tân Tỵ, 1939)

 

Có hình

 

PHẬT HỌC ĐƯỜNG TÂY THIÊN HUẾ.

Từ trái qua phải: T.T. Quy Thiện, Ôn Thiền Tôn,

Ôn Thập Tháp, Ôn Tường Vân, Ôn Quốc Ân.

Phía sau là Quý vị học Tăng Cao đẳng và Trung đẳng.

(Nhiếp ảnh ngày Phật Đản năm Canh Thìn, 1938).

 

Những nhân vật hữu công với Phật-giáo miền Trung:

Bên Tăng già có:

Quốc sư Phước Huệ, Pháp sư Phổ Huệ, Hòa Thượng Tường vân (Thích Tịnh Khiết), Hòa Thượng Thiền tôn, Trúc Lâm, Tây Thiên, Từ Hiếu, Tra Am.

Và Quý Thượng Tọa Mật Khế, Quy Thiện, Đôn Hậu, Mật Nguyện, Mật Hiển, Trí Thủ, Mật Thể (Thượng Tọa Mật Thế viết quyển Việt Nam Phật-giáo lược sử), …

Bên cư sĩ có:

Cụ Lê Đình Thám, pháp danh Tâm Minh (một cư sĩ có công nhất với Phật-giáo miền Trung), Cụ Trí Độ (một vị có công nhất với Phật Học Đường Báo Quốc), Cụ Lê Văn Định pháp danh Chơn An, Cụ Tôn Thất Tùng, Cụ Nguyễn Khoa Toàn (Đúc tượng Phật tại chùa Từ Đàm hiện nay), Cụ Hoàng Mộng Lương, Võ Đình Dung, Võ Đình Thụy, Nguyễn Văn Tiếng, và Bà Cao Xuân San tức Diệu Không, Bà Ưng Úy tức Diệu Huệ, ...

 

Có hình

 

QUÝ THẦY ĐẠI HỌC PHẬT ĐƯỜNG TÂY THIÊN HUẾ.

Ngồi giữa là Pháp sư  PHƯỚC HUỆ chùa Thập Tháp Bình Định

Từ trái sang phải:Thầy THÍCH QUẢNG HUỆ, THÍCH MẬT THỂ,

THÍCH TRÍ THỦ, THÍCH THIỆN TRÍ, THÍCH MẬT NGUYỆN,

THÍCH MẬT HIỂN, THÍCH CHÁNH THỐNG.

Đây là Phật Học Đường đầu tiên tại Huế (1935).

 

D –Phật-giáo Tỉnh Bình Định và Đà Nẵng: ^

Cũng trong thời kỳ Phật-giáo Chấn Hưng, tại tỉnh Bình Định có những bậc đống lương thạch trụ như: Quốc sư Phước Huệ (Chùa Thập Tháp) (1920-1945), Pháp sư Phổ Huệ (1920-1935), Hòa Thượng Vĩnh Khánh (Có công san bản và ấn hành các Văn phẩm như: Liên Tôn Thập Niệm Yếu Lãm, Tịnh Nghiệp Văn và Mông Sơn thập loại diễn nghĩa).

Hòa Thượng Long Khánh, Thiên Đức, Bạch Sa, Minh Tịnh có công sáng lập, giảng dạy và duy trì các trường gia giáo ở chùa Thập Tháp, Long Khánh, Bạch Sa, Minh Tịnh và Thiên Đức, thời kỳ 1930-1950.

Quý Ngài họp nhau lập Hội Phật Học Bình Định, từ năm 1932 đến 1945. những vị cư sĩ hữu công trong hội này có Ông Nguyễn Mạnh Trừng, Phan Thanh Khuyến, Lê Tú Oanh, …

Tại Đà Nẵng có lập Hội Đà Thành Phật Học và ra tạp chí Tam Bảo do Hòa Thượng Bích Liên làm chủ nhiệm.

Có hình

Chân dung  Cụ THÍCH TRÍ ĐỘ.

Người có công lớn nhất với Phật Học Đường báo Quốc.

(1935-1945).

 

+ MIỀN BẮC ^

BẮC KỲ PHẬT GIÁO TỔNG HỘI: ^

Sau Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học 3 năm, đến năm 1934, Hội “Bắc Kỳ Phật-giáo Tổng Hội” ra đời tại Hà Nội, trụ sở đặt tại chùa Quán sứ.

Hội xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ (ngày 10.12.1935), Bồ Đề Tân Thanh và Tiếng Chuông Sớm để hoằng dương chánh pháp. Hội mở trường Tăng tại Chùa Quán Sứ, trường Ni tại chùa Bồ Đề và chùa Bát Tháp.

   Những bậc hữu công trong Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo tại miền Bắc, bắt đầu từ năm 1932.

Bên Tăng già có:

-     Tổ Vĩnh Nghiêm pháp hiệu Thanh Hạnh,

Pháp chủ đầu tiên của Hội Phật-giáo Bắc Việt;

-     Hòa Thượng Tuệ Tạng, Thượng thủ Giáo hội

Tăng già toàn quốc nhiệm kỳ thứ  nhất;

-     Hòa Thượng Mật ứng, Pháp chủ Phật-giáo Bắc Việt;

-     Hòa Thượng Thanh Ất, Trụ trì chùa Trung Hậu, Phúc yên;

-     Hòa Thượng Trung Thứ, Trụ trì chùa Bằng Sở, Hà Đông;

-     Hòa Thượng Doãn Hà, Trụ trì chùa Tế Cát, Hà Nam.

 

Có hình

 

CHÙA QUÁN SỨ HÀ NỘI. ^

Trụ sở Trung Ương Hội Việt Nam Phật-giáo Bắc Việt

Trụ sở Chi bộ Phật-giáo Thế Giới tại Việt Nam (1951)

Chùa này trước 1934 còn nhỏ bé. Vì các Triều Vua Chúa tạm dùng nơi này để đón tiếp Sứ Tàu, nên gọi là Quán Sứ (Chùa trùng tu năm 1934).

-     Hòa Thượng trụ trì chùa Hương Tích, Hà Đông;

-     Hòa Thượng Quang Nghiễm, Trụ trì chùa Phú Ninh, Nam Định;

-     Hòa Thượng Trụ tì chùa Phúc Thỉnh, Ninh Bình;

-     Hòa Thượng trụ trì chùa Quế Phương, Nam Định;

-     Hòa Thượng Trụ trì chùa Bộ La, tỉnh Thái Bình;

-     Hòa Thượng Thanh Triệu, Trụ trì chùa Đồng Bắc, Ninh Bình;

-     Thượng Tọa Tố Liên, Chủ tịch Giáo Hội Tăng già Bắc Việt;

-     Thượng Tọa Trí Hải, Phó Hội chủ tổng Hội P.G.V.N. năm 1952;

-     Thượng Tọa Giải Ngạn, Trụ trì chùa Hưng Ký, Hà Nội;

-     Thượng Tọa Tuệ Chiếu, Giảng sư Hội Việt Nam Phật Giáo Bắc việt.

Những vị Cư sĩ hữu công với Phật-giáo miền Bắc:

Cụ Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Năng Quốc, Thiều Chữu (dịch bộ Hán Việt Tự Điển,…), Cụ Bùi Kỹ, Dương Bá Trạc, Trần Trọng Kim, (Lệ Thần), Nguyễn Can Mộng, Nguyễn Trọng Thuật, Phan K