GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO
50 NĂM
Chấn Hưng PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Sa môn
THÍCH THIỆN HOA soạn.
---o0o---
Tập 1
50 NĂM (1920-1970)
CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT
NAM
hay là “GHI ƠN TIỀN BỐI”
“Uống
nước nhớ nguồn”, đó là lẽ thường tình của con người, huống hồ là Phật
tử.
Hôm nay
hàng Phật-tử chúng ta đang sống trong hào quang tươi sáng của Phật, trong
một tổ chức có quy-mô, trong một đường lối giáo dục có phương pháp và
trong một tinh-thần thống nhất ý chí-hành động. Đó là nhờ sự gắng công
thường xuyên, ý chí bất khuất của các bậc Tiền-Bối trong Phong trào Chấn
Hưng Phật-giáo Việt-Nam, 50 năm về trước, của 3 miền Nam, Trung, Bắc.
Gần 100 năm
về trước, quê hương Tổ quốc của chúng ta bị người Pháp đô hộ, Dân tộc ta
và những gì mang nặng dân-tộc tính, có tinh thần quốc gia đều bị thực dân
Pháp bóp chẹt. Phật-giáo Việt-Nam nằm trong tình trạng ấy.
Nhưng không
hẹn mà nên, 50 năm về trước, các vị Tiền Bối cùng nằm trong một thời kỳ,
cùng trong một hạnh nguyện, đã khởi xướng và đẩy mạnh Phong trào Chấn Hưng
Phật-giáo Việt-Nam.
Kết quả của
nữa thế-kỷ hoạt-động trong chông gai, trong sự khủng bố chèn ép nặng nề,
là cơ sở Phật-giáo đã lan đến hạ tầng thôn xóm; giáo lý nhà Phật không còn
quanh-quẩn trong các Tu Viện mà đã quảng bá sâu rộng vào các tầng lớp dân
chúng; phạm vi giáo dục Phật-giáo không còn đóng khung ở Bậc lão-thành mà
đã đi sâu vào Thanh thiếu nhi Phật tử; nào Trường Bồ-đề, nào các Phật-học
viện, rồi đến Đại-học Vạn-Hạnh…
Song song
với công cuộc phát huy đời sống tâm linh, lãnh vực hoạt-động từ thiện xã
hội như: Cô nhi-viện, Ký-nhi-viện, v.v… đã gây nhiều ảnh hưởng lớn lao
trên toàn quốc.
Với những
thành quả lớn-lao như thế, chúng ta không thể không nghỉ đến công đức của
các vị Tiền-bối. Do đó, Hội Đồng Viện Hóa-Đạo đã quyết định tổ chức hàng
năm, lễ kỷ-niệm “GHI ÂN NHỮNG BẬC TIỀN-BỐI HỮU CÔNG TRONG PHONG-TRÀO
CHẤN-HƯNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM” vào ngày Phật Thành-Đạo (Mùng 8 tháng Chạp)
và bắt đầu từ Phật Lịch 2513 năm Kỷ Dậu (1970) tại trụ sở Tam Viện Hóa-Đạo
chùa Ấn Quang Sài Gòn.
Bài “GHI ÂN
TIỀN BỐI” này, bắt nguồn từ lòng tri ân không bờ bến, đối với các bậc Tiền
Bối và đã đọc lên trong buổi đại-lễ nói trên; rồi được sửa lại, thêm vào
những đoạn cần-thiết và đổi đầu đề là “50 Năm Chấn hưng Phật-giáo
Việt-Nam” Tập I. Sau tập này, chúng tôi sẽ viết tiếp quyển “Phật-giáo
Việt-Nam ngày nay”, tức là quyển “50 Năm Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam” tập
II.
Quyển sách
này viết ra nhằm các lợi ích sau đây:
1. Để Tăng
Ni và Phật tử thấy Phật-giáo Việt-Nam đã viết thành 1 trang lịch-sử vàng
son oai-hùng và oanh-liệt, gần 2000 năm cứu quốc và kiến-quốc, luôn luôn
chống ngoại xâm, trung-thành với quốc gia dân-tộc, cùng dân-tộc đồng an
đồng nguy, mua chuộc không được, áp lực không sợ, không dựa quyền thế và
không làm tay sai cho ngoại bang (xem đoạn tổng kết của quyển sách này, từ
trang 128 đến trang 138). Là Phật-tử phải có bổn-phận giữ-gìn trang
lịch-sử quý báu này.
2. Để Tăng
Ni và Phật tử đều thâm cảm hồng-ân sâu dày của Tiền-bối. Quý Ngài đã đóng
góp rất nhiều công-lao gian khổ và sự-nghiệp Chấn-hưng Phật-giáo trong nữa
thế-kỷ vừa qua.
3. Để Tăng
Ni và Phật Tử tin tưởng phấn khởi trước sự trổi dậy, tiến triển của
Phật-giáo Việt-Nam trong 50 năm vừa qua, từ khi suy đồi thậm tệ, đến lúc
thực sự phục-hưng.
4. Để Tăng
Ni và Phật tử sẽ ý thức trách-nhiệm hay bổn phận của mình, hăng hái tiếp
nối, và duy trì sự-nghiệp của Tiền bối.
Tập sách
này, chỉ là tài-liệu sơ-khởi, đương nhiên còn phiến-diện, vì công trình
vỏn vẹn chỉ có một mình tôi! Lại còn phải đảm-đang rất nhiều công việc.
Tôi ước mong tập tài liệu này có thể giúp ích về sau, để soi sáng cho
những công-trình hoàn bị hơn, thuộc loại giáo-sử này. Kính xin Quý liệt vị
Thiện Tri Thức vì lợi ích chung, hoan hỷ bổ-túc cho những điểm thiếu sót,
để khi tái bản được hoàn-bị.
Chùa Ấn Quang
Ngày
rằm tháng chạp năm Kỷ Dậu (1970)
Sa-môn Thích Thiện Hoa.
Của
Thượng-Tọa Thích Thiện-Hoa, viện Trưởng Viện Hóa-Đạo G.H.P.G.V.N.T.N, đọc
trong lễ kỷ-niệm lần đầu tiên (8/12 Kỷ dậu, Phật Lịch 2513) Ghi ân các bậc
tiền-bối hữu- công trong phong-trào chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam, hậu bán
thể-kỷ 25, Phật lịch.
NAM MÔ BỔN SƯ
THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
Thưa
Quý Liệt vị,
Như mọi
người đã biết, cách đây hơn thế-kỷ, Dân tộc Việt-Nam mất chủ quyền độc lập
từ ngày thực dân Pháp mang quân sang xâm chiếm nước ta. Cũng từ ngày đó,
Phật-giáo Việt-nam, một tôn giáo dân-tộc, có mặt trên đất nước này gần
2000 năm lịch- sử, đã đau đớn bước vào con đường suy-vong chung với
dân-tộc!.
Tuy nhiên,
hoàn cảnh tủi nhục chung ấy đã thúc đẫy lòng yêu nước mến đạo của dân-tộc,
nên đã có những Anh Hùng cách mạng đứng lên chống lại ách thực dân, giành
độc lập cho xứ sở. Cũng trong tinh-thần ấy, Phật-giáo Việt-Nam cũng có
những Bậc Tăng-sĩ, Cư-sĩ nhiệt tâm với tiền-đồ Đạo-pháp, đã tìm mọi cách
khôi-phục lại truyền-thống tín ngưỡng của dân-tộc bằng mọi cách, để duy
trì truyền-bá chánh-pháp, giữ lại những đạo-lý luân-thường, phong-tục tập
quán Văn-minh cổ-truyền của đất nước, đã chịu nhiều ảnh-hưởng Phật-giáo,
hầu đóng góp công nghiệp tranh thủ chủ-quyền và sinh tồn cho Tổ-quốc và
Đạo-pháp, chống lại những gì phi Dân tộc do ngoại bang mang đến.
Thưa
Quý Liệt Vị,
Hôm nay, đã
đến lúc chúng ta những người thừa kế có nhiệm vụ kiểm-điểm lại sự nghiệp
của tiền nhân, đồng thời kính cẩn ghi vào “Lịch sử Phật-giáo Việt-Nam cận
đại” những thành-tích riêng biệt của những bậc Tiền Bối, hữu công trong
Phong-trào Chấn-hưng Phật-giáo, để chúng ta noi theo đó mà tiếp tục giữ
gìn, và để cho những hậu-côn, tương lai của chúng ta noi gương học hỏi.
Bởi các lẽ
trên, trong đại-hội Cư-sĩ toàn quốc kỳ I vừa rồi, Giáo-hội Phật-giáo
Việt-nam Thống-nhất đã chính thức công-bố một Tuyên-cáo liên quan nhiều
vấn-đề quá-khứ, hiện-tại và vị-lai, cả đối nội cũng như đối ngoại của
Giáo-hội, trong đó điểm đầu tiên nhất: Giáo-hội long trọng ghi nhận
công-đức lớn lao của các bậc Tăng-sĩ, Cư-sĩ tiền-bối hữu công trong sự
nghiệp Chấn hưng Phật-giáo, từ gần nửa thế-kỷ qua tại–Việt-nam. Và tiếp
theo đó một quyết-định của Giáo-hội đã được ban-hành ngày 16/12/1969,
thiết-lập ngày kỷ-niệm hàng năm, đối với các Thánh Tăng đại-sĩ, các vị
Cư-sĩ Bồ-Tát tại-gia, thuộc các miền Nam Trung Bắc và Nam Bắc Tôn hữu
công, trong quá-khứ hoặc hiện-tại, vào dịp lễ kỷ-niệm Đức Phật Thành Đạo,
mùng 8 Tháng 12 âm-lịch.
Hôm nay,
để cuộc lễ đầu tiên vừa mới thiết lập đầy đủ ý nghĩa, Giáo hội Phật-Giáo
Việt-Nam Thống-Nhất và toàn thể Phật-giáo đồ thành tâm tưởng niệm:
-
Quý vị sáng-lập các Hội, các Đoàn, và các cơ-sở Văn-hóa
Xã-hội có mục đích khuyến khích nghiên-cứu, giáo-dục, học tập chánh-pháp
và thực hành theo chánh pháp;
-
Quý vị sáng-lập và Chủ-trì các cơ quan đào tạo Tăng-tài, các
vị Pháp sư, Giảng-sư, Giáo-sư hữu công, hữu danh,v ..v …
-
Quý vị phiên-dịch kinh-điển, trước tác và ấn hành các Văn
phẩm, họa phẩm, điêu khắc, ca nhạc, kiến trúc v.v … có giá trị liên quan
trực- tiếp, gián-tiếp trong việc phổ biến giáo-lý hình ảnh màu sắc
Đạo-Phật;
-
Quý vị sáng-lập và chủ-trì các cơ-quan ngôn luận, truyền bá
và Việt-hóa giáo pháp.
-
Quý vị đã hy sinh tánh mạng vì hộ-trì chánh pháp, quý vị
kiến-tạo và duy-trì các Tòng-lâm, các danh-lam thắng tích Phật-giáo, quý
vị Phụng thủ Tam-Tạng Thánh-Giáo;
-
Quý vị hằng Tâm hằng Sản, hữu danh, vô danh, Quý vị hộ trì
Tam- Bảo đã đóng góp xứng đáng, quý giá cho các Phật-sự trong
quá-khứ.v.v…
Đại-khái,
chúng ta ghi nhớ công-đức quý vị đã có công duy-trì, truyền-bá xây dựng
Phật-giáo Việt-nam, trong thời kỳ đen tối của Lịch- sử Dân- tộc và
Đạo-pháp, dưới sự phong tỏa, kỳ thị, kiểm soát của thực dân và các thế lực
tay sai từ 1920 đến nay. Pháp hiệu, phương danh và tiểu sử của các vị ấy
sẽ được thiết lập sau, vì phải hết sức thận trọng, cân nhắc để xác định
đúng mức công nghiệp có tính-cách và giá-trị lịch-sử của các Ngài, hầu
tránh những lỗi lầm thiếu xót trước khi đưa Quý Ngài vào lịch sử. Nhất là
tìm hiểu sâu xa sự liên hệ giữa sự Chấn-hưng Phật-giáo với sự quật-cường
của Dân-tộc đã nhịp nhàng như thế nào, để chứng minh rằng: Dân tộc
và Đạo pháp có sự gắn liền và bất khả phân, đồng an đồng nguy,
trong quá trình lịch sử; để chúng ta thêm tin tưởng và dấn thân phục vụ
cho tương lai, bất cứ trong lãnh vực nào mà dân-tộc cần đến.
Thưa
quý Liệt vị,
Tục ngữ có
câu: “Cây có gốc, nước có nguồn”. Quả vậy, Giáo hội PGVNTN chúng ta được
thiết-lập đến nay tuy mới 6 năm tròn, nhưng nó đã được thai nghén trưởng
dưỡng từ gần nữa thế-kỷ trước. Chúng ta là những người thừa hưởng sự
nghiệp vẻ vang của tiền nhân để lại. Do đó chúng ta, những người hiện tại,
có nhiệm vụ làm thế nào trang sử Phật-giáo Việt-Nam của thời vàng son
Đinh-Lê-Lý-Trần, và thời Chấn-hưng cận-đại, được nối liền và sáng chói tới
tương lai!
Có như thế,
mới mong được đền đáp phần nào công ơn xây dựng của tiền-hội, chúng ta cần
phải cố gắng và hy -sinh nhiều hơn nữa trong tương lai, mới mong giữ vững
được những công-trình sự-nghiệp cao cả của tiền nhân để lại.
Trước khi
dứt lời, chúng ta hãy giành một phút mặc-niệm và cầu nguyện cũng như hồi
hướng công đức giữ Đạo, dựng Đạo của các vị Tiền-Bối cho Hòa Bình đất nước
và sự trường tồn của Giáo-hội.
Trân trọng kính chào Quý Liệt Vị.
Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO
VIỆT NAM THỐNG NHẤT
^
VIỆN HÓA ĐẠO
243, Sư Vạn Hạnh
Số: 0176–VHĐ/VP/QĐ
VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO
-
Chiếu Giáo-chỉ ngày mồng 8 tháng 12
Phật lịch 2509 (14-12-65) của Đức Tăng Thống Ban Hành Hiến chương
G.H.P.G.V.N.T.N. được tu chỉnh bởi đại hội khoáng đại kỳ II,
-
Chiếu Biên bản đại hội
G.H.P.G.V.N.T.N. kỳ III, ngày 20-08-68, lưu nhiệm chức vụ Viện-trưởng Viện
Hóa-Đạo G.H.P.G.V.N.T.N
-
Chiếu giáo chỉ số 08 ngày 20-08-68
phê chuẩn và tấn phong Ban-Chỉ Đạo Viện Hóa-Đạo của Đức Thắng Thống.
-
Chiếu Tuyên-cáo ngày 01-12-1969 của
Viện Hóa-Đạo Giáo-hội Phật-giáo Việt-Nam Thống-nhất.
-
Chiếu Biên-bản phiên họp Hồi đồng
Viện Hóa-Đạo ngày 12-12-69.
QUYẾT ĐỊNH.
Điều 1:
- Nay trân trọng thiết lập ngày kỷ-niệm pháp-định các vị Tăng-sĩ, Cư-sĩ
Tiền-bối thuộc Nam Bắc Tôn tại Nam Trung Bắc, hữu công trong Phong trào
Chấn- hưng Phật-giáo Việt-Nam, trong hậu bán thế-kỷ 20, Phật Lịch
(1920-1963 Dương lịch).
Điều 2:
- Ngày kỷ niệm trên được ấn-định vào ngày mồng 8 tháng Chạp âm-lịch, nhằm
ngày Thành-đạo của Đức Bổn-Sư.
Điều 3:
- Các giáo phái Phật-Giáo Nam Bắc Tông trong Giáo hội, các Ban Đại diện
Giáo-hội và các cấp nhiệm-vụ lập danh sách và tiểu sử các vị Tiền-bối hữu
công, trình lên Giáo-hội Trung-Ương, để ghi vào sử Phật-giáo Việt-Nam cận
đại.
Điều 4:
- Quý vị Phó Viện-Trưởng, Tổng Thư-Ký, Tổng vụ trưởng, Tổng-vụ Tăng sự,
Tổng-vụ Cư-sĩ, Tổng-vụ Thanh niên chiếu nhiệm vụ thi hành quyết định này.
Phật lịch 2513–Sài gòn, ngày 16 tháng 12 năm
1969.
Thượng Tọa Thích Thiện Hoa.
(ấn, ký)
Nơi nhận:
- Các
Tổng vụ, Vụ.
- Các
cơ quan trực thuộc Viện Hóa-Đạo.
- Các
B. Đ. D. Giáo hội các cấp trong ngoài nước “để chiếu hành”.
Bài
của Thượng tọa Thích Thiện-Hoa, Viện-Trưởng Viện Hóa-Đạo đọc tại chùa Ấn
Quang, trụ sở tạm của Giáo Hội P. G. V. N. T. N. vào ngày “đại lễ tri ân
những vị hữu công trong Phong trào Chấn hưng Phật-giáo Việt-Nam” gần nữa
thế-kỷ (1920-1963), nhân ngày Phật Thành Đạo, mùng 8 Tháng Chạp năm Kỷ Dậu
(15.01.1970)
Kính bạch: Đức Tăng-Thống,
Kính bạch chư Tôn Trưởng-lão Hòa-thượng,
Thượng-tọa, Đạ-đức Tăng, Ni,
Kính thưa: Đại diện Quý Giáo phái,
Kính thưa: Quý quan khách, đồng bào Phật-tử,
Kính thưa: Quý Liệt Vị,
Hôm nay, là
ngày “Đại lễ Phật Thành-Đạo”, cũng là ngày Đại lễ tri ân đầu tiên kẻ còn
người mất, hữu công trong sự nghiệp Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam” gần nữa
thế-kỷ nay. (1920-1963)
Thừa lệnh
Đức Tăng Thống và Hội đồng lưỡng viện, nhân danh Viện-Trưởng Viện Hóa-Đạo,
Tôi xin thành kính tuyên dương thành tích hoạt động và phương danh những
bậc hữu-công trong Phong trào Chấn-hưng Phật-giáo Việt-Nam, gần 50 năm trở
lại đây.
BA ĐIỀU
SƠ XUẤT
Trong bài nầy, chúng tôi xin cáo lỗi trước, có 3
điều sơ-xuất mà chúng tôi không sao tránh khỏi được; xin quý liệt vị từ bi
hoan hỷ:
1.- Phong trào Chấn-hưng Phật-giáo, gần nữa thế-kỷ
nay, Quý vị hữu công với Đạo rất nhiều và thành tích, công đức của Quý vị
vô biên, với thời gian ngắn ngủi này, chúng tôi không thể nào nhớ hết và
tuyên dương hết được;
2.- Còn rất nhiều vị Tiền-bối danh-đức, nhất là ở
miền Trung và miền Bắc, mà chúng tôi chưa được hân-hạnh biết tới, nên cũng
không biết làm sao sưu tầm được đầy đủ;
3.- Ngày giờ năm tháng, xứ sở, thành tích hoạt động
của Quý liệt vị, chúng tôi ghi được phần nào, còn bao nhiêu, không biết
làm sao ghi được đầy đủ.
Thưa Quý liệt vị,
Chúng ta hãy nghiêm chỉnh và thành kính, từ từ lật
lại từng trang lịch sử Phật-giáo Việt-Nam. Chúng ta thấy Phật-giáo bắt đầu
có mặt trên Quê hương Tổ quốc Việt Nam vào cuối Thế-kỷ thứ II, tức là năm
189 sau Tây Lịch, đến nay–1970–là 1781 năm, gần 20 thế-kỷ, do bốn vị cao
tăng truyền giáo:
1.
Ngài Mâu-Bác (người Trung-hoa)
2.
Ngài Khưu-Tăng-Hội (người Ấn-Độ)
3.
Ngài Ma-Ha Kỳ-Vứt (người Ấn-Độ)
4.
Ngài Chi-Cương-Lương (người Ấn-Độ).
Có hình
Chân-dung Tổ KHÁNH-ANH
Thượng-Thủ Giáo-Hội Tăng-Già Toàn
quốc (1959)
Pháp-chủ Giáo-Hội Tăng-Già Nam-Việt
(1957).
Phật-giáo trải qua bao nhiêu triều đại, cho đến
Đinh, Lê, Lý, Trần có rất nhiều vị Thiền-sư và Phật-tử đã thực sự giữ vai
trò cứu nước giúp dân, đem lại Hòa Bình an vui cho Dân tộc và xứ sở. Những
triều đại này, thành những triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Dân tộc
Việt-Nam, đồng thời cũng đã viết thành những trang sử vàng son nhất cho
Phật-giáo Việt-Nam, như quý Ngài:
|
- Khuông-Việt
Thái- Sư
|
- Vạn-Hạnh Thiền-Sư
|
|
- Cảm-Thành
Thiền-sư
|
-Trúc-Lâm Tam Tổ
|
|
- Viên-Chiếu
Thiền-Sư
|
- Đổ-Thuận Thiền-Sư.
|
|
- Huệ-Sinh
Thiền-Sư
|
- Đa-Bảo Thiền-Sư
|
|
- Thiền-Lão
Thiền-Sư
|
- Lý Thái-Tổ (Lý Công Uẩn)
|
|
- Lý
Thái-Tôn
|
- Tuệ Trung Thượng Sĩ (tức Trần Quốc Toản ).vv.
|
Quý vị danh
Tăng trên đây đã được lịch sử Phật-giáo Việt-Nam cũng như lịch sử Dân tộc
Việt-nam ghi đậm công đức, thành tích uy danh rồi. Trong phạm vi bài này,
chúng tôi chỉ thành kính tri ân và ghi lại thành tích “Chấn-hưng Phật-giáo
Việt-Nam” và uy danh của Quý liệt vị, trong vòng gần 50 năm trở lại đây,
để cho đoàn hậu côn kính mộ và noi gương mà thôi.
Thưa Quý liệt vị,
Từ khi quê hương Tổ quốc của chúng ta bị người Pháp
đô hộ, họ đã cố tình thay hết tất cả những gì quý báu của Dân tộc Việt-Nam
ta, bằng cách thế vào đó những cái gì của họ:từ Tôn giáo, Văn hóa, giáo
dục, phong tục, tập quán, …
Như muốn loại trừ ảnh hưởng của Phật-giáo và Nho
giáo, thì họ bỏ hết chữ Nho và thay bằng chữ Pháp. Nhưng chỉ dạy người dân
đủ biết để làm nô lệ cho họ. Vì chén cơm manh áo, nên chúng ta mỗi ngày
mỗi nhiều bỏ hết chữ Hán, học theo chữ Pháp. Do bỏ chữ Hán
nên chúng ta không đọc được kinh
Phật; Vì lúc bấy giờ kinh sách Phật toàn chữ Hán.
Không đọc được Kinh sách Phật, nên tín đồ không
hiểu giáo lý của Phật là gì. Bắt đầu từ đó họ xa dần Đạo Phật. Đạo Phật
bắt đầu suy đồi. Cho đến tín đồ không biết Đạo Phật là gì, ai là người
khai sáng Đạo Phật, giáo lý Đạo Phật ra sao. Đến nỗi toàn quốc không có
một ngôi trường học Phật! Đạo Phật là một Đạo của Dân tộc Việt-Nam rất lâu
đời,-1781 năm (đến năm 1970) gần 20 thế-kỷ-gần 90% dân chúng theo Đạo Phật
(theo bản điều tra của Phó Thủ Tướng về dân số Đô Thành, thì năm 1962
(Trang 117, 118, 119) Phật-giáo đồ chiếm 85,40% dân số; đến năm 1967
(trang 13, 14) thì Phật-giáo đồ chiếm 87,24% dân số. Nếu kiểm tra miền
Tây, miền Đông Nam phần thì có lẽ bằng hoặc trên số này. Và nếu kiểm tra ở
miền Trung thì có lẽ trên 90% dân chúng theo Đạo Phật. Nhưng Đạo Phật bị
kỳ thị ghép vào Dụ số 10, như một hiệp hội không hơn không kém. Mặt tiền
các đại lộ của Đô thành không có một ngôi Chùa nào được chường mặt, trái
lại phải rút hình vào những đường hẽm hay trong xó! Mỗi khi Đại lễ hay rằm
lớn, làm chay, làm phước, thuyết pháp, giảng đạo, … đều phải xin phép
chính quyền. Chư Tăng thường bị chính quyền bắt đi lính, làm xâu hoặc canh
gác. Phật-giáo thời bấy giờ bị kỳ thị và suy đồi tột độ! Chỉ còn hình thức
cúng bái, mê tín dị đoan. Chư tăng hầu hết chỉ lo đi cúng đám, làm nghề
sinh nhai. Đến nổi ông Tăng không khác gì người tục! Đạo Phật bấy giờ bị
người chê là yếm thế, tiêu cực hay nhu nhược. Ông Tăng không còn giá trị
gí cả!.
Có hình
Sa môn LÊ KHÁNH HÒA (54 tuổi)
Chủ nhiệm Phật học tạp chí “Từ
Bi âm”
Chánh hội trưởng Ban trị sự Hội
Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học, năm 1931
Người quê quán ở Bến Tre (Chùa Tiên
Linh) chẳng nài lao khổ, tìm bạn đồng chí, quyết tâm lo Chấn hưng
Phật-giáo. Bốn năm tiêu tứ mới lập thành được hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật
Học.
Lúc bấy giờ toàn quốc chỉ còn một ít ngôi chùa Tổ duy
trì đạo mạch, thỉnh thoảng có mở một vài trường hương, trường kỳ!
Có hình
Hòa Thượng THÍCH TRÍ THIỆN
Trụ trì chùa Tam bảo Rạch Giá.
Bị tù và chết tại Côn Đảo vì tội “Yêu nước Chống
Pháp”
Miền Nam có Chùa Tổ: Giác Viên, Giác Lâm (Sài gòn)
Giác Hải, (Tổ Từ Phong ở chùa Giác Hải ChoLon có công dịch kinh và khắc
bản, như bộ Quy Nguyên Trực Chỉ, …Tổ có óc cải tiến), Phi Lai, Tây An
(Châu Đốc), Thiên Thai (Bà Rịa), Tuyên Linh (Bến Tre) Long Triều (Sài
Gòn), Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), Tam Bảo (Hòa Thượng Nguyễn Văn Đồng trụ trì
chùa Tam Bảo Rạch Giá và sư Thiện Chiếu vì tội “ái Quốc chống Pháp” mà Hòa
Thượng bị tù ở Côn Đảo cho đến ngày bỏ xương; còn sư Thiện Chiếu thì bị
đánh đập tù đầy đến Bại xuội thành Phế nhơn)…
Miền Trung có chùa Tổ: Thiên Tôn, Tây Thiên, Trúc
Lâm, Từ Hiếu, Từ Đàm, Quốc Ân, Báo quốc Tra Am (Huế); Thập Tháp, Long
Khánh, Linh Phong (Bình Định); Thiên Ấn, Quang Lộc (Quãng Ngãi); Từ Quang
(Tổ Từ Quang Phú Yên giải kinh dịch sách rất nhiều), Bát Nhã, Bảo Tịnh
(Phú Yên), …
Miền Bắc có chùa Tổ: Vĩnh Nghiêm, tế Các, Bằng Sở,
Mật Ứng, Hương Tích, Trung Hậu, Phú Ninh, Phúc Thỉnh, Đồng Đắc, Hưng Ký, …
Có hình
Tổ CHÍ-THIỀN, Chùa Phi Lai, Châu Đốc.
Đạo đức Ngài sáng chói
trong một thuở khắp miền Nam
Vì thấy sự
suy đồi xuống dốc tột mức của Phật-giáo Việt-Nam mà đau lòng, đồng thời
nhờ ảnh hưởng Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo ở Trung Hoa, do báo Hải Triều
Âm cổ xúy, nên bắt đầu từ năm 1920, chư Tôn Hòa Thượng Trưởng Lão, Thượng
Tọa, Đại Đức họp lực với một số Phật tử Cư sĩ có nhiệt tâm với Đạo, bắt
đầu lo việc Chấn Hưng Phật-giáo, mở các trường gia giáo để đào tạo Tăng
tài và thỉnh thoảng có thuyết pháp cho tín đồ nghe.
CÁC TRƯỜNG GIA GIÁO Ở MIỀN NAM:
Chùa Tuyên Linh của Tổ Khánh Hòa ở Bến Tre,
Chùa Phi Lai của Tổ Chí Thiền ở Chợ Voi, Châu Đốc.
Chùa Giác Hoa ở Bạc Liêu dạy 100 Ni (Bà Hai Ngó đệ
tử Tổ Phi Lai. Bà phát tâm xuất gia, cất chùa Giác Hoa, mở trường gia
giáo, tứ sự cúng dường cho 100 học Ni, tu học trong 1 năm–1927–tại Bạc
Liêu).
Chùa Kim Huê, Vạn An, Phước Long ở Sa Đéc.
Chùa Long An của Tổ Khánh Anh ở Trà Ôn (1931), …
Chùa Tổ Đình của Thiên thai Thiền Giáo Tông, là
chùa Long Hòa (Phước Tuy) do Tổ Huệ Đăng khai gia giáo năm 1936.
CÁC TRƯỜNG GIA GIÁO Ở MIỀN TRUNG:
Chùa Thập Tháp ở Bình định,
Chùa Từ Quang, Bát Nhã ở Phú Yên.
Chùa Thiên Ấn, Quang Lộc ở Quãng Ngãi, …
CÁC TRƯỜNG GIA GIÁO Ở MIỀN BẮC:
Chùa Sở, Chùa Bát Tháp, Chùa Bồ Đề, ….
Có hình
BAN HỘI VIÊN SÁNG LẬP HỘI NAM KỲ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
CHƯ HÒA
THƯỢNG:
1 - H. T. Khánh Hòa. 2 - H. T. Trí
Thiền. 3 - H. T.Từ Phong.
4 - H. T. Huệ Quang. 5 - H. T. Chánh
Quả. 6 - H. T.Thiện Dư.
CÁC CƯ
SĨ:
7 – Ông Trần Nguyên Chấn. 8 – Ông Nguyễn Văn Cần.
9 – Ông Huỳnh Văn Quyền.
10 – Ông Trần Văn Khuê. 11 – Ông Phạm Ngọc Vinh
12 – Ông Nguyễn Văn Nhơn.
13 – Ông Lê Văn Phổ.
Đến năm 1920, tại miền Nam, quí Sư Cụ họp nhau
lập “Hội Lục Hòa” (Không phải giáo hội Lục Hòa Tăng bây giờ), mục đích để
đoàn kết và vận động Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo.
Đến tháng Giêng, năm Kỷ Tỵ, Tổ Khánh Hòa đích thân
đi vận động hầu hết các Chùa lớn ở miền Nam, và Tổ còn cử một phái đoàn do
Sư Thiện Chiếu hướng dẫn, ra Trung và Bắc để vận động Phong trào Chấn Hưng
Phật-giáo, được một số hưởng ứng. Tổ là người đầu tiên và có công lớn nhất
trong “Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo” ở miền Nam nói riêng và Việt Nam
nói chung. Mặc dù thân gầy nhiều bệnh, nhưng Tổ không lúc nào xao lãng
Phật sự.
Tổ còn cho ra tạp chí Pháp Âm để cổ động cho Phong
trào Chấn Hưng Phật-giáo. Phục lực với Thầy, Sư Thiện Chiếu cho xuất bản
tờ Phật Hóa Tân Thanh Niên, để cổ động trong giới Thanh niên Tăng, Ni và
Phật tử. Đây là hai tờ báo Phật-giáo đầu tiên bằng chữ Việt, mở đầu cho
các tờ báo Phật học tạp chí bằng chữ Việt sau này. Ngoài hai tờ báo nói
trên, sư Thiện Chiếu còn xuất bản một số Phật học tùng thư, được đa số
trí thức hoan nghênh.
– THIÊN THAI THIỀN
GIÁO TÔNG VÀ TẠP CHÍ BÁT NHÃ ÂM:
Năm 1931 Ngài Hòa Thượng Huệ Đăng chùa
Thiên Thai, thành lập Thiên Thai Thiền Giáo Tông, Thiện Hữu Hội và cho
xuất bản tạp chí Bác Nhã Âm là một cơ quan ngôn luận có nhiệm vụ truyền bá
giáo lý trong toàn quốc một cách sâu rộng.
Có hình
CHÙA LINH SƠN số 149 Đường
Douaumont, Sài Gòn
(Ảnh chụp hồi lễ khánh thành ngôi
Pháp Bảo Phường
và ngôi Duyệt Kinh Thất, trong tháng
Décember 1929)
Sánh với các ngôi chùa tốt ở Lục Châu thì chùa Linh
Sơn thua kém nhiều lắm, song xem cảnh đẹp hơn và hợp với việc nghiên cứu
Phật học, vì chùa ấy ở nơi rún Nam Kỳ, dễ bề cho Tăng đồ và thiện tín
trong các Tỉnh tới lui mà lo sự vun bồi nền đạo đức.
Có hình
CÁC VỊ GIÚP VIỆC TRONG TÒA SOẠN
TỪ BI ÂM
Kể từ bên trái qua bên
mặt những vị ngồi ghế:
1 – Nguyễn Văn Nhơn
(Thủ Bổn). 2 – Trần Nguyên Chấn (Quản Lý).
3 – H.T. Bích Liên
(Chánh Chủ Bút). 4 – H.T. Nguyễn Chánh Tâm (Chủ Nhiệm).
5 – Phạm Ngọc Vinh
(Chủ Nhơn). 6 – Liên Tôn (Phó Chủ Bút).
Những người đứng:
1 – Dương Văn Thắng (Tiến Sư) 2
– Giác Nhựt (Trợ Bút)
3 – Thiên Dụng (Trợ
Bút) 4 – Võ.
Đến ngày 26.8.1931, lần đầu tiên, một Hội Phật
Học ra đời, lấy tên là “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học”, đặt trụ sở tại
chùa Linh Sơn số 149 Đường Douaumont (Tức đường Cô Giang bây giờ) Sài Gòn.
Hội ra tạp chí Từ Bi Âm (Ngày 1.1.1932) để truyền bá giáo lý; lập Pháp Bảo
Phường, thỉnh Tam Tạng Kinh Trung Hoa làm tài liệu nghiên cứu. Hội làm cho
Phật Pháp được sáng tỏ trong đương thời.
Những nhân vật hữu công với hội này:
Bên chư Tăng có:
-
Tổ Khánh Hòa chùa Tuyên Linh Bến Tre.
-
Tổ Huệ Quang chùa Long Hòa Trà Vinh.
-
Tổ Trí Thiền chùa Tam Bảo Rạch Giá.
-
Tổ Từ Phong chùa Giác Hải Chợ Lớn.
-
Tổ Chánh Quả chùa Kim Huê Sa Đéc.
-
Tổ Chí Thiền chùa Phi Lai Châu Đốc.
-
Tổ An Lạc chùa Vĩnh Trường Mỹ Tho.
-
Hòa Thượng Nguyễn Chánh Tâm chùa Thiên Phước Trà Ôn.
-
Hòa Thượng Tâm Quang chùa Viên Giác Bến Tre.
-
Hòa Thượng Lên Phước Trí ở Kế Sách Sóc Trăng.
-
Hòa Thượng Huệ Thành chùa Thành Linh Cà Mau.
-
Hòa Thượng Toàn Chơn chùa Pháp Võ Châu Đốc.
-
Hòa Thượng Diệu Pháp chùa Long Khánh Trà Vinh.
-
Ngài Yết Ma Nguyễn Văn Chức chùa Tam Bảo Hà tiên.
-
Ngài Giác Thọ Thiện Tâm chùa Đại Giác Biên Hòa.
-
Hòa Thượng Huệ Định chùa Phước Long Sa Đéc.
-
Hòa Thượng Từ Phong chùa Liên Trì Bến Tre.
-
Hòa Thượng Thiện Dư.
Bên cư sĩ có:
-
Ông Trần Nguyên Chấn. -
Ông Nguyễn Văn Cần.
-
Ông Huỳnh Văn Quyền. -
Ông Trần Văn Khuê.
-
Ông Phạm Ngọc Vinh. -
Ông Nguyễn Văn Nhơn.
-
Ông Lê Văn Phổ …
Tổ Khánh Hòa hiến một ngôi chùa tư cho Hội, để lập
Pháp Bảo Phường, thờ Tam Tạng Kinh (Hiện nay vẫn còn ở chùa Linh Sơn số
149 đường Cô Giang Sài Gòn).
Hòa Thượng Bích Liên và Liên Tôn làm Chánh Phó chủ
bút tạp chí Từ Bi Âm. Cụ Trí Độ (Bình Định), Thượng Tọa Thiền Dung (Mỹ
Tho), Thượng Tọa Giác Nhựt (Cần Thơ), và Thượng Tọa Nhựt Chánh đều làm trợ
bút.
Các cư sĩ ở Trà Vinh thỉnh Tam tạng Kinh ở Trung
Hoa về cúng cho Hội, để làm tài liệu nghiên cứu (hiện nay vẫn còn thờ ở
chùa Linh Sơn).
MỘT TẤM
GƯƠNG
Vì đóng góp chung cho nền Chấn Hưng Phật-giáo nước
nhà, nên ngoài sự hy sinh xác thân già yếu, Tổ Khánh Hòa còn đem chùa tư
của mình hiến cho Hội, cất Pháp Bảo Phường để thờ Tam tạng Kinh.
Hòa Thượng Nguyễn Chánh Tâm trụ trì chùa Thiên
Phước trà Ôn (Cần Thơ), đem ruộng tư chùa mình hiến cho Hội để đóng góp
vào Phật sự công cộng, mặc dù ruộng chùa Ngài không nhiều.
Chúng tôi trích lại trong Từ Bi Âm, số 25, về lời
phát nguyện của Hòa Thượng Chánh Tâm sau đây, để ghi đậm ơn đức của Ngài
đối với Tiền đồ Phật-giáo và cũng để làm gương soi cho hậu thế.
TỜ NGUYỆN
CÚNG LÚA RUỘNG.
Tôi là Hòa Thượng Nguyễn Chánh Tâm, pháp danh
Thiện Quang, trụ trì chùa Thiên Phước, ở làng Thiện Mỹ, Tổng Bình Lễ, quận
Trà Ôn (Cần Thơ), làm tờ này bằng lòng cúng cho Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu phật
Học, hội quán chùa Linh Sơn Sài Gòn, 15 năm huê lợi về ba mẫu năm sào (3
ha 30a) ruộng hạng nhứt của Thiên Phước Tự đứng bộ tại làng Hạnh Tân, Tổng
Bình Lễ, cần Thơ.
Hội có quyền cho mướn sở ruộng ấy, kể từ tháng
Giêng năm 1933, mà lấy lúa tá điền để trợ giúp sự hành-động Từ-Bi-Âm và
nuôi Tăng đồ học đạo.
Nếu Tôi chết trước trong hạng 15 năm nói trên
đó, thì các người Pháp tử của tôi ở cai quản chùa Thiên Phước cũng phải
tuân theo lời nguyện của tôi đây, mà để cho Hội cho mướn sở ruộng đó, lấy
huê lợi mà trợ Đạo.
Sài gòn le II Décember 1932
THIÊN PHƯỚC TỰ
Hòa Thượng NGUYỄN CHÁNH TÂM.
Có hình
Bốn Hòa Thượng ở Lưỡng Xuyên
Phật học.
Nhiếp ảnh 1935, kể bên mặt qua:
1 – Ngài Huệ Quang Chánh
Tổng Lý. 2 – Ngài Từ Phong Đại Đạo Sư.
3 – Ngài An Lạc Chánh Hội
Trưởng. 4 – Ngài Khánh Anh Pháp sư.
Đến năm 1933, Liên Đoàn Học Xã ra đời, mục đích để
đào tạo Tăng tài và hoằng dương chánh pháp. Đây là một Phật Học Đường tuần
hòa và liên tục, mỗi chùa đài thọ chi phí 3 tháng; ban ngày dạy học, ban
đêm thuyết pháp. Bắt đầu từ chùa Long Hòa ở Tiểu Cần, Vĩnh Bình, tiếp đến
chùa Thiên Phước Trà Ôn (Sư cụ Khánh Anh và Sư Cụ Pháp Hải làm Pháp sư dạy
trường này) rốt sau đến Chùa Viên Giác Bến Tre rồi bị tan rã.
Những nhân vật hữu công trong Liên Đoàn Học xã như:
Tổ Khánh Hòa (Bến Tre), Huệ Quang (Tiểu Cần), Khánh Anh (Trà Ôn), Pháp Hải
(Vĩnh Long), Hòa Thượng Chánh Tâm (Trà Ôn), Hòa Thượng Viên Giác (Bến
Tre)…và các phật tử bổn đạo của các chùa trên.
Đến năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra đời, muc
đích để đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp. Hội thỉnh Đại Tạng Kinh
và Tục Tạng Kinh để làm tài liệu nghiên cứu (do Ông Ngô Trung Tín và cụ
Huỳnh Thái Cửu thỉnh cúng cho Hội),và xuất bản tạp chí Duy Tâm Phật Học,
để làm cơ quan hoằng pháp. Hội mở Phật Học Đường Lưỡng Xuyên (1935) để đào
tạo Tăng, Ni (về sau trường Ni dời về chùa Vĩnh Bữu ở thôn Bến Tre).
Có hình
THÍCH HỌC ĐƯỜNG của HỘI LƯỠNG
XUYÊN PHẬT HỌC Trà Vinh
Lễ Khai giảng năm 1935, từ bên mặt
kể qua:
1 – Ngài Huệ Quang Chánh Tổng
Lý. 2 – Ngài Từ Phong Đại Đạo Sư.
3 – Ngài An Lạc Chánh
Hội Trưởng. 4 – Ngài Khánh Anh Pháp sư.
Đứng phía sau là Tăng sinh của
trường.
Có hình
Đây là Thích Học Đường của Hội
Lưỡng Xuyên Phật Học Trà Vinh.
Kỷ niệm ngày khai trường nhằm
mùa hạ 1935.
Một số chư Tăng xuất thân từ trường này, hiện nay
dự vào hàng giáo phẩm cao cấp của Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất
Trung Ương: Hòa Thượng Thiện Hòa, Thượng Tọa Thiện Hoa, Thượng Tọa Huyền
Quang, Thượng Tọa Hành Trụ, Thượng Tọa Quảng Liên, …
Những nhân vật hữu công với hội này:
Bên chư Tăng có:
Sư cụ Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh, Pháp Hải
(Vĩnh Long) Liên Trì, Viên Giác (Bến Tre), Kim Huê, Vạn An, Bửu Chung (Sa
Đéc) và Giác Hải (Cholon), …
Bên cư sĩ có quý Ông:
Huỳnh Thái Cữu, Ngô Trung Tí, Trần Văn Giác, Phạm
Văn Liêu, Thái Phước, Thái Khánh, Lữ Long Giao, Nguyễn Văn Khỏe, Phạm Văn
Luông, Trần Thến, Nguyễn Văn Nhơn, Ngưyễn Văn Thọ (tức Đại Đức Thích
Trường Lạc) đều ở Trà Vinh, và Ông Trần Huỳnh, chủ bút Duy Tâm Tạp Chí (Sa
Đéc), …
Cũng trong thời gian này, tại Sài gòn có Ông Đoàn
Trung Còn chủ trương phiên dịch, sáng tác và xuất bản một số kinh sách
Phật đáng kể.
Có hình
BAN TRỊ SỰ HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT
HỌC
Từ mặt qua trái; Cụ HUỆ
QUANG Chánh Tổng Lý, Cụ DIỆU PHÁP Phó Tổng Lý, Cụ PHÁP HẢI Trụ trì chùa
Hội Quán, Cụ KHÁNH HÒA Đốc Học Sư Trường Phật Học, Cụ TÂM QUANG Cố vấn, Cụ
KHÁNH ANH Pháp sư Trường Phật Học.
BÊN CƯ SĨ CÓ:
Ông TRẦN VĂN GIÁC Phó Thủ Bổn,
Ông NGUYỄN VĂN KHỎE Kiểm soát,
Ông PHẠM VĂN LIÊU Phó Hội
Trưởng, Ông SƠN SAU Kiểm soát,
Ông THÁI
PHƯỚC Thủ Bổn, Ông PHẠM VĂN LUÔNG Thư ký.
Sau Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học 1 năm, đến năm
1932 tại miền Trung, Hội An Nam Phật Học ra đời, trụ sở đặt tại chùa Từ
Đàm-Huế.
Những vị sáng lập:
Bên Tăng có Tổ Giác Tiên (Cố Viện Chủ chùa Trúc
Lâm), ...
Bên cư sĩ có Bác sĩ Lê Đình Thám Pháp Danh Tâm
Minh, ...
Hội mở nhiều chi hội ở các Tỉnh, Quận, Xã khắp cả
miền Trung. Hậu thân của Hội An Nam Phật Học là Hội Phật Học Trung Việt.
Hội thỉnh Đại Tạng Kinh để làm tài liệu nghiên cứu
và ra tờ tạp chí Viên Âm (1934) để hoằng dương chánh pháp. Bác sĩ Lê Đình
Thám (Tâm Minh) làm hội trưởng kiêm chủ nhiệm và chủ bút tạp chí Viên Âm.
Hội thành lập Gia đình Phật Hóa Phổ đầu tiên (tức hiện nay là Gia đình
Phật tứ) và lập Trường Bồ Đề trước nhất.
Có hình
CHÙA TỪ ĐÀM
HUẾ
Tổ MINH
HOẰNG TỪ DUNG kiến tạo từ đời nhà
Lê Nam Quý Vị 1683 đến nay (1970)
là 287. Trụ sở của Tổng Trị Sự và tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên Huế. Nơi đầu
tiên phát động Phong trào Phật-giáo tranh đấu năm 1963.
Hội mở Phật Học Đường tại chùa Báo Quốc (1935) để
đào tạo Tăng tài, sau dời về Tòng Lâm Tu Viện Kim Sơn (1945). Những vị
xuất thân từ trường này, hiện nay dự vào hàng giáo phẩm cao cấp của Giáo
hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất Trung Ương và miền Trung như: Thượng Tọa
Thiện Minh, Trí Quang, Thiện Siêu, Trí Tịnh, và Trí Thành, …
Hội còn Tổ chức các đoàn thể thanh niên Phật tử
như: Đoàn thanh niên Phật học Đức dục, Gia đình Phật Hóa Phổ, Đồng Ấu Phật
Tử. Người xuất thân từ Thanh Niên Phật Học Đức Dục, hiện nay là Thượng Tọa
Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Giáo sư Võ Đình Cường
(Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia đình Phật tử Việt Nam), ...
Có hình
Tổ GIÁC TIÊN.
Cố viện chủ chùa Trúc Lâm (Huế).
Trước Hội An Nam Phật Học ra đời, hàng năm Quý
sư Cụ tại Huế thường thỉnh Tổ Phước Huệ và Phổ Huệ ở chùa Thập Tháp Bình
Định ra Huế dạy Phật Pháp. Tổ Thập Tháp dạy Phật pháp cho chư Tăng tại Huế
đã 4 đời. Đến chúng tôi (T.T. Thích Thiện Hòa, T.T. Thiện Hoa) là đời thứ
tư. Tổ đã nhiều năm ra Huế và được mời vào Hoàng cung giảng kinh từ đời
vua Thành Thái đến Vua Bảo Đại, nên được suy tôn là Quốc Sư. Cụ Lê Đình
Thám, Trí Độ và các Thầy Đại Học tại Huế, đều là học trò của Tổ. Có thể
nói Phật-giáo miền Trung được hưng thịnh như ngày nay, một phần lớn do
công của Tổ xây đắp. Nhờ ảnh hưởng này mà Quý sư cụ ở Huế họp nhau mở
trường Trung Học Phật-giáo ở chùa Trúc Lâm, sau dời về chùa Tây Thiên. Còn
trường Sư nữ thì mở tại chùa Diệu Đức.
Có hình
PHẬT HỌC ĐƯỜNG BÁO QUỐC HUẾ.
(Nhiếp ảnh năm Tân Tỵ, 1939)
Có hình
PHẬT HỌC ĐƯỜNG TÂY THIÊN HUẾ.
Từ trái qua phải: T.T. Quy Thiện, Ôn
Thiền Tôn,
Ôn Thập Tháp, Ôn Tường Vân, Ôn Quốc
Ân.
Phía sau là Quý vị học Tăng Cao đẳng
và Trung đẳng.
(Nhiếp ảnh ngày Phật Đản năm Canh
Thìn, 1938).
Những nhân vật hữu công với Phật-giáo miền Trung:
Bên Tăng già có:
Quốc sư Phước Huệ, Pháp sư Phổ Huệ, Hòa Thượng
Tường vân (Thích Tịnh Khiết), Hòa Thượng Thiền tôn, Trúc Lâm, Tây Thiên,
Từ Hiếu, Tra Am.
Và Quý Thượng Tọa Mật Khế, Quy Thiện, Đôn Hậu, Mật
Nguyện, Mật Hiển, Trí Thủ, Mật Thể (Thượng Tọa Mật Thế viết quyển Việt Nam
Phật-giáo lược sử), …
Bên cư sĩ có:
Cụ Lê Đình Thám, pháp danh Tâm Minh (một cư sĩ có
công nhất với Phật-giáo miền Trung), Cụ Trí Độ (một vị có công nhất với
Phật Học Đường Báo Quốc), Cụ Lê Văn Định pháp danh Chơn An, Cụ Tôn Thất
Tùng, Cụ Nguyễn Khoa Toàn (Đúc tượng Phật tại chùa Từ Đàm hiện nay), Cụ
Hoàng Mộng Lương, Võ Đình Dung, Võ Đình Thụy, Nguyễn Văn Tiếng, và Bà Cao
Xuân San tức Diệu Không, Bà Ưng Úy tức Diệu Huệ, ...
Có hình
QUÝ THẦY ĐẠI HỌC PHẬT ĐƯỜNG TÂY
THIÊN HUẾ.
Ngồi giữa là
Pháp sư PHƯỚC HUỆ chùa Thập Tháp Bình Định
Từ trái sang
phải:Thầy THÍCH QUẢNG HUỆ, THÍCH MẬT THỂ,
THÍCH TRÍ THỦ, THÍCH THIỆN TRÍ,
THÍCH MẬT NGUYỆN,
THÍCH MẬT HIỂN, THÍCH CHÁNH
THỐNG.
Đây là Phật Học Đường đầu tiên tại
Huế (1935).
Cũng trong thời kỳ Phật-giáo Chấn Hưng, tại tỉnh
Bình Định có những bậc đống lương thạch trụ như: Quốc sư Phước Huệ (Chùa
Thập Tháp) (1920-1945), Pháp sư Phổ Huệ (1920-1935), Hòa Thượng Vĩnh Khánh
(Có công san bản và ấn hành các Văn phẩm như: Liên Tôn Thập Niệm Yếu Lãm,
Tịnh Nghiệp Văn và Mông Sơn thập loại diễn nghĩa).
Hòa Thượng Long Khánh, Thiên Đức, Bạch Sa, Minh
Tịnh có công sáng lập, giảng dạy và duy trì các trường gia giáo ở chùa
Thập Tháp, Long Khánh, Bạch Sa, Minh Tịnh và Thiên Đức, thời kỳ 1930-1950.
Quý Ngài họp nhau lập Hội Phật Học Bình Định, từ
năm 1932 đến 1945. những vị cư sĩ hữu công trong hội này có Ông Nguyễn
Mạnh Trừng, Phan Thanh Khuyến, Lê Tú Oanh, …
Tại Đà Nẵng có lập Hội Đà Thành Phật Học và ra tạp
chí Tam Bảo do Hòa Thượng Bích Liên làm chủ nhiệm.
Có hình
Chân dung Cụ THÍCH TRÍ ĐỘ.
Người có công lớn nhất với Phật
Học Đường báo Quốc.
(1935-1945).
Sau Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học 3 năm, đến
năm 1934, Hội “Bắc Kỳ Phật-giáo Tổng Hội” ra đời tại Hà Nội, trụ sở đặt
tại chùa Quán sứ.
Hội xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ (ngày 10.12.1935), Bồ
Đề Tân Thanh và Tiếng Chuông Sớm để hoằng dương chánh pháp. Hội mở trường
Tăng tại Chùa Quán Sứ, trường Ni tại chùa Bồ Đề và chùa Bát Tháp.
Những bậc hữu công trong Phong trào Chấn Hưng
Phật-giáo tại miền Bắc, bắt đầu từ năm 1932.
Bên Tăng già có:
-
Tổ Vĩnh Nghiêm pháp hiệu Thanh Hạnh,
Pháp chủ đầu tiên của Hội Phật-giáo Bắc Việt;
-
Hòa Thượng Tuệ Tạng, Thượng thủ Giáo hội
Tăng già toàn quốc nhiệm kỳ thứ nhất;
- Hòa Thượng Mật ứng, Pháp chủ Phật-giáo Bắc Việt;
- Hòa Thượng Thanh Ất, Trụ trì chùa Trung Hậu, Phúc yên;
- Hòa Thượng Trung Thứ, Trụ trì chùa Bằng Sở, Hà Đông;
- Hòa Thượng Doãn Hà, Trụ trì chùa Tế Cát, Hà Nam.
Có hình
Trụ sở Trung Ương Hội Việt Nam Phật-giáo Bắc Việt
Trụ sở Chi bộ Phật-giáo Thế Giới tại Việt Nam (1951)
Chùa này trước 1934 còn nhỏ bé. Vì các Triều Vua Chúa tạm dùng nơi này để
đón tiếp Sứ Tàu, nên gọi là Quán Sứ (Chùa trùng tu năm 1934).
- Hòa Thượng trụ trì chùa Hương Tích, Hà Đông;
- Hòa Thượng Quang Nghiễm, Trụ trì chùa Phú Ninh, Nam Định;
- Hòa Thượng Trụ tì chùa Phúc Thỉnh, Ninh Bình;
- Hòa Thượng trụ trì chùa Quế Phương, Nam Định;
- Hòa Thượng Trụ trì chùa Bộ La, tỉnh Thái Bình;
- Hòa Thượng Thanh Triệu, Trụ trì chùa Đồng Bắc, Ninh Bình;
- Thượng Tọa Tố Liên, Chủ tịch Giáo Hội Tăng già Bắc Việt;
- Thượng Tọa Trí Hải, Phó Hội chủ tổng Hội P.G.V.N. năm 1952;
- Thượng Tọa Giải Ngạn, Trụ trì chùa Hưng Ký, Hà Nội;
- Thượng Tọa Tuệ Chiếu, Giảng sư Hội Việt Nam Phật Giáo Bắc
việt.
Những vị Cư sĩ hữu công với Phật-giáo miền Bắc:
Cụ Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Năng Quốc, Thiều Chữu
(dịch bộ Hán Việt Tự Điển,…), Cụ Bùi Kỹ, Dương Bá Trạc, Trần Trọng Kim,
(Lệ Thần), Nguyễn Can Mộng, Nguyễn Trọng Thuật, Phan K