DƯƠNG KINH THÀNH
VỚI PHÓ TIẾN SĨ XUÂN YẾN VỀ BÀI VIẾT “MẤY SUY NGHĨ
VỀ PHẬT GIÁO TRONG TUỒNG (HÁT BỘI) QUA CÁC NHÂN VẬT TU HÀNH”
PHẢI CHĂNG PHẬT
GIÁO KHÔNG LÀ NƠI ÐÁNG TIN CẬY (?)
Dương Như Tâm
---
o0o
---
Chương trình “Tìm hiểu Nghệ thuật – Sân khấu hằng tuần của Ðài Tiếng nói
Việt Nam trên hệ AM-2, từ 16 đến 16 giờ 45, đây là một chương trình có giá
trị, được giới sân khấu và các nhà nghiên cứu theo dõi thường xuyên, do
nội dung chủ yếu xoay quanh lãnh vực nghiên cứu – giới thiệu và phê bình,
có chọn lọc kỹ lưỡng. Ngày 10 tháng 2 năm 1998 vừa qua, như thông lệ,
người viết bài này đón nghe và đã kịp thu bài viết của Phó Tiến sĩ Xuân
Yến với tựa đề “Mấy suy nghĩ về Phật giáo trong tuồng qua các nhân vật tu
hành”. Sự khác thường này nói lên tính nghiêm trọng về cấp độ sai phạm của
bài ấy, đồng thời làm giảm giá trị của chương trình vốn từng được trân
trọng lâu nay. Dưới cái nhìn của một người chưa phải là một nhà nghiên
cứu, càng không phải là người Phật tử, người viết xin được góp đôi điều
qua bài này để có tham vọng mong sao tôn giáo lớn của dân tộc, từng chia
ngọt xẻ bùi cùng dân tộc vốn có hẳn một nền tảng triết lý sống, thực tiễn
đã được sinh tồn, minh chứng bằng tất cả mọi khía cạnh của lịch sử, từ nay
sẽ được các nhà nghiên cứu (như trường hợp của Phó Tiến sĩ) nhìn nó bằng
cặp mắt trung thực hơn, rút ngắn khoảng cách đi theo sau đà phát triển
chân lý Phật giáo hiện nay.
Do cách dùng từ bất cập của Phó Tiến sĩ trong bài viết, khi thì Phật giáo,
lúc các nhà tu hành, lúc thì chùa chiền để chỉ định, nhưng rõ ràng chỉ
muốn ám chỉ vào chân lý Phật giáo. Do đó chúng tôi chọn tựa đề như trên
cho bài viết này tưởng cũng là điều Nhân – Quả – điều mà Phó Tiến sĩ đã
gán ép cho các nhân vật của mình là “chỉ chờ cơ hội để cứu nước”. Tuy
nhiên, những điều bất cập đó thường để lộ sự yếu kém về Phật học mà đó đây
không riêng gì Phó tiến sĩ, trong trường hợp của mình đó còn là một sự
tránh né cần thiết để bảo vệ các nhân vật của mình là “chỉ chờ cơ hội để
cứu nước”. Tuy nhiên, những điều bất cập đó thường để lộ sự yếu kém về
Phật học mà đó đây không riêng gì Phó Tiến sĩ, trong trường hợp của mình
đó còn là một sự tránh né cần thiết để bảo vệ các nhân vật của ... tuồng
cổ!
Ngược với ý đồ nội dung bài viết của Phó Tiến sĩ Xuân Yến (PTSXY), lời
giới thiệu biên tập của chương trình Tìm hiểu Nghệ Thuật Sân Khấu – Ðài
TNVN hôm ấy rất nghiêm túc như sau: “Trong nghệ thuật dân tộc nói chung,
tuồng, chèo nói riêng, những tác phẩm có nhân vật tu hành, những hình
tượng này góp phần không nhỏ thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm.
PTSXY có bài “Mấy suy nghĩ về Phật giáo trong tuồng (Hát Bội) qua các nhân
vật tu hành” thế nhưng bài viết ấy đã làm điều ngược lại bằng cách biến
những nhân vật tu hành “góp phần không nhỏ vào tư tưởng – nội dung của tác
phẩm bằng ý đồ bẻ ngoặt theo tỉ lệ nghịch ngay cả với kịch bản cổ ( San
Hâu, Tam Nữ Ðồ Vương, và Mộc Quế Anh). Người học Phật đã có tên gọi đích
danh cho việc này là Thiên kiến – Tà kiến, Biên kiến – Kiến thủ và Giới
cấm thủ; ý nghĩa đã ngoặm trong toàn bộ Ngũ Lợi sử!! Do đó vốn thừa biết
rằng mình sắp sửa đi vào một đề tài đụng chạm đến khía cạnh Tôn giáo gắn
liền với ý nghĩa hòa nhập trong cộng đồng dân tộc. Vả lại, một khía cạnh
mà mô – típ gọi là thông đạt, chí ít để biết, hiểu được chút ít không phải
ở bất kỳ một cấp độ kiến thức nào cũng dễ dàng đạt được. Nên loáng thoáng
trong bài viết PTSXY đã bộc lộ sự lúng túng, vội vã để rồi chắp vá đem vài
nhân vật trong vỡ tuồng cố nói lên tính đại thể lớn lao trong cả ý nghĩa
nghệ thuật và Phật giáo. Và do đó PTSXY đã không gạt gẫm được tư tưởng
người đọc với đoạn mở đầu hết sức thật thà và lôgic như sau: Hệ thống đạo
lý trong tuồng cổ không chỉ theo mô thức Nho giáo mà còn chịu ảnh hưởng
của Phật giáo, Ðạo giáo (?) và những đạo lý có tính chất truyền thống ở
Việt Nam. Sự ảnh hưởng đó là đương nhiên vì trong lịch sử đã từng tồn tại
“Tam giáo đồng tôn”. Tuy nhiên, vai trò các giáo phái (?) không phải lúc
nào cũng có vị trí như nhau trong từng thời kỳ có sự thay đổi khác
nhau...” Ðến đây có thể ngừng trich cho đoạn mở đầu của PTSXY, cũng đủ cho
người đọc nhận thấy PTSXY đã khôn khéo trang bị phòng hộ cho mình chiếc bè
cứu sinh nếu sự cố đắm thuyền xảy ra, dù đó là mãnh ván của chính chiếc
thuyền gãy vụn. Thế nhưng người viết muốn trích đoạn kế tiếp sau đó, dù đã
bị PTSXY lái sang vế khác tuy vẫn còn trong đoạn mở đầu, để sau này chúng
ta thấy nét mâu thuẩn lẫn xu hướng (thiên kiến) không nhất quán của “mấy
suy nghĩ” nơi PTSXY. Và đây là đoạn kế tiếp: “Vốn ra đời và phát triển
trong lòng xã hội quân chủ, tuồng chịu ảnh hưởng, chi phối bởi ý thức hệ
của tầng lớp vua quan. Các nhân vật trung tâm trong tuồng cổ là những mẫu
người lý tưởng của chế độ phong kiến và đạo lý nho gia, là những bài học
để làm gương cho mọi người”. Ðến đây đã bộc lộ khả năng tư duy và người
đọc đã đoán biết được ý đồ của PTSXY.
Tuy là “mấy suy nghĩ” nhưng bài viết của PTSXY vẫn trung thành với cách
thể hiện của một bài luận văn kinh điển gồm có Mở – Thân và Kết luận.
Thế mà những mâu thuẫn cũng theo đó phát sinh. Và đây là đoạn mở đầu
của đoạn thân bài tiếp theo:”Trong một số vở tuồng cổ (sic) đều có
những cảnh chùa chiền và các nhà tu hành, nhưng xét kỷ thì
thấy sự ảnh hưởng của đạo Phật ở đó không nhiều, thậm chí còn bị công
kích. Chúng ta hãy xét một số nhà sư trong tuồng cổ...”. Rõ ràng PTSXY từ
những mâu thuẩn của nhận thức chính mình dẫn đến những nhận định mâu thuẫn
của các nhân vật trong các vở Hát bội; vì thế đã đi từ sai lầm này đến sai
lầm khác mà nếu có phản bác, góp ý chắc rằng sẽ hao tốn thời gian và giấy
mực một cách vô ích, lại còn dễ bị lôi kéo mà trận đồ lịch sử dân tộc –
dân gian và nghệ thuật Hát Bội đã mang đến cho người thưởng thức; PTSXY đã
quên điều đó. Như thế nào mới được gọi là nhiều hay ít? Và công kích như
thế nào, ai công kích? Như vậy, hóa ra Phật giáo từ 20 thế kỷ nay đã tồn
tại trên mãnh đất này là một sự chấp nhận chẳng đặng đừng, chịu đựng chấp
nhận khi nó đã cùng các thế lực máu lữa khống chế ư? Hoặc Phật giáo là một
khối ung nhọt đen tối, từng gây bao nổi đau nhức nhối cho thân thể dân tộc
này nhưng nếu cắt bỏ thì đau, để thì ... cũng đau! Nên lịch sử văn hóa dân
tộc luôn tìm cách “công kích” nó; mà phải đợi đến hôm nay, PTSXY là người
có công phát hiện ra điều đó chăng? Và như vậy sẽ là đặc biệt nghiêm trọng
hơn: Tính CHÂN LÝ của Phật giáo hoàn toàn chẳng phù hợp chút nào trong
cuộc sống nhân sinh, ít ra là ở đất nước ta?
Trong tư tưởng kinh Hoa Nghiêm có nói “Dù Ðức Phật có ra đời hay không ra
đời, thì sự thật về những Khổ – Tập – Diệt – Ðạo, về Bát Chánh Ðạo, về
Mười hai Nhân duyên, về Bất Nhị, về Tương Tức, Không, Có, Vô tướng, Vô
Tác, v.v... vĩnh viễn là những sự thật.- Gọi là Chánh Pháp”. Như thế, sẽ
vô ích để tranh luận về một sự “có mặt hay không có mặt” và chư Tổ sư
truyền thừa xưa nay (gọi chung là Phật giáo) không để mắt quan tâm đến sự
“có mặt, đặt tên” loại này... Cho nên ở mọi lãnh vực, dù không có Phật
giáo hay có, thậm chí tín ngưỡng ngược lại, thì hiển nhiên vẫn có mặt...
Phật giáo! Những sự có mặt đó riêng ở Việt Nam chúng ta càng đậm đặc hơn
với chân lý Nhan quả – Thưởng thiên phạt ác, kể cả một từ Phật, tu hành
hoặc nhân quả v.v... không được nhắc đến, thì vẫn là có Phật giáo! Xa hơn,
cao hơn nữa là cái Phật tính, ai ai cũng đều có – dĩ nhiên không loại trừ
PTSXY. Cái Phật tính vốn không phân biệt trong các thành phần biểu hiện
của lục Ðạo, từ cõi Trời, Người, A Tu La, Ngạ quỹ, Súc sinh và Ðịa ngục.
Thế còn sự công kích Phật giáo? Trước hết xin không bàn đến bản chất vốn
phóng khoáng, không câu nệ và giáo điều (hoặc quá cực đoan như một vài tín
ngưỡng khác) nơi Phật giáo. Ở đây chỉ bàn đến sự công kích theo “đề án”
của PTSXY và theo chiều hướng của Nghệ thuật sân khấu thế giới từ khi hình
thành bất luận theo trường phái nào, từ Shakespeare (1564-1958) cho đến
Berlelt Brecht (1898-1958) v.v... đều có sự công kích không đúng nghĩa như
PTSXY đề cập trong bài viết của mình, khi sự ảnh hưởng của Tôn giáo đã trở
nên quyền lực chi phối mọi mặt của đời sống. Ngược lại, Phật giáo chưa bao
giờ dám buông thả mình vào những việc không phải chức năng chân lý một
Tôn giáo. Ðiều đó rất dễ nhận thấy ở lịch sử sân khấu nước ta. Có chăng đó
là những việc ở phạm trù cá nhân biến thoái và lạm dụng mà thôi (chưa nói
đến những nhân vật loại này được sinh ra với dụng ý xấu để công kích). Còn
lại thì tất cả – dù cho PTSXY có nói vai trò các giáo phái không phải lúc
nào cũng có vị trí như trong những thời kỳ...” hầu hết vẫn là một sự hòa
quyện bằng một khối nhất thống, bổ sung cho nên tảng đạo lý dân tộc ta
không nhỏ và luôn không ngừng nghỉ tuy vậy, giữa Nho –Lão – Phật ai từng
“tiểu nhân” và ai đã từng tỏ ra “quân tử “ hẳn PTSXY cũng biết rõ điều đó
nhất là những thời kỳ Phật giáo nghiễm nhiên ở ngôi vị Quốc giáo. Tính bất
biến ấy trong chân lý Phật giáo đến tận ngày nay càng thêm nguyên vẹn
trong khi các tư tưởng Nho – Lão vẫn luôn là điều ta thán kể cả lên án nó,
như chính PTSXY trong bài viết minh đã có nói đến. Thế mà PTSXY lai đưa ra
sự đối kháng để khẳng định cái chân lý “Quân xử Thần tử...” luôn thắng thế
tư tưởng “luân hồi nghiệp báo” bằng câu “các nhân vật trong tuồng đã không
tin vào nhà chùa”! đó cũng là phần sẽ được đề cập tiếp theo dưới đây.
“Trong một số vở tuồng cổ” trong bài viết của mình PTSXY chỉ đưa ra ví dụ
có ba vở là “San Hậu”, “Tam nữ đồ vương” và “Mộc Quế Anh”. Tất cả đều xoay
quanh vấn đề Hiếu Trung Tiết nghĩa. Ba nhân vật “đi tu” được rút ra làm
tiêu biểu cho ba vở hát bội này là Bà Tam Cung Nguyệt Hạo (San Hâu), Triệu
Tư Cung (Tam Ðồ Nữ Vương) và Ngũ Lang Hòa Thượng (Mộc Quế Anh); khi bị lên
án là quần thần phong kiến, lực thì lại được PTSXY ca ngợi “Rõ ràng các
nhà tu hành vẫn chịu chi phối của đạo trung quân, mà trong những trường
hợp trên là coi trọng giang sơn đất nước hơn là giáo lý nhà Phật” (giáo lý
nhà Phật đến “Những” cơ à? –NV). Ơ hay! Giáo lý nhà Phật có dạy những đệ
tử mình đặt “Ông Phật” lên trên tất cả mọi thứ, kể cả ông bà Tổ tiên tự
bao giờ? Trên phương diện lịch sử, ngày nay PTSXY chắc cũng thường nghe
nhiều đến phương châm rất thật, rất dõng dạc của Phật giáo Việt Nam “Ðạo
pháp – Dân tộc” kia mà! Ai cho phép đạo Phật Việt Nam nói như thế, có phải
xuất phát từ chủ nghĩa xét lại không? Không riêng gì PTSXY, ngay cả người
viết bài này nếu đã biết lời dạy của Ðức Phật về “Tứ trọng ân” thì có lẽ
đã không mạnh dạn viết lên “mấy suy nghĩ” non kém đó. Về tính xung đột
trong tuồng Hát Bội hầu hết là chuyện gian thần chiếm đoạt ngôi, trung
thần xã thân khôi phục và những người khác thì giữ gìn tiết khí, cương
thường cho tròn đạo nghĩa. Ở ba nhân vật ở trong ba vỡ đã dẫn cũng không
ngoài ý nghĩa đó. Có điều PTSXY chưa hoặc không được biết đến những chi
tiết vừa nêu thường được các vở hát bội lấy làm nội dung vỡ diễn, xưa kia
Ðức Phật Nhựt Nguyệt Ðăng Minh thứ... hai mươi ngàn! Vâng, hai mươi ngàn,
vốn cũng là bậc vua chúa đã giác ngộ chân lya “tranh giành” ấy trước khi
trở thành con có của trò chơi nhân thế có nói:
Nhứt phái thanh sơn cảnh sắc u
Tiền nhơn điền thổ hậu nhơn thu
Hậu nhơn thu đắc mạt hoan hỷ
Hoàn hưun thu nhơn tại hậu đầu.
(Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch nghĩa)
Một dãy gian sản cảnh đẹp thay
Cơ đồ người trước kẻ sau giành
Người sau cướp được khoan cười vội
Chẳng bấy lâu sau có gã tranh
Ðiều
đáng lưu ý ở đây là nguyên do “đi tu” của các nhân vật đó; ngoại trừ Bà
Tam Cung Nguyệt Hạo tuy cũng xuất phát từ thế thái nhân tình mà xuất gia,
vã lại sau khi hoàn thành nốt các nhiệm vụ “Nho giáo” của mình (khuyên nhủ
các em không thành, cứu thứ phi Phượng Cơ, hoán đổi Ðổng Mẫu...). Sau đó
vẫn tiếp tục ở lại chùa để hoàn thành nốt các nhiệm vụ một kẻ tu hành. Còn
nhân vật Triệu Tư Cung đi tu vì bất lực can ngăn người thân manh động cướp
ngôi “Phản nghịch đã chứa đầy thói dữ. Can gián đã trút lời ngay. Dứt thâm
tình tìm kiếm am mây. Chờ cơ hội cứu yên vận nước” Sau đó cha chàng đã
cướp được ngôi vua. Lão Ta Ngọc Tân đến chùa báo nguy cơ đến tính mạng thứ
hậu Phượng Cơ nữa, với lời lẽ tuy rằng cấp báo nhưng nửa mĩa mai nữa muốn
khêu gợi lòng trung quân ái quóc nơi Triệu Tư Cung “Nay Tôn Phụ lên thay
nước vận, mối nghiệp Nguyên cầm vững linh báu. Tu làm chi đạo sỏi giày
sành. Về đến đó lên xe xuống ngựa. Ðường đường ấy người rằng Thái tử. Nào
ai dám gọi Thuyền sư? Ðặng cho già ứng nghĩa dưới cờ. Kẻo khuất lấp uổng
tài dưới núi” và Lão Tạ Ngọc Lân đã không thất vọn khi liền sau đó Triệu
Tư Cung khẳng khái “... Chí sãi dốc tài bồi mạch nước, Dạ sãi lăm chống
vững cột trời... Muốn đem lại nghiệp Nguyên, Chi sá nhọc nhằn sức sãi...
Xét thân hổ với cao dày, phơi gan giúp chúa cau mày phụ cha, tự oan gia
càng sa nước mắt, gan anh hùng trổ mặt từ bi. Ðể rồi chàng được tiếng đời
khen “Mượn câu kinh kệ tạc lòng hiếu trung”
Nhân vật Ngũ Lang Hòa thượng trong vở “ Mộc Quế Anh” thì không rõ đã đi tu
tự bao giờ mà không thấy nói đến trong kịch bản chỉ biết rằng anh ruột Ngũ
Lang là Dương Lục Sứ có nhờ thuộc hạ của mình là Mạnh Lương đến chùa mời
về chung vai gom sức chống giặc PTSXY trích lời nói khích của Mạnh Lương
như sau “Ngài cứ Mô Phật mãi, ngày một ngày hai quân giặc nó tràn sang đây
thì đình nó cũng đốt, chùa nó cũng thiêu. Lúc đó Ngài lấy đâu ra chổ để mà
Mô Phật nữa?” Dĩ nhiên Ngũ Lang Hòa thượng đành cởi áo cà sa xuống núi đi
đánh giặc, khi tan giặc rồi Ngũ Lang lại trở về chùa tiếp tục đời sống tu
hành.
Nói nghĩa phóng khoáng ra rằng những tường hợp trên là sự chia sớt nhu
thuận của chân lý Phật giáo trong một nền tảng chung của đạo lý phương Ðôn
(Nho – Lão – Phật), một dạng nhập thế khế cơ bất liễu nghĩa. Tuy vậy sẽ
không khó khăn lắm để nhận ra rằng giữa tư tưởng Phật giáo và Nho học vốn
có sẵn tính đối lập tiềm tàng sâu sắc trong đó. Ðiển hình chứ HIẾU rất
được coi trọng trong Phật giáo. Các mặt khác xét cho cùng, tùy vào hoàn
cảnh, thời gian, tuy không chủ trương xem nhẹ nhưng ở mức độ tương đối,
phóng khoáng để hành xử, không tuyệt đối theo kiểu “Quân xử thần tử” được.
Ðiều này trong bài viết của minh PTSXY đã nhầm lẫn như đã nêu ở các phần
trên. Vì vậy, trong tuồng cổ người xưa đã khéo kế hợp nét “đồng tôn” của
Nho – Phật – Lão ở bình diện nổi, làm nên vẽ đẹp truyền thống của bộ môn
nghệ thuật này, đó là cái NHU và cái CƯƠNG. Và như vậy cái NHU trong đó
chính là Phật giáo – các nhà tu hành – chùa chiền, còn cái CƯƠNG là những
thôi thúc của đạo lý Vua – Tôi – Thần – Tử (chưa nói đến NHU – CƯƠNG ở
mô-típ ngược – tức ma quỷ và gian tà). Ðó còn là những yếu tố không thể
vắng mặt cho bất kỳ một loại hình nghệ thuật nào, huống là hát bội, một bộ
môn có nhiệm vụ chuyên chở đạo lý phương Ðông được xem là đối tượng ưu
việt. Hàng hậu sinh chúng ta liệu có còn khả năng đạo lý để thể hiện bằng
nghệ thuật như cha ông đã làm, hay đã đến lúc phải san bằng tất cả để mở
đầu cho giai đoạn phân tích, phê phán nghiêng ngả như thế với ý ngĩ tuồng
như những việc “hậu kỳ”mà chỉ có thế hệ sau mới hiểu và phát hiện ra được?
Sự chệch choạng, chao đảo trong “Mấy suy nghĩ” của PTSXY không chỉ dừng
lại nơi đó, mà còn nhầm lẫn đến tội nghiệp khi thay vì đi sâu phân tích
nhân vật Tam Cung Nguyệt Hạo trong vỡ tuồng San Hậu, lại quay sang đưa
nhân vật San Hậu – Thầy Cả – Thầy Hai (trong tuồng thường được Giả Ngu gọi
là các Phụ). Ðây là 3 nhân vật xuất thân từ nghề đâm thuê chém mướn, tuy
“Chẳng nên ông Thầy Cả, song đã dựa cốt Phật Bà”, nên “Kinh kệ một câu
giai bất biết”; đã được chính nhân vật tự thuật khá đầy đủ đầu cảnh 5 của
hồi thứ ba, chưa nói đến Giả Ngu là nhân vật nằm cuối cùng trong 17 vai
của vở, còn lại Thầy Cả, Thầy Hai là ở dạng “các nhân vật phụ khác”, chỉ
làm nhiệm vụ hổ trợ cho đường dây câu chuyện. Như thế vẫn chưa đủ độ tin
cậy khiến PTSXY thực hiện một trò ảo thuật ngoạn mục, đã biến những “tên
ác tăng” này từ chổ phường đạo tặc (giết chết trụ trì chùa Tây Sơn để
nghiễm nhiên khoác lên mình lớp áo hoán vị, kéo theo bọn “Sợ lánh đi tu
tránh thuế vua” và “Chuối xôi ních hết bụng chang bang) này trở thành
nhưng kẻ “đại diệt” “chân lý” “nhà chùa” và bình phẩm so sánh!
Những ai yêu thích bộ môn hát bội đều không thể không biết đến vở tuồng
San Hậu. Vở hát này thuộc dạng Tuồng Ðồ, tức là những vở được sáng tác
không dựa trên các sách sử Trung Quốc. Một vở tiêu biểu nhất của nghệ
thuật hát bội, được tồn tại bởi sự yêu thích không phân biệt giai cấp nhờ
vào khả năng, nội dung trung nghĩa còn chuyên chở rất đậm nghĩa bạn bè,
anh em và lòng hiếu thảo. Chính Tả quân Lê Văn Duyệt cũng rất thích vở này
và có tham gia chỉnh biên nhiều lần, và nhe thông lệ, mõi khi tổ chức lễ
lạt, có hát bội để Tả Quân xem, dứt khoát không thể thiếu vở San Hậu.
Trong đó nhân vật Lê Tử Trình chính là nổi niềm được chăm chút tương đồng
như cuộc đời của Tẳ Quân. Ðáng lưu ý hơn, vở San Hậu như một công trình
tổng hợp của nhiều bàn tay đóng góp; đến thời Tự Ðức có một cuộc tập hợp
và chỉnh biên rất lớn, nhưng vẫn chia làm hai loại để đãm bảo tính khách
quan khi so sánh, và được mệnh đề là “Phường bản” – tức bản có trước, được
lưu hành trong dân giã; kế đến là “Kinh bản”, tức là bản được chỉnh lý
(ngày nay vào thư viện Huế ta vẫn còn bặt gặp hai bản còn có mệnh đề như
vậy lưu giữ). Bản tuồng Kinh bản có công rất lớn của cụ Ðào Tấn
(1845-1908), cụ thể: Cụ đã chỉnh lý và viết lại lời ở hồi thứ III, chính
là hồi có xuất hiện nhân vật Giả Ngu đã kể trên và Tam Cung Nguyệt Hạo
xuất gia. Ðào Tấn vốn từng là quan lại của triều đình, một nhà Nho học và
đồng thời cũng là một người rất am tường Phật học, vì thế các đoạn có nhân
vật tu hành hay nói về chân lý nhà Phật – đặc biệt ở vở San Hậu ta đang
bàn hoàn toàn có thể tin cậy được độ chính xác, và dĩ nhiên an tâm được
khi cụ có phê phán. Thí dụ, nếu không như vậy tại sao lại có cảnh Hộ Pháp
“ra lệnh” cho Thành Hoàng – nơi cuộc đất có chùa Tây Sơn đang bị nhớm Giả
Ngu lộng hành – phải bảo vệ kẻ tâm thành với Phật pháp (thể hiện qua nhân
vật Tam Cung Nguyệt Hạo) trước khi bước vào lưới ma đang giăng sẵn như
sau:
Hộ Pháp:
Phụng mệnh Như Lai khiến
Nào dương cảnh Thành Hoàng
(nghe ta dặn)
Nay có bà Nguyệt Hạo nương nương
Mộ đạo mới xuất gia đầu Phật
Thìn lòng nhân đức – có dạ tu trỉ
Và đây gần sơn tự ác tăng
Khá bảo hộ người lành kẻo hại
Thành
Hoàng:
Thừa kim Thần sắc hạ
Quản chúng tới hộ tòng
Phòng khi chúng nó hành hung
Thời đã có ta bảo hoä
Xuất
hiện trong vở chỉ ngần ấy thôi và chỉ bằng âm thanh, quả thật Ðào Tấn khá
rành rọt cái tôn tri trật tự, cái “học hàm vị” của nhà Phật, thay vì thô
thiển đưa ra hình ảnh Quán Âm Bồ – Tát cứu nạn, hay Như Lai Phật Tổ ra
tay, cho thấy ông là một tác giả đáng nể. Dĩ nhiên khi chuẩn bị hãm hại
Tam Cung, từ trong vô hình, bọn Giả Ngu bị đè đầu vặn họng đến rã rời mà
chúng chẳng hiểu do đâu, kể cả đến khi đưa lên dàn hỏa rồi mà vẫn bị thúc
thủ, nhìn con cop nhào đến cỏng bà đi. Khi Ðổng Kim Lân cùng Phan Diệm đến
nơi kịp thời cũng đã thốt lên “Tới đây vì có thần linh; Cứu đặng cũng nhở
ơn Phật”. Và sau khi lũ Giã Ngu tiêu tùng, bà Tam Cung Nguyệt Hạo vẫn ở tu
tại Tây Sơn Tự đo. Ngôi chùa cũng tại nơi đó (hình thưc “bà Ni Nguyệt Hạo”
không quan trọng bằng lòng nhân đức, chí từ bi và lý tưởng Phật đà). Bà
Nguyệt Hạo đa làm nên chuyện, kể cả (như PTSXY) đã viết “mặc dù là người
tu hành nhưng Nguyệt Hạo chẳng ngần ngại hai lần lừa dối các em”, để hôm
nay bà cho họ thấy chân lý vay trả – nhân quả rất thật, ngay trước Phật
đài dù chỉ còn lại mỗi Tạ Thiên Văn và Tạ Lôi Văn trong năm anh em họ Tạ.
Cái đức độ đó mãnh liệt đến nỗi cứu luôn cả hai người em này khi mạng sống
đang nằm dưới mũi gươm của phe trung nghĩa. Cho nên Hoàng tử đãlẹ làng
nói: “Thưa Á Mẫu! Chị hai mệnh chẳng dung, ước còn năm cũng thứ”. Ơ hay,
thói thường quần thần tắc loạn hậu tắc trị, sòng phẳng trước rồi nói
chuyện nghĩa sau cơ mà (phong kiến Quân chủ – Nho gia cơ mà)! Ðộng cơ nào
mà bà Nguyệt Hạo ra tay cứu hoàng tử, thứ phi, nói dối các em và tuy không
đồng tình việc phản loạn nhưng bà chưa bao giờ tỏ ra quyết liệt, dùng đến
cả quyền người chị để khồng chế cản ngăn, bởi họ tuy là phản thần nhưng
lại rất thương quý chị, và cuối cùng lặng lẽ xuất gia đi tu? Rất đầy đủ
đạo nghĩa Nho gia và Phật giáo trong hành động ấy, nào có vấn đề nghiêng
ngả, chênh lệch đâu! Còn nếu như xét theo khía cạnh cực đoan, thua thắng
ấy thì kết quả cuộc vở San Hậu rõ ràng tư tưởng nhà Phật đã thắng thế. Tất
cả những cố gắng phân tích nhằm nêu ra mặt hạn chế của Nho học và giữa Nho
học với Phật học. À không, chùa chiền luôn đối nghịch, ai đáng tin tưởng
hơn ai trong tuồng (hát bội) của PTSXY, xem ra chẳng công hiệu, lại chẳng
giúp ích gì được trong việc bổ sung kiến thức nghệ thuật nhằm phát huy hay
bảo tồn vốn cổ dân tộc. Xúc phạm đến Phật giáo, đặc biệt là xúc phạm xem
nhẹ công lao cha ông xưa mà điển hình là cụ Ðào Tấn, như phần kết bài viết
chính của PTSXYdưới đây, với người viết bài này đắn đo lắm để khỏi phải
dẫn dụ vì như thế đồng nghĩa với “hết ý kiến” (1) như sau:
“Xem
màn tuồng trên, khán giả nhận thấy, tác giả vở tuồng San Hậu không tin vào
nhà chùa. Sở dĩ có hiện tượng trên bởi nội dung các vở tuồng cổ nói trên
đều muốn giáo huấn mọi người hãy noi theo và làm theo đạo lý, mà đạo lý ở
đây chủ yếu dựa theo mô thức của Nho giáo. Vì vậy các nhân vật trung tâm
quyết chiến đấu và xã thân vì đạo lý: con có thể chống lại cha, vợ có thể
chống lại chồng nếu như cha hoặc chồng làm điều trái đạo lý. Con người
trong sân khấu, tuồng là những con người hành động, nhập thế chớ không
phải muốn lánh đời thoát tục”
Ðăng trong TẬP VĂN PHẬT ÐẢN 2542 – SỐ 41 của Ban Văn Hóa TW GIÁO HỘI PHẬT
GIÁO V.N. NXB TP. HCM .
--- o0o ---
Vi tính: Nguyên Trang
Trình
bày:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày:
01-04-2003