Giáo
dục tuổi trẻ Việt Nam
ngày nay tại hải ngoại
Thích Như Điển
--- o0o ---
Từ khi con
người có mặt trên quả địa cầu nầy, dưới một hình thức nào đó, ở bản thể tự
nhiên, con người đã sinh sống trong cuộc đời này ở hai dạng thức khác
nhau. Đó là đời sống tinh thần và đời sống vật chất.
Dưới cái
nhìn của một nhà triết học nó khác với nhà tôn giáo học. Nhà tôn giáo học
phải có cái nhìn về cuộc đời khác hơn nhà chính trị học, phân tâm học v.v…
Nhưng dẫu cho ở một thể loại nào đó, con người cũng không thể chỉ sống đơn
thuần bằng sự lớn khôn của gạo cơm rau nước, mà còn phải có sự lớn mạnh
của tinh thần nữa. Do vậy Phật Giáo định nghĩa là trong cái này nó có cái
kia và trong cái kia có tồn tại cái này. Nghĩa là ngoài vật chất sẽ không
có sự tồn tại của tinh thần và ngoài tinh thần, vật chất không thể tồn tại
đơn điệu được. Trong phạm trù này vấn đề giáo dục giữ một vị trí rất quan
trọng. Vậy giáo dục là gì?
Chữ
Giáo ở đây có nghìa là dạy dỗ, chỉ bày. Chữ Dục có nghĩa là
mong muốn, để trở thành. Định nghĩa chung lại chữ giáo dục có nghĩa
là: chỉ bày cho ai đó (một điều gì) và (mong người đó) trở thành (người
hữu dụng) cho đời, cho đạo. Đó gọi là giáo dục.
Có mấy
loại giáo dục như thế?
Thật sự ra
phải trả lời rằng có vô số loại giáo dục. Ví dụ như giáo dục nhi đồng,
giáo dục thiếu niên, giáo dục thanh niên, giáo dục người lớn, giáo dục tâm
lý học, giáo dục học đường, giáo dục xã hội, giáo dục luân lý, giáo dục
luận lý, giáo dục sinh lý, giáo dục thống kê, giáo dục hành chánh, giáo
dục tài chánh v.v... và cứ thế mỗi một loại giáo dục sẽ có một chuyên đề
khác nhau. Ở đây chỉ muốn đề cập đến một số vấn đề có liên quan đối với
tuổi trẻ Việt Nam đang sống và lớn lên tại hải ngoại ngày nay.
1. Hoàn
cảnh giáo dục:
Nói đúng
hơn và cho đủ nghĩa là môi trường giáo dục. Ở các xã hội Á châu ta ngày
xưa và ngay cả ngày hôm nay cũng vậy, người học trò chỉ cần học những cái
gì từ ông Thầy dạy mình là đủ. Người học trò chỉ có bổn phận học thuộc
lòng sau đó trả bài cho Thầy, thế là xong bổn phận. Trong khi đó tại ngoại
quốc ngày nay, cái bối cảnh ở đây lại khác; người học trò không những chỉ
học cái của ông Thầy chỉ bày mà còn phát triển thêm phần năng khiếu của
mình nữa qua các trò chơi, computer hay thư từ giao dịch v.v... tầm hiểu
biết của trẻ con ngày nay tiến rất xa so với một thế hệ đi trước; nghĩa là
cách nhau chỉ hai mươi năm mà mọi hoàn cảnh đều được đổi thay.
Những nước
nông nghiệp phát triển về giáo dục rất chậm. Vì lẽ thông tin không cập
nhật hoá hằng ngày, trong đó có Việt Nam của chúng ta và các nước chậm
tiến khác trên thế giới. Trong khi đó các xứ phát triển về kỷ nghệ, con
người có khả năng dùng thì giờ nhanh hơn, nhiều hơn và bén nhạy hơn. Có lẽ
do hoàn cảnh và môi trường chung quanh, mà sự giáo dục được phát triển
thuận chiều như thế.
Đứa trẻ
tại Á châu nhìn cha mẹ và thầy giáo gần như một vị Thần. Do vậy, đứa trẻ
chỉ sợ ông Thần kia hành hạ, chứ ít có sự liên hệ mật thiết giữa cha mẹ và
thầy trò. Ngược lại, ở các xã hội Âu Mỹ ngày hôm nay, vị thầy giáo ở học
đường hay cha mẹ tại nhà, đứa trẻ rất thân thiện và tự tin và dưới cái
nhìn của nó là một người bạn chứ không phải là một vị Thần mà nó thường
phải nơm nớp lo sợ khi vào lớp.
Ở đây
người ta dạy cho chúng tự tin hơn, để khi lớn khôn lên khi chúng đứng
trước bạn bè cử toạ, chúng sử dụng hết năng khiếu của mình và khả năng tự
chủ của nó; vì được huấn luyện thực tập từ nhỏ nên rất dạn dĩ, tự nhiên.
Còn con em Việt Nam chúng ta thì sao?
Nếu nói
hoàn toàn ngược lại thì cũng không đúng hẳn. Vì cũng có nhiều người có lối
biện tài vô ngại trước một số cử toạ đông đảo; nhưng số này rất tiếc lại
không có nhiều. Trong khi đó đa phần đều bị động. Khi nào kêu đến tên mình
thì phát biểu ý kiến; nhưng không phải tự đáy lòng, chỉ nói thoáng qua,
nội dung không sâu sắc lắm. Thế mà có những câu chuyện bên lề, ngoài lớp
học, chốn ngao du sơn thủy lại nổ dòn hơn bắp rang. Có phải hoàn cảnh và
môi trường giáo dục của con em Việt Nam chúng ta ứng dụng vào thực tế
không đúng lúc, đúng thời chăng?
Nói về Gia
Đình Phật Tử Việt Nam là một tổ chức đã có mặt hơn 50 năm tại quốc nội và
hơn 25 năm tại ngoại quốc. Tuy số đoàn sinh có đông đó; nhưng những nhà
giáo dục của Gia Đình Phật Tử hay nói đúng hơn là những anh chị Huynh
Trưởng vẫn còn rập khuôn giống như hoàn cảnh của Việt Nam trước đây 50
năm. Do vậy mà phải thành thật nói thẳng: Tuy có hiệu quả đó nhưng không
nhiều. Đất nước của Việt Nam chúng ta là một nước nông nghiệp; không phải
là một đất nước kỹ nghệ và hoàn toàn dân chủ như Hoa Kỳ, kể từ khi lập
quốc đến nay hơn 200 năm chưa có một vị Vua nào thống trị tại đó, mà chỉ
toàn là Tổng Thống. Do vậy vấn đề giáo dục cho thanh thiếu niên của Gia
Đình Phật Tử phải được cập nhật hoá lại qua sự đóng góp của các Huynh
Trưởng đã qua các đại học sư phạm hoặc giáo dục. Nếu không, tiếng vọng ấy
chỉ một chiều và khó còn có tiếng hoà âm để phát triển trong một không
gian bao la vô tận và đầy hứa hẹn ấy.
2.
Phương pháp giáo dục:
Các người
Mẹ Á châu của chúng ta thể hiện sự thương con của mình bằng cách khi nào
con khóc thì liền cho bú, hoặc dỗ ngọt; nhưng điều ấy không có lợi. Vì lẽ
chỉ để làm thoả mãn cái tự ngã của đứa bé mà thôi. Chẳng lợi ích gì cho nó
cả. Nếu có, đó là lợi cho người lớn. Vì lẽ, để người lớn có nhiều thì giờ
hơn để đi làm việc khác khi biết rằng đứa bé đã được ngủ yên. Như thế là
một sự giáo dục không cân bằng. Ở Âu Mỹ nầy khi đứa bé khóc, hãy để cho nó
tự khóc và tự nín. Điều này mới nhìn vào thấy sao bà Mẹ tàn nhẫn thế.
Nhưng điều ấy rất hay cho thế tự chủ của đứa bé, cứ khóc cho đã, sau đó ắt
phải nín thôi.
Người Á
châu chúng ta khi thấy con mình té; điều trước tiên là chạy lại đỡ liền;
nhưng ở Âu Mỹ lại không; hãy để cho đứa trẻ tự đứng dậy để nó sẽ tự lập
cho cuộc đời của chính nó về sau nầy.
Người Á
châu của chúng ta khi đi thi thường hay xem lén bài của người bên cạnh;
nhưng ở Nhật và ở các xứ Âu Mỹ ngày nay hầu như không có. Vì sao vậy? Vì
chép được kết quả của kẻ khác để thi đậu đó không phải là tự lực về sự
phát triển năng khiếu của chính mình.
Người Mẹ Á
châu ít khi hỏi ý kiến chồng hay con cái trong nhà là thứ hai mẹ sẽ nấu
món gì, thứ ba, thứ tư mẹ nấu món gì? Con có thích không? Mà Mẹ cứ nấu món
của Mẹ thích; còn con có ăn không là chuyện của con chứ không còn là
chuyện của Mẹ nữa. Ở đây người ta khác hoàn toàn, vào mỗi cuối tuần cả gia
đình có buổi họp mặt để bàn luận với nhau về những sinh hoạt của gia đình
trong tuần tới và kiểm điểm những ưu khuyết trong tuần rồi. Thế mà đa phần
gia đình Việt Nam ít có tổ chức được như vậy.
Ở Gia Đình
Phật Tử cũng thế, có nhiều Huynh Trưởng không tốt nghiệp những khoa tâm lý
học của tuổi trẻ và quần chúng mà ra cầm đoàn là hỏng. Vì chỉ làm theo
những gì cổ xưa trong sách vở, chứ không có sáng kiến. Nếu ai đó có hỏi
thì bảo rằng: Đây là nội quy của Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Trả lời như
vậy nó không sai, nhưng không hoàn toàn đúng. Vì lẽ nội quy do một tập thể
soạn ra thì mấy mươi năm sau một tập thể khác cũng có quyền sửa đổi kia
mà. Đâu phải là một định luật, như định luật vô thường mà phải sợ nhân quả
của nó.
Như ta
thấy hiến pháp của một nước còn có thể sửa đổi được, nếu phải thông qua
quốc hội hoặc trưng cầu dân ý. Ngay cả giới luật của người tu, trước khi
tịch Niết bàn, Đức Thế Tôn còn căn dặn Ngài A Nan rằng: Những giới luật
nào không cần thiết cũng cần nên loại bỏ. Đó là những điều căn bản. Tuy
nhiên có nhiều Huynh Trưởng và nhiều Tăng Sĩ cứ khư khư giữ cái cũ như giữ
vàng bạc, đá quý không chịu thay đổi phương pháp giáo dục để hợp với hoàn
cảnh ở ngoại quốc ngày nay. Trong khi các anh chị Trưởng trung niên hoặc
lão niên mới chỉ tốt nghiệp trung học hoặc đại học mà các em của ngành
thanh của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ngày nay tại hải ngoại đang tốt nghiệp
tiến sĩ, cao học v.v... vì vậy phương pháp giáo dục của Gia Đình Phật Tử
cũng cần phải nghiên cứu lại. Có nhiều em than với tôi rằng: Bạch thầy sao
con thấy vào Gia Đình Phật Tử giống như đi lính quá! Tôi trả lời rằng: Thì
một tổ chức phải có kỷ cương chứ sao. Nhưng câu trả lời ấy có lẽ không
giải đáp được thắc mắc của các em thanh thiếu niên nầy. Vì có lẽ nơi tự
thâm tâm của các em tổ chức Gia Đình Phật Tử là một tổ chức phải tự do
hơn, cởi mở hơn; không có những người không có kinh nghiệm về tâm lý mà đi
hướng dẫn về tâm lý.
Tuy Gia
Đình Phật Tử Việt Nam chúng ta có các cấp Tập, Tín, Tấn và Dũng để định vị
cho kết quả của mình qua các khoá huấn luyện và các kỳ trại; nhưng phải
thành thật mà nói các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam ở hải ngoại ngày
nay đòi hỏi các anh chị Trưởng ấy phải trải qua sự huấn luyện của giáo dục
để hội nhập với đời sống cũng như văn hoá tại xứ người, mới có thể hướng
dẫn các thế hệ đi sau, làm cho họ tin tưởng và có vui thú để lui tới sinh
hoạt với Gia Đình Phật Tử.
Cây Bồ đề
nếu mọc tại các xứ Á châu nhiệt đới không cần tưới nước và trồng ở bất cứ
nơi nào ngoài trời nó cũng có thể sống được. Nhưng ở Âu Mỹ và các xứ lạnh
thì ngược lại. Phải trồng nó trong nhà có sưởi ấm; nếu không cây Bồ đề ấy
không có lá mà cũng chẳng có cành. Đây là phương pháp giáo dục của Gia
Đình Phật Tử Việt Nam và ngay cả giáo dục cho Tăng Ni sinh, các thế hệ trẻ
ngày nay tại hải ngoại mà các bậc Tôn Túc cũng như các anh chị Trưởng cần
phải lưu tâm đến.
3. Giáo
dục quần chúng:
Khi bảo
một người Nhật hát một bài dân ca, họ có thể hát từ đầu đến cuối một cách
thông suốt dịu dàng hay ho và đúng theo nhịp điệu. Bảo mười người họ cũng
hát như thế và một trăm người họ cũng ca bằng một nhịp điệu như thế. Trong
khi đó người Việt Nam chúng ta thì khác hẳn. Trong quần chúng có rất ít
người thuộc trọn vẹn một bài dân ca. Mỗi người hát mỗi vẻ và kẻ thuộc đoạn
nầy lại quên đoạn kia và nhiều khi bỏ dở nửa chừng và để được an ủi xen
vào đó là những tràng pháo tay tán thưởng không trọn vẹn.
Ngay cả
những tổ chức Phật Giáo thuần thành tại hải ngoại ngày nay khi hát quốc ca
còn tương đối được; nhưng khi hát đến Phật Giáo ca thì thôi khỏi nói,
nhiều khi thấy chẳng trang nghiêm nhịp điệu chút nào. Đây là hậu quả của
giáo dục quần chúng không nghiêm chỉnh vậy. Đó là chưa nói những buổi tụng
kinh tập thể của Gia Đình Phật Tử hoặc của các Đạo Hữu tại các chùa, ngay
cả các chùa có các thầy trụ trì. Thầy hoặc Huynh Trưởng mới bắt chữ “Nam“
là ở dưới đại chúng đã hoà theo chữ “Mô“ rồi; nhưng Nam Mô gì tiếp theo,
làm sao ông chủ lễ có thể cưỡng giọng lại được của đại chúng bên dưới lớn
hơn; trong khi ông ta muốn tụng là Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chứ
không phải là Nam Mô A Di Đà Phật.
Người Âu
Mỹ khi đi vào nơi tôn nghiêm rất lịch sự, cử chỉ trang trọng thành kính.
Người Việt Nam mình cũng không thiếu những người như thế; nhưng chưa được
quần chúng hoá. Ví dụ như khi đi đám tang, người mình chưa mặc được một
loại đồng phục, khi vào nơi tôn nghiêm hoặc nơi thuyết pháp, hoặc khi sinh
hoạt Đoàn vẫn cứ nói chuyện riêng, gây nên rất nhiều phiền hà cho những
người bên cạnh, chính mình đã không được lợi ích gì, mà người khác cũng bị
ảnh hưởng lây.
Khi vào
nơi trang nghiêm đôi khi lại hút thuốc, cười giỡn, không lưu ý những lời
kinh hoặc những lời giảng của các vị Thầy v.v… Đây là một lối giáo dục
quần chúng có tính cách đại trà, khó khăn vô cùng. Một người không thể tạo
nên một cảnh giới thanh tịnh được, mà mọi người phải tự tạo nên hoàn cảnh
tốt thì hoàn cảnh mới đổi thay. Điều ấy do chính con người phải thay đổi
hoàn cảnh; chứ hoàn cảnh tuyệt nhiên không thể thay đổi con người được.
4. Giáo
dục tu học:
Đây có thể
là một đề tài mới do chính tôi đặt ra. Theo tôi nghĩ cũng có thể áp dụng
cho cả Tăng sĩ và Cư sĩ, trong đó có Gia Đình Phật Tử.
Tôi cũng
thường hay nói với Tăng chúng của chùa Viên Giác tại Đức rằng: Sự học
không làm cho con người ta tự giải thoát được; nhưng nếu muốn mở cánh cửa
giải thoát kia không thể thiếu sự tu và sự học được. Vậy phải biết rằng
mục đích chính là sự giải thoát, mà muốn giải thoát thì phải có tu và có
học. Có người chỉ có học mà không tu. Có kẻ lại có tu mà chẳng học. Do vậy
nó không có sự bổ sung cho nhau. Nếu muốn cho một con tàu chạy nhanh,
không những chỉ cần một đầu máy tốt, mà toa tàu cũng không phải là vấn đề
không quan trọng. Làm sao để đảm bảo được chuyến tàu tốc hành về Tây
phương Cực lạc, người Huynh Trưởng phải tự trang nghiêm mình bằng lời nói
và việc làm, chứ không phải chỉ lý thuyết không.
Ngày nay
tại Âu châu này, có nhiều đoàn sinh Gia Đình Phật Tử đã thọ Bồ Tát giới
tại gia, ăn chay trường, có bằng cấp như Kỷ sư, Bác sĩ, tham gia rất đều
đặn trong các khoá tu học Phật Pháp Âu châu cho đến nay đã 13 kỳ, mỗi kỳ
tổ chức 10 ngày tại mỗi quốc gia vào mỗi năm khi hè đến và nhiều người đã
tham dự các khóa tu gieo duyên 14 ngày tại Úc châu, Âu châu hay Mỹ châu.
Trong khi đó thì nhiều anh chị Trưởng về trình độ Phật Pháp còn rất giới
hạn, chỉ còn nằm trong chương trình Phật Pháp của Gia Đình Phật Tử chứ
chưa làm quen với các bộ kinh lớn như Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Đại Bát Niết
Bàn v.v…
Gần đây
trong nước Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã cố gắng soạn ra một bộ sách về
Phật Pháp tương đối cao hơn; nhưng cũng chỉ mới nằm ở ngưỡng cửa Đại học
chứ chưa vào sâu nơi Hậu Đại Học. Cũng mới chỉ là lý thuyết chứ chưa phải
là thực hành.
Về mặt nổi
của Gia Đình Phật Tử có nhiều ưu điểm là đồng phục, kỷ cương; nhưng về mặt
sâu thẳm của nội tâm và sự tu học, Gia Đình Phật Tử cần phải hoà nhập vào
với các khoá tu khác của các Chùa và các Giáo Hội khác tổ chức, chứ không
phải chỉ khư khư giữ kỹ nội dung huấn luyện của 50 năm trước mà không có
một sự uyển chuyển nào đối với sự tiến bộ của thế giới ngày nay.
Sự tu học
cũng giống như một dòng nước chảy, không tiến ắt phải bị vật cản khác chi
phối. Do vậy phải tự trang bị cho chính mình một sự tu học chín chắn hơn
để phục vụ cho lý tưởng của một người Huynh Trưởng Phật Tử, đồng thời mình
phải là một nhà mô phạm cho các em trong cả sự tu lẫn sự học.
Ngày nay
người ngoại quốc tìm hiểu và theo Phật Giáo rất nhiều. Vì họ biết rằng chỉ
có giáo lý của đức Phật mới có thể giải phóng họ ra khỏi những giáo điều
cứng nhắc và vô ý vị của các Tôn Giáo khác. Nói như nhà Bác học Albert
Eintein đã từng nói: Một tôn giáo trong tương lai thích hợp và hướng dẫn
cho khoa học, không Tôn Giáo nào khác hơn là Phật Giáo. Phật học cao cả
như thế mà một người Huynh Trưởng không thông thạo giáo lý, một vị Tăng Sĩ
chỉ thực hành giáo lý một chiều, thì không cách nào mà mang đạo vào đời
được và nhất là mang chuông đi đánh xứ người, tiếng chuông ấy phải thanh,
phải vang vọng vào lòng người, chứ không thể và nhất định là đạo đời hai
ngã khác nhau được. Muốn như vậy người Huynh Trưởng, người Tăng Sĩ lãnh
đạo đó phải rành ngoại ngữ và phải tu học nghiêm chỉnh để trang nghiêm cho
tự thân mình thì mới có thể trả lời thông suốt những câu hỏi mà người
ngoại quốc đã đặt ra và hỏi mình.
Nhân việc
Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ thuộc miền Quảng Đức muốn ra một lưu
tập có liên quan đến vấn đề giáo dục tuổi trẻ Việt Nam và anh Quảng Pháp
Trần Minh Triết có nhờ tôi viết bài nầy và tôi chỉ viết trong 4 phạm trù
đã nêu trên.
Nếu có
được lợi lạc nào thì xin trang trải cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại ngày
nay mà các anh chị trưởng lãnh phần trách nhiệm chính. Nếu không, nó cũng
chỉ là một đóng góp khiêm nhường của một người Tăng sĩ Việt Nam đã sống
tại ngoại quốc hơn 30 năm nay, đã trải qua các Đại học danh tiếng tại Nhật
và tại Đức về ngành giáo dục tâm lý học quần chúng mà nhiều khi sự giáo
dục đó nó chỉ thích hợp cho người ngoại quốc, chứ không phải cho người
Việt Nam thì đây chỉ là một đề tài để tham khảo mà thôi.
Trong
cương vị là Điều hợp cũng như liên lạc viên của các Gia Đình Phật Tử Việt
Nam ở hải ngoại cũng như quốc nội, ngày hôm nay tôi rất hãnh diện để nói
lên những quan tâm của mình cho tuổi trẻ mà chính thời kỳ niên thiếu của
tôi cách đây gần 40 năm về trước khi đi xuất gia, nếu không có sự hiện hữu
của Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại một làng quê xứ Quảng, thì ngày nay tôi
đã không có cơ hội để gởi gắm những tư tưởng của mình cho các thế hệ đàn
anh và các thế hệ chuyển tiếp về sau.
Mỗi một
thế hệ chỉ có thể bắc được một nhịp cầu từ quá khứ đến hiện tại mà thôi.
Tôi đoan chắc rằng thế hệ tương lai phải do nhịp cầu trong hiện tại bắc
tiếp tục, chứ chiếc cầu quá khứ không thể bắc tiếp quá khứ sang tương lai
được. Nếu cố bắc, cũng sẽ bị hụt hẫn. Vì mỗi một con người chỉ làm được
một số công việc nhất định mà thôi.
Cầu nguyện
cho tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam ngày nay ở trong cũng như ở ngoài
nước luôn luôn dũng mãnh tinh tấn và tiến bước dưới ánh sáng nhiệm mầu của
chư Phật.
Mong lắm
thay!
Từ Đức
quốc xa xôi khi mùa xuân đã đến.
Munich,
ngày 18.04.2002
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Vi tính :
Hoa Giác