TỔ ĐÌNH MINH ĐĂNG QUANG
PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN
BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH
THIỆN PHÚC
Ca
Ca:
1)
Anh trai: Elder brother.
2)
Bản nhạc: A song.
3)
Ca hát: To sing.
Ca Bố Đức Ca:
Kapotaka (skt)—Chim bồ câu—A dove—Pigeon.
Ca Bố Đức Ca
Già Lam:
Kapotaka-samgharama (skt)—Chùa Ca Bố Đức Ca (thời nhà Đường gọi là chùa
chim Bồ Câu). Chùa được mang tên nầy là vì trong một thời xa xưa, Đức Phật
từng thuyết pháp cho đại chúng trong một khu rừng. Khi Đức Phật đang
thuyết pháp, có người thợ săn giăng bẫy bắt chim trong khu rừng, nhưng
suốt ngày chẳng được con nào. Anh ta bèn tới chỗ Phật, nói to rằng: “Hôm
nay Như Lai thuyết pháp ở đây, làm tôi không bẫy được con chim nào, vợ con
tôi đến chết đói mất.” Phật bảo anh ta hãy đốt lửa lên rồi Ngài sẽ ban cho
thực phẩm. Khi ấy Đức Phật liền thị hiện làm thân chim bồ câu rồi lao mình
vào lửa để làm thực phẩm cho người thợ săn và vợ con anh ta. Lần sau anh
lại đến chỗ Đức Phật đang thuyết pháp, đứng nghe Phật giảng và thấy hối
hận, từ đó phát tâm xuất gia tu hành giác ngộ—A monastery of the
Sarvastivadah school, so called because the Buddha in a previous
incarnation is said to have changed himself into a pigeon and to have
thrown himself into the fire in order to provide food for a hunter who was
prevented from catching game because of Buddha’s teaching. When the hunter
learned of Buddha’s power, he repented and asked the Buddha to allow him
to join the order. He later attained enlightenment.
Ca Ca:
Kaka or Kakala (skt)—Ca Ca Ca—Ca Ca La—Con quạ—A crow.
Ca Ca Bà
CaTần Đồ La:
Kapinjala (skt)—Một loại chim trĩ—A patridge or pheasant.
Ca Ca Ca:
Kaka (skt)—See Ca Ca.
Ca Ca La:
Kakala (skt)—See Ca Ca.
Ca Ca La
Trùng: Kakala
(skt)—Một loại sâu đen (loài sâu cắn chết sâu mẹ)—A black insect or worm.
Ca Ca Na:
Gagana (skt)—Bầu trời hay không trung—The firmament—Space.
Ca Chá:
Kaca (skt)—Pha lê—Crystal—Glass.
Ca Chiên
Diên Tử:
Katyayana or Mahakatyayana, or Mahakatyayaniputra (skt).
1)
Một trong mười đại đệ tử của Đức Phật: One of the ten noted
disciples of Sakyamuni.
2)
Bộ Luận Vi Diệu Pháp được người ta gán cho ông là tác giả, kỳ thật
bộ luận nầy được viết bởi một người cùng tên, nhưng sanh sau ông từ 300
đến 500 năm—The foundation work of the Abhidharma philosophy
(Abhidharma-jnana-prasthana-sastra) has been attributed to him, but it is
by an author of the same name 300 to 500 years later.
** For more
information, please see Ma Ha
Ca Chiên Diên.
Ca Da:
Kaya (skt).
1)
Thân—Body—Assemblage.
2)
See Gaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Ca Diếp:
Kasyapa (skt)—Ca Nhiếp—Ca Diếp Ba—Ca Nhiếp Ba.
1)
Ẩm Quang Thiên: Drinking Light Deva—A class of divine beings
similar or equal to Prajapati.
2) Cha
của hết thảy chúng sanh (trời, thần, người, cá, loài bò sát, và hết thảy
thú vật)—The father of gods, demons, men, fish, reptiles, and all animals.
3) Chòm
sao “nuốt ánh sáng” của mặt trời và mặt trăng (nhưng không có sự kiểm
chứng rõ ràng)—The constellation of “drinking light,” i.e. swallowing sun
and moon (but without apparent justification).
4) Một
trong bảy hay mười bậc Thánh của Ấn Độ—One of the seven or ten ancient
Indian sages.
5) Tên
của một bộ lạc hay một chủng tộc: Name of a tribe or race.
6) Phật
Ca Diếp là vị Phật thứ ba trong năm vị Phật hiền kiếp, là vị Phật thứ sáu
trong bảy vị Phật thời cổ: Kasyapa Buddha, the third of the five Buddhas
of the psent kalpa, the sixth of the seven ancient Buddhas.
7) Theo
Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ma Ha Ca Diếp là một vị Bà La Môn
của xứ Ma Kiệt Đà, trở thành một trong những đại đệ tử của Phật Thích Ca.
Sau khi Phật nhập diệt, ông đã trở thành trưởng chúng Tỳ Kheo, và triệu
tập và chủ trì hội nghị kiết tập kinh điển đầu tiên, chức vị thượng tọa
của ông có từ đấy—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English
Buddhist terms, Mahakasyapa, a brahman of Magadha, who became one of the
principal disciples of sakyamuni, and after his death became leader of the
disciples, convoked and presided (directed) the first synod,whence his
title chairman (Arya-Sthavira) is derived.
8) Đệ
nhất hạnh Đầu Đà trước khi giác ngộ: He is accounted the chief of the
ascetics before the enlightenment.
9) Vị
kiết tập kinh điển đầu tiên và vị tổ thứ nhất sau thời Phật: The first
compiler of the canon and the first patriarch.
10) Vị Bồ Tát
mà tên đứng đầu trong một chương của Kinh Niết Bàn: A Bodhisatva, whose
name heads a chapter in the Nirvana Sutra.
Ca Diếp Di:
Kasyapiya (skt)—Ca Diếp Duy—Ca Diếp Tỳ—Ca Diếp Ba—Sau khi Đức Phật nhập
diệt, trường phái Tiểu Thừa Nguyên Thủy được chia làm năm nhánh, trường
phái Ca Diếp Di là một, giáo thuyết căn bản dựa vào bộ Luận Ca Diếp Di—A
school formed on a division of the Mahasanghikah into five schools a
century after the Nirvana. Kasyapiya was one of which teaching based on
the Kayapiya Sastra.
Ca Diếp Ma
Đằng:
Kasyapa-Matanga (skt)—Nhiếp Ma Đằng—Trúc Nhiếp Ma Đằng—Một vị sư người
miền Trung Ấn Độ. Thời Hán Minh Đế, vua sai một phái đoàn sang Ấn Độ cầu
pháp đã gặp sư. Sư cùng với ngài Trúc Pháp Lan mang tượng Phật và kinh
điển về Lạc Dương khoảng năm 67 sau Tây Lịch—The monk who with Gobharana,
of Central India, or Dharmaraksa, i.e. Chu-Fa-Lan, according to Buddhist
statements, brought images and scriptures to China with the commissioners
sent by Ming-Ti, arriving in Lo-Yang in around 67 A.D.
Ca Diếp Phật:
Vị Phật thứ sáu trong bảy vị cổ Phật—The sixth of the seven ancient
Buddhas.
** For more information,
please see Ca Diếp
(6) and Thất Phật in
Vietnamese-English
Section.
Ca Đại:
See Skandha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Ca Đàm Ba:
Kadamba (skt)—Một loại cây có hoa thơm—A tree or plant with fragrant
flowers.
Ca Già Mạt
Ni: Kacamani
(skt)—Ca Thác Mạt Ni—Tên mọi loài ngọc lưu ly—Crystal—Quartz.
Ca Già Lân
Địa:
Kacalindikaka or Kacilindi (skt)—Ca Lân Đà—Ca Lân Đề—Ca Chỉ Lật Na—Ca Già
Lân Để Ca—Một loài chim mà lông của nó dùng để đan áo—A sea bird, from
whose feathers robes are made.
Ca Hy Na:
Kathina (skt)—Ca Đề—Yết Hy Na.
1)
Cứng—Không uyển chuyển—Không tương nhượng:
Hard—Inflexible—Unyielding.
2)
Tên của một loại áo của chư Tăng Ni, nhận sau mùa an cư kiết hạ:
Name of a monk’s or nun’s robe, received after the summer retreat.
3)
Ca Hy Na Nguyệt—Tháng ở giữa tháng mười và tháng mười một, sau khi
xong an cư kiết hạ, khi chư Tăng Ni nhận áo Ca Hy Na (Hạ Lạp):
Kathina-masa, the month in October-November, interpreted as the month
after the summer retreat, when monks and nuns received the “kathina” robe
of merit.
Ca Kệ:
Verses for singing—To sing verses.
Ca Khúc:
A song.
Ca La:
Kala (skt)
1)
Một phần cực nhỏ: A minute part.
2)
Một nguyên tử: An atom.
3)
Một phần trăm của đường kính sợi tóc của con người: The hundredth
part lengthwise of a human hair.
4)
Một phần mười sáu: A sixteenth part of anything.
5)
Một koảng thời gian xác định: A definite time, a division of time.
6)
Thời gian làm việc hay nghiên cứu, đối lại với thời gian nhàn rỗi:
The time of work, or study, as opposed to leisure time.
7)
Màu đen: Black.
Ca La Ca:
1)
Một loài hắc long (rồng đen): Kaliyaka (skt)—A naga or a black
dragon inhabiting the Yamuna (Jumna), slain by Krsna.
2)
Loại áo ca lê ca có màu lốm đốm (dệt bằng hoa cát bối): Kalika
(skt)—A garment of diverse colours.
3)
Tác Nhân: Karaka (skt)—One who dos, or causes—An agent.
Ca La La:
Kalala (skt)—Phôi thai—An embryo—The womb—An embryo shortly after
conception.
Ca La Sa Dã:
Kasaya (skt)—Ca La Sa Dị—Áo nhuộm của chư Tăng Ni, đối lại với áo trắng
của Phật tử tại gia—A monk’s dyed robe, in contrast with white lay garb.
Ca La Sa Dị:
Kasaya (skt)—See Ca La sa Dã.
Ca La Tần Ca:
Kalavinka (skt)—See Ca Lăng Tần Già.
Ca La Trấn
Đầu: Kalaka and
Tinduka (skt).
1)
Ca La: Kalaka (skt).
a)
Trái cây có chất độc: A poisonous fruit.
b)
Vị Tăng phá giới: A bad monk.
2)
Trấn Đầu: Tinduka (skt).
a)
Trái cây không có chất độc: A non-poisonous fruit.
b)
Một vị Tăng tinh chuyên tu hành: A good monk.
Ca La Tý Nã
Ca: Kalapinaka
(skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ca La Tý Nã Ca
(Kalapinaka) là thành phố Ma Kiệt Đà, khoảng 20 dậm đông nam Kulika, phía
nam của thành phố Behar bây giờ—According to Eitel in The Dictionary of
Chinese-English Buddhist Terms, Kalapinaka was the city of Magadha, 20
miles southeast of Kulika, south of the present city Behar.
Ca La Tỳ Ca:
See Kapilavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Ca La Tỳ La:
Karavira (skt)—Một loại trúc đào có bông thơm—A fragrant oleander.
Ca La Việt:
Kulapati (skt).
1)
Người đứng đầu bộ tộc: The head of a clan, or family.
2)
Đàn Việt hay cư sĩ: Lay people.
Ca Lan Đà:
Karanda or Karandaka (skt).
1)
Một loài chim bay thành đoàn và có giọng hót hay: A bird which
flies in flocks and has a pleasant note.
2)
Một loài sóc đã đánh thức vua Bình Sa Vương để báo cho ngài biết về
một con rắn: A squirrel which awakened Bimbisara to warn him against a
snake.
3)
Ca Lan Đà-Trúc Lâm Tịnh Xá, thuộc một vị trưởng giả tên Ca Lan Đà,
trước đó nhóm Ni Kiền Tử cư ngụ, về sau vua Bình Sa Vương hiến cho Phật
Thích Ca Mâu Ni (đây là Tăng Viện sớm nhất ở Ấn Độ): The Karanda-Venuvana,
a garden belonging to an elder called Karanda, used by Nirgrantha sect,
then presented by King Bimbisara to Sakyamuni.
Ca Lan Đà Trúc Lâm:
Karanda-Venuvana (skt)—See Ca Lan Đà (3).
Ca Lan Đà Trưởng Giả:
An elder named Karanda who owned the Karanda-Venuvana—See Ca Lan Đà (3).
Ca Lăng Tần
Già: Kalavinkas
(skt)—Ca Lan Già—Ca Lan Tần Già—Yết La Tần Ca—Ca Lăng Tỳ Già—Ca Tỳ Già
La—Cáp Tỳ Già La—Yết Tỳ Già La—Ca Tỳ Già—Ca Vĩ La—Một loại chim sẻ ở Ấn
Độ, được đề cập trong Kinh A Di Đà, loại chim có giọng hót thảnh thót.
Người ta nói loài chim nầy có thể hót từ trong trứng, trước khi được nở
ra—A kind of sparrow in Indian, mentioned in the Amitabha Sutra, described
as having a melodious voice, found in the valley of Himalaya. It is said
to sing in the shell before hatching.
Ca Lăng Tần
Già Vương:
Kapinjalaraja (skt)—Tiền thân của Đức Phật là một con chim trĩ—A previous
incarnation of Sakyamuni as a pheasant.
Ca Lật Để Ca:
Karttika (skt)—Tháng ở giữa tháng mười và tháng mười một—The month between
October and November—See Thập Nhị Nguyệt.
Ca Lâu Đà Di:
See Kaludayin in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Ca Lâu La:
Garuda (skt)—See Garuda in English-Vietnamese and Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Ca Lê Ca:
Kaliyaka (skt)—Se Ca La Ca.
Ca Lê Sa Xá
Ni: Karsaniya
(skt)—Sự tha thứ—Forgiveness.
Ca Lợi:
Kali (skt)—Ca Lê—Cát Lợi—Ca Lam Phù—Ca La Phú—Striver—Ill-born.
1)
Đấu Tránh Ác Sanh: Striver—Ill-born.
2) Đấu Tránh Vương—Ác
Thế Vô Đạo Vương: Kaliraja or Kalingaraja (skt)—Theo Kinh Niết Bàn, Ca
Lợi hay vua Ca Lam Phù hay Đấu Tránh Vương là vua của xứ Ma Kiệt Đà, nổi
tiếng về sự bạo động của ông ta. Người ta nói rằng trong tiền kiếp, ông đã
từng cắt tai, xẻo mũi, hay chặt tay chân của Đức Phật—According to the
Nirvana Sutra, Kaliraja was a king of Magadha noted for his violence; it
is said that in a former incarnation he cut off the ears, nose, and hands
of the Buddha, who bore it all unmoved.
Ca Lợi Sa:
Karsa or Karsana (skt)—Một đơn vị đo lường trọng lượng của người Ấn, tương
đương với nửa lượng của người Trung Hoa—An Indian measure of weight,
equivalent to half a Chinese ounce.
Ca Lợi Sa Ba
Nã: Karsapana
(skt)—Một đơn vị tiền tệ của Ấn Độ, tương đương với 400 tiền vàng—An
Indian monetary unit, equivalent to 400 candereens.
Ca Lợi Vương:
Kaliraja or Kalingaraja (skt)—See Ca Lợi.
Ca Lô Nã:
Karuna (skt)—Bi (thương xót)—Pity—Pitying.
Ca Ma:
Kama (skt).
1)
Tham dục: Desire.
2)
Luyến ái: Love.
3)
Mong cầu: Wish.
4)
Ngạ quỷ: A hungry ghost.
Ca Ma Đà Đô:
Kamadhatu (skt)—Dục Giới gồm thế giới nầy và sáu cõi trời—Bất cứ thế giới
nào mà những yếu tố tham dục chưa được khắc phục—The realm of desire, of
sensuous gratification; this world and the six devalokas; any world in
which the elements of desire have not ben suppressed.
Ca Ma Lãng
Ca: Kamalanka
(skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Kamalanka là một vương
quốc cổ bên Ấn Độ, có lẽ là một phần của Chittagong bây giờ, đối diện với
cửa sông Hằng—According to The Dictionary of Chinese-English Buddhist
Terms, Kamalanka was an ancient country in India, probably part of the
present Chittagong, opposite the mouth of the Ganges.
Ca Ma Lũ Ba:
Kamarupa (skt)—Theo Eitel trong trung Anh Phật Học Từ Điển, Ca Ma Lũ Ba,
bây giờ là Kamrup, là một vương quốc cổ được thành lập bởi một phần đất
tây bộ của Assam (theo Tây Vực Ký của Huyền Trang, thì xứ nầy rộng trên
vạn dậm, giống người nhỏ bé, nói tiếng khác với Ấn Độ, thờ phụng thiên
thần, không tin Phật Pháp. Đến đời nhà Đường vẫn chưa thấy dựng chùa thờ
Phật. Người dân chỉ lén lút niệm Phật. Đến đời vua Câu Ma La, nghe tin
Huyền Trang đi ngang, bèn thỉnh ngài đến thuyết pháp)—According to Eitel
in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kamarupa, now Kamrup,
an ancient kingdom formed by the western portion of Assam. Until the T’ang
dynasty, no temples were ever built there. When King Kamala heard that
Hsuan-Tsang crossed by the country, he invited Hsuan-tsang to stop by to
preach Buddha’s teaching.
Ca Na Đề Bà:
Kanadeva (skt)—Ca Na GiàMâu Ni (Kanakamuni)—Đệ tử của ngài Long Thọ và là
tổ thứ 15, người miền Nam Ấn, dòng dõi quý tộc. Người ta nói ông chỉ có
một mắt nên mang tên “Kuna.” Ông còn có tên là Đề Bà Bồ Tát—A disciple of
Nagarjuna and fifteenth patriarch, a native of South India, of the Vaisya
caste; said to have only one eye, hence Kana his name; known also as
Deva-Bodhisattva.
Ca Na Già
Mâu Ni:
Kanakamuni (skt)—Câu Na Hàm Mau Ni—Cát Nặc Già Mâu Ni.
1)
See Ca Na Đề Bà.
2)
Vị Phật thứ hai trong năm vị Phật Hiền kiếp, vị Phật thứ năm trong
bảy vị Phật quá khứ: The second Buddha in the five Buddhas of the
Bhadrakalpa, and the fifth of the seven ancient Buddhas—See Ngũ Phật and
Thất Phật.
Ca Ngâm:
To sing poems.
Ca Ngợi:
To congratulate.
Ca Nhạc:
Music and song.
Ca Nhị Sắc
Già: Kaniska
(skt)—See Ca Ni Sắc Ca.
Ca Ni Ca:
Kanaka or Kanika (skt)—Một loại cây, có lẽ là cây chiên đàn—A tree or
plant, probably a kind of sandal-wood.
Ca Ni Sắc Ca:
Kanishka (skt)—Vua nước Nguyệt Chi (tộc Nguyệt Thị, tổ tiên xuất phát từ
Trung Á), cai trị xứ Kiện Đà La, phía bắc Punjab bây giờ, ông đã thống trị
một vùng rộng lớn mà phía tây giáp đến Đại Hạ, vùng lãnh thổ rộng lớn từ
Kabul, Gandhara, Sindh, Tây bắc Ấn Độ, Kashmir và một phần của Madhyadesa
về sau đời vua A Dục. Ông là một ông vua đầy quyền uy thuộc dòng dõi Saka
hoặc Turuska. Ông là vị hộ pháp lớn của Phật giáo, chỉ sau có vua A Dục và
Di Lan Đà. Chuyện quy-y theo đạo Phật của Ca Ni Sắc Ca cũng diễn ra giống
hệt như chuyện vua A Dục. Người ta nói rằng thuở thiếu thời, quốc vương
Nguyệt Chi đã không có sự tôn trọng đối với đạo Phật. Ông không tin vào
nghiệp báo và đối xử với đạo Phật một cách khinh mạn. Rồi chính nỗi ân hận
trước cảnh giết chóc trong các cuộc chinh phục Kashgar, Yarkand và Khotan
đã khiến ông tìm đến với giáo lý của đạo Phật, và sau đó ông đã truyền bá
một cách tận tình. Ông đã hoàn tất công việc của vua A Dục và giúp cho
Phật pháp hoằng dương thắng lợi khắp châu Á. Hoạt động truyền giáo không
ngừng nghỉ xuyên qua đế quốc rộng lớn của ông ta từ Madhyadesa ở Ấn Độ đến
Trung Á. Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill,
niên đại của Ca Ni Sắc Ca có lẽ vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất. Vào
khoảng từ 125 đến 165 sau Tây Lịch, ông đã triệu tập hội đồng kiết tập
kinh điển lần thứ tư, với 500 vị Tăng dưới sự chủ tọa của Thế Hữu đại sư
tại vùng Kashmir. Nhưng theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm
Phật Giáo, thì triều đại Ca Ni Sắc Ca từ 78 đến 101 sau Tây Lịch đã đánh
dấu một khúc quanh quan trọng trong lịch sử Phật giáo và văn học Phật
giáo. Triều đại nầy đã chứng kiến sự trổi dậy của Phật giáo Đại Thừa và
hoạt động văn học rực rỡ được khởi đầu từ những danh Tăng như Hiếp Tôn
Giả, Mã Minh, Thế Hữu và các vị khác. Chính trong thời đại nầy, tiếng Pali
đã phải nhường chỗ cho tiếng Phạn. Trong lãnh vực nghệ thuật, trường phái
điêu khắc Gandhara nổi tiếng đã phát triển và các bức tượng Phật, tượng Bồ
Tát đã bắt đầu xuất hiện. Việc đóng góp to lớn nhất mà vua Ca Ni Sắc Ca đã
dành cho Phật giáo là việc triệu tập Nghị Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ tư
tại Kashmir (see Kết Tập Kinh Điển IV). Theo Tây Vực Ký Truyện của Huyền
Trang thì Nghị Hội đã diễn ra tại Kashmir. Mục đích của nghị hội là kết
tập các giáo lý của Đức Phật và viết luận giải cho giáo lý nầy theo Nhất
Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada school). Nghị Hội lần thứ tư đã kết tập được bộ
Tỳ Bà Sa Luận. Về Tam Tạng của giáo điển, nghị hội đã biên tập được 10 vạn
bài tụng của bộ luận Ưu Ba Đề Xà (upadesa-sastra) giải thích kinh tạng,
mười vạn bài tụng của bộ Tỳ Nại Đa Tỳ Bà Sa (Vinaya-vibhasa-sastra) giải
thích Luật Tạng, và mười vạn bài tụng của bộ A Tỳ Đạt Ma Tỳ Bà Sa giải
thích Luận Tạng. Bộ Đại Tỳ Bà Sa (Mahavibhasa) hiện còn bản Hoa ngữ, có lẽ
là tiêu biểu cho các bộ luận đã được biên soạn tại Nghị Hội nầy. Khi kinh
điển đã được kiết tập, ông bèn cho khắc vào bản đồng và lưu trữ trong
tháp. Ngoài ra, vua Ca Ni Sắc Ca còn cho xây dựng nhiều tu viện và bảo
tháp. Ông đã xây dựng nên một thành phố có tên là Kanishkapura, được xác
định là thành phố Kanispur ngày nay tại Kashmir. Riêng tại Purusapura, nay
là Peshawar, ông đã cho xây dựng một đại điện mang tên ông, phía tây của
điện nầy là Đại Tu Viện Ca Ni Sắc Ca. Đại điện Ca Ni Sắc Ca là một kiến
trúc uy nghi, cao 120 mét, phần đáy có năm tầng, cao 45 mét. Các vị khách
hành hương từ Trung Quốc là Pháp Hiển, Tống Vân, và Huyền Trang đã không
tiếc lời ca ngợi vẻ đẹp kiến trúc của ngôi tháp quan trọng nầy. Còn Đại Tu
Viện Ca Ni Sắc Ca là một tu viện cổ, vào thế kỷ thứ bảy khi Huyền Trang
đến thăm viếng, ngài đã kể lại là trên các tầng của tu viện có nhiều sân
thượng được nối nhau bởi những hành lang, và mặc dù các tòa nhà đã đổ nát
nhưng có thể nói đây là công trình nghệ thuật hiếm có. Trong tu viện ấy,
vẫn còn một số Tỳ Kheo thuộc phái Tiểu Thừa—King of the Yueh-Chih, i.e. of
Tukhara and the Indo-Scythians, ruler of Gandhara in northern Punjab, who
conquered northern India and as far as Batria from Kabul, Sindh, North
West India, Kashmir, and part of Madhyadesa. He became a patron of
Buddhism, the greatest after Asoka and Milinda. The story of Kanishka’s
conversion to Buddhism followed the same way as that of Ashoka. It is said
that Yueh-Chi monarch in his early life had no respect for the Buddhist
religion. He did not believe in Karma, and treated Buddhism with crushing
contempt. It was his remorse at the bloodshed during his conquests of
Kashgar, Yarkand, and Khotan that drew him to the quietist teachings of
Buddhism which he propagated later with such zeal. It was during
Kanishka’s reign and largely through his efforts that Buddhism was
successfully introduced into Central and Eastern Asia. There was ceaseless
missionary activity throughout his vast empire which extended from
Madhyadesa in India to Central Asia. According to Keith in The Dictionary
of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, his date
probably at the close of the first century. At around 125-165 A.D., he
convoked the fourth synod in Kashmir (see Kết Tập Kinh Điển III), of 500
leading monks under the presidency of Vasumitra. However, according to
Prof. Bapat in Twenty-Five Hundred Years Of Buddhism, Kanishka’s reign
(78-101 A.D.) also marked an important turning point in the history of
Buddhism and Buddhist literature. It witnessed the rise of Mahayana
Buddhism and the magnificent literary activity started by Parsva,
Asvaghosa, Vasumitra, and others. It was in this age that Pali gave place
to Sanskrit. In the field of art, the celebrated Gandhara sculptures
developed and figures of the Buddha and Bodhisattvas began to appear. The
King’s greatest contribution to Buddhism was his convention of the Fourth
Council. According to Hsuan-Tsang in the Records of Western Countries, the
Council met in Kashmir. The chief aim of the Council was the compilation
of the doctrines of Buddhism and the writing of commentaries on them
according to the Sarvastivada school of Buddhism. The Fourth Council
compiled the commentaries known as the Vibhasa-sastra. On the three
Pitakas of the Buddhist Canon, the Council composed 100,000 stanzas of the
Upadesa-sastras explaining the canonical sutras, 100,000 stanzas of the
vinaya-vibhasa-sastras explaining the Vinaya, and 100,000 stanzas of the
Abhidharma. The Mahvibhasa, which is still preserved in Chinese, perhaps
represents the commentaries prepared by this Council. When the canon was
revised and settled; this he is said to have had engraved on brass and
placed in a stupa. Besides, king Kanishka founded many monasteries and
stupas. He founded a city named Kanishkapura which has been identified
with the modern Kanispur in Kashmir. Kanishka erected a Great Stupa which
was named after him. To the west of the stupa, he built a large monastery
which was known as Kanishka Mahavihara. Both these structures were erected
at Purusapura, now Peshawar. The Great Stupa was a magnificent structure,
400 feet high, the base being in five stages and 150 feet high. The
Chinese pilgrim Fa-Hsien, Sung-Yun, and Hsuan-Tsang have lavished great
praise on the architectural beauty of this important relic tower. The
Kanishka Mahavihara was an old monastery, at the time when Hsuan-Tsang
visited it in the seventh century A.D., its upper storeys and many
terraces were connected by passages and although the buildings were in
ruins they could be said to be of rare art. There were still in the
monastery a few Hinayanist monks.
Ca Tất Thí:
Kapisa (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ca
Tất Thí là tên nước Kanaka có chu vi 4000 dậm, thủ đô cũng cùng tên nước,
với chu vi 10 dậm. Đây là nơi an cư kiết hạ của Đức Phật dưới triều vua Ca
Nhị Sắc Già (Kaniska)—According to Professor Soothill in The Dictionary of
Chinese-English Buddhist Terms, Kapisa was an ancient kingdom, south of
Hindukush, said to be 4,000 miles around, with a capital of the same name
10 miles in circumference; formerly a summer resort of Kaniska
Ca Thanh:
Tiếng hát của loài khẩn na la—The sound of singing of Kinnaras.
Ca Thấp Di
La: Kasmira or
Kashmir (skt)—Yết Thấp Nhĩ La—Ca Diếp Di La—Theo Tây Vực Ký, Ca Thấp Di La
là tên gọi của nước Kế Tân hồi xưa, bây giờ là Kabul, ở về phía Bắc Ấn Độ.
Ca Thấp Di La là nơi kiết tập kinh điển lần cuối dưới triều vua Ca Nhị Sắc
Già (Kaniska)—According to the Records of Western Lands, Kasmira formerly
known as Chi-Pin, the modern Kabul, north of India. Kasmira was the seat
of the final synod for determining the Canon under King Kaniska.
Ca Thi:
Kasi (skt).
1)
Tên của một loại trúc: Name of a kind of bamboo.
2)
Một địa danh về phía bắc của Kosala, mang địa danh như vậy vì có
nhiều loại trúc tốt được dùng làm tên—A place said to be so called
because its bamboos were good for arrows, north of Kosala.
Ca-Tra Phú
Đơn Na:
Pataphutana or Kataputana (skt)—Kỳ Xú Quỷ—Cà Tra Bố Đơn Na—Một loài quỷ
cực kỳ xấu xí với thân hình hôi hám, khi bắt người thì khiến cho họ kêu
khóc một cách thống khổ. Loài quỷ nầy cũng gây nhiều nguy hiểm cho loài
người—A kind of extremely ugly demons (pretas of remarkably evil odour)
whose bodies expel the foulest odors, who makes people scream and cry out
in pain and agony. They also cause a lot of danger to humans.
Ca Tụng:
To sing—To chant—To compliment—To commend—To congratulate—To praise.
Ca Tỳ La:
1)
Tác giả của bộ Tăng Khư Luận (nói về nghĩa của 25 đế): Kapila
(skt)—Author of the Sankhya philosophy.
2)
Ca Tỳ La Vệ: See Kapilavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Ca Tỳ La Bà
Tô Đô: See
Kapilavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Ca Tỳ La Vệ:
See Kapilavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Ca Tỳ La Vệ Phế Tích:
Phế tích thành Ca Tỳ La Vệ, nay là làng Tilaurakot, chừng 70 dậm về phía
bắc Ba La Nại, kinh đô của bộ tộc Thích Ca do vua Tịnh Phạn cai trị ngày
xưa. Tại đây các nhà khảo cổ Ấn Độ cũng tìm thấy phế tích cổng hoàng cung
của vua Tịnh Phạn, nơi mà Thái Tử Sĩ Đạt Đa đã ra đi xuất gia tu hành khổ
hạnh—The ruins at Kapilavastu, modern village Tilaurakot in Nepal, about
70 miles north of Benares, the capital of the Sakya’s tribe of whom king
Suddhodana was a ruler. Here, Indian archaelogists also found ruins of
thegate of Suddhodana’s palce by which Prince Siddhartha went out to
become an ascetic.
Ca Tỳ Ma La:
Kapimala (skt)—Một vị Tăng ở Ma Kiệt Đà bây giờ là Patna, vào khoảng thế
kỷ thứ hai sau Tây Lịch. Trước ngài theo ngoại đạo, sau được ngài Mã Minh
khuất phục nên xin làm đệ tử Phật. Ngài là Tổ thứ 13 ở Ấn Độ. Người ta nói
ngài chính là người đã khuất phục và truyền pháp cho ngài Long Thọ—A monk
of Magadha (Patna), around the second century A.D., converted by
Asvaghosa. He was the thirteenth Patriarch and he himself is said to have
converted Nagarjuna.
Ca Tỷ La: Kapila
(skt)—See Ca Tỳ La.
Ca Vũ: Song and
dance—To sing and dance.
Ca Xa: Kasa (skt).
1) Một
nắm cỏ dùng làm chiếu, được nhân cách hóa như là thị giả của Diêm Ma
Vương—A piece of grass, used for mats, thatch, etc.; personified as one of
Yama’s attendants.
2) Theo
Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, kasa là nắm cỏ dùng để làm chổi
cho Đức Phật, vẫn còn là một vật thờ phượng: According to Eitel in The
Dictionary of Chinese-English Buddhist terms, kasa is a piece of grass, of
which a broom was made, and used by Sakyamuni. It is still an object of
worship.
Ca Xa Bố La:
Kasapura (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Kasapura là
tên thành của nước Bát La Da Già—According to Eitel in The Dictionary of
Chinese-English Buddhist Terms, Kasapura used to be a city between Lucknow
and Oudh.
Ca Xướng: See Ca.
Cá: Mỗi—Each—Every.
Cá Cá Viên Thường Đạo:
Mỗi mỗi là một đạo tròn đầy vĩnh cửu—Every single thing is the complete
eternal Tao.
Cá Nhân:
Individual—Personal.
Cá Nhân Chủ Nghĩa:
Individualism.
Cá Nhân Hóa: To
individualize.
Cá Nhân Thành Tựu Công
Đức Lực: personal achievement of merit.
Cá Thể:
Individuality.
Cà Khịa: To pick a
quarrel with someone.
Cà Lăm: To
stutter—To stammer.
Cà Nhắc: Limping.
Cà Rà: To loiter.
Cà Ràng: Earthern
stove.
Cà Rỡn: To joke—To
jest.
Cà Sa: Kasaya
(skt).
(I) Nghĩa
của “Cà Sa”—The meanings of “Kasaya”—Y áo của nhà sư. Áo xích sắc hay màu
thẳm, được diễn dịch là hư nát, bẩn, nhiễm bẩn, được nhuộm bằng màu tạp,
chứ không phải làm bằng một trong những màu chính, để phân biệt với bạch y
hay áo trắng của hàng tại gia—The monk’s robe or cassock. A red or yellow
monk’s robe, interpreted as decayed, impure in colour, dyed, not of
primary colour, so as to distinguish from the normal white dress of lay
people.
(II) Phân
loại “Cà Sa”—Categories of “Kasaya”—Có nhiều loại khác nhau—There are
several different names for Kasaya:
1) Đại Y:
See Tăng Già Chỉ.
2) Giải
Thoát Y: Y áo của sự giải thoát—The clothing (garment) of liberation.
3) Giải
Thoát Tàng Tướng Y: The garment of emancipation.
4) Phước
Điền Y: Y áo mặc vào như đem phước điền cho người gieo—The robe of a field
of happiness.
5) Vô
Tướng Y: Y áo của nhà tu không có hình tướng, nó chỉ là một miếng vải
vuông—The robe without form. The Kasaya is without form in the sense that
is a simple square sheet of cloth.
6) Nhẫn
Nhục Y: Y áo nhắc người mặc luôn nhẫn nhục—The robe of endurance, or
patience—Enduring-humiliation robe.
7) Bá Nạp
Y: Y áo làm bằng vải bá nạp (vải mà người ta đã vứt đi)—Broken patched
robe.
8) Phấn
Tảo Y: Y áo làm bằng những miếng vải cũ dùng để lau bụi—A robe of rags—A
collection of rags out of dust-heap used as robes for monks and nuns.
9) Tăng
Già Chỉ: Áo đắp bằng những mảnh vải, một trong ba loại y cho chư Tăng Ni,
choàng từ vai xuống tới đầu gối và được cột lại nơi hông, thường được làm
bằng chín hay hai mươi lăm mảnh—The path-robe, one of the three garments
of a monk reaching from shoulders to the knees and fastened around the
waiste, usually made up of nine to twenty-five pieces.
10) Tăng Già
Lê: See Tăng Già Chỉ.
11) Trọng Y:
See Tăng Già Chỉ.
(III)
Những lời Phật dạy về “Cà Sa” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha’s
teachings on “Kasaya” in the Dharmapada Sutra:
1) Mặc áo
cà sa mà không rời bỏ những điều uế trược, không thành thật khắc kỷ, thà
chẳng mặc còn hơn—Wearing a yellow saffron robe with an impure mind. What
will the robe do if truthfulness is lacking and discipline or self-control
is denied? (Dharmapada 9).
2) Rời bỏ
những điều uế trược, giữ gìn giới luật tinh nghiêm, khắc kỷ và chân thành,
người như thế đáng mặc áo cà sa—He who drops all stain, stands on virtue,
learns discipline and speaks the truth. Then the yellow robe will fit him
(Dharmapada 10).
3) Không
ngăn trừ ác hạnh thì dù mặc áo cà sa, người ác cũng sẽ vi nghiệp ác, chết
phải đọa địa ngục—A yellow saffron robe does not make him a monk. He who
is of evil character and uncontrolled or unrestrained; such an evil-doer,
by his evil deeds, is born in a woeful state (Dharmapada 307).
Cà Tra Bố Đơn Na:
Kataputana (skt)—See Ca Tra Phú Đơn Na.
Cả Cười: Burst out
laughing.
Cả Đời: The whole
life.
Cả Đời Niệm Phật:
See Recite Buddha In All Three Time-Spans.
Cả Gan: To dare.
Cả Mừng: Joyful.
Các:
1) Căn
gác: Lầu các—A temple chamber (second storey).
2) Mỗi
một: Every—Each.
3) Nội
các: Cabinet.
Các Căn Suy Yếu:
Declined (deminished or disintegrated) faculties.
Các Chủng: See Các
Loại.
Các Loại: Each
kind—Every sort.
Cách:
1) Cắt
ra: To cut off—To strip.
2) Da
sống (chưa thuộc): Hides—Skin.
3) Đường
thẳng: A line.
4) Ngăn
ra: To divide off—To separate—To part.
Cách Ăn Nói: Way of
speaking
Cách Ăn Ở: Style of
living.
Cách Biệt:
Separate—Distant.
Cách Cảm:
Telepathic.
Cách Cư Xử:
Behavior.
Cách Đi:
Gait—Walk—Step.
Cách Lịch:
Separate—Distinct.
Cách Lịch Tam Đế:
Biện biệt hiểu biết về tam quán: không, giả, trung (không là đản không, để
phá cái hoặc kiến tư; giả là đản giả, để phá cái hoặc trần sa; trung là
đản trung, để phá cái hoặc vô minh)—To differentiate and apprehend the
three distinctive principles noumenon, phenomenon, and the mean—See Không
Giả Trung.
Cách Mạng:
Revolution.
Cách Mạng Xã Hội:
Social revolution.
Cách Ngoại: Phong
cách phi phàm—Extraordinary.
Cách Ngôn:
Maxim—Proverb.
Cách Nhau:
Separated from each other.
Cách Sinh: Khi tái
sanh là mất hết tất cả sự hiểu biết của tiền kiếp—Divided by birth; on
rebirth to be parted from all knowledge of a previous life.
Cách Sống: Way of
living.
Cách Trí:
Natural science.
Cách Túc:
Cách một đêm, thí dụ như là nói đến ngày hôm qua—Separated by a night,
i.e. the previous day.
Cai La:
See Cai Nhiếp.
Cai Nhiếp:
1)
Nhất Thừa thâu nhiếp Tam Thừa: The one vehicle containing the
three.
2)
Thâu tóm, toàn thể, không phân cách: Containing, inclusive,
undivided, whole.
Cai Nhiếp
Môn: Giáo lý
thuyết minh tam thừa là nhất thừa, đối lại với “phân tướng môn” hay giáo
thuyết giải thích sự khác biệt giữa nhứt thừa và tam thừa—The doctrine
which maintains the three vehicles to be the one vehicle, in contrast with
the doctrine which differentiates the one vehicle from the three.
Cái:
1)
Che đậy: To cover—Anything that screens, hides, or hinders.
2)
Dù che: An umbrella, or a hat, or any cover.
3)
Dục vọng làm điên đảo mê mờ chân tâm, làm cho chân tâm không phát
triển được: The passions which delude the real mind so that it does not
develop.
4)
Tên khác của phiền não: Another name for afflictions.
Cái Chết
Không Thiên Vị Người Sang Kẻ Giàu: Death is blind to the noble and the rich.
Cái Chết Là
Chắc Chắn: Death
is certain.
Cái Ta Thường Còn:
Permanent self.
Cái Thế Anh Hùng: A
hero over the world.
Cái Triền: Ngũ
triền cái và thập triền—Covers and bonds, i.e. the passions which stunt
growth and hold in bondage, such as five covers and ten entanglements or
bonds.
Cải: Thay đổi hay
sữa đổi—To change—To correct.
Cải Ác Tùng Thiện:
To leave the evil and follow the good—To correct oneself
Cải Biến Vận Mệnh:
To change our destiny.
Cải Cách: To
reform.
Cải Chính: To
corect.
Cải Dạng: To
disguise oneself.
Cải Danh: To change
one’s name.
Cải Dung: To change
one’s countenance.
Cải Đạo: See Cải
Tông.
Cải Hóa: To
convert.
Cải Hối: To
repent—To repent and reform.
Cải Tà Quy Chánh:
To give up wrong deeds and return to the right ones.
Cải Tạo Nhân Quả:
Amelioration of cause and effect.
Cải Thiện: To
improve—To reform.
Cải Tiến: To change
for better prospects.
Cải Tính: To change
(alter) one’s character.
Cải Tông: Bỏ tông
phái nầy theo tông phái kia, bỏ tư tưởng của trường phái nầy theo tư tưởng
của trường phái khác, bỏ tôn giáo nầy theo tôn giáo khác—To change one’s
cult, school of thought, or religion.
Cãi: To argue—To
dispute—To quarrel.
Cãi Bướng: To argue
obstinately.
Cãi Lẽ: To argue.
Cãi Lộn: To
quarrel—To dispute
Cãi Nhau: See Cãi
lộn.
Cam: Kansu (skt).
1)
Ngọt—Sweet.
2)
Willing: Chịu (cam chịu).
3) Đồng
Ý: Agreeable.
Cam Bồ: Kamboja
(skt)—Quả Cam Bồ được diễn tả là màu đỏ, tròn, có ba ngấn ngang. Nơi cổ
của Đức Phật cũng có hình tướng nầy, một trong 32 tướng hảo của Đức
Phật—Described as a round reddish fruit, the Buddha having something
resembling it on his neck, one of his characteristic marks.
Cam Bồ Quốc:
Kamboja (skt)—Một trong 16 vương quốc thuộc Ấn Độ thời cổ, nổi tiếng với
những người đàn bà đẹp—One of the sixteen countries in ancient India,
noted for its beautiful women.
Cam Châu Nhĩ:
Kanjur (tib)—Một trong hai phân bộ của Tạng Kinh Tây Tạng, gồm 160 quyển,
mỗi quyển 1.000 trang—One of the two divisions of the Tibetan canon,
consisting of 160 books (chuan), each book 1,000 leaves.
Cam Chịu: To accept
one’s fate—To be content with one’s lot.
Cam Đan: Dgahldan
(tib)—Tự viện bản sơn của phái Hoàng Giáo, khoảng 30 dậm đông bắc của thủ
đô La Sa, được ngài sơ tổ Tông Khách Ba xây dựng—The monastery of Yellow
sect, 30 miles northeast of Lhasa, built by Tson-Kha-Pa.
Cam Giá:
1)
Mía—Sugar-cane.
2)
Iksvaku (skt): Một trong các họ của dòng Thích Ca, theo truyền thuyết là
một trong những ông tổ của Ngài đã được sanh ra từ trong một cây mía—One
of the surnames of Sakyamuni, from a legend that one of his ancestors was
born from a sugar cane.
Cam Giá Vương:
Iksvaku-Virudhaka (skt)—Vua Mía, mà người ta nói là một trong những ông tổ
của dòng Thích Ca, nhưng những người khác cũng cho đây là tổ của dòng họ
mình—King of the sugar-cane, said to be one of the ancestors of Sakyamuni,
but the name is claimed by others.
Cam Lộ: Amrta
(skt)—Tô Đà—Tô Ma (soma).
1) Lọc
lựa ra để lấy tinh chất: To distil—To extract—To generate.
2) Sương
Ngọt: : Sweet dew.
3) Phấn
Ong (phấn hoa do ong tích tụ trong tổ để ăn)—Ambrosia.
4) Thần
Tửu: Một loại thức uống có rượu làm từ một loại cây mà trước đây được dùng
để tế lễ Phạm Thiên—Wine of gods—The alcoholic drink made from the plant
named “Soma” and formerly offered to the Brahminical gods.
5) Nước
(mật) Bất Tử: The nectar (water) of immortality—The nectar from heaven.
6) Thiên
Tửu (rượu trời): Deva-wine—The nectar of gods. There are four kinds:
a) Thanh
Cam Lộ: Green Ambrosia.
b) Hoàng
Cam Lộ: Yellow Ambrosia.
c) Hồng
(Xích) Cam Lộ: Red Ambrosia.
d) Bạch
Cam Lộ: White Ambrosia.
Cam Lộ Cổ: Trống
Cam Lộ hay Phật Pháp—The ambrosial drum, the Buddha-truth.
Cam Lộ Diệt: Cam lộ
được ví với niết bàn tịch tịnh—The nectar of nirvana, the entrance is the
Nirvana.
Cam Lộ Giới: Cam lộ
giới được ví với Niết Bàn—The nectar region or nirvana.
Cam Lộ Huyền Môn:
The method of the ambrosial truth.
Cam Lộ Môn:
Nirvana.
Cam Lộ Phạn:
Amrtodana (skt)—A Di Đô Đàn Na—Vị vua có tên là “Cam Lộ Phạn,” là cha đẻ
của A Nậu Lâu Đà và Bhadrika, và là chú của Phật Thích Ca—The king whose
name was “Ambrosia-Rice,” a prince of Magadha, father of Anurudha and
Bhadrika, and paternal uncle of Sakyamuni.
Cam Lộ Pháp: Giáo
pháp của Đức Phật ví như nước cam lộ (trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Dược Thảo
Dụ, Đức Thế Tôn đã khẳng định vì muốn cho chúng sanh được yên ổn mà Ngài
xuất hiện nơi đời, vì đại chúng mà Ngài thuyết Cam Lộ Pháp, pháp chỉ thuần
một vị giải thoát)—The ambrosial truth or rain—The Buddha truth.
Cam Lộ Pháp Môn:
Pháp môn giải thoát (niết bàn)—The method of the ambrosial truth
(nirvana).
Cam Lộ Thành: Thành
cam lộ được ví với Niết Bàn—The nectar city or nirvana.
Cam Lộ Thủy Chân Ngôn:
Sweet Dew True Words.
Cam Lộ Vũ: The
ambrosial rain—See Cam Lộ Pháp.
Cam Lộ Vương:
1) Ám chỉ
bất tử là tên của Đức A Di Đà Như Lai (thường đi chung với Cam Lộ Chú, Cam
Lộ Đà La Ni Chú, Thập Cam Lộ Chú hay Thập Cam Lộ Minh, Cam Lột Kinh):
Amrta (skt)—In its implication of immortality is a name of Amitabha
(connected with him are the Mantra of Ambrosia, the Mantra of Ambrosial
Dharani, Ten Mantras of Ambrosia, Sutra of Ambrosia).
2) Cha
của A Nậu Lâu Đà: Amrtodana (skt)—Father of Anuruddha.
Cam Lộ Vương Như Lai:
Amitabha and his implication of immortality.
Cam Lộ Vương Tôn:
Amrtakundalin (skt)—Một trong năm vị Minh Vương, vị luôn hiện dưới ba hình
thức khác nhau—One of the five Ming-Wang, who has three different forms:
1) Kim
Cang Cam Lộ Minh Vương: Vajra-Amrtakundalin.
2) Liên
Hoa Cam Lộ Minh Vương: Lotus-Amrtakundalin.
3) Cam Lộ
Minh Vương: Nectar-Amrtakundalin.
Cam Phát: Còn gọi
là Cam Đỉnh, lông tóc của Đức Phật có màu cam lưu ly (xanh pha lẫn đỏ
tía)—The purplish colour of the Buddha’s hair.
Cam Phường: Tên của
một tự viện—Name for a Buddhist monastery.
Cam Tiệp: Lông mày
của Đức Phật màu cam lưu ly—The Budha’s violet or red-blue eyebrows.
Cám: Màu tím thẳm,
sự pha trộn giữa màu xanh da trời và màu đỏ—A violet or purplish colour, a
blend of blue and red.
Cám Dỗ: To
seduce—To tempt—To allure.
Cảm:
1) Cảm
động: To be moved.
2) Dám:
To dare—To venture.
Cảm Động:
Touched—Moved—Affected
Cảm Giác:
feeling—Senses—Sensation—To feel—To experience.
Cảm Giác Siêu Thoát:
Feeling of exaltation—Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập II,
cảm giác siêu thoát kèm theo sự chứng ngộ, là vì nó bẻ gãy giới hạn phân
biệt cá thể; và đây không phải chỉ là một biến cố tiêu cực mà hoàn toàn
tích cực, chứa đầy ý nghĩa, bởi vì nó chính là một sự triển khai cá thể
đến vô cùng. Mặc dù chúng ta không luôn luôn để ý, nhưng cảm giác thông
thường nói lên tất cả những nhiệm vụ ý thức của chúng ta là cảm giác hữu
hạn và lệ thuộc, bởi vì chính ý thức là hậu quả của hai thế lực tương
duyên hay giới hạn lẫn nhau. Trái lại, chứng ngộ chính là xóa bỏ sự đối
lập của hai đầu mối, trong bất cứ chiều hướng nào, và sự đối lập nầy là
nguyên lý của ý thức, trong khi đó, chứng ngộ là thể hiện cái vô thức
vượt ngoài đối đãi. Vì vậy, để giải phóng khỏi tình trạng đối lập ấy,
người ta phải tạo ra một cảm giác vượt lên trên tất cả. Một tay lang bạt,
sống ngoài vòng pháp luật, đến đâu cũng bị bạc đãi, không phải chỉ bởi
những kẻ khác mà còn bởi chính mình, nó thấy rằng mình là sở hữu chủ của
tất cả tài sản, và uy quyền mà một sinh vật có thể đạt được trong cõi đời
nầy, sao lại có thể thế, nếu không cảm giác được kỳ cùng vẻ tự tôn tự đại
của mình? Một Thiền sư nói: “Lúc chứng ngộ là lúc thấy ra một lâu đài
tráng lệ xây bằng pha lê trên một tơ hào độc nhất; nhưng khi không chứng
ngộ, lâu đài tráng lệ ấy khuất lấp sau một tơ hào mà thôi.” Một Thiền sư
khác đã dẫn dụ Kinh Hoa Nghiêm: “Nầy các thầy hãy xem kìa! Ánh sáng rực rỡ
đang tỏa khắp cả đại thiên thế giới, cùng lúc hiển hiện tất cả những núi
Tu Di, những mặt trời, những mặt trăng, những bầu trời và cõi đất, nhiều
đến hằng trăm nghìn ức số. Này các Thầy, các Thầy có thấy ánh sáng ấy
chăng?” Thế nhưng, cảm giác siêu thoát của Thiền đúng ra là một cảm giác
trầm lặng của cõi lòng tri túc; nó chẳng có chút gì lồ lộ, khi giây phút
sáng lạn đầu tiên đã đi qua. Cái vô thức ấy không bộc lộ ồn ào ở Thiền—The
feeling of exaltation inevitably accompanies enlightenment is due to the
fact that it is the breaking-upof the restriction imposed on one as an
individual being, and this breaking-up is not a mere negative incident but
quite a positive one fraught with signification because it means an
infinite expansion of the individual. The general feeling, though we are
not always conscious of it, which charaterizes all our functions of
consciousness, is that of restriction and dependence, because
consciousness itself is the outcome of two forces conditioning or
restricting each other. Enlightenment, on the contrary, essentially
consists in doing away with the opposition of two terms in whatsoever
sense, and this opposition is the principle of consciousness, while
enlightenment is to realize the Unconscious which goes beyond the
opposition. To be released of this, must make one feel above all things
intensely exalted. A wandering outcast maltreated everywhere not only by
others but by himself finds that he is the possessor of all the wealth and
power that is ever attainable in this world by a mortal being, if it does
not give him a high feeling of self-glorification, what could? Says a Zen
Master, “When you have enlightenment you are able to reveal a palatial
mansion made of precious stones on a single blade of grass; but when you
have no enlightenment, a palatial mansion itself is concealed behind a
simple blade of grass."”Another Zen master alluding to the Avatamsaka,
declares: “O monks, look and behold! A most auspicious light is shining
with the utmost brilliancy all over the great chiliocosm, simultaneously
revealing all the countries, all the oceans, all the Sumerus, all the suns
and moons, all the heavens, all the lands, each of which number as many as
hundreds of thousands of kotis. O monks, do you not see the light? But the
Zen feeling of exaltation is rather a quiet feeling of self-contentment;
it is not at all demonstrative, when the first glow of it passes away. The
Unconscious does not proclaim itself so boisterously in the Zen
consciousness.
Cảm Hóa Ai: To
convert someone.
Cảm Hoài: Moving
remembrance.
Cảm Hứng: To
inspire.
Cảm Ơn: To thank.
Cảm Phục: To be
struck with admiration.
Cảm Quả: Quả tìm
thấy hay quả do nghiệp nhân tạo tác mà có—The result that is sought.
Cảm Quan: Giác
quan—Organs of sense.
Cảm Thành: Thiền Sư
Cảm Thành (?-860)—Zen Master Cảm Thành (?-860)—Sư quê ở huyện Tiên Du,
trước tu ở chùa Phật Tích. Thiền Sư Cảm Thành, đời thứ nhất của dòng Vô
Ngôn Thông. Khi mới xuất gia, sư lấy hiệu là Lập Đức, chuyên trì tụng kinh
điển. Lúc ấy có người họ Nguyễn ở hương Phù Đổng hiến đất lập chùa. Thoạt
tiên, ông e ngại không nhận vì ông không muốn vướng mắc vào bất cứ thứ gì;
tuy nhiên, sau đó ông nằm mộng có người mách bảo nên nhận vì lợi ích của
nhiều người khác. Quả thật, sau khi xây chùa Kiến Sơ chẳng bao lâu, vào
năm 820, dưới thời nhà Đường, có Thiền Sư Vô Ngôn Thông, nguyên trụ trì
chùa Hòa An từ bên Tàu qua, ghé lại chùa và thiền diện bích tại đây trong
nhiều năm. Sư Cảm Thành rất kính mộ và tôn Thiền Sư làm Thầy. Sau khi
Thiền Sư Vô Ngôn Thông thị tịch thì Sư Cảm Thành trở thành nhị tổ của
Thiền phái Vô Ngôn Thông. Vào năm 860, Sư an nhiên thị tịch—Zen Master Cảm
Thành, a Vietnamese monk from Tiên Du, North Vietnam. He previously
practiced Buddhism at Phật Tích Temple. He was the first lineage of the
Wu-Yun-T’ung Sect. When he left home to become a monk, he focused in
reciting sutras. There was a patron of Buddhism, whose last name was
Nguyễn, a rich landlord from Phù Đổng hamlet, donated his land for him to
build a temple. First, he was reluctant to accept it because he did not
want to be attached to anything; however, later in his dream, he met
someone who recommended him to accept the land to build a temple for the
benefits of other people. In fact, not long after the Kiến Sơ Temple was
built, in 820, under the T’ang dynasty in China, Zen Master Vô Ngôn Thông,
used to be Head of Hòa An Temple in China, arrived in Vietnam and stayed
at Kiến Sơ to practice “face-to-a-wall” meditation for several years.
Later he founded the Wu-Yun-T’ung (Vô Ngôn Thông) Zen Sect right at the
Kiến Sơ Temple and became the First Patriarch, and Cảm Thành became his
disciple. When he passed away, Zen Master Cảm Thành became the second
Patriarch. In 860, Zen master Cảm Thành passed away quietly—See Kiến
Sơ.
Cảm Thấy:
Awareness—Feeling
Cảm Thấy An Nhiên Thanh
Tịnh: To feel calm (at peace) and pure.
Cảm Thấy Êm Dịu Mát Mẻ:
To feel calm and refreshed.
Cảm Thấy Giận: To
feel angry.
Cảm Thấy Khó Chịu:
To feel disturbed.
Cảm Thấy Sự Bất Toàn:
Awareness of incompleteness
Cảm Thấy Sự Không Đầy
Đủ: Awareness of insufficiency.
Cảm Thấy Nguồn Vui Bất
Tận: To feel a boundless joy.
Cảm Thấy Thương Xót:
To feel pity for
Cảm Thấy Xao Động Không
Yên: To feel agitated and uneasy.
Cảm Thọ: Emotional
tone
Cảm Thông:
Communication.
Cảm Thương: Touched
to pity—Đức Phật cảm thương nổi khổ của chúng sanh—The Buddha was touched
by the suffering of the human condition.
Cảm Thương Nỗi Khổ Của
Kiếp Người: To be touched by the suffering of the human life.
Cảm Tiến: To move
to zeal, or inspire to progress.
Cảm Tình:
Sympathy—Affection.
Cảm Tử: Fearless
before death.
Cảm Tưởng:
Impression
Cảm Ứng: Chúng sanh
có cơ duyên thiện căn làm cảm động đến chư Phật, chư Phật cũng dùng sự cảm
ứng kỳ diệu của mình để đáp lại thì gọi là cảm ứng (thí dụ như nước không
dâng cao, trăng không xuống thấp, nhưng trăng vẫn luôn bàng bạc khắp nơi
trên mặt nước)—Respond to appeal or need; Buddha moved to respond.
Cảm Xúc:
Feeling—Strongly affected—Very much impressed—Very much moved by one’s
compassion.
Cạm Bẫy:
Trap—Snare—Lure.
Can:
1) Miếng
che: A shield.
2) Cây
chống đỡ: A stem—A pole.
Can Án: To be
condemned (convicted).
Can Chứng: Witness.
Can Dự: To take
part.
Can Đảm:
Brave—Courageous—Fearless—Dauntless.
Can Đồ Na: Kancana
(skt)—Kiện Chiết Na—Golden—A shrub of trees, with golden hue, described as
the leguminous order.
Can Gián:
Dissuasion—Expostulation.
Can Lật Đà: Hrdaya
(skt)—Can Lật Thái—Càn Lật Đà—Cạt Lợi Đa—Trái tim—The physical heart.
Can Ngăn: To
prevent—To hinder.
Can Qua: Shield and
spear—Hostility.
Can Thiệp: To
interfere—To intervene—To meddle.
Can Trường:
Courage—Bravery.
Càn:
1) Càn
khôn: Trời—Heaven.
2) Chịu
đựng: Enduring.
3) Giống
đực: Masculine.
4) Khô
ráo—Dry—Dried up—Masculine.
5) Sạch
sẽ: Clean.
6) Tiếp
tục: Continual.
Càn Đà:
1) Áo cà
sa của chư Tăng, màu nhuộm giữa vàng và đỏ thẳm: Kasaya (skt)—A coloured
composed of red and yellow, the monk’s robe.
2) Ngũ
uẩn: the five skandhas.
3) Tên
của một loài cây: Name of a tree.
4) Vòng
núi đầu tiên bọc quanh núi Tu Di: Yugamdhara (skt)—The first of the
concentric mountains around Mount Meru.
Càn Đà Ha Đề Bồ Tát:
Gandhahastin (skt)—Còn gọi là Càn Đa Ha Chú, tên một vị Bồ Tát, dịch là
Hương Tượng—Name of Gandhahastin bodhisattva, also called fragrant
elephant.
Càn Đà La: See
Gandhara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Càn Đà Ma Đà Ma La:
Gandhamadanamala (skt)—The hill of intoxicating perfumes.
Càn Huệ Địa: Giai
đoạn đầu trong Thập Địa Bồ Tát Tam Thừa, giai đoạn mà trí tuệ chưa được tư
nhuận—The dry or unfertilized stage of wisdom, the first of the ten
stages—See Thập Địa Bồ Tát Tam Thừa.
Càn Lật Đà: See Càn
Lật Đà Da.
Càn Lật Đà Da:
Hrdaya (skt)—Kiên thực tâm hay trái tim bền chắc—Heart, soul, mind, core.
Càn Thành: Còn gọi
là Càn Thát Bà Thành, Kiện Thát Bà Thành, Kiện Thát Phược Thành, hay Ngục
Thát Phược Thành (do vị nhạc thần biến hóa ra lầu gác cho mọi người nhìn
thấy)—Gandharva city, i.e. a mirage city.
Càn Thát: Gandharva
or Gandharva Kayikas (skt)—Tên gọi tắt của Càn Thát Bà—See Gandharva in
Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Càn Thát Bà:
Gandharva (skt)—Kiện Đạt—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Càn Thát Bà Thành:
Gandharva city.
Càn Thát Bà Vương:
Vua của các vị nhạc Thần của vua trời Đế Thích—The king of Gandharvas,
named Citraratha, but translated as Druma, a tree.
Càn Thỉ Quyết: Cây
dùng trong các nhà cầu Ấn Độ thay cho giấy vệ sinh. Bên Trung Quốc người
ta dùng giấy, rơm hay trúc—A stick used in India as “toilet paper.” In
China people use paper, straw, or bamboo.
Cán: To run over.
Cản Đường: To bar
someone’s way.
Cản Trở: To
prevent—To impede—To hinder.
Cạn: Shallow.
Cạn Lời: To have no
more to say.
Cáng Đáng: To
undertake—To assume.
Càng Từ Bỏ Chấp Trước,
Đường Tu Càng Thành Công; Càng Tịnh Tâm, Càng Tiến Gần Đến Đạo: The
more successful their cultivation is, the more detachment they achieve;
the calmer their mind becomes and the closer they are to the Way.
Canh:
1) Canh
tân: Sự thay đổi—To change.
2) Canh
gát: A night watch.
3) Lần
nữa: Again—The more.
4) Ngôi
thứ bảy trong Thập Thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân,
Nhâm, Quý)—The seven of the ten celestial stems.
5) Tuổi
tác: Age.
6) Phía
tây: West.
7)
Thưởng: To reward.
Canh Dược: Phi Thời
Dược—Một trong tám loại thuốc uống cho chư Tăng Ni, chỉ uống từ rạng đông
đến đầu hôm (nước rễ mai, nước chuối chín, nước táo chua, nước hạt quả Bồ
Đề, nước một loại quả ở Ấn Độ giống như quả mận, nước nho, nước một loại
quả ở Ấn Độ giống như quả táo nhỏ)—Medicines that should be taken between
dawn and the first watch, of which eight are name.
Canh Giữ: To
guard—To watch
Canh Thân Hội: Hội
cúng dường vào đêm Canh Thân cầu cho quốc thái dân an, lấy Kim Cương mặt
xanh dưới hình con khỉ làm bổn tôn. Đây là một nghi thức Lão Giáo, được
Phật Giáo Trung Hoa công nhận như một nghi thức Phật giáo tại địa phương
(mở đầu hội thì đánh chuông khua thanh la, ca hát xưng tụng Phật, chúng
hội vừa đi vừa niệm Phật, một số thì đánh đàn thổi sáo, suốt đêm không
ngủ)—An assembly for offerings on the night of Kêng-Shên to an image in
the form of a monkey, which is the Shên symbolical animal. This is a
Taoist rite adopted by Chinese Buddhism as a local Buddhist rite.
Cánh Hoạt Địa Ngục:
Địa ngục thứ nhất trong tám địa ngục nóng—The first of the eight hot
hells—See Địa Ngục (A) (a) (1).
Cánh Thành: To
succeed in finishing.
Cành Hông: Very
angry.
Cành Nanh: Jealous.
Cảnh:
1) Nơi
tâm vin vào đó mà chạy theo gọi là cảnh, như pháp là nơi ý thức vin vào
gọi là pháp cảnh, sắc là nhãn thức vin vào đó gọi là sắc cảnh, thanh là
nơi nhĩ thức vin vào gọi là thanh cảnh, vân vân: Visaya, artha, or gocara
(skt)—A prospect, region, territory, surroundings, views, circumstances,
environment, area, field, sphere, environments and conditions, i.e. the
sphere of mind, the sphere of form for the eye, of sound for the ear, etc.
2) Cảnh
giác: Uttras or Santras (skt)—Alarm—To warn.
Cảnh A-Tu-La: The
host of Asuras—See A-Tu-La in Vietnamese-English Section and Asura in
Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Cảnh Báo:
Alert—Alarm.
Cảnh Cáo: Warning
Cảnh Chiêm Bao:
Dreaming scenes.
Cảnh Duyên:
Environments and conditions.
Cảnh Duyên Giả Tạm Hợp
Rồi Tan Như Ánh Chớp, Như Ảo Tưởng, Như Ma: All things come together
and disintegrate like a lightning, an illusion or a phantom.
Cảnh Duyên Thắng Diệu:
Supremely wonderful environments and conditions.
Cảnh Đức Truyền Đăng
Lục: Ching-Te-Ch’uan-Teng-Lu—Cảnh Đức Truyền Đăng Lục có nghĩa là Biên
Niên Sử được truyền dưới ánh đèn, soạn dưới thời Cảnh Đức. Tác phẩm xưa
nhất trong lịch sử văn học thiền, do nhà sư Trung Quốc tên Đạo Nguyên soạn
năm 1004. Tác phẩm gồm những tiểu sử ngắn và những giai thoại về cuộc đời
của các thiền sư từ trước thời sơ tổ phái Pháp Nhãn là Thiền Sư Pháp Nhãn
Văn Ích. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục gồm ba tập, ghi lại ý kiến của hơn 600
thiền sư và nói đến hàng ngàn thiền sư khác. Nhiều công án được tìm thấy
trong tác phẩm nầy—Record Concerning the Passing On the Lamp, composed in
the Ching-Te period. This is the earliest historical work of Ch’an
literature, compiled by the Chinese monk named T'ao-Hsuan in the year
1004. It consists of short biographies and numerous anecdotes from the
lives of the early masters of Ch’an up to Fa-Yen-Wen-I, the founder of the
Fa-Yen school. This thirty-volume work, in which the deeds and sayings of
over 600 masters are recorded and more than 1000 masters are mentioned, is
one of the most important source works of Ch’an literature; many of the
koans that are found in later Zen literature were fixed in writing here
for the first time.
Cảnh Giác: Uttras
or Santras (skt)—Alertness—Introspect—Warned—Alarm.
Cảnh Giáo: Như
trường phái Nestor của Cơ Đốc Giáo—The Luminous Religion, i.e. Nestorian
Christianity.
Cảnh Giới:
Realm—Sphere—Region—Có năm cảnh giới—There are five realms:
1) Dục
Giới: Kamadhatu (skt)—The sensual realm or the realm of desire: Thế giới
của các loài sinh động—The world of living beings—See Dục Giới.
2) Sắc
Giới: Rupadhatu (skt)—Heaven with form.
·
Sơ thiền thiên: First Dhyana Heaven.
·
Nhị thiền thiên: Second Dhyana Heaven.
·
Tam thiền thiên: Third Dhyana Heaven.
·
Tứ thiền thiên: Fourth Dhyana Heaven.
*** See Tứ Thiền Thiên.
3) Vô Sắc
Giới: Arupadhatu (skt)—Heaven without form.
·
Không vô biên xứ: Akasanantyayatanam (skt)—The endlessness
of space.
·
Thức vô biên xứ: Vijnanantyayatanam (skt)—The endlessness of
mind.
·
Vô sở hữu xứ: Akincanyayatanam (skt)—The heaven of
nothingness.
·
Phi tưởng phi phi tưởng xứ: Naivasamjnanasamjnayatanam
(skt)—Neither conscious nor unconscious state of heaven.
*** See Tứ Không Xứ.
4) Tịch
Diệt Địa: Nirodha-samapatti (skt)—Extinction—Bồ Tát hay A La
Hán—Bodhisattva or Arhat.
5) Phật
địa hay Pháp giới địa: Dharmadhatu-samapatti (skt)—Thiền quán về nguyên lý
phổ biến, tứ thế giới—Abstract-meditation on the universal principle,
i.e., world.
*** For more information,
please see Gocara
in
Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Cảnh Giới Bát Nhã:
Tất cả chư pháp đều là cảnh giới của Bát Nhã; Bát Nhã là trí năng duyên,
chư pháp là cảnh sở duyên—External world prajna, or wisdom of all things;
prajna is subjective all things are its objective.
Cảnh Giới Của Những
Chúng Sanh Giác Ngộ: The realm of enlightened beings.
Cảnh Giới Cực Lạc:
Chúng sanh sanh vào cảnh giới Tịnh Độ là những bậc Bồ Tát thượng thiện, đã
dứt trừ tất cả chướng ngại ác duyên. Hơn nữa, không có ngoại đạo tà ma
nên tâm họ thường an tịnh—The extreme joys in the Pure Land. Those who are
reborn in the Pure Land have the highest level Bodhisattvas as their
companions, and are free from all obstacles, calamities and evil
conditions. Moreover, there are no externalists or evil demons, so their
minds are always calm and still.
Cảnh Giới Đời Sống:
Realm of life.
Cảnh Giới Giác Ngộ:
The realm of enlightenment.
Cảnh Giới Hành Động Vô
Ngại: To be unhindered in one’s sphere of action.
Cảnh Giới Lạc: The
joys in the Pure Land.
Cảnh Giới Như Lai:
The realm of Tathagata.
Cảnh Giới Trống Rỗng:
Empty space—Trong Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni, Đức Phật đã dạy rằng
những ai đem chú nầy đi vào những cảnh giới địa ngục và ngạ quỷ mà tuyên
lưu thì lập tức những nơi ấy sẽ biến thành những cảnh giới không còn tội
nhơn, không còn người để thọ khổ—In The Unisha-Vijaja- Dharani-Sutra, the
Buddha reminded that those who recite this dharani, when entering the
realms of hell and hungry ghost, read or chant it, the result is all the
dwellers of such places will be liberated, and the place will immediately
become completely empty.
Cảnh Giới Tướng:
Còn gọi là Hiện Tướng hay Hiện Thức, một trong tam tế đề cập trong Đại
Thừa Khởi Tín Luận, nghĩa là thế giới hiện tượng bên ngoài—The external,
or phenomenal world, the third aspect referred to in the Awakening of
Faith.
** For more information,
please see Tam Tế.
Cảnh Huống:
Circumstance—Situation—Condition.
Cảnh Lúc Ngủ