So sánh kinh Trung A-hàm
chữ Hán và
kinh Trung Bộ chữ Pàli
Nguyên tác: Bhiksu Thich Minh Chau (1961),
"A Comparative Study of the Chinese Madhyama Agama
and the Pali Majjhima Nikaya",
Ph.D. Thesis, Bihar University, India
---o0o---
C.
TUỆ
Bàn
về
tuệ
uẩn
trước
hết
chúng
ta
đề
cập
nền
tảng
của
tuệ,
kế
đến
là
bảy
thanh
tịnh,
hai
giải
thoát
và
cuối
cùng
là
bốn
đạo
bốn
quả,
bao
hàm
lậu
tận.
1.
Nền
tảng
của
tuệ
a)
Uẩn:
Những
pháp
này
được
nói
trong
NC19,
24,
31,70,
77,
95,
98.
Trong
NC31,
năm
uẩn
được
đề
cập
như
sau:
C210:
(vii,
83b,
11-13):
"Đức
Thế
Tôn
nói
đến
năm
thạnh
uẩn
trong
thân,
sắc
thạnh
uẩn,
thọ,
tưởng,
hành
và
thức
thạnh
uẩn."
P44:
Tương
tự.
C:
năm
thạnh
uẩn
=
P:
năm
thủ
uẩn.
Ở
đây
bản
C
dùng
chữ
"thạnh"
có
nghĩa
là
tăng
trưởng,
thay
cho
chữ
thủ
ở
bản
P.
Những
dịch
giả
hậu
kỳ
thích
dùng
chữ
thủ
nghĩa
là
bám
víu,
và
như
vậy
dịch
đúng
nghĩa
danh
từ
Pàli
upàdàna.
Trong
NC24,
tính
lệ
thuộc
lẫn
nhau
(duyên
khởi)
của
năm
uẩn
được
bàn
chi
tiết
như
sau:
C30:
(v,41a,
20):
"Này
chư
hiền,
cũng
như
do
gỗ,
đòn
tay,
bùn,
đất,
nước,
cỏ,
vây
quanh
và
che
phủ
mà
trong
khoảng
trống
xuất
hiện
một
cái
được
biết
là
nhà.
Chư
hiền
nên
biết
thân
này
cũng
vậy.
Do
gân,
xương,
da,
thịt,
máu
vây
quanh
và
che
phủ
mà
trong
khoảng
trống
xuất
hiện
cái
được
gọi
là
một
thân
xác.
Này
chư
hiền,
nếu
con
mắt
bị
hoại,
nếu
sắc
không
được
ánh
sáng
phản
chiếu
và
nếu
không
có
ý
tưởng,
thì
nhãn
thức
không
sanh.
Này
chư
hiền,
nếu
nội
nhãn
căn
không
bị
hoại,
nếu
ngoại
sắc
được
phản
chiếu
nhờ
ánh
sáng
và
nếu
có
ý
tưởng,
khi
ấy
nhãn
thức
sanh.
Này
chư
hiền,
nội
nhãn,
ngoại
sắc,
tất
cả
những
thứ
này
thuộc
về
sắc
uẩn.
Nếu
có
cảm
thọ,
chúng
thuộc
về
thọ
uẩn.
Nếu
có
nhận
thức,
chúng
thuộc
về
tưởng
uẩn.
Nếu
có
tư
duy
hay
ý
hành,
chúng
thuộc
về
hành
uẩn.
Nếu
có
ý
thức,
chúng
thuộc
về
thức
uẩn.
Như
vậy,
chư
hiền,
hãy
tư
duy
về
sự
tập
hợp,
sự
nhóm
lại
cùng
nhau
của
các
uẩn.
Này
chư
hiền,
đức
Thế
Tôn
cũng
đã
dạy
điều
ấy.
Khi
chư
hiền
thấy
được
duyên
sinh,
là
chư
hiền
thấy
pháp;
khi
chư
hiền
thấy
pháp,
là
chư
hiền
thấy
lý
duyên
sinh.
Vì
sao,
này
chư
hiền,
đức
Thế
Tôn
đã
dạy
rằng
năm
thạnh
uẩn
được
sinh
ra
do
các
điều
kiện:
sắc
thạnh
uẩn,
thọ,
tưởng,
hành,
thức
thạnh
uẩn."
(Cũng
vậy
với
các
giác
quan
khác).
P28:(i,
190,
15-37;191,
1-34)
:
Tương
tự,
nhưng
nhiều
chi
tiết
hơn.
C:
do
gỗ,
đòn
tay,
bùn,
đất,
cỏ
=
P
:
do
gỗ,
dây
leo,
cỏ
và
đất
sét.
Khi
nói
về
thân
thể,
bản
P
bỏ:
do
máu.
Trong
khi
bản
C
chỉ
để
hai
trường
hợp
-
một
trường
hợp
trong
đó
nhãn
thức
không
khởi
lên
do
thiếu
điều
kiện
thích
hợp;
và
một
trường
hợp
trong
đó
nhãn
thức
khởi
lên
do
sự
hiện
hữu
một
số
điều
kiện
thích
hợp,
bản
P
kể
đến
ba
trường
hợp.
Trường
hợp
sau
đây
thiếu
trong
bản
C:
"nếu
nội
nhãn
căn
không
bị
hoại,
nếu
ngoại
sắc
đi
vào
chú
ý,
nhưng
không
có
sự
đáp
ứng
một
cách
thích
hợp
thì
không
có
thức
tương
ứng."
C:
Nếu
nội
nhãn
căn
bị
hoại,
nếu
ngoại
sắc
không
được
ánh
sáng
phản
chiếu
và
không
có
tưởng,
thì
nhãn
thức
không
sanh
khởi
=
P:
Nếu
nội
nhãn
căn
không
bị
hoại,
nếu
ngoại
sắc
không
đi
vào
chú
ý,
không
có
sự
ráp
lại
thích
hợp,
thì
không
có
sự
xuất
hiện
của
thức
tương
ứng.
Ở
đây
bản
P
đề
cập
tất
cả
năm
uẩn
với
độ
dài
bằng
nhau,
trong
khi
bản
C
bỏ
qua
ba
uẩn
giữa.
Bản
C
dùng
chữ
tư
thay
cho
hành.
Trong
NC19,
năm
uẩn
là
đề
mục
thiền
quán.
C200:
(vii,
65b,13-19):
"Lại
nữa
có
sáu
kiến
căn
bản.
Gì
là
sáu?
1)
Bất
cứ
sắc
pháp
nào
thuộc
quá
khứ,
vị
lai,
hiện
tại,
nội
hay
ngoại,
tinh
hay
thô,
đẹp
hay
xấu,
xa
hay
gần,
chúng
phải
được
chân
chính
quán
sát
với
trí
tuệ
rằng:
'Đây
không
phải
là
trí
tuệ
của
tôi,
tôi
không
là
cái
này,
cái
này
không
là
tự
ngã';
2)
Bất
cứ
thọ
nào;
3)
Bất
cứ
tưởng
nào;
4)
Bất
cứ
quan
điểm
nào
rằng:
'Chúng
không
thuộc
về
tôi,
tôi
không
sở
hữu
chúng,
chúng
sẽ
không
hiện
hữu
và
tôi
cũng
sẽ
không
hiện
hữu',
tất
cả
đều
phải
được
quán
sát
như
thật
với
trí
tuệ
:
'Đây
không
phải
là
tôi,
tôi
không
phải
là
cái
này,
cái
này
không
phải
là
tự
ngã';
5)
Tất
cả
những
gì
được
thấy,
được
nghe,
được
nhận
thức,
được
biết,
bất
cứ
cái
gì
được
tư
duy,
được
ý
biết
đến,
từ
đời
này
đến
đời
kia,
từ
đời
kia
đến
đời
này,
tất
cả
đều
phải
được
chân
chánh
quán
sát
với
trí
tuệ
rằng
chúng
không
phải
là
của
tôi,
tôi
không
phải
thuộc
về
chúng,
chúng
không
phải
là
tự
ngã;
6)
Bất
cứ
gì
thuộc
kiến
chấp
này
'đây
là
ngã,
đây
là
thế
giới,
đây
là
tự
ngã,
ta
sẽ
trở
thành
trong
đời
sau,
trường
tồn,
không
biến
đổi,
thường
hằng,
không
bị
hủy
hoại',
tất
cả
đều
phải
được
chân
chánh
quán
sát
với
trí
tuệ
như
sau:
"Chúng
không
phải
của
tôi,
tôi
không
thuộc
về
chúng,
chúng
không
phải
là
tự
ngã'
".
P22:(i,
138,
36-37;
139,
1-10):
Không
giống;
bản
P
không
nói
đến
sáu
quan
điểm
mà
nói
năm
uẩn
sắc,
thọ,
tưởng,
hành,
thức,
tất
cả
những
pháp
này
cần
phải
quán
sát
là:
"không
phải
của
tôi,
tôi
không
thuộc
về
chúng,
chúng
không
phải
là
tự
ngã
của
tôi."
Ở
đây
chúng
ta
để
ý
rằng
bản
C
dịch
từ
ngữ
Àtman
là
linh
hồn,
trong
khi
bản
P
nói
là
tự
ngã.
b)
12
xứ
hay
phạm
vi
của
giác
quan:
12
xứ
được
đề
cập
trong
NC
72,87,91,
98.
Trong
NC72,
chúng
được
đề
cập
như
sau:
C181:
(vii,
32a,
5-7):
"Này
A
Nan,
nếu
một
Tỳ-kheo
thấy
như
thật
12
xứ,
nhãn
xứ,
sắc
xứ,
nhĩ
xứ,
thanh
xứ,
tỷ
xứ,
hương
xứ,
thiệt
xứ,
vị
xứ,
thân
xứ,
xúc
xứ,
ý
xứ,
pháp
xứ.
Này
A
Nan,
khi
thấy
như
thật
12
xứ,
ấy
là
vị
Tỳ-kheo
biết
rõ
12
xứ."
P115:
(iii,
63,
18-23):
Tương
tự,
cũng
đề
cập
đến
12
xứ.
C:
người
biết
như
thật
=
P:
khi
vị
ấy
biết
và
thấy
12
xứ
này.
C:
vị
Tỳ-kheo
như
vậy
biết
được
12
xứ
=
P:
khi
ấy
đủ
để
gọi
rằng
vị
ấy
thiện
xảo
về
xứ.
c)
Giới
hay
các
yếu
tố:
Giới
được
đề
cập
dài
trong
NC72,
trong
đó
nhiều
giới
được
phân
tích
và
giải
thích.
Trong
bản
NC
này,
bản
C
nói
đến
13
cách
phân
chia
giới:
-
18
giới:
1
cách
phân
chia,
-
6
giới
:
3
cách
phân
chia,
-
4
giới
:
1
cách
phân
chia
,
-
3
giới
:
6
cách
phân
chia,
-
2
giới
:
2
cách
phân
chia.
Bản
P
chỉ
nói
6
cách
phân
chia
về
giới:
-
18
giới:
1
cách
phân
chia,
-
6
giới:
3
cách
phân
chia,
-
3
giới
:
1
cách
phân
chia,
-
2
giới:
1
cách
phân
chia.
Như
vậy
bản
C
nói
đến
tất
cả
62
giới
trong
khi
bản
P
chỉ
nói
41
giới.
i)
18
giới:
C1
=
P1:
C181:
(vii,31b,
15-17)
:
"Có
vị
Tỳ-kheo
thấy
được
18
giới
đúng
như
thật.
18
giới
là:
mắt,
sắc,
nhãn
thức,
tai,
tiếng,
nhĩ
thức,
mũi,
mùi,
tỷ
thức,
lưỡi,
vị,
thiệt
thức,
thân,
xúc,
thân
thức,
ý,
pháp,
ý
thức.
P115:
(iii,
62,
10-18):
Gần
giống.
18
giới
cũng
vậy.
C:
Người
biết
đúng
như
sự
thật
=
P
:
Khi
vị
ấy
biết
và
thấy
18
giới
này,
thì
đủ
để
gọi
rằng
vị
ấy
thiện
xảo
về
giới.
Sự
khác
nhau
này
cũng
được
thấy
ở
các
nhóm
giới
kia.
ii)
6
giới:
C2
=
P2:
C:
(31b,
17):
6
giới
là
địa,
thủy,
hỏa,
phong,
không
và
thức.
P:
(62,21-25):
Cũng
vậy.
iii)
6
giới:
C3=P4:
C:
(31b,
17-18):
6
giới
là
dục,
sân,
hại,
vô
dục,
vô
sân,
vô
hại.
P:
(62,
63):
Cũng
vậy,
nhưng
thứ
tự
hơi
khác:
dục
giới,
ly
dục
giới,
sân
giới,
vô
sân
giới,
hại
giới,
vô
hại
giới.
iv)
6
giới:
C4
=
P3:
C:
(31b,
18-19):
6
giới
là
lạc,
khổ,
hỷ,
ưu,
xả
và
vô
minh.
P:
(62,
28-32):
Cũng
vậy.
v)
4
giới:
C5
=
P:
không
có.
C:
(31b,
19):
4
giới
là
thọ,
tưởng,
hành
và
thức.
P
:
không
có.
vi)
3
giới:
C6
=
P5:
C:
(31b,
19-20):
3giới
là
dục
giới,
sắc
giới
và
vô
sắc
giới.
P:
(63,
6-9):
Cũng
vậy.
vii)
3
giới
:
C7
=
P:
không
có.
C:
(31b,
20):
3
giới
là
sắc
giới,
vô
sắc
giới
và
diệt
định.
viii,
ix,
x,
xi)
3
giới:
C
8,9,10,11
=
P:
không
có.
C:
(32a,1-3):
3
giới
là
(thứ
8)
quá
khứ,
vị
lai
và
hiện
tại;
(thứ
9)
thù
thắng,
không
thù
thắng
và
trung
bình;
(thứ
10)
phước
giới,
phi
phước
giới,
vô
ký
giới;
(thứ
11)
thuộc
hữu
học,
thuộc
vô
học,
không
thuộc
hữu
học
hay
vô
học.
xii)
2
giới:
C12
=
P:
không
có.
C:
(32a,
3-4):
Hữu
lậu
giới
và
vô
lậu
giới.
xiii)
2
giới:
C13
=
P6:
C:
(32a,
4):
Hữu
vi
giới
và
vô
vi
giới.
P:
(63,
12-15)
:
Cũng
vậy.
Trong
NC
94,
có
một
đoạn
dài
đề
cập
thiền
định
về
sáu
giới
như
sau:
i)
Về
địa
giới:
C162:
(vii,5b,
7-10):
"Có
vị
Tỳ-kheo
phân
tích
thân
giới,
nói
rằng
thân
này
có
nội
địa
giới,
nhận
lấy
mạng
sống.
Nội
địa
giới
này
như
sau:
tóc,
lông,
móng,
răng,
da
ngoài,
da
mỏng,
thịt,
xương,
gân,
thận,
tim,
gan,
phổi,
lá
lách,
ruột
già,
bao
tử,
phân;
và
các
nội
sắc
khác
tương
tự
với
chúng,
cứng,
thuộc
bên
trong
và
có
sự
sống.
Đây
gọi
là
nội
địa
giới.
Bất
cứ
gì
thuộc
nội
địa
giới
và
ngoại
địa
giới
đều
gọi
là
địa
giới.
Vi
ấy
quán
địa
giới
"cái
này
không
phải
là
của
tôi,
tôi
không
phải
cái
này,
cái
này
không
phải
là
tự
ngã".
Vị
ấy
quán
địa
giới
với
trí
tuệ
và
biết
nó
như
thật,
do
vậy
tâm
vị
ấy
không
bị
mê
lầm
vì
địa
giới,
không
chấp
thủ
địa
giới."
P140:
(iii,
240,
14-33):
Cũng
vậy.
Về
địa
giới
cũng
tương
tự,
nhưng
định
nghĩa
hơi
khác:
Gì
là
địa
giới?
Có
nội
địa
giới
và
ngoại
địa
giới.
Gì
là
nội
địa
giới?
Bất
cứ
gì
cứng,
thô,
thuộc
bên
trong,
thuộc
cá
nhân,
liên
hệ
đến
cá
nhân,
và
xuất
phát
từ
đó.
Kể
về
các
nội
giới
cũng
giống
như
vậy.
Bản
P
thêm:
tủy
xương,
kilomakam
và
antagunam.
Trong
khi
bản
C
kể
da
ngoài,
da
trong,
P
chỉ
nói
taco.
C:
Như
vậy
tâm
vị
ấy
không
bị
mê
lầm
vì
địa
giới,
không
chấp
thủ
địa
giới
=
P:
Như
vậy
vị
ấy
yểm
ly
địa
giới,
tâm
lọc
sạch
khỏi
địa
giới.
Bản
C
phân
loại
tủy
xương
thuộc
về
thủy
giới.
ii)
Về
thủy
giới:
C:
(5b,
10-13)
:
Được
đề
cập
giống
như
cách
đề
cập
địa
giới,
thay
đổi
"bất
cứ
cái
gì
cứng"
bằng
"bất
cứ
gì
thuộc
chất
lỏng".
Về
những
chất
được
phân
loại
thuộc
thủy
giới
như
sau:
não,
nước
mắt,
mồ
hôi,
chất
nhầy,
đàm,
mủ,
máu,
mỡ,
tủy
xương,
nước
bọt,
mật,
nước
tiểu.
P:
(240,
34):
Nhận
xét
như
trên.
Ở
đây
danh
từ
àpogatam
thay
thế
danh
từ
kakkhalam
kharigatam.
Bản
P
khi
kể
thủy
giới,
bỏ:
não,
tủy
xương
(được
để
vào
địa
giới);
thêm:
vasà,
lasikà.
iii)
Về
hỏa
giới
:
C:
(5b,
13-16):
Được
đề
cập
giống
như
ở
phần
điạ
giới,
thay
thế
"cái
gì
cứng"
bằng
"cái
gì
nóng
và
ấm".
Về
những
chất
được
liệt
vào
hỏa
giới
là:
thân
nhiệt,
hơi
ấm
của
cơ
thể,
cảm
giác
bốc
cháy
của
cơ
thể,
cái
gì
nuôi
duỡng
cơ
thể,
cái
tiêu
hóa
thức
ăn
uống.
P:
(241,
12-22):
Nhận
xét
như
trên.
Ở
đây
danh
từ
tejogatam
thay
thế
danh
từ
kakkhalam
kharigatam.
Những
chất
được
liệt
vào
hỏa
đại
là:
cái
gì
được
đốt
cháy,
hao
mòn,
được
tiêu
thụ,
cái
gì
qua
đó
người
ta
tiêu
hóa
được
những
gì
đã
ăn,
uống,
nhai,
nuốt.
iv)
Về
phong
giới:
C:
(5b,
16-19):
Cũng
giống
như
ở
địa
giới,
thay
"cái
gì
cứng"
bằng
"cái
gì
động".
Về
những
chất
được
liệt
vào
phong
giới:
gió
trên,
gió
dưới,
gió
đi
ngang,
gió
xé,
gió
đá,
gió
không
đường
(vô
đạo
phong?),
gió
nơi
chân
tay,
hơi
thở
vô
thở
ra.
P:
(241,
23-32):
Nhận
xét
như
trên.
Vàyogapam
thay
cho
kakkhalam
kharigatan.
Về
bản
liệt
kê
các
chất
được
gọi
là
phong
giới,
bản
P
bỏ
:
gió
bên
hông,
gió
xé,
gió
đá,
gió
vô
đạo;
nhưng
thêm:
gió
lưng,
gió
ở
bụng.
C:
gió
ở
tay
chân
=
P:
gió
xuyên
qua
tay
chân.
v)
Về
không
giới:
C:
(5b,
19-20):
Ở
đây
"bất
cứ
cái
gì
cứng"
được
thay
bằng
"bất
cứ
khoảng
không
nào
ở
trong
thân,
không
bị
ngăn
bởi
thịt,
da,
xương,
gân".
Về
các
chất
được
liệt
vào
không
giới,
gồm
có:
lỗ
mắt,
lỗ
tai,
lỗ
mũi,
lỗ
miệng,
lỗ
họng,
qua
đó
thức
ăn
được
nuốt,
được
tiêu
hóa,
ở
đó
chúng
lưu
lại
và
đi
xuống
dưới.
P:
(241,
33-34):
Nhận
xét
như
trên.
Ở
đây
danh
từ
àkàsagatam
thay
cho
danh
từ
kakkhalam
kharigatan.
Về
các
chất
được
liệt
vào
không
giới,
bản
P
bỏ:
lỗ
mắt,
lỗ
họng.
Bản
này
không
những
nói
đến
thức
ăn,
mà
còn
những
gì
được
nhai,
uống,
ăn,
nếm.
vi)
Về
thức
giới:
Biết
về
thọ:
C:
(6a,
3-13):
"Khi
vị
Tỳ-kheo
biết
như
thật
năm
giới,
vị
ấy
không
bị
chúng
làm
ô
nhiễm,
nhưng
cái
được
giải
thoát
là
thức.
Và
vị
ấy
nhận
biết
cái
gì?
Vị
ấy
nhận
biết
lạc
thọ,
khổ
thọ,
hỷ
thọ,
ưu
thọ
và
xả.
Do
hưởng
thụ
lạc
thọ,
vị
ấy
cảm
nhận
lạc
thọ;
khi
cảm
thọ
lạc
thọ
vị
ấy
biết
mình
đang
cảm
thọ
một
lạc
thọ,
rồi
vị
Tỳ-kheo
phá
hủy
sự
hưởng
lạc
mạnh
mẽ
ấy;
khi
sự
hưởng
lạc
mạnh
mẽ
ấy
bị
phá
hủy,
lạc
thọ
khởi
lên
từ
sự
hưởng
lạc
mạnh
mẽ
ấy
cũng
bị
phá
hủy,
chấm
dứt;
khi
ấy
vị
ấy
biết
rằng
mình
lắng
dịu.
Cũng
vậy
đối
với
bốn
cảm
thọ
khác.
Bất
cứ
sự
hưởng
thụ
mạnh
mẽ
nào
vị
ấy
cảm
nghiệm,
vị
ấy
tiếp
nhận
cảm
thọ
tương
đương.
Với
sự
phá
hủy
hưởng
thụ
mãnh
liệt,
cảm
thọ
tương
đương
cũng
được
hủy
diệt,
vị
ấy
biết
rằng
cảm
thọ
này
tùy
thuộc
vào
sự
hưởng
thụ
mãnh
liệt,
có
sự
hưởng
thọ
mãnh
liệt
là
gốc
rễ,
có
sự
hưởng
thọ
mãnh
liệt
là
nguồn
gốc,
từ
hưởng
thọ
mãnh
liệt
mà
đến,
có
sự
hưởng
thọ
mãnh
liệt
là
cái
đầu,
tùy
thuộc
vào
hưởng
thọ
mãnh
liệt
để
vận
hành.
Cũng
như
do
sự
cọ
xát
hai
thanh
củi
mà
lửa
phát
xuất,
và
từ
lửa
một
người
cảm
thọ
hơi
nóng;
nhưng
khi
hai
thanh
củi
được
dang
ra
thì
lửa
tắt,
và
với
sự
dập
tắt
của
ngọn
lửa,
hơi
nóng
cũng
diệt
và
thanh
củi
trở
lại
mát
mẻ."
P:
(242,
13-14):
Gần
giống.
Ở
đây,
bản
P
nói
thức
còn
lại
là
thuần
tịnh
và
vị
ấy
biết
được
một
điều
gì
là
nhờ
thức
này.
Bản
P
chỉ
nói
đến
ba
tho,ï
lạc,
khổ
và
trung
tính.
Sự
đề
cập
các
cảm
thọ
giống
nhau
trong
hai
bản,
nhưng
bản
P
bỏ
câu
cuối
cùng:
"khi
ấy
vị
ấy
biết
mình
lắng
dịu".
Bản
P
cũng
bỏ:
"bất
cứ
sự
hưởng
thụ
mãnh
liệt
nào
vị
ấy
cảm
nghiệm....
vận
hành".
Về
ví
dụ,
bản
P
chỉ
nói
hơi
ấm
và
ánh
sáng
có
được
do
xúc
chạm
và
cọ
xát
hai
thanh
củi;
khi
hai
thanh
củi
được
tách
ra
thì
hơi
nóng
chấm
dứt,
lắng
dịu.
Về
xả
thọ:
C:
(6a,
13-20):
"Khi
vị
Tỳ-kheo
không
bị
ba
cảm
thọ
làm
ô
nhiễm,
thì
vị
ấy
được
giải
thoát,
và
chỉ
có
xả
thọ
rất
thanh
tịnh.
Rồi
vị
Tỳ-kheo
ấy
nghĩ
đến
việc
dùng
xả
thọ
thuần
tịnh
này
tập
trung
vào
Không
vô
biên
xứ,
và
như
vậy
vị
ấy
phát
triển
một
tâm
như
vậy,
y
cứ
vào
đó,
an
trú
trên
nó,
đứng
vững
trên
nó,
ràng
buộc
với
nó.
Vị
ấy
nghĩ
đến
việc
tập
trung
xả
thọ
thuần
tịnh
này
trên
Thức
vô
biên
xứ,
trên
Vô
sở
hữu
xứ
và
trên
Phi
tưởng
phi
phi
tưởng
xứ,
và
như
vậy
vị
ấy
phát
triển
một
tâm
tùy
thuộc
vào
đó,
an
trú
trên
đó,
đứng
vững
trên
đó,
ràng
buộc
vào
đó,
như
một
người
thợ
vàng
thiện
xảo,
dùng
lửa
để
nấu
vàng
và
tinh
luyện
nó,
làm
cho
vàng
thật
mỏng,
đốt
nó
trong
một
cái
lò,
làm
cho
nó
thuần
tịnh,
dễ
sử
dụng,
sáng
chói,
rồi
với
thứ
vàng
thuần
tịnh,
dễ
sử
dụng
và
sáng
chói
ấy,
người
thợ
vàng
có
thể
làm
thành
bất
cứ
đồ
trang
sức
gì
mình
muốn,
như
dải
lụa
vàng
để
trang
sức
y
phục
mới,
hay
chiếc
nhẫn,
chiếc
vòng,
chiếc
kiềng
đeo
cổ,
chuỗi
ngọc.
Khi
ấy
vị
Tỳ-kheo
nghĩ
rằng,
xả
thọ
thuần
tịnh
này
vì
lệ
thuộc
vào
Không
vô
biên
xứ,
nên
là
một
pháp
hữu
vi.
Vì
là
một
pháp
hữu
vi,
nó
phải
chịu
vô
thường
và
do
đó,
khổ.
Với
điều
này,
vị
ấy
biết
khổ,
sau
khi
biết
khổ,
vị
ấy
không
tập
trung
xả
thọ
này
vào
Không
vô
biên
xứ.
Cũng
vậy
với
ba
xứ
kia.
Sau
khi
biết
cả
bốn
xứ
này
như
thật
với
trí
tuệ,
sau
khi
không
tập
trung
vào
đó,
khi
ấy
vị
Tỳ-kheo
biết
rằng,
xả
ấy
không
còn
là
một
pháp
hữu
vi,
vị
ấy
không
còn
nghĩ
đến
việc
trở
thành
hữu
hay
phi
hữu.
Khi
cảm
thọ
một
cảm
thọ
được
giới
hạn
bởi
thân,
vị
ấy
biết
rằng
mình
đang
cảm
thọ
một
cảm
thọ
giới
hạn
bởi
thân,
khi
cảm
thọ
một
cảm
thọ
giới
hạn
bởi
thọ
mạng
(nguyên
lý
sống),
vị
ấy
biết
mình
đang
cảm
thọ
một
cảm
thọ
giới
hạn
bởi
thọ
mạng.
Vị
ấy
biết
rằng,
khi
thân
hoại
mạng
chung,
tất
cả
những
cảm
thọ
của
vị
ấy
đi
đến
chấm
dứt,
diệt.
Vị
ấy
biết
chúng
trở
nên
rất
mát
mẻ,
như
một
ngọn
đèn
cháy
nhờ
vào
bấc
và
dầu,
nếu
không
ai
cung
cấp
thêm
dầu,
không
ai
nối
thêm
bấc,
thì
với
sự
tiêu
hủy
nhiên
liệu
dầu
và
bấc
cũ,
ngọn
đèn
sẽ
tự
tắt."
P:
(243,
11-32):
Ở
đây
bản
P
đặt
ví
dụ
về
người
thợ
vàng
trước
với
nhiều
chi
tiết
hơn,
mô
tả
người
thợ
vàng
hay
đệ
tử
ông
ta
sửa
soạn
lò,
đốt
bệ,
thỉnh
thoảng
thụt
bệ,
rưới
nước,
canh
chừng
cẩn
thận,
và
do
đó
vàng
trở
thành
thuần
tịnh,
dễ
sử
dụng,
không
còn
quặng,
sáng
chói,
sẵn
sàng
để
làm
nhẫn,
đồ
đeo
tai,
đeo
cổ,
hay
tràng
hoa
bằng
vàng.
Như
vậy
xả
này
được
so
sánh
với
một
thứ
vàng
như
thế.
Ở
đây
cũng
thế,
vị
Tỳ-kheo
nghĩ
đến
việc
tập
trung
xả
này
vào
bốn
vô
sắc
giới,
xét
xem
xả
này
được
nâng
đỡ,
được
nuôi
dưỡng
bằng
sự
tập
trung
vào
bốn
vô
sắc
giới
này
có
trú
nơi
ông
lâu
dài
không.
Vị
ấy
hiểu
rằng
khi
làm
như
vậy,
xả
này
sẽ
là
một
pháp
hữu
vi.
Bởi
thế
vị
ấy
không
xây
dựng,
không
nghĩ
đến
việc
trở
thành
hay
không
trở
thành,
không
bám
víu
bất
cứ
gì
trên
đời,
vì
không
chấp
thủ,
vị
ấy
không
bị
dao
động;
do
không
dao
động,
vị
ấy
chứng
đạt
sự
an
tịnh.
Vị
ấy
biết
sanh
đã
tận,
phạm
hạnh
đã
thành,
việc
cần
làm
đã
làm
xong;
không
còn
hiện
hữu
trở
lại.
Khi
vị
ấy
cảm
thọ
một
lạc
thọ
hay
bất
lạc
thọ,
hay
bất
khổ
bất
lạc
thọ,
vị
ấy
biết
rằng
nó
vô
thường,
không
nên
bám
víu,
không
phải
là
một
đối
tượng
để
hưởng
thụ;
như
vậy
vị
ấy
cảm
nghiệm
ba
loại
thọ
này
với
xả.
Khi
vị
ấy
cảm
thọ
về
thân,
vị
ấy
biết
mình
đang
cảm
thọ
một
cảm
thọ
về
thân,
khi
cảm
thọ
một
cảm
thọ
về
mạng,
vị
ấy
biết
mình
đang
cảm
thọ
một
cảm
thọ
về
mạng.
Vị
ấy
biết
rằng
sau
khi
thân
hoại
mạng
chung,
tất
cả
những
cảm
thọ
sẽ
thành
tịnh
chỉ.
Ví
dụ
về
ngọn
đèn
cũng
gần
giống.
Ở
đây
bản
C
đặt
sự
chứng
quả
A-la-hán
vào
đoạn
sau.
d)
Bốn
thánh
đế:
Bốn
thánh
đế
được
đề
cập
trong
NC
16,
22,
24,
28,
30,
38,
95,
98.
Trong
NC48,
bốn
chân
lý
được
định
nghĩa
như
sau:
C153:(vi,
91b,
16-19):
"Gì
là
trí
biết
như
thật
về
khổ?
Sanh
là
khổ,
già
là
khổ,
bịnh
là
khổ,
chết
là
khổ,
kết
hợp
với
người
mà
ta
ghét
là
khổ,
ly
tán
với
người
mà
ta
thương
là
khổ,
không
được
những
gì
ta
mong
cầu
là
khổ;
nói
tóm
lại
năm
thạnh
uẩn
là
khổ.
Đây
gọi
là
trí
biết
như
thật
về
khổ.
Gì
là
trí
biết
về
tập,
thói
quen
đau
khổ?
Khát
ái
đưa
đến
tái
sinh
tương
lai,
câu
hữu
với
hỷ
và
tham,
mong
muốn
có
được
hữu
này
hữu
kia,
đây
gọi
là
trí
biết
như
thật
về
tập,
về
thói
quen
của
đau
khổ.
Gì
là
trí
biết
như
thật
về
diệt
khổ?
Sự
chấm
dứt
không
dư
tàn
tham
ái
dẫn
đến
tái
sanh
này,
câu
hữu
với
hỷ
và
tham,
mong
muốn
có
được
hữu
này
hữu
kia,
sự
đoạn
tận,
hoàn
toàn
từ
bỏ,
không
chấp
thủ,
sự
dừng
lại,
sự
chấm
dứt,
đây
gọi
là
trí
biết
như
thật
về
diệt
khổ.
Gì
là
trí
biết
như
thật
về
con
đường
diệt
khổ?
Đây
là
Tám
thánh
đạo
từ
chánh
kiến
cho
đến
chánh
định,
đây
gọi
là
con
đường
đưa
đến
khổ
diệt."
Ở
đây
bản
P
tương
đương
không
nói
đến
bốn
chân
lý
cao
cả,
nhưng
ta
có
thể
so
sánh
đoạn
C
này
với
đoạn
P
trong
các
kinh
khác.
P141:
(iii,
294,
9-13):
Gần
giống.
Kinh
bỏ:
"bịnh
là
khổ,
kết
hợp
với
người
mà
ta
ghét
là
khổ,
ly
tán
với
người
mà
ta
thương
là
khổ".
Kinh
thêm
"sầu,
bi,
khổ,
ưu,
não
là
khổ".
C:
5
thạnh
uẩn
=
P:
5
thủ
uẩn.
P:
(250,
32-34):
Về
nguyên
nhân
của
khổ,
cũng
vậy.
C:
Sự
thực
hành,
thói
quen
khổ
=
P:
khổ
tập.
Ở
đây
bản
C
dùng
chữ
"tập"
với
nghĩa
tu
tập,
thói
quen,
để
dịch
danh
từ
samudayo;
nhưng
những
dịch
giả
về
sau
chọn
danh
từ
"tập"
với
nghĩa
là
tụ
họp,
nhóm
lại
để
dịch
samudayo.
C:
mong
có
được
hữu
này,
có
được
hữu
kia
=
P:
tìm
cầu
hỷ
lạc
chỗ
này
chỗ
kia,
nghĩa
là
dục
ái,
hữu
ái
và
phi
hữu
ái.
P:
(251,3-6):
Về
sự
chấm
dứt
khổ,
cũng
gần
giống.
C:
Sự
diệt
tận
không
dư
tàn
khát
ái
này
đưa
đến
hữu
tương
lai,
câu
hữu
với
hỷ
và
tham,
mong
có
được
hữu
này,
có
được
hữu
kia
=
P:
Cũng
gần
giống
nhưng
bỏ
các
tĩnh
từ
định
tính
cho
chữ
ái.
C:
Sự
đoạn
tận,
từ
bỏ
hoàn
toàn,
không
chấp
thủ,
dừng
lại,
chấm
dứt=
P:
patinissaggo
mutti
anàlayo.
P:
(251,
7-11):
Về
con
đường
đưa
đến
diệt
khổ,
C
bỏ
"đưa
đến",
và
nói
vắn
tắt
tám
thành
phần
của
bát
chánh
đạo,
trong
khi
bản
P
kể
đầy
đủ
cả
tám.
Trong
NC95,
có
một
nghiên
cứu
tỷ
mỷ
về
tứ
diệu
đế
đáng
được
phân
tích
chi
tiết.
Thánh
đế
về
khổ:
i)
Sinh
là
khổ:
C31:
(v,41b,20):
Chân
lý
về
khổ
được
định
nghĩa
như
sau:
sinh
là
khổ,
già
là
khổ,
bệnh
là
khổ,
kết
hợp
với
người
mà
ta
ghét
là
khổ,
biệt
ly
với
người
mà
ta
ưa
là
khổ,
không
được
điều
ta
mong
cầu
là
khổ,
nói
tóm
lại
năm
thạnh
uẩn
là
khổ.
Do
đâu
mà
nói
rằng
sinh
là
khổ?
Những
hữu
tình
thuộc
các
loại
chúng
sinh
được
sinh
ra,
xuất
hiện,
thành
hình,
có
năm
uẩn,
có
mạng,
đây
gọi
là
sinh.
Sinh
là
khổ
như
thế
nào?
Khi
hữu
tình
sinh
ra,
thì
thân
thể
và
trái
tim
nhận
hơi
nóng
lan
rộng,
nhận
cảm
giác,
nhận
cảm
giác
lan
rộng;
thân
thể,
trái
tim,
thân
thể
và
trái
tim,
nhận
sự
tăng
trưởng,
hơi
nóng,
sự
xáo
trộn,
sầu,
ưu,
nhận
sự
tăng
trưởng
lan
rộn,
hơi
nóng...
sầu,
ưu
lan
rộng,
nhận
cảm
thọ,
cảm
thọ
lan
rộng.
P141:
(iii,
249,
9-17):
Tương
tự
nhưng
giản
dị
hơn
nhiều.
Bản
này
bỏ:
"bệnh
là
khổ,
kết
hợp
với
những
gì
ta
ghét
là
khổ,
biệt
ly
với
những
gì
ta
ưa
là
khổ".
Nó
thêm:
"sầu,
bi,
khổ,
ưu,
não".
Về
định
nghĩa
sinh,
cũng
gần
giống.
Bản
P
nói
đến
sự
thụ
thai,
sự
sinh
ra,
sự
tái
sinh,
sự
xuất
hiện
các
uẩn,
và
sự
có
ra
các
nội
xứ.
Bản
P
bỏ
định
nghĩa
về
"sinh
là
khổ
như
thế
nào".
ii)
Già
là
khổ:
C:(42b,
6-10):
Những
hữu
tình
thuộc
đủ
loại
chúng
sinh
đều
già,
với
tóc
bạc,
răng
rụng,
năng
lực
ngày
một
yếu
bớt,
giảm
sút,
lưng
còng,
hai
chân
cong
quẹo,
thân
thể
nặng
nề,
hơi
thở
đi
lên,
đi
phải
chống
gậy,
da
nhăn
như
hột
mè,
các
căn
lụn
bại
và
vô
dụng,
da
và
dáng
vẻ
xấu
xí.
Đây
là
tuổi
già.
Tuổi
già
khổ
như
thế
nào?
Cũng
định
nghĩa
như
ở
sinh
là
khổ,
đây
nói
đến
già.
P:
(249,18-21):
Gần
giống
nhưng
giản
dị
hơn.
Bản
P
nói,
tuổi
già,
lụn
bại,
răng
rụng,
tóc
hoa
râm,
da
nhăn,
thọ
mạng
giảm,
các
căn
hư
hoại.
Ở
đây
cũng
bỏ
định
nghĩa
về
sự
đau
khổ
của
tuổi
già.
iii)
Bịnh
là
khổ:
Bản
P
không
có.
C:
(42a,
10-14):
Nhiều
thứ
bệnh
khác
nhau
được
kể
như
sau:
đau
đầu,
đau
mắt,
đau
tai,
đau
mũi,
đau
mặt,
đau
môi,
đau
răng,
đau
lưỡi,
đau
nóc
họng,
đau
hầu,
nấc
cụt,
phong
suyễn,
ho,
mửa,
kiết
lÿ,
kích
ngất,
ung
thư,
bướu,
kinh
ôn,
xích
đởm,
sốt,
mệt
lả,
.......,
nhọt,
đau
ruột.
Về
sự
bịnh
là
khổ,
cũng
giống
như
đoạn
trước.
iv)
Chết
là
khổ:
C:
(42a,
18-20):
Chết
là
sự
chấm
dứt
của
mạng
căn,
sự
vô
thường,
sự
chết,
rã
rời,
chấm
dứt,
diệt
tận,
hủy
hoại
của
thọ
mạng,
sự
đóng
lại
mạng
căn
của
những
hữu
tình
thuộc
đủ
loại
chúng
sinh,
đây
gọi
là
chết.
Về
sự
chết
là
khổ,
cũng
như
trong
đoạn
trước.
P:
(249,
22-26):
Cũng
vậy.
Đấy
là
sự
diệt
mất,
rơi
rụng,
tan
vỡ,
biến
mất,
chết
chóc,
quá
vãng,
công
việc
của
thời
gian,
sự
tan
rã
của
các
uẩn,
sự
vứt
bỏ
thân
xác.
Ở
đây
bản
P
bỏ
định
nghĩa
về
chết
là
khổ.
v)
Kết
với
với
những
gì
ta
ghét
là
khổ:
Bản
P
không
có.
C:
(42a,
18-20):
Đây
là
sự
kết
hợp,
sự
nhóm
tụ
lại
sáu
nội
xứ
mà
ta
không
thích
như
mắt,
tai,
mũi,
lưỡi,
thân,
ý.
Cũng
thế
với
sáu
ngoại
xứ
mà
ta
không
ưa
nhưng
ta
vẫn
phải
tiếp
xúc
như
cảm,
nghĩ
về,
cảm
nhận;
cũng
thế
với
sáu
giới
mà
ta
không
thích
như
địa
giới,
thủy
giới,
hỏa
giới,
phong
giới,
không
giới,
thức
giới.
Về
sự
kết
hợp
với
những
gì
ta
ghét
là
khổ,
cũng
giống
như
những
đoạn
trước,
nhưng
ở
đây
có
nói
đến
cái
khổ
khi
kết
hợp
với
những
gì
ta
ghét.
vi)
Ly
tán
với
những
gì
ta
thích
là
khổ:
P:
không
có.
C:
(42b,
1-5):
Cũng
được
đề
cập
như
trong
đoạn
cuối,
nhưng
ở
đây
những
gì
ta
thích
chính
là
sáu
nội
ngoại
xứ,
sáu
giới,
nhưng
ta
phải
chia
ly
với
chúng,
không
thể
kết
hợp,
không
thể
tụ
hội
với
chúng.
vii)
Không
được
những
gì
ta
mong
muốn
là
khổ:
C:(42b,
5-11):
Hữu
tình
phải
bị
sinh,
không
thể
thoát
khỏi
sinh,
và
người
ta
mong
cầu
đừng
bị
sinh
ra,
nhưng
một
mong
cầu
như
thế
không
thể
đạt
được.
Cũng
tương
tự,
khi
người
ta
mong
khỏi
bị
già,
khỏi
bị
chết,
khỏi
phải
sầu,
bi,
than
khóc,
khi
người
ta
chạm
mặt
khổ
đau
mà
mong
chuyển
nó
thành
hạnh
phúc
thì
vô
hiệu;
khi
người
ta
được
hạnh
phúc
mà
muốn
kéo
dài
hạnh
phúc
ấy
mãi
mãi
cũng
không
được;
cũng
thế,
khi
người
ta
gặp
những
ý
tưởng
bất
hạnh
và
mong
mỏi
chuyển
chúng
thành
những
ý
nghĩ
vui;
khi
người
ta
gặp
những
ý
nghĩ
hạnh
phúc
và
mong
chúng
kéo
dài
mãi
mãi
cũng
không
được.
Tất
cả
những
điều
này
không
thể
cầu
mong
được.
P:
(250,
13-25):
Gần
giống.
Những
mong
cầu
đừng
bị
sanh
ra,
bị
già,
chết,
sầu,
bi,
khổ,
ưu,
não
cũng
được
lập
ngôn
như
thế
ở
đây.
Những
mong
cầu
khác
bị
loại
bỏ.
viii)
Tóm
lại
năm
thạnh
uẩn
là
khổ:
C:
(42b,
11-13):
Có
các
thạnh
uẩn
là
sắc,
thọ,
tưởng,
hành,
thức
thạnh
uẩn;
tóm
lại
năm
thạnh
uẩn
này
là
khổ.
Vậy
thánh
đế
về
khổ
này
đã
hiện
hữu
trong
quá
khứ,
đang
hiện
hữu
trong
hiện
tại
và
sẽ
hiện
hữu
trong
tương
lai;
đây
là
sự
thật
như
chân,
không
phải
sự
thật
dối
trá,
không
rời
xa
thực
tại,
mà
các
bậc
thánh
đã
đạt
đến,
đã
thấy,
biết,
liễu
tri,
chứng
đạt,
hoàn
toàn
chứng
ngộ
và
chân
chính
chứng
ngộ,
cho
nên
được
gọi
là
thánh
đế
về
khổ.
P:
(250,
26-31):
Gần
giống,
nhưng
bỏ
phần
cuối:
Như
vậy
thánh
đế
về
khổ
này
đã
hiện
hữu
trong
quá
khứ
...
vì
thế
đây
gọi
là
khổ
thánh
đế.
Nhận
xét:
Sự
nhấn
mạnh
hiện
hữu
của
thánh
đế
về
khổ
trong
quá
khứ,
hiện
tại,
vị
lai
trong
bản
C
rất
quan
trọng.
Nó
dùng
để
giải
thích
lý
thuyết
"tất
cả
đều
có"
của
bộ
phái
Nhất
thiết
hữu,
chủ
trương
hiện
hữu
của
năm
pháp
trong
hình
thái
vi
tế
nhất
vào
tất
cả
các
thời
quá
khứ,
hiện
tại,
vị
lai.
Sự
loại
bỏ
đoạn
này
trong
bản
P
có
ý
nghĩa,
vì
nó
hiển
thị
rằng
Thượng
tọa
bộ
phủ
nhận
một
hiện
hữu
như
thế.
ix)
Sầu,
bi,
khổ,
ưu,
não
là
khổ:
(Bản
C
không
có).
P:
(249,
27-30):
Soko,
sầu:
Khi
người
ta
gặp
một
loại
tai
biến
này
hay
khác,
vài
nỗi
khổ
này
hay
khác,
người
ta
buồn
sầu,
ở
trong
trạng
thái
sầu
khổ,
bị
sầu
khổ
ở
nội
tâm,
bên
trong
bị
đau
đớn
mãnh
liệt.
P:
(249,31-33):
Paridevo,
bi
:
Khi
gặp
một
tai
biến
này
hay
khác,
một
loại
khổ
đau
này
hay
khác,
người
ta
rên
rỉ,
khóc
lóc,
ở
trong
tình
trạng
rên
rỉ,
khóc
lóc,
bị
rơi
vào
rên
rỉ
khóc
lóc.
P:
(250,
3-5):
Dukkham,
khổ:
Đây
là
nỗi
khổ
về
vật
lý,
nỗi
đau
đớn
thể
xác,
đau
đớn,
khổ
vật
lý
và
đau
thể
xác
do
sự
xúc
chạm
bằng
thân
thể.
P:
(250,
6-8):
Domanassam,
ưu:
Cũng
như
trên,
nhưng
ở
đây
là
nỗi
khổ
về
tinh
thần,
nỗi
đau
tinh
thần
chứ
không
phải
nỗi
đau
khổ
về
vật
lý,
thân
xác.
P:
(250,
9-12):
Upàyàso,
não:
Khi
gặp
một
vài
loại
tai
biến
nào
đó,
một
vài
loại
khổ
đau
nào
đó,
người
ta
thất
vọng,
rầu
rỉ,
ở
trong
tình
trạng
tuyệt
vọng,
trong
tình
trạng
rầu
rỉ.
Thánh
đế
về
nguồn
gốc
khổ:
C:(42b,
13-20):
Gì
là
thánh
đế
về
sự
luyện
tập
khổ?
Hữu
tình
thật
sự
có
nỗi
khao
khát
đối
với
các
nội
xứ,
khao
khác
chúng,
bám
víu
chúng,
bị
chúng
làm
ô
nhiễm,
chấp
thủ
chúng,
đây
gọi
là
sự
luyện
tập,
thực
hành
đau
khổ.
Vì
đệ
tử
đa
văn
biết
về
tri
kiến
ấy,
nhận
thức
một
cái
thấy
như
vậy,
hiểu
và
chứng
ngộ
một
pháp
như
vậy,
đấy
là
thánh
đế
về
sự
thực
hành
khổ.
Vị
ấy
biết
về
cái
gì?
Vị
ấy
biết
rằng,
nếu
có
sự
tham
cầu
vợ
con,
tôi
tớ,
nô
lệ,
quyến
thuộc,
ruộng,
đất,
nhà,
cửa
hàng,
các
tài
sản
bán
buôn,
thương
mại
mậu
dịch,
nếu
vị
ấy
có
sự
tham
đắm,
ràng
buộc
với
chúng,
thì
vị
ấy
sẽ
bị
chúng
làm
ô
nhiễm,
chấp
thủ
chúng,
đây
gọi
là
sự
tập
tành,
và
vị
ấy
biết
thánh
đế
về
tham
ái,
sự
tập
tành
khổ.
Cũng
vậy
với
các
ngoại
xứ
mà
người
ta
tiếp
xúc,
cảm
giác,
thọ
nhận,
suy
tư,
tham
ái;
cũng
vậy
với
sáu
giới
địa,
thủy,
hỏa,
phong,
không,
thức.
Về
định
nghĩa
của
đế
và
thánh,
cũng
như
trong
trường
hợp
đầu.
P:
(250,
32-34):
Không
hẳn
giống.
Bản
P
nhắc
đến
cùng
một
định
nghĩa
như
đã
thấy
ở
trên:
"Bất
cứ
khát
ái
nào
đưa
đến
tái
sanh,
liên
hệ
đến
hỷ
và
tham,
tìm
cầu
khoái
lạc
chỗ
này
chỗ
kia,
nghĩa
là
dục
ái,
hữu
ái,
phi
hữu
ái".
Ở
đây
cũng
thế,
bản
P
bỏ
định
nghĩa
về
đế
và
thánh.
Thánh
đế
về
sự
diệt
khổ:
C:
(43a,19):
Gì
là
thánh
đế
về
sự
diệt
khổ?
Hữu
tình
thật
sự
khát
ái
đối
với
sáu
nội
xứ
mắt,
tai,
mũi,
lưỡi,
thân,
ý.
Nếu
họ
thoát
khỏi
chúng,
không
bị
chúng
làm
ô
nhiễm,
không
chấp
thủ
chúng,
diệt
tận
chúng,
từ
bỏ
chúng,
vứt
chúng
đi,
không
ham
muốn,
ngừng
lại,
chấm
dứt,
không
cần
chúng,
thì
đây
gọi
là
sự
diệt
khổ.
Vị
thánh
đệ
tử
đa
văn
biết
về
một
tri
kiến
như
vậy,
nhận
thức
một
quan
điểm
như
vậy,
hiểu
và
thực
chứng
một
pháp
như
vậy,
đấy
là
thánh
đế
về
sự
diệt
ái,
sự
chấm
dứt
khổ
đau.
Vị
ấy
biết
về
gì?
Vị
ấy
biết
rằng
nếu
không
có
tham
ái
vợ
con,
tôi
tớ,
nô
lệ,
quyến
thuộc,
ruộng
đồng,
đất
đai,
nhà
cửa,
hàng
quán,
tài
sản
bán
mua,
không
có
tham
kinh
doanh
công
việc,
nếu
vị
ấy
thoát
khỏi
chúng,
không
bị
chúng
làm
ô
nhiễm,
không
chấp
thủ
chúng,
đoạn
tận,
từ
bỏ,
vứt
chúng
đi,
không
ham
muốn,
chấm
dứt,
dừng
lại,
không
có
chúng,
đây
gọi
là
sự
chấm
dứt
khổ,
và
vị
ấy
biết
thánh
đế
về
sự
chấm
dứt
khổ.
Cũng
vậy
với
ngoại
xứ,
mà
người
ta
tiếp
xúc,
cảm
nhận,
thấy,
nghĩ
đến,
khao
khát
sáu
giới
địa,
thủy,
hỏa,
phong,
không,
thức.
Ở
đây
bản
C
cũng
lặp
lại
định
nghĩa
về
đế
và
thánh.
P:
(251,
3-6):
Không
giống
hẳn.
Định
nghĩa
như
sau:
Bất
cứ
sự
chấm
dứt
nào
về
khát
ái
chấp
thủ
còn
lại,
sự
từ
bỏ
nó,
xua
đuổi
nó,
giải
thoát
khỏi
nó,
độc
lập
với
nó,
đây
gọi
là
sự
chấm
dứt
khổ.
Thánh
đế
về
con
đường
đưa
đến
diệt
khổ:
Ở
đây
nói
đến
thánh
đạo
tám
ngành
như
đã
nói
ở
trên.
e)
Duyên
sinh:
Pháp
này
được
đề
cập
trong
NC
9,
24,
27,
72,
98.
Trong
NC98,
duyên
sinh
được
đề
cập
như
sau:
C86:
(vi,
2b,
17-20):
"Này
A
Nan,
trước
đây
tôi
đã
nói
cho
ông
về
duyên
khởi
và
các
pháp
khởi
lên
do
duyên.
Cái
này
có
thì
cái
kia
có,
cái
này
không
thì
cái
kia
không,
cái
này
sinh
thì
cái
kia
sinh,
cái
này
không
sinh
thì
cái
kia
không
sinh,
cái
này
diệt
thì
cái
kia
diệt.
Tùy
thuộc
vào
vô
minh
là
các
hành,
tùy
thuộc
vào
hành
là
thức;
tùy
thuộc
vào
thức
là
danh
sắc,
tùy
thuộc
vào
danh
sắc
là
sáu
xứ,
tùy
thuộc
vào
sáu
xứ
là
sáu
hưởng
thụ
mạnh
mẽ,
tùy
thuộc
vào
sáu
hưởng
thụ
mạnh
mẽ
là
thọ,
tùy
thuộc
vào
thọ
là
ái,
tùy
thuộc
vào
ái
là
thủ,
tùy
thuộc
vào
thủ
là
hữu,
tùy
thuộc
vào
hữu
là
sinh,
tùy
thuộc
vào
sinh
là
già
chết.
Nếu
vô
minh
diệt
thì
hành
diệt,
hành
diệt
thì
thức
diệt,
thức
diệt
thì
danh
sắc
diệt,
danh
sắc
diệt
thì
sáu
xứ
diệt,
sáu
xứ
diệt
thì
xúc
diệt,
xúc
diệt
thì
thọ
diệt,
thọ
diệt
thì
ái
diệt,
ái
diệt
thì
thủ
diệt,
thủ
diệt
thì
hữu
diệt,
hữu
diệt
thì
sinh
diệt,
sinh
diệt
thì
già
chết
diệt."
P115:(iii,
63,24-32):
Gần
giống.
C:
nếu
cái
này
có
...
thì
cái
kia
diệt
=
P:
imasmim
sati,
idam
hoti;
imass
uppàdà
idamuppajjati;
imasmim
asati,
idam
na
hoti;
imassa
nirodhà
idam
nirujjhati.
(Cái
này
có
thì
cái
kia
có,
cái
này
sinh
thì
cái
kia
sinh;
cái
này
không
thì
kia
không,
cái
này
diệt
thì
kia
diệt).
Cũng
gần
giống
như
bản
C
nhưng
thứ
tự
hơi
khác,
và
bỏ
bớt:
nếu
cái
này
không
sinh
thì
cái
kia
không
sinh.
C:
hưởng
thụ
mạnh
mẽ
=
P:
xúc
-
phasso;
sparsa
có
nghĩa
là
hưởng
thụ,
sờ
chạm,
cho
nên
ở
đây
bản
C
dịch
là
hưởng
thụ
mạnh
mẽ.
C:
thọ
(nhận)
=
P:
upàdàna,
các
nhà
phiên
dịch
về
sau
dịch
thành
thủ
nghĩa
là
cầm
nắm,
bám
víu.
C:
tùy
thuộc
vào
sanh
là
già
chết
=
P:
do
duyên
sinh,
có
già,
chết,
sầu
bi,
khổ,
ưu,
não.
Bản
P
thêm
:
Như
vậy
là
tập
khởi
của
đống
khổ
này.
C:
nếu
vô
minh
diệt
thì
hành
diệt
=
P:
avijjàya
tveva
asesaviràganirodhà
sankhàranirodho.
Bản
P
thêm
:
Như
vậy
là
sự
đoạn
diệt
của
đống
khổ
này.
Trong
NC27,
lý
duyên
khởi
được
đề
cập
nhưng
khởi
sự
bằng
bốn
loại
thức
ăn
có
ái
làm
nguyên
nhân
rồi
đến
thọ,
hưởng
thụ
mạnh
mẽ,
sáu
xứ,
danh
sắc,
thức,
hành,
vô
minh.
Rồi
nó
nói
:
tùy
thuộc
vào
vô
minh
là
hành
...
cho
đến
tùy
thuộc
vào
sinh
là
già
chết,
sầu,
bi,
khổ,
ưu,
não.
Như
vậy
đây
là
sự
sanh
khởi
của
đống
khổ
lớn.
Ở
đây
chúng
ta
nhận
thấy
rằng,
bản
C201:(vii,
67b,
2-9)
không
quên
nói
đến
sầu,
bi,
khổ,
ưu,
não
như
được
thấy
trong
đoạn
trước.
Về
bản
chất
tương
quan
lẫn
nhau
giữa
năm
uẩn
được
đề
cập
trong
NC24,
thì
đã
nói
trong
chương
trước,
về
năm
uẩn.
Như
vậy
chúng
ta
có
thể
nói
về
pháp
duyên
khởi,
giữa
hai
bản
C
và
P
không
có
dị
biệt
nào
quan
trọng.
f)
Bốn
loại
thức
ăn:
Bốn
loại
thức
ăn
được
đề
cập
trong
NC
27
và
70.
Trong
NC27,
chúng
được
nói
đến
như
sau:
C201:(vii,
67b):
Một
là
đoàn
thực,
nghĩa
là
thức
ăn
từng
miếng,
thô
và
tế,
kế
đó
là
canh
lạc,
nghĩa
là
thức
ăn
do
hưởng
thụ
mạnh
mẽ,
rồi
ý
niệm
thực,
nghĩa
là
thức
ăn
bằng
ý
chí
và
cuối
cùng
là
thức
thực,
là
thức
ăn
bằng
ý
thức.
P38:
(i,
261,
5-8):
Gần
giống.
C:
đoàn
thực
thô
và
tế
=
P:
kabalinkàro
àhàro
olàriko,
và
sukhumo
và.
C:
thức
ăn
hưởng
thụ
mạnh
mẽ
=
P:
xúc
thực,
phasso
àhàro.
C:
ý
niệm
thực
=
P:
tư
niệm
thực,
manosancetanà
àhàra.
C:
thức
thực
=
P:
vinnànam
àhàro.
g)
Nghiệp
và
nghiệp
dị
thục
hay
hành
động
và
quả
báo
của
hành
động:
Những
pháp
này
được
đề
cập
trong
NC
39,
40,
65,
84,
85,
89,
90.
*
Trong
NC89,
chúng
được
đề
cập
như
sau:
C170:
(vii,16b,
12-18):
Lúc
bấy
giờ
Anh
Vũ
Ma
Nạp
đi
đến
đức
Phật,
chào
Ngài
và
xin
phép
được
hỏi.
Khi
được
cho
phép,
anh
hỏi
đức
Thế
Tôn
vì
lý
do
gì,
vì
nguyên
nhân
gì
mà
trong
số
các
hữu
tình,
mặc
dù
đều
có
thân
người,
một
số
lại
thấp
lùn,
một
số
thì
cao
lớn,
một
số
bần
tiện,
một
số
cao
sang.
Anh
nói,
anh
thấy
một
số
người
chết
yểu,
một
số
sống
lâu,
một
số
mắc
nhiều
bệnh,
một
số
ít
bệnh,
một
số
xấu
xí,
một
số
đẹp
đẽ,
một
số
không
có
uy
quyền,
không
có
ảnh
hưởng,
một
số
lại
có
uy
quyền,
ảnh
hưởng.
Có
người
thuộc
dòng
họ
thấp
kém,
có
người
thuộc
dòng
họ
cao
quý,
một
số
người
nghèo,
một
số
người
giàu,
một
số
người
liệt
tuệ,
một
số
người
có
trí
tuệ.
Khi
ấy
đức
Thế
Tôn
trả
lời
:
hữu
tình
làm
nên
nghiệp
của
chúng,
nhận
lấy
quả
báo
của
những
việc
đã
làm.
Hữu
tình
tùy
thuộc
vào
nghiệp,
nương
tựa
vào
nghiệp,
nghiệp
là
trọng
tài
của
chúng.
Lối
giải
thích
vắn
tắt
này
không
làm
thỏa
mãn
thanh
niên
Anh
Vũ.
Và
anh
xin
đức
Thế
Tôn
giải
thích
chi
tiết
mọi
thứ.
Đức
Thế
Tôn
chấp
nhận
yêu
cầu
của
Anh
vũ
ma
nạp.
P135:(iii,
202,
12-24):
Gần.
giống
C:
Anh
Vũ
Ma
Nạp
Đô
Đề
Tử
=
P:
Subha-mànava
Todeyyaputta.
Câu
hỏi
của
Subha
cũng
vậy,
nhưng
đặt
câu
hỏi
về
người
nghèo
và
giàu
trước
câu
hỏi
về
dòng
họ
hạ
liệt
và
cao
sang.
Câu
trả
lời
của
đức
Phật
hơi
khác:
"Kammassakà
sattà,
kammadàyàdà
kammayonì
kammabandhù
kammapatisaranà."
(Hữu
tình
là
chủ
nhân
của
nghiệp,
là
thừa
tự
của
nghiệp,
là
bào
thai
của
nghiệp,
là
quyến
thuộc
của
nghiệp,
có
nghiệp
làm
chỗ
nương
tựa).
Còn
lại
giống
nhau.
i)
Tại
sao
có
người
chết
yểu,
có
người
sống
lâu?
C:
(16b,
18-20):
Có
những
người
giết
hại
sinh
vật,
tàn
ác,
xấu
xa,
khát
máu,
có
những
tư
tưỏng
tác
hại,
không
thương
xót
hữu
tình,
cho
đến
loài
sâu
bọ,
sau
khi
đã
hoàn
tất
những
nghiệp
này,
khi
chúng
chết,
chúng
sẽ
tái
sinh
vào
địa
ngục,
khi
được
tái
sinh
làm
người,
chúng
sẽ
chết
yểu,
bởi
vì
đường
lối
như
trên
đưa
đến
chết
yểu,
những
hành
nghiệp
như
trên
cho
hậu
quả
như
vậy.
Có
những
người
từ
bỏ
sát
sinh,
không
sát
sinh,
bỏ
dao,
bỏ
gậy,
có
tàm
quý,
có
thương
xót
tất
cả
hữu
tình
cho
đến
loài
sâu
bọ.
Sau
khi
nhận
những
nghiệp
này
một
cách
trọn
vẹn,
khi
chết
họ
được
tái
sinh
vào
cảnh
giới
sung
sướng,
ở
cõi
trời.
Khi
tái
sinh
làm
người,
họ
sẽ
sống
lâu.
Vì
con
đường
như
trên
đưa
đến
sống
lâu,
những
nghiệp
như
trên
đem
lại
hậu
quả
ấy.
P:
(203,
16-34):
Cũng
vậy
với
vài
dị
biệt
nhỏ
về
cách
sử
dụng
từ
ngữ.
C:
hết
sức
xấu
xa,
có
tư
tưởng
tác
hại
=
P:
hatapahate
nivittho
(cố
ý
đả
thương
và
giết
hại).
C:
sau
khi
nhận
những
hành
vi
ấy
một
cách
toàn
vẹn
=
P
:
so
tena
kammena
evam
samattena
evam
samàdinnena
(vì
nghiệp
ấy
đã
được
làm
và
hoàn
tất
một
cách
quyết
định).
C:
họ
sẽ
được
sinh
vào
địa
ngục
=
P:
họ
sẽ
được
tái
sinh
vào
cõi
dữ
,
ác
thú,
đọa
xứ,
địa
ngục.
ii)
Tại
sao
có
người
nhiều
bịnh
có
người
ít
bịnh?
C:
(17a,
3-7):
Cách
giải
thích
cũng
như
vậy,
chỉ
khác
về
các
hành
động.
Ở
đây,
những
người
làm
hại
hữu
tình
bằng
tay,
hoặc
bằng
que
củi,
bằng
đá,
dao
hay
gậy;
những
hành
động
ấy
sẽ
đưa
đến
nhiều
bệnh.
Trường
hợp
ít
bệnh
là
ngược
lại.