PHÁT KHỞI
BỒ TÁT THÙ THẮNG CHÍ NHẠO
KINH LƯỢC
GIẢNG
(Nguyên văn: Phát Khởi Bồ
Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký)
Chủ giảng: Hoà
Thượng Thích Tịnh Không
Cư Sĩ Truyền Tịnh
Chỉnh Lý
Chuyển Ngữ: Bửu
Quang Tự đệ tử Như Hoà
---o0o---
IV.
LƯỢC GIẢI KINH VĂN
B.
CHÁNH TÔNG PHẦN
Hai bài kệ
cuối cùng là đức Thế Tôn phó chúc chúng ta: Nếu chúng ta có chí hướng liễu
sanh tử, xuất tam giới, nhất là niệm Phật vãng sanh bất thoái thành Phật,
tức là hướng đến Đại Bồ Đề, thì nhất định phải biết những lỗi lầm của ngủ
nghê, phải biết bớt ngủ, phải nỗ lực tinh tấn, chúng ta mới hòng thành
tựu.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát nhi bạch Phật ngôn:
- Hy
hữu Thế Tôn! Nhạo trước thùy miên nãi hữu như thị vô lượng quá thất. Nhược
hữu văn giả, bất sanh ưu hối, yểm ly chi tâm, phát khởi tinh tấn, đương
tri thị nhân, thậm đại ngu si.
(Lúc bấy
giờ, Di Lặc Bồ Tát bèn bạch Phật rằng:
- Hy hữu
thay đức Thế Tôn! Tham đắm ngủ nghỉ bèn có vô lượng lỗi lầm như thế. Nếu
kẻ nào nghe thấy, chẳng sanh tâm buồn hối, chán lìa, phát khởi tinh tấn,
nên biết kẻ ấy hết sức ngu si)
Đoạn cuối
cùng là Di Lặc Bồ Tát từ bi vô cùng, Ngài nghe đức Phật răn dạy xong, bèn
vì chúng ta tổng kết. Mỗi chữ, mỗi câu trong đoạn này đều là lời khuyến
khích, cảnh tỉnh chúng ta, chúng ta phải thể hội. Đúng như đức Thế Tôn vừa
nói, tham chấp ngủ nghỉ lỗi hại rất nhiều, Phật nói có hai mươi thứ, chẳng
qua là nói đại lược đó thôi, trên thực tế nói không cùng tận. Chúng ta
nghe đức Phật nói xong, phải nên hối lỗi, phải nên sám hối. Sám hối như
thế nào? Nhất định phải vận dụng tinh thần khắc phục con ma ngủ, phát khởi
tinh tấn mới là chân chánh sám hối. Nếu chẳng làm được như vậy thì đúng
như Bồ Tát Di Lặc nói: Con người như thế hết sức ngu si, kẻ ấy nghe Phật
dạy rồi vẫn chẳng đổi lỗi, hồi đầu!
Chánh
kinh:
Nhược
hữu Bồ Tát vị dục chí cầu A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề giả, văn thuyết
như thị chân thật cú nghĩa, công đức lợi ích, ư chư thiện pháp, nhi sanh
giải đãi, bất khởi tinh tấn, trụ Bồ Đề phần, vô hữu thị xứ!
(Nếu có Bồ
Tát có chí mong cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nghe nói cú nghĩa
chân thật, công đức lợi ích như thế mà đối với các thiện pháp bèn sanh
giải đãi, chẳng khởi tinh tấn, trụ Bồ Đề phần thì chẳng có lẽ ấy)
Lời tổng kết
của Di Lặc Bồ Tát gồm hai đoạn, đoạn trước nói tất cả những ai nghe lời
Phật dạy đều phải nên giác ngộ, sám hối, sửa lỗi. Còn nếu là Bồ Tát thì
khác với những người bình thường, chí hướng của Bồ Tát là thành Phật. Học
Phật nhằm mục đích gì? Học Phật nhất định là phải để thành Phật. Hiện tại
các đồng tu học Phật rất đông, nhưng những người có chí khí như thế chẳng
mấy. Tôi học Phật đã hơn bốn mươi năm rồi, trước giờ chưa thấy có một vị
nào, hoặc nghe nói có một vị đồng tu nào nói mình mong thành Phật cả; quý
vị mới thấy là những người ấy chưa đủ tư cách làm Bồ Tát. Đã là Bồ Tát thì
mục đích phải là thành Phật. Lúc trẻ, tôi đọc Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục
Tổ, đọc đến những câu đối đáp khi Lục Tổ gặp Ngũ Tổ, tôi bội phục, năm vóc
gieo xuống đất.
Ngũ Tổ hỏi: -
Huệ Năng! Ngươi đến đây rốt cuộc là vì lẽ gì?
Lục Tổ đáp
rất hay: - Con đến làm Phật.
Thật là tuyệt
vời! Đủ thấy chí thú Ngài bất phàm. “Làm Phật” là cầu A-nậu-đa-la
Tam-miệu Tam-bồ-đề, từ ngữ này là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Tàu là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là cầu làm Phật. Người chân chánh mong
thành Phật, nghe đến lời Phật khai thị, mỗi chữ mỗi câu đều là “cú
nghĩa chân thật” (lời răn dạy chân thật), “công đức lợi ích”,
mà đối với các thiện pháp sanh lòng giải đãi, vẫn chẳng tinh tấn, tâm
chẳng an trụ nơi đạo được chăng? (Bồ Đề tức là Đạo, cũng là thanh tịnh
tâm, giác tâm).
Do đây biết
rằng: Chúng ta nghe xong chẳng chú ý mấy, nghe ở giảng đường xong, có
chuyện gì đó bận tâm, vừa xuống khỏi lầu bèn quên sạch sành sanh, như thế
chẳng phải là Bồ Tát, Bồ Tát chẳng giống thế, Bồ Tát nghe xong liền có tác
dụng. Hãy tự kiểm điểm xem mình có khởi tác dụng hay là không?
8.7. Sơ
nghiệp Bồ Tát nên quán sát rộng lo các việc có hai mươi lỗi lớn
8.7.a.
Trường hàng
Đoạn kinh văn
tiếp theo đây nói đến những lỗi lầm người hiện thời chúng ta thường phạm.
Dù phạm lỗi, vẫn chẳng tự biết lỗi mình, cứ tưởng mình công đức rất lớn.
Thật ra, trong sanh hoạt tu trì thường nhật, phàm phu phạm đủ thứ lỗi,
nhưng đều tưởng là công đức, đều tưởng mình ghê gớm lắm; chẳng hạn như
chuyện tham ngủ. Cổ đức nói: “Cơ lai ngật phạn, khổn lai miên” (Đói
thì ăn cơm, mệt bèn ngủ). Ngủ như thế chẳng bình thường đâu, phải là bậc
đại tu hành.
Quý vị tu học
bằng công phu nào? Người ta nói: “Đói thì ăn cơm, mệt thì ngủ” là
cách dụng công của họ, quý vị học theo cách dụng công đó thì vô lượng lầm
lỗi đã nói ở phần trên, quý vị sẽ có đủ cả! Nhưng lời tổ sư nói đến cách
dụng công của bậc đại tu hành đó có lầm lạc, lỗi hại hay là không? Chẳng
có! Các ngài bụng đói bèn ăn, mệt bèn ngủ thì được, chúng ta không được!
Vì sao vậy? Các vị ấy sanh tử đã xong.
Nói cách
khác, các Ngài đã đoạn phiền não, đã liễu sanh tử, không còn sự gì phải
hoàn thành nữa. Chúng ta chưa đoạn phiền não, vọng niệm rất nhiều, sanh tử
đại sự chưa hoàn thành, sao an tâm ngủ cho được? Bởi thế, lời Phật, Bồ
Tát, tổ sư nói, nhất định chớ hiểu lầm, Ngài nói câu ấy với hạng người
nào, nói trong hoàn cảnh nào, chúng ta phải hiểu rõ. Có câu chúng ta học
theo được, có câu chẳng thể học! Học theo là hỏng, vì chẳng phải là cảnh
giới của mình.
Phần trước
tôi có nói qua sơ nghiệp Bồ Tát và huệ hạnh Bồ Tát cách thức tu hành không
giống nhau. Huệ hạnh Bồ Tát là Pháp Thân đại sĩ, Kiến Tư phiền não, Trần
Sa phiền não đoạn xong rồi, tối thiểu là phá được một phẩm vô minh, cho
nên cách thức tu hành của các Ngài chẳng giống với hàng sơ học chúng ta.
Bọn sơ học chúng ta phải theo quy củ, bởi lẽ cảnh giới của các Ngài chẳng
thể nghĩ bàn, chẳng phải là cảnh giới của phàm phu, Tiểu Thừa, Quyền giáo
Bồ Tát, nên ta chẳng học theo được. Trong đoạn này cũng vậy, chúng ta phải
chú tâm thể hội.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:
- Thế
Tôn! Vân hà danh vi chúng vụ trung quá, nhược quán sát thời, linh chư Bồ
Tát bất doanh chúng vụ, cần tu Phật đạo?
(Lúc bấy
giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:
- Bạch đức
Thế Tôn! Thế nào gọi là lỗi của các việc, nếu lúc quán sát sẽ khiến cho Bồ
Tát chẳng lo liệu các việc, chăm tu Phật đạo?)
Đây là lời Di
Lặc Bồ Tát hỏi. Thế nào là “chúng vụ trung quá?” Chúng là rất
nhiều, Vụ là sự vụ; rất nhiều sự vụ. “Doanh” là kinh doanh, tạo
tác. Quý vị kinh doanh, tạo tác rất nhiều sự vụ, gây trở ngại rất lớn cho
sự tu hành, ở đây cũng gồm hai mươi lầm lỗi. Trong câu “nếu lúc quán
sát”, “quán sát” nghĩa là quý vị minh bạch, giác ngộ, biết rõ các sự
việc là chướng đạo, là điều người tu hành chẳng nên làm, “khiến cho các
Bồ Tát chẳng lo liệu các việc”: chẳng còn kinh doanh tạo tác những
việc ấy nữa.
Những sự việc
ấy chẳng mảy may liên quan chi đến liễu sanh tử, xuất tam giới. Bởi thế,
Phật dạy chúng ta phải “siêng tu Phật đạo”. Phật đạo là đạo Chánh
Giác, Đại Giác, giác ngộ triệt để rốt ráo vũ trụ nhân sanh nên gọi là Phật
đạo. Chẳng những Di Lặc Bồ Tát vì chúng ta khải thỉnh, mà Ngài còn nói rõ
mục đích khải thỉnh: “Khiến cho các Bồ Tát chẳng lo liệu các việc,
siêng tu Phật đạo”. Tiếp theo đây là lời đức Thế Tôn khai thị.
Chánh
kinh:
Phật
ngôn:
- Di
Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát ưng đương quán sát nhạo doanh chúng vụ nhị thập
chủng quá.
(Phật nói:
- Này Di
Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát nên quán sát hai mươi lỗi lầm của chuyện thích lo
liệu các việc)
Quý vị xem
những câu đức Thế Tôn đáp lời, câu thứ nhất là “sơ nghiệp Bồ Tát”.
Sơ nghiệp Bồ Tát là bọn chúng ta, phiền não chưa đoạn, sanh tử chưa liễu,
đã thọ Bồ Tát giới, đã là Bồ Tát, Bồ Tát được nói ở đây là sơ nghiệp Bồ
Tát, phàm phu Bồ Tát. Câu này rất trọng yếu! Bởi lẽ, quý vị đồng tu nếu
chú tâm đọc tụng các kinh điển nhà Phật, trước thuật của các tổ sư đại đức
thời cổ, quý vị sẽ thấy rõ: Xưa kia, trong các tự viện, từ trụ trì, đương
gia cho đến những người làm các sự vụ, tạp vụ trong các tự viện đều chẳng
phải là phàm phu đâu nghe! Họ toàn là chư Phật, Bồ Tát tái lai. Phật, Bồ
Tát đại từ đại bi thấy quý vị chân chánh phát tâm, muốn dụng công tu học,
các ngài hóa thân đến làm những sự việc để hộ trì quý vị.
Chúng tôi đọc
trong Cao Tăng Truyện, thấy vào năm đầu đời Đường, Trí Giả Đại Sư ở núi
Thiên Thai lúc vãng sanh, đồ đệ hỏi phẩm vị vãng sanh của Ngài; lão nhân
gia nói: Nhân vì làm trụ trì, phải quản sự, quản chúng, chuyện gì cũng
phải trông coi, đương nhiên sự tu hành của bản thân bị ảnh hưởng, chướng
ngại, nên Ngài chỉ vãng sanh trong địa vị Ngũ Phẩm. Địa vị Ngũ Phẩm là đới
nghiệp vãng sanh Phàm Thánh Đồng Cư Độ, địa vị này rất thấp, chẳng cao.
Nếu Ngài chẳng phải lãnh chúng, chẳng quản trị đồ chúng, chẳng trông nom
sự vụ, ắt phẩm vị sẽ cao.
Chuyện này
cho thấy Ngài hy sinh phẩm vị để hỗ trợ hàng sơ học, nhưng sự hy sinh ấy
có giới hạn, giới hạn gì? Quyết định vãng sanh. Ta vãng sanh trong Hạ Hạ
Phẩm là được rồi, cốt sao được vãng sanh, giới hạn là đó. Nếu vì phục vụ
đại chúng, tự mình chẳng được vãng sanh, đời sau vẫn luân hồi trong lục
đạo, thậm chí đọa tam ác đạo, là lầm lạc quá rồi, đấy tuyệt đối chẳng phải
là ý của Phật, Bồ Tát.
Địa Tạng Bồ
Tát nói: “Ta chẳng vào địa ngục, ai vào địa ngục?” Chúng ta có vào
địa ngục được không? Chúng ta vào địa ngục chẳng được đâu! Các vị phải đạt
địa vị như Địa Tạng Bồ Tát mới có thể nói: “Ta chẳng vào địa ngục, ai
vào địa ngục?” Phải biết Địa Tạng Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ Tát, chẳng
phải là Bồ Tát bình phàm. Nếu nói theo khái niệm sơ học Bồ Tát và huệ hạnh
Bồ Tát trong kinh này thì Địa Tạng Bồ Tát là huệ hạnh Bồ Tát, chúng ta là
sơ học Bồ Tát chẳng thể học đòi Ngài nổi.
Sơ học Bồ Tát
cứ chắc thật niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới gặp đức Phật A Di Đà, trí huệ, thần thông, đạo lực
của quý vị đều khôi phục cả, chẳng khác với đức Phật mấy, quý vị mới học
theo huệ hạnh Bồ Tát được, quý vị lo liệu các việc chẳng sợ, chẳng chướng
ngại. Đấy là nói về Phật, Bồ Tát.
Chúng ta biết
Trí Giả đại sư là Thích Ca Mâu Ni Phật hóa thân, Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư
là Phật A Di Đà hóa thân, hóa thân lần này mang thân phận làm trụ trì lãnh
chúng. Còn có vị làm những tạp vụ, việc gì các Ngài cũng làm, đủ thấy cái
tâm bình đẳng, chẳng hề chọn lựa, phân biệt. Hàn Sơn, Thập Đắc là Văn Thù,
Phổ Hiền, hai vị làm tạp vụ trong nhà bếp, ở trong bếp lo nổi lửa, gánh
nước. Lại còn Phong Can hòa thượng làm tạp vụ, giã gạo trong nhà bếp, hầu
hạ đại chúng. Phong Can là A Di Đà Phật. Di Đà, Văn Thù, Phổ Hiền làm tạp
vụ để cúng dường đại chúng đó nghe, vì sao vậy? Là để lo liệu các việc.
Quý vị nghĩ
xem: thời cổ, trong các đạo tràng ấy có người chân chánh tu hành nên Phật,
Bồ Tát đến hầu hạ, chiếu cố. Bởi thế, với bất cứ hạng người nào trong cửa
Phật, chúng ta đều phải đối đãi bằng tâm cung kính nhất, bởi chẳng hiểu
thân phận họ thế nào. Quý vị chẳng được nói vì kẻ ấy lo quét dọn, sắp chén
trà, tiếp đãi khách bèn coi thường, biết đâu kẻ ấy là Phật A Di Đà thì
sao? Quý vị phàm phu mắt thịt nhìn chẳng ra đâu! Chúng ta phải dùng tâm
bình đẳng, tâm chân thành để đối đãi hết thảy mọi người.
Vậy thì phải
tu chân thành, thanh tịnh, bình đẳng ở nơi đâu? Cửa Phật là chỗ tu học tốt
nhất. Bởi lẽ, chúng ta biết trên trên dưới dưới có chư Phật, Bồ Tát, A La
Hán hỗn tạp trong ấy, quý vị chẳng nhận biết, cũng chẳng hiểu họ là thân
phận gì, nên tốt nhất là cứ nhất luật bình đẳng cung kính mới khỏi sai
lầm, mới thật sự tu phước. Nếu quý vị có tâm phân biệt, chẳng những công
đức quý vị chẳng tu được mà phước đức cũng chẳng tu được. Bởi thế, mới nói
sơ nghiệp Bồ Tát “phải nên quán sát” ưa thích (“nhạo” là yêu
mến, ưa thích) làm đủ mọi việc tạp nhạp, sẽ có hai mươi lỗi lầm. Nội dung
bốn chữ “nhạo doanh chúng vụ” có phạm vi vô cùng rộng.
Chánh
kinh:
Nhược
quán sát thời, năng linh Bồ Tát bất doanh chúng vụ, cần tu Phật đạo.
(Nếu lúc
quán sát có thể khiến cho Bồ Tát chẳng lo liệu các việc, siêng tu Phật
đạo)
Đây là lời
đáp chính cho câu hỏi của Di Lặc Bồ Tát. Mục đích câu hỏi của Di Lặc Bồ
Tát là đây: Nếu những kẻ ấy quán sát, hiểu rõ lầm lỗi của các việc, họ sẽ
tự nhiên lìa bỏ, chuyên tâm tu đạo.
Chánh
kinh:
Di Lặc!
Vân hà danh vi nhị thập chủng quá?
(Này Di
Lặc! Thế nào gọi là hai mươi thứ lỗi?)
Đoạn kinh văn
này chúng ta hãy nên chú tâm suy nghĩ, chú tâm thể hội, mới hiểu được ý
Phật ở đâu. Lại phải nên lắng lòng phản tỉnh, mình có những bệnh ấy hay
chăng? Có những tập khí ấy chăng? Điều này vô cùng trọng yếu.
Chánh
kinh:
Nhất
giả, đam trước thế gian hạ liệt chi nghiệp.
(Một là
đắm chấp nghiệp hèn kém thế gian)
“Nghiệp”
là sự nghiệp, sự nghiệp thế gian. Sự nghiệp thế gian rất nhiều, rất rộng.
Chẳng riêng gì Bồ Tát tại gia đắm chấp sự nghiệp thế gian, xuất gia Bồ Tát
cũng thường bị phiền não tập khí che đậy, nên cũng tham nhiễm sự nghiệp
thế gian. Trước hết, phải hiểu thế gian là gì? Thế gian là lục đạo. Quý vị
kinh doanh, tạo tác các sự nghiệp chẳng thể thoát khỏi lục đạo luân hồi,
thì những sự nghiệp ấy là sự nghiệp thế gian.
Quý vị tu
thiện, tích đức, tu phước, đời sau sẽ làm Đại Phạm Thiên Vương, là người
mà bất cứ vua chúa nào trong thế giới này đều chẳng hơn được, thì sai quá
xá rồi! Quý vị làm Đại Phạm Thiên Vương thì vẫn là sự nghiệp thế gian. Bây
giờ quý vị mới hiểu phạm vi của sự nghiệp thế gian rất rộng. “Sự nghiệp
hèn kém” là sự nghiệp chẳng tốt lành. “Hèn kém” là gì? Là tam
ác đạo trong lục đạo. Quý vị kinh doanh, tạo tác những sự gì? Là sự nghiệp
ngạ quỷ đạo, là sự nghiệp súc sanh đạo, là sự nghiệp địa ngục đạo; đó gọi
là “nghiệp hèn kém”. Nghĩa là sao? Phần trên tôi đã nói rất nhiều
lần, mọi người phải chú tâm thể hội. Điều chính yếu là phàm những gì tăng
trưởng tham, sân, si, mạn, ghen ghét đều là nghiệp hèn kém; phàm những sự
nghiệp nào giảm thiểu tham, sân, si, mạn đều là Phật sự.
Chư vị phải
nhớ kỹ: Phật sự nhất định phải giúp người đoạn phiền não, mở mang trí huệ,
được thanh tịnh tự tại. Nếu tương phản những điều ấy, nó chẳng phải là sự
nghiệp Phật mà đúng là sự nghiệp hèn kém. Bởi thế, đây là một điều chúng
ta phải lắng lòng phản tỉnh.
Chánh
kinh:
Nhị
giả, vị chư độc tụng tu hành tỳ-kheo chi sở khinh tiện.
(Hai là bị
các tỳ-kheo đọc tụng, tu hành khinh rẻ)
“Khinh
rẻ”: đại khái, những ai chân chánh tu đạo, chân chánh dụng công họ
chẳng làm phiền quý vị, chẳng kể tội quý vị. Vậy thì khinh rẻ ra sao? Họ
kiềng mặt quý vị. Đó là khinh rẻ đấy. Trong Giới kinh, đức Phật dạy đệ tử:
“Mặc tẫn”. Mặc tẫn nói như cổ nhân Trung Quốc là “kính nhi viễn
chi”. Tôi đối với ngài rất tôn kính, nhưng tôi tránh xa ngài, khinh rẻ
nghĩa là như thế đấy.
Chánh
kinh:
Tam
giả, diệc vị cần tu thiền định tỳ-kheo chi sở ha trách.
(Ba là
cũng bị tỳ-kheo siêng tu thiền định quở trách)
“Quở
trách” cũng là “kính nhi viễn chi, mặc tẫn”, trọn chẳng phải là họ đến
gặp quý vị, giáo huấn một chập, chửi cho một trận, chẳng hề có đạo lý ấy
đâu. Tỳ-kheo siêng tu thiền định là người tu hành công phu cao hơn hạng
trước, người nói trong đoạn trên là sơ học, thật sự có y giáo tu hành.
Người nói trong phần này là người có công phu tương đương, cũng là người
đã đắc thiền định, còn người ở phần trên chưa đắc thiền định.
Nếu nói theo
người niệm Phật chúng ta, thì người “đọc tụng tu hành” trong điều
thứ hai là người “công phu thành phiến”, người “siêng tu thiền
định” trong điều thứ ba là người đạt “nhất tâm bất loạn”, công
phu ấy rất sâu. Bọn họ đối với quý vị đều kính nhi viễn chi.
Chánh
kinh:
Tứ giả,
tâm thường phát khởi vô thỉ sanh tử, lưu chuyển chi nghiệp.
(Bốn là
tâm thường phát khởi nghiệp lưu chuyển sanh tử vô thỉ)
Đây là điều
nhất định chẳng tránh khỏi được. Trong tâm kẻ ấy thường nghĩ đến những
chuyện mình đang kinh doanh, những sự nghiệp ấy toàn là sự nghiệp luân hồi
lục đạo, cho nên nói tâm họ “thường phát khởi”, tức là sanh khởi,
“vô thỉ sanh tử” tức là tập khí. Trong có tập khí, ngoài có hoàn
cảnh, lại chẳng phải là hoàn cảnh tốt mà là ác cảnh, là cảnh giới chướng
đạo! Bởi thế vẫn y như cũ tạo tác sự nghiệp lưu chuyển sanh tử, luân hồi
lục đạo chẳng dứt.
Chánh
kinh:
Ngũ
giả, hư thực cư sĩ cập bà-la-môn tịnh tâm tín thí.
(Năm là
luống ăn đồ tịnh tâm tín thí của cư sĩ và bà-la-môn)
Đây là nói về
người xuất gia. Xuất gia buông bỏ hết thảy sự nghiệp kiếm sống của thế
gian; người thế gian vì cần phải nuôi gia đình, nuôi chính mình nên phải
làm những việc kiếm lời, gọi là “sự nghiệp mưu sinh”. Xuất gia rồi, buông
bỏ hết thảy những sự nghiệp ấy, quý vị chẳng cần phải mưu sinh, tiếp nhận
tín đồ cúng dường. Họ cung kính, cúng dường quý vị nhằm mục đích gì? Là vì
người xuất gia là phước điền, họ đến gieo phước nơi đấy.
Chúng ta phải
tự hỏi: Mình có phải là phước điền hay chăng? Nếu chẳng phải là phước
điền, những người ấy đến gieo phước, tương lai dài lâu mà chẳng có kết quả
thì sẽ như thế nào đây? Vấn đề rất nghiêm trọng. Bởi thế, nhà Phật thường
nói:
Thí chủ
nhất lạp mễ,
Đại như
Tu-di sơn,
Kim sanh
bất liễu đạo,
Phi mao
đới giác hoàn
(Một hạt
gạo thí chủ,
To như núi
Tu Di,
Đời này
chẳng liễu đạo,
Mang lông
đội sừng đền)
Phải làm sao
thì thí chủ mới được phước? Quý vị phải tự tu hành chứng quả, họ mới được
phước. Nếu quý vị tu hành chẳng chứng quả, đời sau vẫn luân hồi lục đạo là
phạm lỗi rồi, tương lai phải trả nợ. Người cúng dường quý vị trong hiện
tại toàn là chủ nợ, tương lai đời đời kiếp kiếp phải đền bồi. Quý vị nhận
cúng dường càng nhiều, thời gian trả nợ càng dài, thật đấy, chẳng phải giả
đâu. Tổ sư đại đức chẳng dọa chúng ta đâu, câu nào cũng là lời thật.
Bởi thế,
chúng ta phải tự hiểu rõ, cẩn thận. Đồ cúng dường của thí chủ, xưa gọi là
tứ sự: thức ăn, quần áo, đồ nằm, thuốc men lúc bệnh tật, phải giảm mức vật
chất sanh hoạt xuống đến thấp nhất mới có thể tiếp nhận ngõ hầu nhất tâm
tu đạo, quyết định chẳng để dư nhiều. Có dư nhiều là tội lỗi. Có dư nhiều
dễ tăng trưởng tâm tham, đạo nghiệp chẳng thành tựu. Hiện thời chúng ta
nói mình tu Đạo Dễ Hành thì phải thật sự được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, nếu không vẫn là “mang lông đội sừng đền”.
Chúng ta đã
hiểu rõ chân tướng sự thật, đã có tâm cảnh giác thì bạn đồng tu cúng dường
mình, cơm áo vừa đủ là được rồi, những thứ dư ra mình đem in kinh, làm
băng video, làm băng cassette, CD, tặng cho các đồng tu học Phật trong các
đạo tràng trên thế giới để kết duyên cùng họ, dù cho chúng ta “chẳng
liễu đạo”, những người ấy cũng phải thay ta đền nợ.
Trước hết,
phải hiểu rõ điều này: Bởi lẽ quý vị ai cũng có phần, của cúng dường đều
chia cho quý vị, tương lai lúc phải tính sổ, quý vị phải thay tôi bồi
hoàn. Cố nhiên mình phải dụng công, nhưng phải nghĩ: Vạn nhất lỡ mình
chẳng được vãng sanh thì sao? Phải tính trước đường sau cho vẹn toàn chứ!
Ắt phải làm chuyện thật sự lợi ích chúng sanh, giúp đỡ chúng sanh giác
ngộ, phá mê khai ngộ, đó là lợi ích chân thật. Bởi thế, ý nghĩa của điều
lỗi thứ năm “luống ăn đồ tịnh tâm tín thí của cư sĩ và bà-la-môn”
này rất sâu, “tín thí” là cúng dường đấy!
Chánh
kinh:
Lục
giả, ư chư tài vật, tâm hoài thủ trước.
(Sáu là
đối với tài vật, ôm lòng chấp lấy)
Hiện tại
chúng ta còn có tập khí này chăng? Đối với tài vật tâm đã bất động chưa?
Vẫn còn có tâm tham hay không? Phải đoạn trừ đi! Những thứ ấy đều là giả,
đều chẳng phải là chân thật, quyết định có hại. Thật sự là trăm hại không
có lấy một điều lợi nào cả! Quý vị cần những thứ ấy để làm gì? Chư Phật,
Bồ Tát dạy chúng ta: tùy duyên nhưng chẳng phan duyên, hễ có ý niệm ấy bèn
là tâm phan duyên, sao không chướng đạo cho được!
Đạo là gì?
Tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chân thành, quyết định bị chướng ngại.
Chư vị nhất định phải hiểu: điều kiện để vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới là tâm thanh tịnh, chứ chẳng phải là niệm Phật bao nhiêu đó sẽ vãng
sanh, chẳng có chuyện đó đâu!
Cổ đức thường
nói: Mỗi ngày quý vị niệm Phật mười vạn tiếng, rách hầu toạc họng cũng
uổng công. Là vì sao? Chẳng thể vãng sanh. Niệm Phật là thủ đoạn, là
phương pháp, mục đích nhắm vào đâu? Tâm thanh tịnh. Hễ vọng niệm khởi lên,
một câu A Di Đà Phật đè vọng niệm xuống, dùng phương pháp ấy để tâm mình
được thanh tịnh, tâm tịnh thời quốc độ tịnh. Bởi thế, nếu quý vị có mảy
may ý niệm chấp trước, tham keo nào, tâm quý vị chẳng thanh tịnh; chẳng
thể không biết điều này. Người niệm Phật rất nhiều, người vãng sanh chẳng
nhiều. Vấn đề là đây.
Chánh
kinh:
Thất
giả, thường nhạo quảng doanh thế gian sự vụ.
(Bảy là
thường thích rộng làm sự vụ thế gian)
Ưa thích làm
các việc, ngày ngày động cân não, vẫn mong khuếch đại sự nghiệp, người thế
gian có ý niệm như thế đã lầm rất to, người xuất gia có ý niệm ấy càng lầm
hơn nữa. Chẳng hạn như lập đạo tràng. Cổ nhân dựng đạo tràng là chiếu theo
nhu cầu thực tế, có bao nhiêu người cần phải dựng đạo tràng theo bấy
nhiêu, cách kiến lập như thế; chẳng phải là dựng sẵn một đạo tràng lớn rồi
mới chiêu dụ người, chẳng có việc như thế đâu!
Quý vị xem
các tùng lâm, tự viện hưng khởi trước kia, xem trong sơn chí, xem trong
lịch sử, thoạt đầu vị khai sơn tổ sư dựng một cái chòi tranh để tu đạo,
Ngài có đạo hạnh, rất nhiều ngưỡng mộ, theo Ngài tu học, người dần dần
càng đông, đông hơn nên phải che thêm một gian bên cạnh, đông hơn nữa lại
phải che thêm một gian. Bởi thế, tùng lâm phải qua mấy chục năm, một hai
trăm năm mới hình thành, do nhu cầu mới dựng; vậy mới là đúng. Chẳng phải
là cất cho to, đi các nơi kiếm người, kiếm người chẳng thích hợp, ngày
ngày cự lộn, gấu ó là lầm mất rồi.
Hiện thời các
việc trong nhà Phật chẳng giống với khi trước, quý vị phải lắng lòng chú
tâm quán sát, trước kia như pháp, nay xuất hiện những chuyện chẳng như
pháp, đó là điều chúng ta phải phản tỉnh. Đặc biệt là hiện thời khoa học
kỹ thuật phát đạt, chẳng cần phải dựng đạo tràng to, thời đại đạo tràng to
sẽ bị đào thải theo năm tháng, không còn có tác dụng nữa.
Đạo tràng
ngày nay là gì? Mạng lưới quốc tế là đạo tràng hiện tại của chúng ta.
Chúng ta cần một nơi rất lớn thì căn nhà này đã rất lớn rồi, chúng tôi
giảng kinh ở đây, thâu hình ở đây, thâu hình xong gởi lên mạng lưới quốc
tế, toàn thế giới chỉ cần có computer nối vào mạng là hình ảnh xuất hiện
liền. Tôi tin là mười năm sau laptop chỉ lớn bằng một cuốn sách, mỗi cá
nhân đều cầm theo, ở bất cứ nơi đâu, chỉ cần tiếp nhận được tín hiệu, thì
nơi đó hoạt động giảng kinh sẽ ở ngay trước mặt, nào cần phải đến đây nghe
kinh, chen chúc mướt mồ hôi nữa! Chọn nơi phong cảnh đẹp đẽ, mở computer
lên, hưởng thọ tiêu dao tự tại!
Bởi thế, Phật
pháp phải vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật hàng đầu, chẳng cần
phải tốn sức nhiều như trước nữa, tiêu tiền oan uổng nữa. Tiền [xây cất
đạo tràng] đó là gì? Là chôn xuống đất, biến thành tiền chết, chẳng cử
động được. Có ích cho mấy chúng sanh? Người học Phật hiện thời phải hiểu
điều này vậy.
Chánh
kinh:
Bát
giả, niệm kỳ gia nghiệp, thường hoài ưu thán.
(Tám là
nghĩ đến gia nghiệp, thường ôm lòng lo lắng, than thở)
Ưa thích kinh
doanh sự nghiệp, thường phải ưu lự làm cách nào để khuếch trương sự
nghiệp. Nói thật ra, bọn họ tiền dùng chẳng hết, vẫn cứ muốn mưu lợi, ý
niệm ấy rất lầm, đó là tăng trưởng tham, sân, si, mạn.
Chánh
kinh:
Cửu
giả, kỳ tánh lang lệ, phát ngôn thô quánh.
(Chín là
tánh tình hung tàn, nói năng thô ác)
Người địa vị
cao, hay người phú quý, nhân vì họ có tiền của, có địa vị trong xã hội
hiện tại bèn cảm thấy đáng nên kiêu ngạo. Có mấy ai thân phận, địa vị
tương đương với mình đâu! Kẻ chẳng ngang vai vế chẳng buồn để vào mắt, đãi
người tiếp vật thường khinh mạn. Ở đây kinh nói ngôn từ, hành vi, thái độ
của họ là “hung tàn, thô ác”, chính họ cũng chẳng biết.
Chánh
kinh:
Thập
giả, tâm thường hoài niệm cần tu gia nghiệp.
(Mười là
tâm luôn mong tưởng siêng lo gia nghiệp)
Tâm họ luôn
nghĩ đến gia nghiệp, chẳng hề nghĩ đến đạo, chẳng hề nghĩ đến chúng sanh,
chỉ nghĩ đến gia nghiệp của chính mình, tiểu đoàn thể của chính mình. Đó
là tăng trưởng chấp ngã, tăng trưởng chấp pháp. Phật pháp phá hai chấp, họ
lại ngày càng tăng trưởng hai chấp.
Chánh
kinh:
Thập
nhất giả, ái trước chư vị, tăng trưởng tham dục.
(Mười một
là yêu chấp các vị, tăng trưởng tham dục)
Chữ “vị”
ở đây chẳng phải chỉ về thức ăn. Nói theo nghĩa rộng, tức là sự hưởng thọ
vật chất, hưởng thọ tinh thần trong hiện tại, hết thảy mọi hưởng thọ đều
gồm trong hai chữ “chư vị”. “Tăng trưởng tham dục”: tăng trưởng
tham tâm, tăng trưởng dục vọng hưởng thọ.
Chánh
kinh:
Thập
nhị giả, vô lợi dưỡng xứ, bất sanh hoan hỷ.
(Mười hai
là, chỗ không lợi dưỡng chẳng sanh hoan hỷ)
Những chỗ nào
chẳng có lợi cho họ, những nơi nào họ chẳng đạt được danh văn, lợi dưỡng,
họ chẳng có hứng thú đâu, họ chẳng sanh tâm hoan hỷ đâu! Họ ở chỗ nào, chỗ
đó nhất định phải có thể đạt được danh văn, lợi dưỡng!
Chánh
kinh:
Thập
tam giả, đa sanh phiền não, chướng ngại chi nghiệp.
(Mười ba
là hay sanh nghiệp phiền não, chướng ngại)
“Chướng
ngại” là chướng đạo, chướng ngại quý vị tu đạo! Họ hay sanh phiền não,
đương nhiên chướng ngại tu đạo.
Chánh
kinh:
Thập tứ
giả, thường nhạo thân cận chư ưu-bà-tắc cập ưu-bà-di.
(Mười bốn
là thường thích thân cận Cận Sự Nam và Cận Sự Nữ)
Đây là nói về
Bồ Tát xuất gia, thích kinh doanh các việc nên bèn thích thân cận tín đồ
tại gia. Thường thân cận tín đồ tại gia, có giữ mối quan hệ thân thiết với
họ thì danh lợi mới hòng đạt được đấy mà! Nói theo cách bây giờ là dốc
sạch tâm cơ để lôi kéo tín đồ, đó là hạng Bồ Tát ngu si. Hiện tại trong
cửa Phật, hiện tượng này rất phổ biến, trong xã hội xưa kia chẳng hề có,
chúng ta chưa hề thấy. Một vị pháp sư già cả từng bảo tôi: Chỉ sau khi đến
Đài Loan họ mới biến đổi như thế.
Lúc tôi thọ
giới, hòa thượng truyền giới là Đạo Nguyên lão pháp sư, Ngài bảo tôi: Lúc
nhỏ, Ngài xuất gia ở một tự viện miền Bắc Trường Giang, nhân vì chùa miếu
nào thời đó cũng có tài sản, có đất cát, có núi non cho nông phu cấy rẽ,
tự viện chỉ thu tô nên có lương thực cố định. Bởi thế, chùa viện rất thanh
tịnh, chẳng cần đến tín đồ. Tín đồ đến chùa dâng hương, người xuất gia
trong chùa mắt nhìn xuống mũi, mũi cúi xuống ngực, khác nào chẳng thấy gì
hết, chẳng cần phải tiếp đãi. Ai sẽ tiếp đãi những tín đồ ấy? Chính là tri
khách sư. Vị tri khách có trách nhiệm tiếp đón tín đồ, người chẳng giữ
chức vụ ấy trông thấy tín đồ một câu cũng chẳng nói.
Quý vị xem
đạo tràng ấy rất thanh tịnh, rất trang nghiêm phải không? Chẳng như bây
giờ, một vị khách bên ngoài đến, từ trụ trì hòa thượng cho đến chúng
thường trụ đều xoay mòng mòng! Vì sao? Chỉ sợ đắc tội với tín đồ! Ấy là do
đạo tràng hiện thời chẳng có thâu nhập, chẳng có hằng sản, hoàn cảnh kinh
tế khác hẳn thời xưa. Xưa kia, tự viện tự có lương thực, tiền của, có thâu
nhập, chẳng cần đến tín đồ. Bây giờ tín đồ biến thành “y thực phụ mẫu”,
phải chịu lụy họ mới có, nên nào dám đắc tội! Nhưng thường qua lại với họ,
sẽ chẳng có đạo nghiệp, đúng như lời đức Phật dạy ở đây: đắm chấp nghiệp
thế gian hèn kém. Sự tình này rất phiền, bởi thế lẽ được mất, lợi hại
chúng ta phải suy nghĩ thật kỹ để biết nên làm như thế nào.
Chánh
kinh:
Thập
ngũ giả, đản niệm y thực, nhi độ trú dạ.
(Mười lăm
là chỉ nghĩ cơm áo cho qua ngày đêm)
Suốt ngày bôn
ba vì cơm áo, tạo phiền não, đủ thấy là việc tu đạo bị sự tình này đoạt
mất, chỉ làm qua quít, chứ chẳng tích cực thực hiện.
Chánh
kinh:
Thập
lục giả, sổ vấn thế gian sở tác sự nghiệp.
(Mười sáu
là thường hỏi những việc làm thế gian)
Mở miệng nói
năng, những chuyện thường bàn luận đều là chuyện thế gian.
Chánh
kinh:
Thập
thất giả, thường nhạo phát khởi phi pháp ngữ ngôn.
(Mười bảy
là thường thích thốt ra những lời phi pháp)
“Phi pháp”
là những ngôn luận trái nghịch chánh pháp. Tiếp xúc, trò chuyện với họ,
mười câu hết chín câu là ngôn luận thế gian.
Chánh
kinh:
Thập
bát giả, thị doanh chúng vụ, nhi khởi kiêu mạn.
(Mười tám
là cậy lo các việc, bèn khởi kiêu mạn)
“Thị”
là cậy vào. Cậy mình lo liệu rất nhiều việc, mình sự nghiệp thành công hơn
người khác bèn sanh tâm ngạo mạn, tỏ thái độ kiêu mạn, coi thường người
khác.
Chánh
kinh:
Thập
cửu giả, đản cầu nhân quá, bất tự quán sát.
(Mười chín
là chỉ tìm lỗi người, chẳng tự xét mình)
Tìm bới lỗi
người, chuyên môn thấy lỗi người khác, chẳng biết đến lỗi mình.
Chánh
kinh:
Nhị
thập giả, ư thuyết pháp giả, tâm hoài khinh tiện.
(Hai mươi
là đối với người thuyết pháp, ôm lòng khinh rẻ)
Đối với người
chân chánh thuyết pháp tu hành, họ xem thường, cho là chẳng có thành tựu
gì lớn lao, cậy mình kinh doanh sự nghiệp đúng cách.
Đức Phật vì
chúng ta nói ra hai mươi lỗi, chứ thật ra, ta phải hiểu đó chỉ là hai mươi
loại lỗi lớn, trong mỗi một lỗi chẳng biết là bao nhiêu lầm lỗi.
Chánh
kinh:
Di Lặc!
Thị vi Bồ Tát nhạo doanh chúng vụ nhị thập chủng quá.
(Di Lặc!
Đấy là hai mươi lỗi của Bồ Tát thích kinh doanh các việc)
8.7.b.
Trùng tụng
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Thế Tôn trùng thuyết kệ ngôn:
(Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn lại nói kệ rằng)
Đoạn kinh văn
này là lời khai thị rất trọng yếu, đối với người học Phật chúng ta hiện
thời, bất luận tại gia hay xuất gia, đều là thuốc đặc hiệu cứu mạng đấy
nhé! Bởi thế, sau mỗi phần trường hàng Phật đều có phần kệ tụng, ngoài
việc lập lại ý nghĩa của phần trường hàng, kệ tụng còn có phần bổ sung ý
nghĩa. Chúng ta chẳng thể đọc thuộc kinh thì kệ tụng rất tiện để đọc
thuộc, thời thời khắc khắc đề khởi công phu quán chiếu sẽ biết mình khởi
tâm động niệm, việc làm, hành vi có đúng pháp hay không.
Như trong
kinh Pháp Tượng, đức Phật dạy chúng ta nên làm điều gì, chẳng nên làm điều
gì. Phật dạy chúng ta nên làm điều gì, ta nên tích cực nỗ lực thực hiện;
Phật dạy chúng ta không nên làm điều gì, ta chẳng làm, đó là như pháp.
Phật dạy chúng ta đừng làm điều gì, ta cứ khăng khăng làm, dạy ta nên làm
điều gì, ta cứ lười nhác, biếng trễ chẳng chịu làm, thế là chẳng như pháp.
Xin hãy xem đoạn kinh văn dưới đây:
Chánh
kinh:
An trụ
hạ liệt nghiệp.
(An trụ
nghiệp kém hèn)
Tâm quý vị an
trụ trong thế pháp, chẳng những là sự nghiệp thế gian mà còn là sự nghiệp
thế gian hèn kém. Đó là những sự nghiệp tăng trưởng tham, sân, si, mạn,
ghen ghét.
Chánh
kinh:
Viễn ly
thù thắng hạnh.
(Xa lìa
hạnh thù thắng)
“Hạnh thù
thắng”: có thể nói hết thảy Phật pháp Đại Thừa đều là hạnh thù thắng,
nhưng bản kinh này tối hậu quy kết Tịnh Độ, bởi bản kinh này hiển nhiên
quy kết Tịnh Độ nên ta có thể hiểu hạnh thù thắng là tu Tịnh Độ, cũng có
thể hiểu là nhất tâm cầu sanh Tịnh Độ. Kẻ kia xem thường, xa lìa việc này,
thật đáng tiếc thay!
Chánh
kinh:
Thoái
thất đại lợi ích.
(Lui mất
lợi ích lớn)
“Đại lợi
ích” là vãng sanh bất thoái thành Phật đấy! Đấy là đại lợi ích chân
thật, hết thảy lợi ích thế gian hay xuất thế gian đều chẳng sánh bằng
được, đủ thấy “đắm trước các việc” tạo lầm lỗi nghiêm trọng đến
thế.
Chánh
kinh:
Nhạo
độc tụng tỳ-kheo,
Cập tu
thiền định giả,
Nhất
thiết giai ha trách,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Tỳ-kheo
thích đọc tụng,
Và người
tu thiền định,
Hết thảy
đều quở trách,
Đó gọi lỗi
các việc)
Câu đầu chỉ
những người đã hiểu trọn lời răn dạy, chữ “tu thiền định” chỉ những
người y giáo thật sự tu hành. Chữ “thiền định” ở đây không nhất
định chỉ là người tu Thiền, mà hàm chỉ những người chân chánh tu hành,
hiểu theo nghĩa rộng, chẳng phải nghĩa hẹp. Tu trì Phật pháp có tám vạn
bốn ngàn pháp môn, trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện ta nói là “vô lượng pháp
môn”. Vô lượng cũng tốt, tám vạn bốn ngàn cũng được, chỉ là phương
pháp, thủ đoạn chẳng giống nhau.
Tu là tu gì?
Tất cả đều là tu Giới, Định, Huệ; nhưng trong Tam Học Giới - Định - Huệ,
Định là mấu chốt, Giới là thủ đoạn, mục đích nhằm đắc Định, đắc Định tự
nhiên khai trí huệ. Bởi thế, tám vạn bốn ngàn pháp môn là các thủ đoạn,
phương pháp bất đồng ngõ hầu tu cho đắc Định.
“Thiền
Định” ở đây là nghĩa rộng, chẳng phải là nghĩa hẹp. Chúng ta niệm Phật
cũng là tu Thiền Định. Trong kinh Đại Tập, đức Phật nói rất rõ ràng:
“Niệm Phật là vô thượng thâm diệu thiền”. Chúng ta dùng phương pháp
Niệm Phật này niệm đến nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn là Thiền Định.
Bởi thế câu này nghĩa là: Người chân chánh y giáo tu hành, bọn họ đối với
quý vị kính nhi viễn chi!
Chánh
kinh:
Thường
hành sanh tử nghiệp,
Xả ly
giải thoát nhân,
Hư thọ
ư tín thí,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Thường
hành nghiệp sanh tử,
Bỏ lìa
nhân giải thoát,
Luống nhận
của tín thí,
Đó gọi lỗi
các việc)
“Thường
hành”: quý vị thường làm những điều gì? “Nghiệp sanh tử” tức là
sự nghiệp luân hồi lục đạo. Thế nào là sự nghiệp sanh tử, luân hồi? Tham,
sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Trong Duy Thức học, chúng là sáu căn bản
phiền não, hết thảy sự nghiệp nào tương ứng với sáu căn bản phiền não ấy
đều là sự nghiệp luân hồi sanh tử. Quý vị làm những sự nghiệp ấy, đương
nhiên đánh mất cái nhân giải thoát, “bỏ lìa nhân giải thoát”. Nhân
giải thoát là Giới, Định, Huệ. “Luống nhận của tín thí”, quý vị
tiếp nhận những đồ cúng dường, tương lai phải trả nợ bởi quý vị chẳng phải
là phước điền chân chánh mà!
Chánh
kinh:
Nhạo
thọ chư tài bảo,
Bất đắc
sanh ưu não,
Trụ ư
hạ liệt hạnh,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Thích
nhận các của cải,
Chẳng được
sanh buồn khổ,
Trụ trong
hạnh kém hèn,
Đó gọi lỗi
các việc)
Tham ái của
cải thế gian, lúc được bèn hoan hỷ, kiêu ngạo; lúc không đưọc bèn nổi
nóng, ưu não. Cái tâm lý, tư tưởng, hành vi ấy đều là hạnh kém hèn. Hạnh
kém hèn ấy là nghiệp sanh tử, là hạnh tam đồ lục đạo đấy!
Chánh
kinh:
Thị
nhân đa ái nhiễm,
Vãng
lai dâm nữ gia,
Như
điểu nhập phiền lung,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Người ấy
nhiều ái nhiễm,
Lai vãng
nhà dâm nữ,
Như chim
vào lồng rọ,
Đó gọi lỗi
các việc)
Bài kệ này
nêu tỷ dụ. Câu thứ nhất ý nói người ấy nhiều ái nhiễm, người ấy bị tham ái
ô nhiễm tâm tánh, tức là trong có phiền não: tham, sân, si, mạn, những
phiền não bên trong rất nặng. Câu “lai vãng nhà dâm nữ” ý nói: bên
ngoài những sự quyến rũ, mê hoặc. Trong có phiền não, ngoài có dụ hoặc,
sao chẳng đọa lạc cho được? Khác nào chim bị nhốt trong lồng. “Như chim
vào lồng rọ” là tỷ dụ đọa ác đạo, là bị lôi vào trong ba ác đạo.
Chánh
kinh:
Thường
ưu thán gia nghiệp,
Hằng
hoài nhiệt não tâm,
Xuất
ngôn nhân bất tín,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Thường
buồn than gia nghiệp,
Luôn ôm
lòng nhiệt não,
Nói ra
người chẳng tin,
Đó gọi lỗi
các việc)
Chuyện họ
thường âu lo là gia nghiệp. Thế pháp, xuất thế pháp đều là gia nghiệp,
nhất là các đạo tràng hiện tại. Thời cổ đạo tràng không ít nơi gọi là
“thập phương đạo tràng”, chẳng thuộc về một ai hết; chỉ cần là người
xuất gia đúng quy củ, đều có thể quải đơn (2) đều có thể cùng ở tu chung.
Những đạo tràng hiện tại, người xuất gia đều có bằng khoán chủ quyền, đều
biến thành gia nghiệp hết. Đã là người xuất gia rồi, trong tay chẳng sở
hữu bằng khoán chủ quyền nào, vì xuất gia rồi, không còn nhà nữa! Có một
tờ bằng khoán là thành “nhập gia”, chẳng thể không nhận biết điều này!
Thật ra, quý
vị không đọc kinh sẽ chẳng hiểu ra vấn đề nghiêm trọng, chẳng biết họa hại
tương lai thảm khốc đâu! Trong kinh, Phật chẳng lừa dối ta đâu! Tôi đã bảy
mươi tuổi, sẽ chết rất lẹ, bởi thế tôi toàn nói lời thật cùng quý vị, tôi
thời thời khắc khắc đều chuẩn bị ra đi. Bởi thế, tôi chẳng phải là người
thuộc thế gian này nữa; so ra, tôi thấy thế gian này rất rõ ràng, vì là
người ngoài cuộc mà! Thế gian này đối với tôi chẳng có lợi hay hại gì,
đúng như câu: “Bàng quán giả thanh, đương cục giả mê” (người ngoài
thì sáng, người trong thì quáng). Học Phật phải siêu xuất, vượt
thoát thế giới này, thế giới này chẳng liên quan gì đến tôi, chẳng còn
việc gì nữa, cách tôi thấy khác với cách quý vị nhìn và rất rõ ràng. Ở
đây, người trong tâm thường có phiền não thì nói ra điều gì chẳng ai tin
cả!
Chánh
kinh:
Bất thọ
tôn giả giáo,
Vi củ
nhi khinh tiện,
Hủy
phạm thanh tịnh giới,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Chẳng
nghe tôn trưởng răn,
Trái phép
tắc, khinh rẻ,
Hủy phạm
giới thanh tịnh,
Đó gọi lỗi
các việc)
Thiện tri
thức, Bồ Tát dạy răn chẳng thể tiếp nhận, chẳng thể y giáo phụng hành.
“Vi củ” là phạm quy củ, “hủy phạm” là phạm giới. Đối với pháp
thế gian hay pháp xuất thế đều nghĩ cách luồn lách chiếm lợi, tránh né
chẳng tuân thủ, đều là lầm lạc cả, đều là các lầm lỗi do các việc phát
sanh.
Chánh
kinh:
Kỳ tâm
đa ức tưởng,
Cần
doanh ư thế nghiệp,
Bất
năng tu trí đoạn,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Tâm họ
lắm nhớ tưởng,
Siêng lo
việc thế gian,
Chẳng thể
tu trí đoạn,
Đó gọi lỗi
các việc)
Tâm kẻ ấy
vọng tưởng quá nhiều, luôn nghĩ đến những lợi hại được mất trong sự nghiệp
kinh doanh, bởi thế, kẻ ấy “chẳng thể tu trí đoạn”. Trí là trí huệ,
phá được vô minh; Đoạn là tu định, đoạn được phiền não. Tức là nói bất
luận tu học một pháp môn nào, công phu cũng chẳng đắc lực, chẳng thể thành
tựu.
Chánh
kinh:
Tham
tâm hằng xí thạnh.
(Tâm tham
luôn hừng hực)
“Hằng”
là thường hằng. Tâm tham ngày càng tăng trưởng.
Chánh
kinh:
Nhạo
trước ư chư vị.
(Ưa chấp
nơi các vị)
Hưởng thọ ngũ
dục, lục trần thế gian, kẻ ấy thường tham đắm những vị ấy.
Chánh
kinh:
Tằng vô
tri túc tâm.
(Tâm chưa
hề biết đủ)
Vĩnh viễn
chẳng chán đủ, quý vị mới thấy con người như vậy khổ sở quá đỗi! Nhọc
nhằn, bươn bả đến lúc hết mạng, chẳng đem theo được gì, đúng là “muôn
thứ đều bỏ sạch, chỉ có nghiệp tùy thân”!
Chánh
kinh:
Đắc lợi
sanh hoan hỷ,
Vô lợi
tiện ưu não,
Tham
lận vô nhân tâm,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Được lợi
lòng vui mừng,
Chẳng lợi
bèn sầu khổ,
Tham keo,
thiếu từ tâm,
Đó gọi lỗi
các việc)
“Nhân”
là nhân từ, tức là tâm từ bi. Chẳng có tâm từ bi đâu!
Chánh
kinh:
Não hại
vô từ mẫn.
(Não hại
chẳng xót thương)
Đối với hết
thảy chúng sanh, kẻ ấy chỉ tham keo, đoạt lấy lợi ích của hết thảy mọi
người để tự mình hưởng thọ, nào có từ bi, thương xót chúng sanh chi đâu!
Chánh
kinh:
Tăng
trưởng chư ác nghiệp,
Ái mạn
tương triền phược,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Tăng
trưởng các nghiệp ác,
Bị dây ái
buộc ràng,
Đó gọi lỗi
các việc)
“Ái”
là tham ái, tức là phiền não. Tham, sân, si, mạn buộc ràng kẻ ấy.
Chánh
kinh:
Viễn ly
ư sư trưởng,
Thân
cận ác tri thức,
Tẫn
xích trì giới nhân,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Xa lìa
bậc sư trưởng,
Thân cận
ác tri thức,
Đuổi, chê
người trì giới,
Đó gọi lỗi
các việc)
Kẻ ấy xa lìa
thiện tri thức, thầy tốt, là vì sao? Chí thú chẳng phù hợp. Họ thích thân
cận “ác tri thức” vì lẽ gì? Ác tri thức dạy họ làm sao đạt được danh văn,
lợi dưỡng, làm sao tạo tham, sân, si, những bọn đó chí đồng đạo hợp với
họ. Người trì giới chẳng xứng hợp với chuyện họ tu, họ học; lẽ đương nhiên
bị họ bài xích.
Chánh
kinh:
Trú dạ
vô dư tưởng,
Duy
niệm cầu y thực,
Bất
nhạo chư công đức,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Ngày đêm
chẳng nghĩ khác,
Chỉ mong
được cơm áo,
Chẳng ưa
các công đức,
Đó gọi lỗi
các việc)
Bài kệ này ý
nghĩa dễ hiểu.
Chánh
kinh:
Thường
vấn thế gian trí,
Bất
nhạo xuất thế ngôn,
Đam ái
ư tà thuyết,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Thường
hỏi trí thế gian,
Chẳng ưa
lời xuất thế,
Yêu đắm
các tà thuyết,
Đó gọi lỗi
các việc)
Những ngôn
luận thường ngày đều là chuyện thế gian, chẳng mảy may dính dáng gì đến
liễu sanh tử, xuất tam giới cả, họ ưa thích những tà thuyết.
Chánh
kinh:
Tự thị
tri chúng vụ,
Khinh
mạn chư tỳ-kheo,
Do như
cuồng túy nhân,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Tự ỷ biết
các việc,
Khinh mạn
các tỳ-kheo,
Khác nào
kẻ say cuồng,
Đó gọi lỗi
các việc)
Cậy vào kỹ
năng, năng lực làm việc của chính mình, nói như bây giờ là năng lực làm
việc rất cao! Trên phương diện sự nghiệp, người ấy đích thực có thành tựu
hơn người, cậy vào đó, nẩy lòng kiêu mạn, khinh thị những người tu hành.
Câu tiếp đó là tỷ dụ “giống như người say cuồng”.
Chánh
kinh:
Thường
ty cầu tha đoản,
Bất tự
kiến kỳ quá,
Khinh
hủy hữu đức nhân,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Thường
bới tìm lỗi người,
Chẳng tự
thấy lỗi mình,
Khinh hủy
người có đức,
Đó gọi lỗi
các việc)
“Chẳng tự
thấy”: Chẳng tự thấy lỗi mình, chuyên môn vạch tìm lỗi người khác.
Chánh
kinh:
Như thị
ngu si giả,
Vô hữu
thiện phương tiện,
Khinh
mạn thuyết pháp giả,
Thị
danh chúng vụ quá.
(Kẻ ngu si
như thế,
Chẳng có
phương tiện khéo,
Khinh mạn
người thuyết pháp,
Đó gọi lỗi
các việc)
Khinh thị
người tu hành, coi rẻ người thuyết pháp. Ngay trong phần mở đầu kinh này,
đức Phật đã nói: hạng Bồ Tát ngu si, khinh mạn, phỉ báng hai vị tỳ-kheo
thuyết pháp, kết quả vướng tội nghiệp đọa A-Tỳ địa ngục, địa ngục Đẳng
Hoạt, địa ngục Thiêu Nhiệt, thời gian trong cõi người là một ngàn tám trăm
vạn năm. Bởi thế, tạo tác tội nghiệp rất dễ dàng, phỉ báng chỉ mấy ngày
mấy giờ, tương lai chịu khổ trong địa ngục thời gian dài thế đó.
Quý vị phải
hiểu: trong kinh đức Phật nói một ngàn tám trăm vạn năm là thời gian trong
cõi người chúng ta, nhưng người thọ tội trong địa ngục cảm thấy như là vô
lượng kiếp vậy! Trong ngạn ngữ cũng thường nói: “Ngày dài như cả năm”.
Xem ra, thời gian tựa hồ chẳng dài lắm, một ngàn tám trăm vạn năm, nhưng
kẻ ấy cảm nhận như thể vô lượng kiếp. Bởi thế, đừng có tạo tội nghiệp!
Cũng đừng có nghĩ là chẳng qua đức Phật dọa dẫm chúng ta, mong chúng ta
đừng làm. Chẳng có chuyện như vậy đâu! Lầm rồi đấy! Tương lai quý vị đọa
lạc, đúng là tự mình làm, tự mình chịu. Đức Phật thật sự từ bi, nói chân
tướng sự thật cho chúng ta biết, quý vị vẫn chẳng tin, vẫn muốn tạo tác,
trách ai nữa đây? A Tỳ địa ngục Phật cũng chẳng cứu nổi đâu nghe!
Chánh
kinh:
Như thị
hạ liệt nghiệp,
Cụ túc
chư quá thất,
Hà hữu
trí huệ nhân,
Ái nhạo
nhi tu tập?
(Nghiệp
kém hèn như thế,
Đầy đủ các
lầm lỗi,
Có người
trí huệ nào,
Lại ưa
thích tu tập?)
Hai câu đầu
tổng kết những điều đã nói, nói chung đều là nghiệp hèn kém, đều là vô
lượng vô biên tội lỗi. Có người trí huệ nào lại ưa thích những việc ấy,
chịu làm những việc ấy chăng?
Chánh
kinh:
Thanh
tịnh thù thắng nghiệp,
Cụ túc
chư công đức,
(Nghiệp
thanh tịnh thù thắng,
Đầy đủ các
công đức,
“Thanh
tịnh thù thắng”: nếu quý vị chẳng chú tâm thể hội, quý vị chẳng đạt
được. Nếu như quý vị như pháp tu hành, quý vị sẽ đạt được. Hai ngày trước
có một vị đồng tu ở Hương Cảng – trong những năm đầu, tôi giảng kinh ở
Hương Cảng, bà là một trong số thính chúng – hôm trước đến gặp quán
trưởng, chúng tôi thoạt nhìn biết bà tu chẳng lầm, tướng mạo bà biến
chuyển, biến đổi rất tốt, tu hành thật sự có chút thành tích. Thành tích
là gì? Thành tích nơi dáng vẻ; thể chất khỏe mạnh, tướng mạo chuyển biến,
dung mạo tươi sáng, đó là biểu hiện tu hạnh bên ngoài của quý vị, người ta
thoạt trông biết liền, người như thế rất khó có.
Lúc đó, tôi
giảng kinh, đề xướng người thật sự tu hành phải tu tâm thanh tịnh. Muốn
thật sự tu tâm thanh tịnh, tốt nhất là báo chí, tạp chí, truyền hình,
radio đều tránh xa. Bà ta thật sự nghe theo, gần mười một, mười hai năm
chưa từng xem qua báo chí, truyền hình, bà rất là vui sướng. Bả nói: “Cái
gì tôi cũng không biết, mỗi một ngày thiên hạ thái bình, vui vẻ, sung
sướng, cái gì cũng chẳng biết”. Bà nói: “Hương Cảng xảy ra chuyện gì đến
hỏi tôi, tôi chẳng biết gì”. Bà chỉ biết mỗi việc niệm A Di Đà Phật, mỗi
một ngày sống rất sung sướng, chuyện gì cũng chẳng có, do đó tâm bà được
thanh tịnh.
Bởi vậy, báo
chí, tạp chí, truyền hình hại chết người đó nghe! Mỗi ngày quý vị xem
chuyện này chuyện nọ, tâm quý vị thanh tịnh sao nổi? Tránh sao khỏi suy
nghĩ lung tung? Bởi thế, nếu thật sự nghĩ muốn cầu “thanh tịnh thù
thắng” – “thù thắng” là niệm Phật vãng sanh bất thoái thành
Phật – quý vị phải hạ tâm quyết định: trong một đời này ta nhất định phải
thành tựu. Quý vị phải y giáo phụng hành đó nghe!
Thời cổ tự
viện, am đường, đạo tràng đều dựng trong núi sâu, ở những nơi giao thông
rất bất tiện, để hòng tránh khỏi những chướng ngại. Hiện tại, không thể
được, hiện thời dù ở trên núi cao, máy truyền hình vẫn có thể nhận sóng.
Thật phiền toái quá! Con người ngày càng khổ, càng ngày càng đáng thương!
Hiện tại hạnh
phúc tuổi thơ đã mất rồi, trẻ nhỏ hằng ngày xem tivi, mới sanh ra đã xem
tivi, bởi thế, mới bảy, tám tháng tuổi đã biết quan sát vẻ mặt, biết lấy
lòng người lớn, tâm hài đồng mất tiêu, thiên chân mất tiêu, thật là đáng
tiếc! Bởi thế, con người làm sao tái lai cho được! Chẳng thể tái lai, khổ
quá đi! Trong xã hội nông nghiệp trước kia, thời kỳ đồng niên thiên chân
đại khái giữ được đến mười lăm, mười sáu tuổi, giữ được đến mười hai, mười
ba tuổi rất thường. Mười hai, mười ba tuổi chẳng hiểu gì nhân tình thế sự.
Đúng là một tấm lòng thành son sắt, một phiến thiên chân vậy! Trong xã hội
hiện thời, chúng ta chẳng thể thấy được nữa.
Xưa kia, đọc
sách rất vui sướng. Hiện thời đọc sách rất khổ sở. Bởi thế, tôi thấy học
sinh đi học đeo một cái cặp táp to, nghĩ chẳng muốn làm người nữa! Làm
người, ôi chao! Phải đi học đọc sách khổ quá, quyết định chẳng muốn tái
lai. Trở lại thế gian này, nhất định phải thành Phật, thành Bồ Tát thừa
nguyện tái lai, nhờ nghiệp lực tái lai chẳng được, đời người khổ quá
chừng!
Chánh
kinh:
Thị cố
hữu trí nhân,
Ái nhạo
thường tu tập.
(Vì thế,
người có trí,
Yêu thích
thường tu tập)
Người thật sự
có trí huệ, nhất định chọn niệm Phật vãng sanh bất thoái thành Phật, quyết
định chọn tu tâm thanh tịnh. Điều trọng yếu là khán phá, phóng hạ, chân
chánh khán phá, phóng hạ, quý vị sẽ được đại tự tại, quý vị mới đạt hạnh
phúc chân chánh. Bởi thế, chẳng buông xuống được là ngu si.
Chánh
kinh:
Nhược
nhạo hạ liệt nghiệp,
Trí giả
đương ha trách,
Như
nhân xả đa tài,
Tham
cầu ư thiểu phần,
Thị cố
minh trí nhân,
Đương
xả hạ liệt nghiệp,
Ưng cầu
thắng thượng pháp,
Chư
Phật thường xưng thán.
(Nếu thích
nghiệp kém hèn,
Bậc trí sẽ
quở trách,
Như người
bỏ nhiều của,
Tham cầu
lấy chút phần,
Vì thế,
người trí sáng,
Nên bỏ
nghiệp hèn kém,
Nên cầu
pháp thắng thượng,
Chư Phật
thường khen ngợi)
Hai bài kệ
này, nửa trước bài kệ dễ hiểu, nửa sau bài kệ là tỷ dụ. Đổ hết tâm cơ kinh
doanh sự nghiệp thế gian, được chẳng bù mất. Trong hiện tại ngay cả Phật
pháp cũng bị đem vào sự nghiệp kinh doanh thế gian, đấy là hiện tượng rất
phổ biến hiện thời. Dùng Phật pháp để kinh doanh sự nghiệp thế gian, hại
chẳng bù nổi lợi. Bởi lẽ, được lợi một tí ti, tổn thất nói bất tận - tổn
thất là tương lai gánh lấy quả báo; sao được cơ chứ? Bởi vậy người minh
bạch, người trí huệ quyết định buông bỏ, “ưng xả hạ liệt”: Xả là
buông xuống, quyết định chẳng làm những chuyện ấy.
Bách Trượng
và Mã Tổ là những vị khai sáng tùng lâm Trung Quốc: “Mã Tổ dựng tùng
lâm, Bách Trượng lập thanh quy”. Điều trọng yếu bậc nhất trong Thanh
Quy là “tùng lâm coi vô sự là hưng thạnh”, câu nói này của Ngài hợp
với đạo. Xuất gia tu hành là tu cái gì? Tu tâm thanh tịnh. Thân tâm thanh
tịnh, hoàn cảnh thanh tịnh, đó mới là hưng thạnh. Cũng như đạo tràng này
tương lai có bao nhiêu người khai ngộ, bao nhiêu người vãng sanh, bao
nhiêu người chứng quả, đó là hưng thạnh, chẳng phải do tín đồ đông đảo,
hương đèn rộn rịp!
Tín đồ càng
đông, nhang đèn càng nhiều, nhưng chẳng có ai vãng sanh hết, ai nấy đều
vào tam đồ, có kể là hưng thạnh được chăng? Quý vị phải hiểu điều này. Bởi
thế đạo tràng trọng chất, không trọng lượng, khẩn yếu là thật sự có người
thành tựu. Hiện tại đạo tràng nào có một, hai người thành tựu, thì đạo
tràng ấy thật sự có công đức, thật sự là phước điền chân thật cho tín đồ.
Nếu đạo tràng tương lai không có ai vãng sanh cả là không được rồi, quả
báo tương lai sẽ như đức Phật đã nói trong kinh này. Lại coi tiếp kinh
văn.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát nhi bạch Phật ngôn:
- Hy
hữu Thế Tôn! Bỉ chư Bồ Tát xả ly thù thắng tinh tấn chi nghiệp, nhi nãi
phát khởi hạ liệt chi sự, đương tri thị nhân, thậm vi thiểu trí, giác huệ
vi thiển.
(Lúc bấy
giờ, Di Lặc Bồ Tát bèn bạch Phật rằng:
- Đức Thế
Tôn hy hữu! Các Bồ Tát ấy bỏ lìa nghiệp tinh tấn thù thắng, bèn phát khởi
những sự hèn kém, phải biết là người ấy rất là ít trí, giác huệ ít cạn)
Đây là Di Lặc
Bồ Tát nghe đức Phật khai thị xong, lão nhân gia bèn nêu cảm tưởng. Ngài
nói: Những Bồ Tát sơ nghiệp ngu si ấy, bỏ lỡ pháp môn tối thù thắng bậc
nhất do chư Phật Như Lai truyền chẳng chịu tu học, lại đi làm những việc
hèn kém, người như vậy thật là thiếu trí huệ, đúng là “giác huệ ít cạn”,
kẻ ấy chưa từng giác ngộ. Đến đây là hết đoạn tám.
9. Chẳng
tu các hạnh, chẳng đoạn phiền não, chẳng tập thiền tụng, chẳng cầu đa văn,
chẳng phải là người xuất gia
Đoạn
tiếp theo đây nói rõ: Chẳng tu các hạnh, chẳng đoạn phiền não, chẳng tập
thiền tụng, chẳng cầu đa văn, đức Phật nói chẳng phải là người xuất gia,
chúng ta đọc kinh văn một lượt:
Chánh
kinh:
Phật
cáo Di Lặc Bồ Tát ngôn:
- Di
Lặc! Ngã kim thật ngôn cáo nhữ.
(Phật bảo
Di Lặc Bồ Tát rằng:
- Này Di
Lặc! Ta nay bảo thật cùng ông)
Trong câu
này, quan yếu nhất là hai chữ “thật ngôn”, đức Phật nói lời chân
thật.
Chánh
kinh:
Nhược
hữu Bồ Tát.
(Nếu có Bồ
Tát).
Đây đều là sơ
nghiệp Bồ Tát, tức là người sơ phát tâm hiện tại chúng ta. Điều thứ nhất
là:
Chánh
kinh:
Bất tu
chư hạnh.
(Chẳng tu
các hạnh)
“Hạnh”
là hành vi, ngôn ngữ là khẩu nghiệp hành vi, động tác nơi thân thể là thân
nghiệp hành vi, ý niệm trong tâm là ý nghiệp hành vi. Ba nghiệp thân,
khẩu, ý đều có sai trái thì phải theo lời Phật răn dạy trong kinh để sửa
đổi cho đúng, những lời dạy trong kinh điển là tiêu chuẩn để chúng ta tu
hành. Điều thứ hai là:
Chánh
kinh:
Bất
đoạn phiền não.
(Chẳng
đoạn phiền não)
Người chân
chánh tu hành, nhất định phải đoạn phiền não. Phiền não phải mỗi năm một
ít, mỗi tháng một giảm. Nếu như quý vị thật sự đạt được mỗi tháng phiền
não ít đi, cầm chắc quý vị được vãng sanh. Trong tâm rất thanh tịnh, tâm
sanh trí huệ, cùng Phật cảm ứng đạo giao. Điều thứ ba là:
Chánh
kinh:
Bất tập
thiền tụng.
(Chẳng tu
tập thiền tụng)
“Thiền
tụng” là tu hành, đúng theo lời dạy tu hành. Hai chữ “thiền tụng”
bao gồm các nghĩa này.
Chánh
kinh:
Bất cầu
đa văn.
(Chẳng cầu
đa văn)
Trong giai
đoạn hiện tại, chúng ta chỉ cần làm được ba điều kiện trên là được rồi,
làm sao thực hiện được điều thứ tư này? Điều thứ tư là “trùng phức đa
văn”, hiện tại chúng ta thâm nhập một môn. Một bộ kinh Vô Lượng Thọ,
mỗi ngày ta đọc mấy lượt, ngày ngày chẳng gián đoạn, hằng năm chẳng gián
đoạn chính là đa văn, đa văn ở đây chẳng phải là “quảng học đa văn”.
Quảng học đa văn là chuyện của ai? Là chuyện của Pháp Thân đại sĩ. Khi nào
quý vị phá được một phẩm vô minh, chứng được Pháp Thân xong, lúc ấy sẽ
quảng học đa văn. Đa văn của sơ nghiệp Bồ Tát là “trùng phức đa văn”,
chẳng được hiểu lầm ý nghĩa. Nếu như cả bốn điều này đều chẳng làm được
thì…
Chánh
kinh:
Ngã
thuyết thị nhân, phi xuất gia giả.
(Ta nói
người ấy chẳng phải là xuất gia)
Phật nói
người ấy chẳng thật sự xuất gia, thân xuất gia tâm chẳng xuất gia, chẳng
tính là người xuất gia được! Tại gia Bồ Tát làm được bốn điều trên, Phật
cũng thừa nhận là người xuất gia, thân chẳng xuất gia, nhưng tâm xuất gia.
Khẩn yếu là tâm xuất gia, chứ chẳng nệ thân xuất gia.
Chánh
kinh:
Di Lặc!
Nhược hữu cần tu trí đoạn hạnh giả, trí xuất sanh giả, trí thành tựu giả,
bất tác thế nghiệp, doanh chúng vụ giả, ngã thuyết thị nhân trụ Như Lai
giáo.
(Này Di
Lặc! Nếu có ai tu siêng tu trí đoạn hạnh, trí xuất sanh, trí thành tựu,
chẳng làm việc đời, chăm lo các việc, ta nói người ấy trụ trong giáo pháp
của đức Như Lai)
Mở đầu kinh
này, đức Phật nói tứ chúng đệ tử trong thời kỳ Mạt Pháp, chẳng riêng gì
chúng tại gia, đều có mười hai căn bệnh, mười hai căn bệnh ấy vốn là nội
dung kinh này. Gốc những căn bệnh ấy đều phát sanh từ nghiệp chướng sâu
nặng. Nghiệp là tạo tác. Phạm vi tạo tác rộng rãi phi thường, ngôn ngữ là
tạo tác, thân thể nhất cử nhất động cũng là tạo tác, tất cả ý niệm trong
tâm cũng là tạo tác. Bởi thế, đức Phật nói ba thứ tạo tác nơi thân, khẩu,
ý bao gồm tất cả hết thảy tạo tác, nên gọi là ba nghiệp. Hết thảy tạo tác
có thể phân chia đại lược thành thiện nghiệp, ác nghiệp và tịnh nghiệp.
Thiện nghiệp,
ác nghiệp đều là chướng cả! Chướng điều gì? Chướng ngại chúng ta minh tâm
kiến tánh, chướng ngại chúng ta liễu sanh tử, xuất tam giới, cho nên gọi
là “chướng”! Chúng ta hãy chú tâm suy nghĩ: Chúng ta khởi tâm động niệm,
nói năng, tạo tác chẳng phải là ngày ngày gây nghiệp chướng ư? Từ vô thỉ
đến nay nghiệp chướng rất nặng. Ngay trong một đời này, có thể nói là từ
lúc sanh ra đến nay, vẫn ngày ngày tạo nghiệp như cũ. Học Phật rồi, Phật
dạy chúng ta lìa bỏ hết thảy thiện nghiệp, ác nghiệp, tu tịnh nghiệp.
Chúng ta có
thật sự tu tịnh nghiệp hay không? Ngàn vạn phần chẳng được nghĩ mình đang
tu tịnh nghiệp: tôi mỗi ngày niệm mấy bộ kinh Vô Lượng Thọ, niệm mấy biến
kinh Di Đà, niệm mấy câu Phật hiệu là tu tịnh nghiệp. “Tịnh nghiệp”
là tâm thanh tịnh, tâm quý vị chẳng thanh tịnh thì niệm Phật cũng là tạo
nghiệp, đọc kinh vẫn là tạo nghiệp, cổ nhân nói là “rách hầu long họng
cũng uổng công”. Nghiệp quý vị tạo là thiện hay ác nghiệp vậy? Rất khó
nói. Mở kinh đối chiếu kỹ càng, sẽ tự biết nguyên nhân căn bản là nghiệp
chướng sâu nặng.
Tiêu trừ
nghiệp chướng phải khởi đầu từ đâu? Không ít người chẳng tìm thấy lối ra.
Trong kinh này, đức Phật dạy chúng ta: Thứ nhất là chẳng cầu lỗi người,
hai là chẳng cử tội người. Tiêu nghiệp bắt đầu từ đấy, học Phật thật sự
bắt đầu từ đấy. Câu thứ nhất có nghĩa là: chẳng cần phải tìm lỗi người
khác, chẳng thấy lỗi người khác. Câu thứ hai nghĩa là: Chẳng cần phải kể
tội người khác. Chúng ta nghĩ coi có đúng chăng? Xác thực vô cùng! Nghiệp
chướng chẳng tiêu được là vì khẩu nghiệp. Ngày ngày trong tâm chuyên thấy
lỗi người, miệng ngày ngày kể tội người là quý vị tu cái hạnh gì vậy? Bởi
thế, niệm Phật, tụng kinh đều chẳng phải là tịnh nghiệp.
Kinh Vô Lượng
Thọ dạy chúng ta ba đại cương lãnh tu hành, kinh đặt khẩu nghiệp lên đầu
“khéo giữ khẩu nghiệp, chẳng gièm lỗi người”, chẳng khác gì kinh
này vậy. Chúng ta muốn thật sự tu hành, thật sự muốn trong một đời này
vãng sanh bất thoái thành Phật thì phải bắt đầu từ đây, phải nhớ kỹ lời
Phật giáo huấn trong kinh này, câu nào cũng trọng yếu phi thường. Thế Tôn
đem hai câu ấy đặt lên đầu, cho thấy chúng rất trọng yếu vậy! Còn thấy lỗi
người khác, còn kể tội người khác, thì đức Thế Tôn nói là quý vị tội
nghiệp rất nặng, nghiệp chướng rất nặng đấy nhé! Lỗi chẳng sửa, bệnh cũ cứ
phạm luôn, còn biết sao được nữa!
Chúng ta coi
trong toàn bản kinh, lỗi lầm của các việc đức Phật nói đến rất nhiều.
Trong đoạn kinh này, đức Phật lại nhắc lại, mới thấy điều này rất khẩn
yếu, chẳng thể chẳng biết được! Phật bảo Di Lặc Bồ Tát: “Nếu có ai
siêng tu trí đoạn hạnh, trí xuất sanh, trí thành tựu…” ba câu này luận
về thành tích tu hành, về ba thứ thành tựu. Thứ nhất là Trí Đoạn, đoạn là
đoạn phiền não, đây là công phu cạn, tính chung là có thành tựu. Chư vị
phải hiểu trí xuất phát từ đâu? Trí sanh từ tâm thanh tịnh; tâm quý vị
chẳng thanh tịnh, sao có trí huệ được?
Tâm chẳng
thanh tịnh lại bảo có trí huệ thì kinh gọi trí đó là thế trí biện thông,
chẳng phải là chân trí huệ đâu nhé! Bởi trí huệ, biện tài từ phiền não mà
có, phiền não ấy do phân biệt, chấp trước sanh khởi. Trí huệ chân chánh là
lìa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, trí huệ sanh khởi từ đấy mới là
chân trí huệ. Chân trí huệ đoạn được phiền não: “Trí đoạn hạnh”.
Trong nhà Thiền, công phu như thế gọi là công phu “quán chiếu” đắc
lực. Trong pháp môn Niệm Phật, công phu này gọi là “công phu thành
phiến”, công phu Niệm Phật của chúng ta bắt đầu đắc lực. Trong những
pháp môn khác, đạt đến giai đoạn này chưa tính là thành tựu. Vì sao? Chưa
ra khỏi tam giới. Trong các công phu khác, phải thật sự đoạn phiền não,
còn công phu này là “phục đoạn” (dẹp yên), chứ chưa phải là “đoạn diệt”
(dứt sạch).
Công phu phục
đoạn phiền não nông cạn, ví như những cõi trời Sắc Giới, Vô Sắc Giới thuộc
lục đạo đức Phật nhắc đến trong kinh đều thuộc giai đoạn này, họ khuất
phục được phiền não, nhưng chưa ra khỏi tam giới nổi. Còn trong pháp môn
Niệm Phật, có được công phu như thế sẽ quyết định vãng sanh, Tịnh tông gọi
là “dị hành đạo” bởi dễ dàng đạt được điều này. Trong các pháp môn khác,
với công phu đó, chẳng thể thoát khỏi tam giới; còn pháp môn Niệm Phật với
công phu ấy có thể đới nghiệp vãng sanh, quyết định được sanh vào Phàm
Thánh Đồng Cư Độ.
Công phu cao
hơn một tầng nữa là “trí xuất sanh”. Trí là trí huệ Bát Nhã, trí
huệ đã xuất sanh, đã tỏ lộ ra, đó là “chiếu trụ”. Phần trên là
“quán chiếu”, phần này là “chiếu trụ”; trong Tịnh tông gọi là
Sự Nhất Tâm Bất Loạn, đó là tam-muội hiện tiền. Pháp môn Niệm Phật được
gọi là Niệm Phật tam muội! “Trí thành tựu” là “chiếu kiến”,
tức là công phu ở giai đoạn cao hơn nữa, còn gọi là Lý Nhất Tâm Bất Loạn.
“Trí xuất sanh” đoạn được Kiến Tư phiền não, chứ chẳng phải là chế
phục.
Do đó biết
rằng, theo hết thảy các kinh dạy, địa vị của người chứng trí này là A La
Hán. “Trí thành tựu” thuộc vào địa vị Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo
và Sơ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo. Đó là ba thứ thành tựu trong tu học sâu