PHÁT KHỞI
BỒ TÁT THÙ THẮNG CHÍ NHẠO
KINH LƯỢC
GIẢNG
(Nguyên văn: Phát Khởi Bồ
Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký)
Chủ giảng: Hoà
Thượng Thích Tịnh Không
Cư Sĩ Truyền Tịnh
Chỉnh Lý
Chuyển Ngữ: Bửu
Quang Tự đệ tử Như Hoà
---o0o---
IV.
LƯỢC GIẢI KINH VĂN
B.
CHÁNH TÔNG PHẦN
Chánh
kinh:
Di Lặc!
Nhược hữu Bồ Tát trí huệ thông mẫn, ư thử công đức, năng như thị tri. Dĩ
thắng ý lạc đương xả lợi dưỡng, dĩ thắng ý lạc trụ ư thiểu dục, vị đoạn
tham ái nhi phát khởi cố.
(Này Di
Lặc! Nếu có Bồ Tát trí huệ thông mẫn, đối với các công đức này mà có thể
biết được như thế. Do ý lạc thù thắng bèn bỏ lợi dưỡng, do ý lạc thù thắng
mà trụ vào thiểu dục, vì đoạn tham ái mà phát khởi vậy)
Phật dạy
chúng ta: lợi dưỡng có hai mươi hai điều lầm lỗi, xa lìa lợi dưỡng có mười
bốn điều lợi ích, rồi bảo Di Lặc Bồ Tát (tuy bảo với Di Lặc Bồ Tát nhưng
thật ra là bảo mọi người chúng ta): “Nếu có Bồ Tát trí huệ thông mẫn,
đối với các công đức này mà có thể biết được như thế”: đối với lỗi hại
của lợi dưỡng và lợi ích do bỏ được lợi dưỡng mà quý vị biết rõ ràng, rành
rẽ, nhất định quý vị sẽ dùng ý lạc, ý nguyện tối thù thắng - tức là hoan
hỷ làm gì? Hoan hỷ bỏ lợi dưỡng, tức là như chúng tôi thường nói: Buông
xuống, quý vị thật sự buông xuống được! Vì sao buông xuống được? Vì đã
thấy rỗng toang rồi. Thấy rỗng toang ra sao? Biết cái hại của lợi dưỡng,
biết cái hay của việc bỏ lợi dưỡng. Quý vị biết, đó là thấy rỗng toang
(Khán Phá). Quý vị thật sự chịu buông xuống, bỏ đi, đó là Phóng Hạ.
Quý vị buông
xuống rồi thì mới bèn “dùng ý lạc thù thắng để trụ trong thiểu dục”,
quý vị mới bèn vui vẻ chọn cách sống đơn giản. Phương cách sanh sống đơn
giản chẳng hề phiền lụy chi! Thật sự tự tại đấy! Chẳng những riêng cá nhân
người tu hành phải nhận thức rõ, mà toàn bộ đại chúng tu học chúng ta cũng
phải nên hiểu rõ! Chúng tôi giảng kinh thuyết pháp hơn ba mươi năm rồi;
trong thời gian lâu dài ấy, rất nhiều vị đồng tu biết rõ: Tôi giảng kinh
thuyết pháp hai mươi năm mới có thư viện này. Hai mươi lăm năm mới có Cơ
Kim Hội tại Hàng Châu Nam Lộ, đều tự nhiên thành tựu, chứ chúng tôi chẳng
hề bảo chúng ta phải kiến lập một đạo tràng. Đạo tràng ở ngoại quốc cũng
giống như vậy, đều là tự nhiên thành tựu. Sau khi thành tựu thì các đồng
tu ngày một đông.
Có nhiều
người đến bảo tôi: Chúng tôi muốn tậu cuộc đất đó, để lập chùa cho to hơn
một chút. Tôi hoàn toàn chẳng tán thành, là vì sao? Tham đắm lợi dưỡng!
Chùa càng lớn, tài sản nhiều, người xuất gia càng đông. Vì sao những kẻ ấy
xuất gia? Thấy có thể thừa kế tài sản, cho nên chẳng hợp với đạo vậy. Đạo
tràng của tôi cứ lớn từng chút một, từng chút một như thế, cái gì cũng
chẳng có, ai đến xuất gia nói chung là cái tâm phải tốt, chẳng có ác ý.
Còn nếu như đạo tràng to lớn, có kẻ muốn đến xuất gia, ắt tôi phải suy
đoán: Kẻ kia vì lẽ gì mà đến xuất gia? Có phải là nó muốn xuất gia để
tranh đoạt tài sản chăng? Vì sao? Lợi dục tăng trưởng tâm tham, tham tăng
trưởng phiền não của con người. Bởi thế đạo tràng được kiến lập sẽ khiến
nhiều kẻ đến tranh giành, há chẳng phải là tạo tội nghiệp địa ngục A Tỳ ư?
Bởi thế, bất cứ ai đến trước mặt tôi bảo cần phải kiến lập đạo tràng, tôi
một mực cự tuyệt, tôi tuyệt đối chẳng làm chuyện ấy. Chuyện ấy chẳng phải
là việc tốt đâu!
Bây giờ nếu
có ai nói: “Pháp sư! Ngài phải từ bi hoằng pháp lợi sanh”. Hoằng pháp lợi
sanh trong thời hiện tại chẳng cần phải có đạo tràng, mà cần phải có gì?
Phải có mạng lưới quốc tế! Chúng tôi giảng điều gì ở đây, một khi đã đăng
lên mạng Internet, mỗi một máy điện não (computer) gia đình trên toàn thế
giới nối vào mạng, sẽ đều trông thấy, đều nghe thấy. Rất là tự tại! Vậy
thì cần đạo tràng để làm gì? Thư viện của chúng tôi hiện đã gặp quá nhiều
hiềm nghi rồi, mạng lưới quốc tế tốt vô cùng. Băng thâu âm (cassette
tape), băng video, kinh sách của chúng tôi đã lưu thông toàn thế giới.
Khoa học kỹ thuật tiến bộ, nên dùng khoa học kỹ thuật để truyền bá, đem
Phật pháp đến với mỗi gia đình. Tôi tin là mười năm sau, cá nhân nào cũng
có máy điện não tùy thân. Bất luận tại địa phương nào, cứ nối mạng là hình
ảnh của chúng tôi bèn xuất hiện, cần kiến lập đạo tràng làm chi nữa!
Ngay cả đối
với những phương thức khoa học kỹ thuật ấy tôi cũng chẳng bận tâm, ai muốn
làm thì làm, ai thích sử dụng thì cứ việc, tôi chẳng hề giữ bản quyền, ai
thích lưu truyền đều được cả. Vẫn có người lúc làm bèn đến hỏi tôi có đồng
ý hay chăng? Tôi đồng ý để làm gì? Chỉ thêm phiền toái thôi! Quý vị thích
làm cứ việc làm, chẳng cần phải hỏi tôi nữa. Tôi đã nói rồi: không có bản
quyền, quý vị còn đến hỏi tôi làm chi nữa? Vẫn còn phải xin tôi đồng ý để
làm chi? Đó chẳng phải là cố ý tạo thêm phiền phức ư? Nếu chẳng phải là cố
ý gây phiền thì chính là xem văn tự chẳng hiểu vậy!
Đối với lỗi
lầm của lợi dưỡng và lợi ích của việc xa lìa lợi dưỡng, nếu quý vị minh
bạch rồi, nhất định quý vị sẽ hoan hỷ thiểu dục, hoan hỷ sống đời đơn
giản, bởi lẽ càng đơn giản càng tự tại, càng đơn giản càng ít phiền não!
“Vì đoạn tham ái mà phát khởi”: Phát khởi ở đây là phát khởi Bồ Tát
thù thắng chí nhạo (sự vui thích thù thắng của bậc Bồ Tát), họ nhất định
phát khởi được điều ấy.
8.4. Sơ
nghiệp Bồ Tát nên quán sát: Ồn náo có hai mươi loại lỗi lầm lớn.
8.4.a.
Trường hàng:
Đoạn dưới đây
là Di Lặc Bồ Tát vì chúng ta khải thỉnh: quán sát nhiệt náo có hai mươi
loại lầm lỗi.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:
- Thế
Tôn! Vân hà danh vi hội náo trung quá, nhược quán sát thời, Bồ Tát độc xử
nhàn tịnh, bất sanh nhiệt não.
(Lúc bấy
giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:
- Bạch đức
Thế Tôn! Thế nào là những lầm lỗi của nhiệt náo để khi quán sát, Bồ Tát sẽ
ở riêng nơi thanh vắng, chẳng sanh nhiệt não)
Chữ “quán
sát” ở đây là hiểu rõ triệt để, biết rõ lỗi lầm của nhiệt náo.
“Hội” là “hôn hội”, ta thường nói là hồ đồ, lộn xộn đấy! Sự xô
bồ, lộn xộn trong hoàn cảnh náo nhiệt gọi là “hội náo”. Nhiệt náo
gây sự chướng ngại rất lớn cho sự tu hành, khiến cho quý vị mê hoặc, điên
đảo, chẳng giúp cho quý vị giác ngộ được! Ở phần trên, lợi dưỡng tăng
trưởng phiền não tham, sân, si; ở đây, nhiệt náo tăng trưởng vô minh, đều
là những sự phiền não. Bồ Tát hiểu minh bạch rồi, sẽ có thể ở một mình nơi
thanh vắng. Có nhiều vị đồng tu đến ngoại quốc ở vài ngày liền cảm nhận
thấy điều gì? Tịch mịch quá, quạnh quẽ quá, ở không nổi, phải trở về Đài
Loan gấp. Đài Loan nhiệt náo mà!
Ở Đài Loan
thân thích, bạn bè nhiều, hôm nay khen nhà họ Trương hay, mai chê nhà họ
Lý dở, ngày ngày nói chuyện nhảm nhí, coi đó là vui, coi đó là lạc thú một
đời người! Ra ngoại quốc, không có ai trò chuyện, hàng xóm là ngoại nhân,
ngôn ngữ chẳng thông, lại chẳng biết lái xe, con cái cũng rất bận rộn với
công ăn việc làm, một ngày từ sáng đến tối ngồi ru rú trong nhà, cảm thấy
rất quạnh quẽ. Chỉ nội một điều này thôi là quý vị chẳng thể sống nơi
thanh vắng. Nếu như quý vị thấy rõ điều này, sẽ ưa thích đến một nơi rất
an tịnh để tu học, sanh sống; nói thật ra, hoàn cảnh của ngoại quốc tốt
hơn nước ta nhiều lắm.
Chánh
kinh:
Phật
ngôn:
- Di
Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát ưng đương quán sát hội náo quá thất, hữu nhị thập
chủng. Nhược quán sát thời, năng linh Bồ Tát độc xử nhàn tịnh, bất sanh
nhiệt não.
(Phật dạy:
- Này Di
Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát nên quán sát nhiệt náo có hai mươi điều lầm lỗi. Như
lúc quán sát sẽ có thể làm cho Bồ Tát ở riêng nơi thanh vắng, chẳng sanh
nhiệt não)
“Chẳng
sanh nhiệt não” là chẳng sanh phiền não. Chư vị phải hiểu ý câu này:
Chẳng sanh nhiệt não là sanh khởi trí huệ, đó là đạo lý nhất định.
Chánh
kinh:
Di Lặc!
Vân hà danh vi nhạo ư hội náo nhị thập chủng quá? Nhất giả, bất hộ thân
nghiệp. Nhị giả, bất hộ ngữ nghiệp. Tam giả, bất hộ ý nghiệp.
(Này Di
Lặc! Thế nào gọi là hai mươi lỗi của việc ưa thích hội náo? Một là chẳng
giữ gìn thân nghiệp. Hai là chẳng giữ gìn ngữ nghiệp. Ba là chẳng giữ gìn
ý nghiệp).
Quý vị
xem: Từ đầu mối này mà phạm lầm lỗi nơi ba nghiệp thân, ngữ, ý. Trong kinh
Vô Lượng Thọ, Phật dạy người niệm Phật chúng ta ba tổng cương lãnh tu hành
tối trọng yếu cũng là ba nghiệp: “Khéo giữ khẩu nghiệp, chẳng chê lỗi
người khác”, chẳng khéo giữ ngữ nghiệp sẽ ngày ngày bàn nói thị phi,
hay dở của người khác; “khéo giữ thân nghiệp, chẳng mất luật nghi”,
chẳng giữ thân nghiệp, luật nghi phế sạch; “khéo giữ ý nghiệp, thanh
tịnh vô nhiễm”, chẳng giữ được ý nghiệp, thì nói cách khác là phiền
não ô nhiễm ngày càng tăng trưởng! Đấy là sự tổn hại do náo nhiệt gây cho
chúng ta, chướng ngại đạo nghiệp. Ba điều này được nêu trước tiên.
Chánh
kinh:
Tứ giả,
đa nhiêu tham dục.
(Bốn là
càng tăng tham dục)
Nhiệt náo
giúp cho tham dục nẩy nở.
Chánh
kinh:
Ngũ
giả, tăng trưởng ngu si. Lục giả, đam trước thế thoại.
(Năm là
tăng trưởng ngu si. Sáu là mê đắm ngôn luận thế gian)
Tiếp xúc đại
chúng, hết thảy chuyện trò đều là nghiệp chướng lục đạo luân hồi! Ngôn
luận thế tục phạm vi rất rộng, phàm những tư tưởng, ngôn luận nào chẳng
giúp cho quý vị siêu thoát lục đạo thì đều thuộc vào “thế thoại”
cả! Bởi thế, trong thế thoại có chánh luận, có tà luận. Tà luận khiến đọa
trong ba ác đạo, chánh luận khiến sanh trong ba thiện đạo. Giáo học của
Nho Gia là chánh luận, nhưng chẳng thể giúp quý vị liễu sanh tử, xuất tam
giới. Bởi thế, nó là thế thoại, chẳng phải là Phật thoại.
Chánh
kinh:
Thất
giả ly xuất thế ngữ.
(Bảy là
lìa khỏi ngôn ngữ xuất thế)
“Xuất thế
ngữ” là những điều Phật dạy chúng ta liễu sanh tử, xuất tam giới. Hiện
tại, pháp đức Phật dạy chúng ta tu học chính là niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ; kẻ ưa thích nhiệt náo lìa bỏ những lời dạy ấy, lìa bỏ những lời Phật
răn dạy. “Ly” có ý nghĩa rất sâu. Mọi người chúng ta ngày ngày niệm
Phật, tụng kinh, muốn cầu sanh Tịnh Độ, chứ thật ra, chúng ta “mê đắm
ngôn luận thế gian, lìa lời xuất thế”. Bởi lẽ, chúng ta chẳng thật sự
thực hành dù có niệm Phật; quý vị cứ nghĩ thử coi: Một ngày quý vị niệm
Phật được mấy giờ, nói chuyện nhảm nhí mấy giờ. Cứ so sánh hai thời gian
đó xem: Niệm Phật được hai tiếng đồng hồ, nói nhảm nhí mười hai tiếng. Quý
vị nghĩ xem quả báo của mình sẽ ở đâu, thật rõ rành rành, thật minh bạch
vậy! Bởi thế, ý nghĩa chữ Ly này rất dài sâu vậy!
Chánh
kinh:
Bát
giả, ư phi pháp trung, tôn trọng tu tập.
(Tám là
tôn trọng, tu tập những điều phi pháp)
Quý vị ngày
ngày tu và học, nhưng học là học những gì? Học những thứ phi pháp. “Phi
pháp” chỉ những gì? [Những gì] tăng trưởng tam độc, tăng trưởng việc
đời mà hằng ngày quý vị cứ làm chính là nó đấy! Tăng trưởng tham, sân, si
đấy! Ý niệm tham, sân, si chẳng hề giảm bớt, thân tăng trưởng giết, trộm,
dâm; miệng tăng trưởng vọng ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt, nói thêu dệt, quý
vị lại rất tôn trọng những pháp ấy, rất tin tưởng học tập theo! Quý vị đã
có ý tưởng ấy, hoàn cảnh bên ngoài cũng như thế thì quý vị coi có chỗ nào
chẳng bị dụ dỗ, mê hoặc chăng? Điện ảnh, truyền hình chẳng cần nói đến
nữa. Báo chí trên xe, tạp chí, tất cả hết thảy quảng cáo đều là những thứ
dụ dỗ, mê hoặc; tham, sân, si, mười ác nghiệp dụ dỗ mê hoặc! Trong có
phiền não, ngoài có dụ dỗ mê hoặc, quý vị chống lại được chăng? Quý vị bèn
tôn trọng, tu tập những thứ đó. Tu những thứ đó thì sao? Thì gọi là tu tam
ác đạo, chứ nào phải là tu Tây Phương Tịnh Độ!
Chánh
kinh:
Cửu
giả, xả ly chánh pháp.
(Chín là
lìa bỏ chánh pháp)
Chánh pháp là
Tam Bảo. Tam Học, Lục Độ là chánh pháp. Bỏ sạch những điều này, chẳng
nghiêm cẩn học tập, đối với tam độc, thập ác, lại rất tin tưởng học theo,
là lầm mất rồi! Đấy đều là những lỗi hại của nhiệt náo.
Chánh
kinh:
Thập
giả, thiên ma Ba Tuần nhi đắc kỳ tiện.
(Mười là
thiên ma Ba Tuần được dịp làm hại)
Đấy là vì quý
vị đã đưa chuôi cho Ma Vương nắm, để Ma Vương khống chế mình. Chỉ cần quý
vị bị Ma Vương khống chế thì thiện căn chẳng dễ gì sanh khởi nữa. Quý vị
muốn làm điều lành cũng chẳng dễ gì thành tựu được, ma đến chướng ngại
liền!
Chánh
kinh:
Thập
nhất giả, ư bất phóng dật, vị tằng tu tập.
(Mười một
là chưa từng tu tập hạnh chẳng buông lung)
“Bất phóng
dật” là cung kính, cẩn thận. Bất luận đối với người, đối với sự, đối
vật, tâm cung kính, ý nguyện thận trọng của quý vị rất khó thể sanh khởi.
Chánh
kinh:
Thập
nhị giả, ư phóng dật hạnh, thường hoài nhiễm trước.
(Mười một
là đối với hạnh phóng dật, thường ôm lòng nhiễm trước)
Tức là khinh
mạn, tùy tiện, qua loa đấy! Những điều chẳng nên làm vẫn cứ thường có,
thường phạm!
Chánh
kinh:
Thập
tam giả, đa chư giác quán.
(Mười ba
là lắm các giác quán)
“Giác
quán” ở đây là tạp niệm, vọng tưởng, đều là những thứ phương hại tâm
thanh tịnh. Trong nhà Phật thường dựa vào “giác quán” nhiều hay ít để phán
đoán định lực sâu hay cạn. Người định lực rất sâu, giác quán ít; người
định lực cạn, giác quán nhiều. Giác quán là những tạp niệm bên trong, tạp
niệm quá nhiều đương nhiên định lực nông cạn. Tạp niệm càng ít thì định
lực càng sâu. Vì thế, nói tứ thiền, bát định là phân biệt trên giác quán
sâu hay cạn.
Chánh
kinh:
Thập tứ
giả, tổn giảm đa văn.
(Mười bốn
là tổn giảm đa văn)
“Đa văn”
là siêng học. Người ưa thích náo nhiệt nhất định việc học sẽ bị trở ngại.
Chánh
kinh:
Thập
ngũ giả, bất đắc thiền định.
(Mười lăm
là chẳng đắc thiền định)
Ưa thích
nhiệt náo, nhất định tâm thanh tịnh nơi Định bị trở ngại.
Chánh
kinh:
Thập
lục giả, vô hữu trí huệ. Thập thất giả, tốc tật nhi đắc phi chư phạm hạnh.
(Mười sáu
là chẳng có trí huệ. Mười bảy là nhanh chóng đạt được những thứ chẳng phải
là phạm hạnh)
Vì sao thế?
Vì tham lam, người đời nay cứ nói cầu đổi mới, cầu biến đổi, cầu nhanh
chóng, gọi đó là “tinh thần khoa học”. Trong Phật pháp nói là “nhanh chóng
đạt được” những thứ chẳng phải là phạm hạnh, chẳng phải là thanh tịnh
hạnh. Dù quý vị có đạt được gì, tâm quý vị cũng chẳng thể thanh tịnh.
Chánh
kinh:
Thập
bát giả, bất ái ư Phật. Thập cửu giả, bất ái ư Pháp. Nhị thập giả, bất ái
ư Tăng.
(Mười tám
là chẳng yêu mến Phật. Mười chín là chẳng yêu mến Pháp. Hai mươi là chẳng
yêu mến Tăng)
Đây chính là
trái nghịch Tam Bảo. Quý vị thấy đó: Chúng ta vào cửa Phật, trước hết là
thọ Tam Quy: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Kẻ ấy bỏ sạch Phật, Pháp,
Tăng, cứ theo nhiệt náo mà thôi.
Chánh
kinh:
Di Lặc!
Thị vi Bồ Tát quán ư hội náo nhị thập chủng quá.
(Di Lặc!
Đấy là Bồ Tát quán hai mươi lỗi của nhiệt náo).
Đức Thế Tôn
đã đem hai mươi lỗi của nhiệt náo giảng cho chúng ta. Tiếp theo đây là
phần trùng tụng. Để nhắc lại những ý nghĩa ấy, Phật dùng kệ tụng nói lại
lần nữa. Trong phần kệ tụng này, chẳng những đề cập đến nhiệt náo mà còn
nhắc đến cả những lỗi lầm của lợi dưỡng đã giảng trong phần trước. Mục
đích của kệ tụng là hy vọng đại chúng ghi nhớ chắc chắn, trong từng thời,
từng khắc của sanh hoạt thường nhật sẽ tự đề khởi chánh niệm. Điều này
trọng yếu phi thường.
8.4.b.
Trùng Tụng:
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Thế Tôn trùng thuyết kệ ngôn:
(Lúc bấy
giờ, đức Phật nhắc lại bằng kệ như sau)
Dưới đây là
hai mươi bốn bài kệ tụng. Quá nửa là trùng tụng, tức là dùng kệ tụng để
nhắc lại những điều đức Phật đã giảng qua trong phần trường hàng ở trên.
Mục đích của kệ tụng gồm có hai điều:
- Một là
giảng kinh thuyết pháp trong nhà Phật, chẳng giống như học sinh đến lớp
trong nhà trường. Học sinh đến lớp con số nhất định; còn chỗ giảng kinh
thì có kẻ đến sau, người đến trước. Đức Phật từ bi phi thường, đối với
những kẻ đến sau, chưa nghe được phần đầu, Ngài bèn dùng kệ tụng để nhắc
lại giản lược một lượt. Đây chính là ý nghĩa thứ nhất.
- Ý thứ hai
là để tiện ghi nhớ. Phật toàn giảng những điều răn dạy trọng yếu phi
thường. Nếu như chẳng thể thường nhớ trong tâm sẽ chẳng có biện pháp gì
thọ trì được. Thọ trì là y giáo phụng hành. Vì thế, nhất định phải nhớ kỹ
lời Phật răn dạy. Kệ tụng thuận tiện ghi nhớ. Vì thế, người học hỏi nhất
định phải học thuộc kệ tụng, nhớ kỹ trong tâm, trong sanh hoạt thường ngày
luôn luôn đề khởi công phu quán chiếu thì tu mới đắc lực.
Chánh
kinh:
Xả ly
chư tham sân,
Bất trụ
ư hội náo.
(Lìa bỏ
các tham, sân,
Chẳng trụ
vào nhiệt náo)
Kệ tụng bị
câu chữ hạn chế, chẳng thể dài dòng, thẳng chóng như trường hàng được. Bởi
thế, những ý nghĩa bao hàm trong kệ tụng chúng ta phải nhận hiểu. “Lìa
bỏ các tham, sân” là chỉ nói đến hai thứ phiền não, chứ tính ra còn
phải có si, mạn, nghi, nhưng vì câu kệ này chỉ có năm chữ nên tỉnh lược
những thứ sau. Mọi người đừng cho là do tỉnh lược nên chúng chẳng có,
chẳng phải như vậy đâu. Ý nghĩa câu này vẫn viên mãn, chúng ta phải hiểu
rõ.
Chánh
kinh:
Nhược
hữu chuyên trụ bỉ,
Thị
quá, bất ưng tác.
(Nếu ai
chuyên trụ đó,
Là sai,
chẳng nên làm)
Nghĩa là
trong tâm chẳng nên tham đắm nhiệt náo. Nếu thường tưởng nghĩ những trường
hợp, cảnh giới nhiệt náo như thế, đối với những điều đó sanh vui thích,
thế là tâm quý vị có chỗ trụ. Phật bảo đó là lầm lỗi, là chẳng nên làm. Vì
sao? Bài kệ tiếp theo sẽ nói rõ nguyên nhân.
Chánh
kinh:
Kiêu
mạn cập giác quán
(Kiêu mạn
và giác quán)
Quý vị có
thấy vì sao tham, sân, si vô ích chưa? Phần trên đã nói tham sân là kiêu
mạn và giác quán, đủ thấy là trong tham, sân có mạn; tham, sân, si, mạn
đều gộp trong ấy hết. “Giác quán” là trong tâm vọng tưởng chẳng
ngừng, vọng niệm rất nhiều. Đấy đều là do nhiệt náo sanh ra; nhiệt náo là
tăng thượng duyên.
Chánh
kinh:
Hoại hạnh vô giới nhân,
Xưng
thán ư hội náo.
(Kẻ hoại
hạnh, không giới,
Bèn khen
ngợi nhiệt náo)
Hạng người
nào ưa thích những điều đó? Người chẳng trì giới, người chẳng nghiêm cẩn
chân tu hành. “Hoại hạnh” là phá hoại sự tu hành chánh đáng, và
những kẻ chẳng trì giới mới vui thích nhiệt náo, mới khen ngợi nhiệt náo.
Hai bài kệ này cùng nói về một việc!
Chánh
kinh:
Ngu
nhân nhạo thế luận,
Thoái
thất Đệ Nhất Nghĩa.
(Kẻ ngu ưa
thế luận,
Lui sụt Đệ
Nhất Nghĩa)
“Đệ Nhất
Nghĩa” là như trong phần văn Trường Hàng ở trên đã nói là “quán
Thật Nghĩa”, quán sát Thật Tướng của các pháp. Người nào ưa thích
những luận nghị thế gian, người ấy nhất định quên mất những đạo lý, răn
dạy của pháp xuất thế. Đó là “thoái thất” vậy!
Chánh
kinh:
Phóng
dật, đa giác quán,
Thị
quá, bất ưng tác.
(Buông
lung, nhiều giác quán,
Là sai,
chớ nên làm!)
Đây cũng là
lầm lỗi của người tu hành, chớ có làm. Chớ nên tham nhiễm thế luận.
Chánh
kinh:
Tỳ-kheo
xả đa văn,
Ngôn
luận bất như lý,
Tổn
giảm chư thiền định,
Thường
tư duy thế gian.
(Tỳ kheo
bỏ đa văn,
Ngôn luận
chẳng đúng lý,
Các thiền
định tổn giảm,
Thường
nghĩ chuyện thế gian)
Ở đây, đức
Phật nêu một thí dụ: tỳ-kheo xuất gia bỏ đa văn. Đây là lối chơi chữ. Nếu
như hiểu là “ngay cả đức Phật giảng kinh thuyết pháp, quý vị cũng chẳng
nghe, cứ bỏ sạch cả đi” thì lầm mất rồi. Câu này phải hiểu đúng như sau:
Người xuất gia cần phải đa văn, nghe nhiều Phật pháp! Tuy nói là đa văn
Phật pháp, nhưng cũng phải có thứ tự trước sau, như trong tứ thệ nguyện ta
thường nói là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, đấy là học rộng
đa văn. Nhưng điều nhất định là trước tiên quý vị phải đoạn phiền não.
Nếu phiền não
vô tận chưa đoạn, quý vị sẽ chẳng thể đa văn, mà phải cần thâm nhập một
môn. Thâm nhập một môn giúp ta đắc định, giúp ta bỏ được giác quán. Khi
trí huệ mở mang rồi, mới có thể học rộng đa văn. Vì thế phải theo thứ tự,
đa văn chẳng dành để nói với người sơ học. Bởi thế, chúng ta phải thông
đạt, phải hiểu rõ ý nghĩa của đoạn kinh này. Nếu như “bỏ đa văn”, lẽ đương
nhiên ngôn luận có sai trái. “Bất như lý” là chẳng đúng với chân lý
đức Phật đã nói. Phật giảng hết thảy pháp đều là để giảng cho chúng ta
chân tướng của nhân sanh vũ trụ, hiện tại ta gọi “chân tướng” là chân lý
đấy! Quý vị chẳng thể học rộng đa văn, ắt ngôn luận của quý vị nhất định
chẳng thể là chân tướng sự thật.
Trong câu
“tổn giảm chư thiền định”, chúng ta phải đặc biệt chú ý chữ “chư”.
Chư có nghĩa là vô lượng tam-muội, tam-muội là thiền định. Vì sao có nhiều
thiền định thế? Là do có rất nhiều phương thức tu hành, bất luận dùng công
phu nào, dùng phương pháp nào để tu thiền định, mà cứ ham hố ngôn luận thế
gian thì đều uổng công thôi, ngay cả môn Niệm Phật của chúng ta cũng bị
trở ngại. Vì thế, cổ kim đại đức thường hay dạy người sơ học chúng ta bỏ
lìa thế luận: từ báo chí, tạp chí, cho đến máy truyền hình, truyền thanh
đều bỏ cả, tâm quý vị mới được thanh tịnh, mới định được.
Trong khi
giảng, cũng có lúc chúng tôi nêu lên vấn đề này, nhưng có mấy ai làm được?
Quý vị chưa làm được thì nói cách khác: Nhất định sẽ bị ảnh hưởng bởi hoàn
cảnh. Trước đây, nói chung là chừng hai mươi, ba mươi năm trước, chính phủ
vừa đề xướng cuộc vận động phục hưng văn hóa, có một ngày tôi đang ở nhà
tiên sinh Phương Đông Mỹ, khéo sao hôm ấy có hai viên chức thuộc bộ Giáo
Dục đến thăm giáo sư Phương, nêu vấn đề thỉnh giáo cụ Phương: “Cuộc vận
động phục hưng văn hóa nên bắt đầu từ đâu?” Phương tiên sinh trầm ngâm mấy
phút, rồi mới nói: “Nhất loạt ngưng in các loại tạp chí, báo chí ở Đài
Loan, đóng cửa hết các đài truyền thanh, truyền hình”. Viên chức bộ Giáo
Dục nghe vậy, lắc đầu:
- Thưa thầy,
điều ấy chẳng thể làm được đâu!
- Chẳng làm
được điều đó, còn bàn chuyện phục hưng văn hóa Trung Quốc làm gì nữa? Văn
hóa Trung Quốc bị những thứ ấy phá hoại sạch cả rồi!
Lời cụ rất có
lý nghe! Phục hưng văn hóa cố hữu còn bị thế luận gây chướng ngại, huống
hồ là tu đạo! Nói đến tu đạo, thì đạo là gì? Đạo là tâm thanh tịnh, đạo là
chánh tri chánh kiến, đạo là chân chánh giác ngộ. Vì thế, nếu chẳng lìa bỏ
được những thứ trên, đương nhiên sẽ thoái thất Đệ Nhất Nghĩa, Đệ Nhất
Nghĩa chính là đạo! Một câu “tổn giảm các thiền định” này ý nghĩa
là như thế, tu hành công phu chẳng đắc lực, chẳng có thành tựu. “Thường
tư duy thế gian”: ý niệm hằng ngày của quý vị toàn là dính mắc vào
những pháp thế gian ấy.
Chánh
kinh:
Đam
trước tư duy giả,
Hà đắc
ư tịch tĩnh?
(Kẻ mê đắm
tư duy,
Há đâu đạt
tịch tĩnh?)
“Đam trước
tư duy” là kẻ thích suy nghĩ lung tung, tâm kẻ ấy làm sao định nổi
được? Làm sao thanh tịnh cho được?
Chánh
kinh:
Kỳ tâm thường tán dật
(Tâm gã
thường tán dật)
Tâm kẻ ấy
thường tán loạn, thường phóng dật.
Chánh
kinh:
Vĩnh ly
ư chánh quán.
(Mãi lìa
nơi chánh quán)
[Chánh quán ở
đây là] chánh quán của chư Phật Như Lai. Chánh quán là chánh tri chánh
kiến, giác nhưng không mê, chánh nhưng chẳng tà; kẻ ấy vĩnh viễn chẳng thể
đạt được. Chúng ta tu hành ngày ngày mong sẽ chứng đắc, nhưng vì sao chẳng
thể chứng đắc? Bây giờ ta biết: Chẳng thể chứng đắc là vì mắc căn bệnh
nào? Sai lầm ở đâu? Trong bộ kinh này, đức Phật đã dạy minh bạch cho chúng
ta.
Chánh
kinh:
Tốc đắc
phi phạm hạnh.
(Mau đạt
phi phạm hạnh)
“Tốc”
là nhanh chóng. Người hiện thời chẳng có lòng nhẫn nại, chẳng có tánh nhẫn
nại sẽ chẳng thể tu định. Bất cứ việc gì, họ cũng cầu những gì mới mẻ,
nhanh chóng, biến chuyển. Tâm lý ấy đối với việc tu đạo rất trở ngại; đấy
chẳng phải là phạm hạnh. “Phạm hạnh”: Phạm nghĩa là thanh tịnh. Bởi
thế, người học đạo trước hết phải tu tâm nhẫn nại. Trong lục độ có Nhẫn
Nhục Ba La Mật; Nhẫn Nhục là tu tâm nhẫn nại.
Chánh
kinh:
Huyên
tạp vô nghi kiểm.
(Ồn tạp,
không đức hạnh)
“Nghi”
là oai nghi, “kiểm” là cẩn thận, kiểm điểm. Câu này ý nói đức hạnh
đều mất cả.
Chánh
kinh:
Diệc
bất tằng ái Phật,
Cập ái
ư thánh chúng,
Khí xả
ly dục pháp,
Đam
trước phi pháp ngôn.
(Cũng chưa
từng mến Phật,
Và mến yêu
thánh chúng,
Vứt bỏ
pháp ly dục,
Mê đắm lời
phi pháp)
Trong câu
“bất ái Phật”, Phật có nghĩa là giác ngộ. Chẳng yêu mến chánh giác
đấy! Chẳng mến chánh giác thì ngày ngày điên đảo mê hoặc. “Chẳng yêu
mến thánh chúng”: chữ “thánh chúng” chỉ thanh tịnh. Trong Tam
Bảo, Tăng Bảo là sáu căn thanh tịnh, mảy trần chẳng nhiễm. Kẻ ấy chẳng
thích thanh tịnh. Thánh chúng cũng tượng trưng cho Lục Hòa. Kẻ ấy cũng
chẳng ưa Lục Hòa. Trong câu “vứt bỏ pháp ly dục”, Pháp là chánh.
Bởi thế, ba câu Giác, Tịnh, Chánh này chính là Tam Bảo. Chúng ta học Phật,
vào cửa Phật bèn quy y Tam Bảo, giờ đây, hành vi việc làm đều trái nghịch
Tam Bảo cả! Vì đâu nên nỗi trái nghịch Tam Bảo? Là vì tham đắm ngôn luận
thế gian, hoan hỷ ngôn luận thế tục, đủ thấy là mắc phải lầm lỗi rất
nghiêm trọng.
Chánh
kinh:
Ngã
thường xả thiên thân,
Chi
phần cập đầu mục,
Vị cầu
vô thượng đạo,
Văn
pháp vô yểm túc.
(Ta thường
bỏ ngàn thân,
Chi phần
và đầu, mắt,
Để cầu đạo
vô thượng,
Nghe pháp
không chán đủ)
Bốn câu kệ
này nói lên việc sau: Thích Ca Mâu Ni Phật nêu gương cho chúng ta; xả thân
cầu pháp thì mọi người cũng sẽ tôn trọng pháp giống như vậy. Trong kinh
Niết Bàn có nói lúc Phật tu nhân, còn là Bồ Tát, vì cầu nửa bài kệ mà xả
toàn thân. Tôi nhớ đến một câu chuyện, có lẽ nhiều vị đồng tu đã biết rồi.
Bởi lẽ đức Phật cầu pháp tha thiết, thiên thần trông thấy, trời Đế Thích
trông thấy, cố ý biến thành một con quỷ La Sát đến nói hai câu kệ: “Các
hành vô thường, là pháp sanh diệt”, rồi không nói tiếp phần sau. Người
cầu pháp nghe đến hai câu ấy, liền hỏi: “Còn hai câu kế thì sao?” Quỷ nói:
- Phần tiếp
theo ta không có sức, nói không nổi nữa.
- Vì sao vậy?
- Bụng ta
đói, không có gì để ăn.
Người ấy nói:
- Ngài muốn
ăn gì?
- Ta muốn ăn
thịt người.
Bồ Tát liền
phát tâm: “Tôi sẽ xả thân, trao cái thân tôi đây cho Ngài, xin Ngài nói
nốt hai câu cuối có được chăng?” vì pháp xả thân. Quỷ La Sát thấy Bồ Tát
thành tâm như thế, nói hai câu kệ cuối rồi, Bồ Tát thật sự xả mạng để cúng
dường. Hai câu kệ cuối là: “Sanh diệt dứt rồi, tịch diệt là vui!”
Quỷ bèn hiện lại thân Đế Thích, cung kính, lễ bái, cúng dường người ấy.
Đấy là chuyện khi còn tu nhân, Phật đã xả thân cầu pháp, chẳng tiếc thân
mạng, vì cầu đạo vô thượng, nghe pháp không chán đủ. Nghĩ lại chúng ta
nghe pháp có nhiệt thành như thế hay chăng? Có chút trở ngại cỏn con nào
bèn chẳng tưởng đến nữa, bèn buông ngay ý nguyện nghe pháp, sao chẳng nghĩ
đến đức Phật đã làm gương cho chúng ta như thế?
Chánh
kinh:
Thị chư
phi pháp nhân,
Thiểu
văn tiện yểm xả.
(Những kẻ
phi pháp ấy,
Nghe một
chút, chán bỏ)
Được chút ít
cho là đủ. Nghe một chút Phật pháp đã cho là đủ quá rồi, chẳng cầu đa văn.
Chúng ta nghe kinh dạy như vậy, thì có rất nhiều vị cao tuổi, trí nhớ
không tốt, nghe xong rất khó chịu! [Bởi lẽ họ thấy mình] không có năng lực
đa văn đấy. Có cần phải đa văn chăng? Không nhất thiết! Việc này là nói
với những người tuổi trẻ. Người trẻ tuổi cần phải đa văn, người phát
nguyện hoằng pháp lợi sanh đương nhiên phải đa văn. Không đa văn làm sao
giáo hóa được chúng sanh có bao nhiêu là căn tánh bất đồng? Người cao tuổi
cứ một câu A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới sẽ lại học rộng nghe nhiều là ổn rồi. Chính xác phi thường! Vì thế,
hiện tại bất tất phải lãng phí thời gian, cứ thâm nhập một môn, một câu Di
Đà cứ niệm đến cùng!
Chánh
kinh:
Ngã
tích tác quốc vương,
Vị cầu
tứ cú kệ,
Thê tử
cập tài bảo,
Tất
giai năng thí dữ.
(Ta xưa
làm quốc vương,
Vì cầu bốn
câu kệ,
Vợ con
cùng của báu,
Thảy đều
đem thí cả)
Đoạn này cũng
là đức Thế Tôn tự trình bày hành vi lúc còn tu nhân. Trong kinh Hiền Ngu,
có đoạn thuật: Lúc Phật tu nhân, làm quốc vương, cũng là vì nghe một bài
kệ:
Hết thảy
hành vô thường,
Sanh đều
là có khổ,
Vô nhân,
không, vô tướng,
Chẳng có
Ngã, ngã sở!
Vì nghe bài
kệ đó bèn bỏ vợ con, của báu. Những chuyện này nhằm nói lên Phật pháp rất
đáng quý! Nếu một câu, nửa bài kệ mà quý vị nghe hiểu, thật sự thể hội, sẽ
khế nhập cảnh giới, chẳng có của báu thế gian nào sánh được nổi đâu! Trong
nhiều kinh điển Đại Thừa, chúng ta đã thấy đức Thích Ca Mâu Ni Phật so
sánh công đức, so lường tài thí với pháp thí: Bố thí của báu đầy khắp đại
thiên thế giới chẳng thể bằng bố thí bốn câu kệ. Bốn câu này hợp thành một
bài kệ. Một bài kệ có thể khiến cho quý vị khai ngộ, khiến cho quý vị liễu
sanh thoát tử, khiến cho quý vị khế nhập cảnh giới Như Lai, dù có nhiều
của báu thế gian hơn nữa, cũng không có cách gì bằng được nổi. Bởi thế,
người chân chánh giác ngộ biết Phật pháp là quý báu, có thể xả thân vì
pháp.
Chánh
kinh:
Hà hữu
ư trí giả,
Nhi bất
cần thính pháp
(Há có kẻ
trí giả,
Mà chẳng
siêng nghe pháp?)
Há thể có kẻ trí huệ chân chánh lại chẳng chịu siêng năng nghe pháp sao?
Kẻ chẳng thể nghe pháp, thích đến chỗ vui chơi là kẻ ngu si, chẳng có trí
huệ đấy! Người thật sự có trí huệ sẽ đối với việc nghe pháp, tu trì, giành
giật từng phút giây, chẳng dám để thời gian quý báu luống qua!
Chánh kinh:
Ngã thường xả nhất thiết,
Phi pháp chi hý luận,
Vi ư bách thiên kiếp,
Nan đắc giải thoát cố!
(Ta thường
bỏ hết thảy,
Những hý
luận phi pháp
Ta trong
trăm ngàn năm,
Khó được
giải thoát vậy!)
Bốn câu kệ
này của đức Phật nhằm khuyên chúng ta, Ngài là tấm gương cực tốt cho chúng
ta: Ngài đã từng - “thường” nghĩa là từng trải qua - “bỏ hết thảy” danh
văn, lợi dưỡng thế gian, ngũ dục, lục trần thảy đều bỏ sạch. “Những hý
luận phi pháp” cũng bỏ luôn. Mục đích là gì? Ngài thật sự hiểu rõ,
thật sự minh bạch rằng “trong trăm ngàn kiếp, khó được giải thoát”
- chúng ta từ vô thỉ đến nay, không phải chỉ là trăm ngàn kiếp đâu, vẫn cứ
luân hồi trong lục đạo, tiền đồ tối om, mù mịt vô cùng, biết bao giờ giải
thoát. Từ xưa đến nay, chúng ta chưa từng giác ngộ, còn Ngài đã thành Phật
là vì đạo lý này đây: Ngài đã giác ngộ. Đã giác ngộ, Ngài lại còn có thể
bỏ, Ngài chịu buông bỏ thì mới có thể thành tựu được!
Chánh
kinh:
Nhữ
đẳng ưng hân nhạo,
Chí cầu
vi diệu pháp.
(Các ngươi
nên vui thích,
Chí cầu
pháp vi diệu)
Chúng ta phải
học theo đức Phật. Hãy nên hoan hỷ, vui ưa, mong cầu Phật pháp vi diệu vô
thượng. Phật pháp vi diệu ấy trong cuối kinh sẽ gom chỉ về Tịnh Độ. Vì
thế, pháp vi diệu này chẳng phải chỉ cho pháp Đại Thừa không thôi, mà thực
tế là chỉ pháp môn cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bởi lẽ, chỉ có
pháp môn này mới thật sự có thể bảo đảm chúng ta ngay trong một đời này
thoát ly tam giới luân hồi.
Chánh
kinh:
Nhược
nhạo ư giải thoát.
(Nếu thích
nơi giải thoát)
Chữ “lạc” ở
đây phải đọc biến âm thành Nhạo, nghĩa là yêu thích. Quý vị phải yêu thích
giải thoát.
Chánh
kinh:
Tối
thắng công đức giả.
(Công đức
tối thù thắng)
“Thắng”
là thù thắng, công đức thù thắng. Hai câu kệ này chỉ chung pháp Đại Thừa,
đồng thời chỉ riêng pháp Tịnh Độ. Pháp môn Tịnh Độ thù thắng khôn sánh,
quý vị phải thật sự yêu mến, phải thật sự hiểu rõ.
Chánh
kinh:
Thế
gian chư sự nghiệp,
Giai sở
bất ưng vấn,
(Các sự
nghiệp thế gian,
Đều chẳng
nên hỏi đến)
Nếu quý vị
buông xuống thì quý vị mới có thể thực sự cầu được giải thoát. Chữ
“giải” này là giải trừ, giải trừ hết thảy phiền não ràng buộc.
“Thoát” là thoát ly lục đạo sanh tử luân hồi. Người chân chánh giác
ngộ đối với những sự nghiệp thế gian đều buông xuống hết. Nói “sự
nghiệp thế gian” là chỉ những sự nghiệp tạo luân hồi lục đạo.
Chánh
kinh:
Y thực
vô thắng lợi,
Diệc
bất chứng Niết Bàn.
(Cơm áo
không lợi ích,
Cũng chẳng
chứng Niết Bàn)
Đây là nêu
thí dụ. Người thế gian bận bịu những gì? Bận bịu với cơm áo. Y thực chẳng
phải là lợi ích thù thắng (“thắng lợi”); bởi thế cơm áo chỉ cần vừa đủ là
được. Đặc biệt là tại Đài Loan, nếu ai chân chánh giác ngộ thì ở Đài Loan
thật sự có đại phước báo. Vì sao vậy? Cơm áo dễ dàng, chẳng khó cầu chi.
Chẳng cần phải tranh giành với ai. Mỗi ngày muốn ăn no, mặc ấm thì điều
kiện ấy tại Đài Loan rất dễ dàng. Có một năm tôi đi giảng pháp, đi xe
taxi, người lái xe bảo tôi: “Kiếm tiền thật chẳng dễ, cay đắng lắm!” Tôi
bèn hỏi ông ta: “Vì sao ông cần phải kiếm thật nhiều tiền vậy? Chẳng biết
ông có cơm ăn không? Ông không có y phục để mặc phải không? Một bộ quần áo
mặc tám, mười năm còn chưa hư kia mà!” Ông ta gật gù: “Cũng có lý chớ!”
Nếu tự vui
với cuộc sống của chính mình thì mỗi tháng chỉ làm việc năm ngày cũng đủ
ăn cả tháng, dành hai mươi lăm ngày niệm Phật. Quý vị coi có phải là tự
tại không? Cớ chi cứ ngày ngày khổ cực vậy? Là vì đua tranh với người khác
đó mà! Bây giờ người ta mặc y phục theo mode, ngày mai không mua một bộ
khác là không theo kịp thời trang rồi, cái tâm lý đua đòi ấy chỉ khiến
chính mình khổ sở mà thôi! Bởi thế, nếu quý vị hiểu rõ đạo lý này thì ở
Đài Loan, quý vị có thể làm một năm, nghỉ một năm; nói thật đó! Ở ngoại
quốc có rất nhiều nơi chẳng được vậy đâu, rất là khổ cực đấy nhé! Tháng
nào không làm việc, tháng ấy không có cơm mà ăn. Tại Đài Loan thì khác,
làm một tháng mà biết tiết kiệm thì có thể đủ ăn cả năm.
Trên đây, nói
cơm áo chẳng phải là lợi ích thù thắng, “cũng chẳng chứng Niết Bàn”.
Hai câu này là như trong kinh Kim Cang nói: “Pháp còn nên bỏ, huống là
phi pháp”. “Chứng Niết Bàn” là pháp, ngay cả ý niệm chứng Niết Bàn
cũng bỏ luôn, chẳng cầu nữa, huống hồ là cơm áo! “Cơm áo còn chẳng phải
là lợi ích thù thắng”, huống chi là phi pháp!
Chánh
kinh:
Đương
xưng thán tối thắng.
(Nên ngợi
khen tối thắng)
Nên khen ngợi
điều tối thù thắng. Điều gì tối thù thắng? Chính là Phật pháp Đại Thừa.
Kinh Kim Cang Bát Nhã nói: “Các pháp đều không, nhân quả chẳng không”.
Quý vị xem: đức Phật nói “ba tâm chẳng thể được”. Chủ thể chấp
trước (năng chấp trước) là không, vạn pháp duyên sanh, thể của chúng là
Không, trọn chẳng thể được; cái được quý vị chấp trước (sở chấp trước)
cũng là không. Năng, Sở đều không. Đấy là nói “vạn pháp đều không”.
Bồ Tát chẳng nói tướng đoạn diệt; chẳng nói tướng đoạn diệt chính là
“nhân quả chẳng không”. Đấy là lời tổng luận toàn bộ kinh ấy một cách
đơn giản như thế; đấy là điều tối thù thắng.
Nếu quy vào
pháp môn Niệm Phật thì niệm Phật là nhân, thành Phật là quả; đấy là pháp
tối thắng được chư Phật Như Lai khen ngợi. Niệm Phật là nhân, thành Phật
là quả, niệm Phật thành Phật. Bởi thế chẳng cần phải niệm pháp thế gian,
phải bỏ thế gian đi, phải bỏ sạch cả đi!
Chánh
kinh:
Thiện
lai, chư tỳ-kheo!
Ưng phu
tòa linh tọa,
Hỗ
thuyết chư pháp yếu.
(Các tỳ
kheo khéo đến,
Hãy nên
trải tòa ngồi,
Bảo nhau
các pháp yếu)
“Thiện lai
chư tỳ kheo” hiểu theo nghĩa rộng là tứ chúng đồng học. Chúng ta
thường có duyên tụ hội một chỗ, khi gặp nhau đừng nói chuyện thế tục, mà
hãy thuật cho nhau nghe các pháp yếu, trao đổi những điều tâm đắc trong
việc tu học, thảo luận những khai thị trọng yếu trong kinh luận Phật giáo
có quan hệ như thế nào đối với việc tu học của chúng ta, giúp cho chúng ta
thấy rỗng toang, buông xuống, giúp chúng ta đoạn ác, tu thiện. Thảo luận
những điều như vậy là đúng.
“Pháp yếu”
là những điểm tối tinh yếu trong pháp, chẳng hạn như bài kệ của kinh Kim
Cang vừa nhắc ở phần trên, tối trọng yếu là hai câu: “Chẳng lấy các
tướng, như như bất động”. Ngoài chẳng chấp tướng, trong tâm bất động,
là điều trọng yếu! Trong pháp môn Tịnh tông, sáu chữ hồng danh “nam mô
A Di Đà Phật” là trọng yếu, không còn gì trọng yếu hơn. Nếu thật sự
chắc thật niệm danh hiệu ấy thì sẽ thoát khỏi tam giới thành công. Ngày
Chủ Nhật, chúng ta họp nhau niệm Phật tại đây, mọi người cùng niệm Phật
chính là bảo cho nhau nghe pháp yếu đấy! Mỗi một người quý vị không có tạp
tâm, không có tạp niệm, nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật, đấy thật
sự là bảo cho nhau nghe pháp yếu vậy!
Chánh
kinh:
Nhân
thân thậm nan đắc,
Tùy
phận hành bạch pháp,
Độc
tụng cập thiền định,
Nhữ ưng
như thị vấn.
(Thân
người rất khó được,
Tùy sức
hành pháp lành,
Đọc tụng
và thiền định,
Ông nên
hỏi như thế!)
Tìm thầy,
kiếm bạn hỏi đạo, hỏi những điều gì? Nhất định phải hiểu thân người khó
được, Phật pháp khó nghe. “Bạch pháp” là thiện pháp, những pháp đức
Phật thuyết chính là bạch pháp. Câu này hàm ý dạy chúng “như thuyết tu
hành”, thường đọc tụng kinh điển Đại Thừa. “Thiền định” là thọ
trì, thật sự tu hành đấy! Đọc xong phải thật sự tu hành! “Thiền định”
hàm ý thật sự tu hành. “Ông nên hỏi như thế”: hỏi như vậy mới là
chính xác, mới được đức Phật khen ngợi vậy!
Chánh
kinh:
Như Lai
nhập Niết Bàn,
Di pháp
đương diệt hoại,
Tỳ-kheo
đa phóng dật,
Nhạo
chúng, khí nhàn tịnh,
Vị ẩm
thực lợi dưỡng,
Trú dạ
đàm thế thoại.
(Như Lai
nhập Niết Bàn,
Di pháp sẽ
diệt hoại,
Tỳ-kheo
hay buông lung,
Ưa đông,
bỏ thanh vắng,
Vì uống
ăn, lợi dưỡng,
Ngày đêm
bàn chuyện đời)
Sáu câu này
nói về hiện tượng học Phật trong thời kỳ Mạt Pháp. Hiện tại đã cách thời
đức Phật diệt độ ba ngàn năm rồi, tình trạng tu tập hiện thời của chúng ta
đức Phật nói chẳng sai một điểm! Câu thứ nhất nghĩa là sau khi đức Phật
diệt độ, Phật pháp sẽ dần dần bị biến chất, Phật pháp cũng bị hoại diệt.
Trong thời đại mạt pháp này, “tỳ-kheo hay buông lung”: đệ tử xuất
gia của Phật phóng dật chẳng tuân thủ lời dạy răn, ưa thích tụ hội cùng
đại chúng. “Nhạo chúng” là thích tụ hội cùng đại chúng, chẳng thích
nhàn tịnh. Càng nhàn tịnh họ càng chẳng hoan hỷ! Vì lợi dưỡng, ẩm thực bèn
“ngày đêm bàn chuyện đời”. Bài kệ này mô tả đích xác tình trạng học
Phật hiện tại của chúng ta!
Chánh
kinh:
Ngu
nhân ư mộng trung,
Kinh bố
nhi phiêu nịch,
Tự tri
đa hủy phạm,
Đương
đọa tam ác đạo
(Kẻ ngu ở
trong mộng,
Kinh hãi
nên trôi chìm,
Tự biết
lắm hủy phạm,
Sẽ đọa ba
đường ác)
“Ngu”
là ngu si, không có trí huệ, mê hoặc, điên đảo. Chữ “trong mộng”
miêu tả cuộc sống hiện tại: Kẻ ấy sống như trong mộng. “Mộng” có
nghĩa là trong cuộc sống chẳng hề giác ngộ, chẳng tỉnh táo, mê hoặc điên
đảo, thời thời khắc khắc sợ hãi, chẳng thể rời bỏ sợ hãi, phiêu giạt, chìm
đắm trong tam đồ lục đạo. Ngẫu nhiên, tạm giác ngộ, liền nhận biết mình đã
hủy phạm nhiều, mình chưa hề tuân thủ những dạy răn của đức Thế Tôn, không
những chỉ phạm giới mà còn hủy phạm nữa, chẳng biết làm sao! Câu kệ cuối
nói đến quả báo: sẽ đọa ba đường ác. Những điều đức Phật nói đều là chân
tướng sự thật, chẳng nói dối câu nào; càng phản tỉnh, càng kinh hãi, biết
làm cách nào đây? Tiếp theo đây, đức Phật dạy:
Chánh
kinh:
Ưng
sanh hoan hỷ tâm,
Độc xử
ư nhàn tịch,
Nhược
tại a-lan-nhã,
Chí cầu
vô thượng đạo
(Nên sanh
tâm hoan hỷ,
Ở riêng
chỗ vắng lặng,
Như ở
a-lan-nhã,
Chí cầu
đạo vô thượng)
Đây là đức
Phật dạy chúng ta “quay đầu là bờ”, đối với những ác nghiệp do mê
hoặc điên đảo đã tạo trong quá khứ, chẳng cần phải nghĩ đến nữa. Nhiều vị
đồng tu thường đến thưa với tôi: tâm thần họ chẳng thể an định, cứ nghĩ
đến những ác nghiệp đã tạo trước đây bèn kinh tâm động phách, ngay đến cả
Phật hiệu cũng niệm chẳng được, hỏi tôi có cách nào không? Làm cách nào ư?
Ở đây, đức Phật bảo đừng nghĩ đến nữa, quá khứ là chuyện đã qua, từ hôm
nay trở đi vui vẻ, mừng rỡ nghĩ đến Phật, niệm Phật, cảnh giới của quý vị
có chuyển biến thì nghiệp chướng của quý vị mới tiêu trừ được! Quý vị cần
phải biết rằng: mỗi lần quý vị nghĩ đến là quý vị lại tạo [nghiệp ấy] một
lần nữa, quý vị sợ còn tạo nghiệp chưa đủ nhiều hay sao? Tạo nghiệp là
tâm, miệng, ý; dù thân và miệng chẳng tạo, nhưng cứ mỗi lần nghĩ đến sẽ
cũng giống như tạo thêm một lần nữa, thật đáng sợ lắm!
Vậy thì, làm
thế nào để tiêu nghiệp chướng? Đừng nghĩ đến nữa, chúng ta nghĩ từ nay đã
chấm dứt rồi, đã ngưng hẳn rồi; từ nay trở đi, chỉ nghĩ đến Phật, nghĩ
trong kinh đức Phật răn dạy bao điều để chuyển biến ý niệm, có vậy mới
hòng tiêu trừ nghiệp chướng. Niệm Phật công phu như vậy mới đắc lực, tự
nhiên xa lìa hết thảy lo sợ, vọng tưởng, đấy là chính là điều đức Phật
thường răn dạy chúng ta. Chúng ta nghe được Phật pháp Đại Thừa, thật là hy
hữu đó nghe! Bởi thế, phải sanh tâm hoan hỷ.
“Ở riêng
nơi thanh vắng” ngõ hầu tâm tịnh, tâm định. “Như trụ a-lan-nhã”:
A-lan-nhã là hoàn cảnh u tịch phi thường. Hoàn cảnh thanh tịnh giúp ích
rất nhiều cho việc tu hành của chính mình. “Chí cầu đạo vô thượng”:
Chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là đạo vô thượng. Điều đầu tiên là
phải tự biết làm thế nào để tiêu nghiệp chướng, làm thế nào để tiêu trừ
vọng tưởng, xác định phương hướng mục tiêu tu học của chính mình, chỗ hạ
thủ vẫn là nương theo những điều đức Phật chỉ dạy.
Chánh
kinh:
Bất ưng
kiến nhân quá.
(Chẳng nên
thấy lỗi người)
Ở phần trên,
đức Phật đã dạy chúng ta phương pháp thứ nhất là chẳng tìm lỗi người, [tức
là] chẳng thấy lỗi người khác đấy!
Chánh
kinh:
Tự vị
tối tôn thắng
(Tự bảo
tôn thắng nhất)
Thấy người
khác ai cũng có lầm lỗi, tự mình tự tôn tự đại, tự hào mình không lầm lỗi
gì, nào biết thấy lỗi người chính là mình có lỗi, phải biết điều này! Nếu
quý vị chẳng có lầm lỗi, quý vị sẽ chẳng thấy lỗi người khác. Câu kinh này
nói [người cho mình tôn quý nhất] là tự tôn tự đại.
Chánh
kinh:
Kiêu
tứ, phóng dật bổn
(Kiêu tứ:
gốc phóng dật)
Kiêu tứ (kiêu
căng ngạo mạn, ý phóng túng) chính là cội rễ của phóng dật, chúng ta phải
dè chừng.
Chánh
kinh:
Mạc
khinh hạ liệt nhân,
Bỉ ư di
pháp trung,
Tiệm
thứ nhi giải thoát,
(Chớ khinh
kẻ kém hèn,
Họ sẽ
trong di pháp,
Dần dần
được giải thoát)
Chớ có khinh
khi người kém hèn, thậm chí đối với súc sanh cũng chẳng được khinh mạn
chúng. Quý vị thấy đời này chúng mang thân súc sanh, biết đâu nghiệp báo
súc sanh của chúng đã mãn, đời sau được làm thân người, niệm Phật vãng
sanh, chúng quyết định sẽ thành Phật, còn ta vẫn cứ lẩn quẩn trong sáu
đường. Chuyện ấy thường có; vì thế chẳng được xem thường người khác, không
ít người một khi chuyển sanh sẽ thành tựu vượt trội chúng ta. “Họ sẽ
trong di pháp”: di pháp là di giáo của Phật, rất có thể họ sẽ lần lượt
được giải thoát, tu hành chứng quả vậy.
Chánh
kinh:
Tỳ-kheo
tuy phá giới,
Thâm
tín ư Tam Bảo,
Thị tắc
giải thoát nhân,
Bất ưng
kiến kỳ quá.
(Tỳ kheo
tuy phá giới,
Nhưng tin
sâu Tam Bảo,
Chính là
nhân giải thoát,
Chẳng nên
thấy lỗi họ)
Ở đây, Phật
lại thuyết minh vì sao chẳng nên thấy lỗi người khác? Có đạo lý đấy. Trong
Giới kinh thường nói: phá giới Phật vẫn có biện pháp cứu được, nhưng mất
chánh kiến, Phật không còn cách nào cứu nổi. Những người kia tuy phá giới,
nhưng không phá chánh kiến. Vì sao? Vì họ tin tưởng Tam Bảo sâu xa, vẫn
còn cứu được!
Thí dụ rõ
ràng nhất là như chuyện pháp sư Oánh Kha đời Tống chép trong Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục là một thí dụ rất hay. Lúc còn sống, Oánh Kha phá giới, tạo tác
rất nhiều ác nghiệp. Sở dĩ ông ta được cứu là vì tin tưởng Tam Bảo, vẫn
tin tưởng nhân quả, tự nghĩ mình nhất định đọa địa ngục A Tỳ. Tưởng đến
việc ấy, ông ta sợ run, cầu hỏi các bạn đồng tu có cách nào cứu giúp hay
không? Bạn đồng tu của ông ta cũng rất hiếm có, tặng ông Oánh một cuốn
Vãng Sanh Truyện, bảo ông ta tự xem. Ông đọc thấy mọi người niệm Phật vãng
sanh, tâm liền chấn động, thật sự phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
Tâm ông ta chân thành, khẩn thiết, niệm đến ba ngày ba đêm cảm đức A Di Đà
Phật hiện thân.
Phật A Di Đà
dạy ông: “Ông còn sống được mười năm nữa, ông phải tu cho khéo; mười năm
sau, lúc ông mạng chung, ta sẽ đến rước ông”. Oánh Kha chẳng dễ nản chí,
ông thưa cùng A Di Đà Phật: “Con nghiệp chướng rất nặng, chẳng chống cự
nổi những dụ dỗ, mê hoặc, người ta dẫn dụ là con lại phạm tội, phạm tội
nữa thì chẳng biết mười năm sau tạo không biết bao nhiêu là tội nghiệp,
con chẳng cần sống thêm mười năm nữa đâu, bây giờ con cứ theo Ngài thôi!”
Phật cũng từ bi đáp ứng: “Ba ngày sau ta sẽ đến tiếp dẫn ông”. Ba ngày sau
ông liền vãng sanh.
Kinh A Di Đà
nói niệm một ngày, hai ngày đến bảy ngày là thật đấy, chẳng phải giả đâu.
Vì sao chúng ta niệm Phật đã lâu mà chẳng được vãng sanh? Chúng ta chỉ ưa
thích vãng sanh nơi cửa miệng, chứ trong tâm đối với thế giới này tham
luyến, bỏ chẳng được! Phật biết rất rõ ràng, minh bạch, biết những lời quý
vị nói đều là giả, nói không thật, nên Ngài chẳng đến; quý vị mà thật muốn
vãng sanh, Ngài sẽ đến. Quý vị chẳng nói lời chân thật, miệng đúng tâm
sai, nên có niệm suốt đời, Phật cũng chẳng nghĩ đến mình, còn người ta
niệm chỉ ba ngày là Phật liền nghĩ đến ngay, là vì sao vậy? Vì thật sự
niệm. Nếu như ở đây chúng ta đả Phật thất đúng như thế, niệm Phật bảy ngày
liền vãng sanh thì sẽ chẳng còn ai đến đây nữa đâu! Bởi nếu được như vậy
thì xong bảy ngày là chết rồi, còn ai dám đến đây nữa!
Đoạn kinh này
nói về người phá giới, nhưng chẳng phá chánh kiến, [vẫn còn] chánh tri,
chánh kiến, chẳng phải là tà tri, tà kiến. Chánh kiến đó là nhân để giải
thoát, họ sẽ được cứu, được vãng sanh, không chỉ vãng sanh mà lắm khi phẩm
vị vãng sanh còn cao nữa kia! Chúng ta thấy trong kinh nói vua A Xà Thế,
chẳng hạn như trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, từng giết cha, hại mẹ, theo Đề
Bà Đạt Đa phá hoại Tăng đoàn, tạo tội ngũ nghịch, thập ác. Đề Bà Đạt Đa
đọa địa ngục, ông ta lúc lâm chung mới sám hối, niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, Phật bảo ông ta là thượng phẩm trung sanh, thật là ngoài sức tưởng
tượng của chúng ta.
Bởi thế,
chúng ta mới hiểu được rằng: có hai loại người vãng sanh Tịnh Độ, một là
bình thời niệm Phật tích công lũy đức, hai là lâm chung sám hối, phẩm vị
cao hay thấp phụ thuộc sức sám hối của người đó. Vua A Xà Thế chân tâm sám
hối, nên đạt được phẩm vị cao. Bởi thế, chúng ta chẳng được khinh mạn
những người tạo ác nghiệp, “chẳng nên thấy lỗi họ”.
Chánh
kinh:
Tồi
phục tham sân nan,
Vật
kinh ư phóng dật,
Trừ tập
pháp ưng nhĩ,
Thị cố
bất tu thuyết.
(Khó dẹp
yên tham sân,
Đừng kinh
sợ phóng dật,
Trừ tập
pháp như thế,
Nên chẳng
cần nói nữa)
Bài kệ này
cho thấy đức Phật thông đạt nhân tình vô cùng. Từ phương diện nhân tình mà
nói, chẳng nên khinh mạn những hạng người ấy là vì cớ gì? Phiền não tham -
sân - si muốn đoạn trừ rất khó khăn. Biếng trễ, lười nhác, phóng dật đều
là tập khí phiền não từ vô thỉ kiếp đến nay. “Trừ tập pháp ưng nhĩ”
(trừ tập khí, lẽ đương nhiên phải như thế): thấy những hiện tượng ấy, biết
những hiện tượng ấy là chuyện đương nhiên. Cho nên chẳng thấy lỗi người
khác. Ôi! Chẳng cần phải nói đến làm chi, phiền não từ vô thỉ đó mà! Kẻ
kia chưa phải là thánh nhân, cũng chưa phải là Phật, Bồ Tát tái lai, làm
sao không có phiền não cơ chứ?
Vì thế, dù
thấy họ có lỗi cũng chẳng cần phải nói đến, hãy ngoảnh lại xét mình, bản
thân mình có lỗi đó hay không? Tự xét mình khó lắm nghe! Thấy lỗi người
khác dễ ẹt à! Hệt như tròng mắt chỉ thấy những gì bên ngoài chứ chẳng thấy
được chính mình. Như vậy, người giác ngộ chẳng có gì phi thường cả, họ
thấy người khác giống như chính mình, ta - người chẳng hai. Thấy người
khác có lỗi, họ liền biết chính mình có lỗi ấy, mong mỏi người khác sửa
lỗi thế nào thì họ sẽ tự nghiêm chỉnh sửa lỗi. Người như vậy có trí huệ,
người như vậy khéo tu đấy! Biết tu hành đấy!
Chánh
kinh:
Nhược
thanh tịnh tỳ-kheo,
Ty tha
nhân quá thất,
Thị tối
phi chân thật,
Bất
danh tu chánh pháp.
(Nếu
tỳ-kheo thanh tịnh,
Bới tìm
lỗi lầm người,
Thật chẳng
phải chân thật,
Chẳng gọi
tu chánh pháp)
Nếu là một
tỳ-kheo chân chánh thanh tịnh mà lại làm phiền người khác, tìm lỗi người
khác, đức Phật nói kẻ ấy chẳng đúng là tỳ-kheo thanh tịnh, cũng chẳng phải
là kẻ chân chánh tu hành, mà là giả, là giả vờ đó thôi!
Chánh
kinh:
Như lý
tu hành giả,
Đương
tu tự quán sát.
(Kẻ đúng
lý tu hành,
Phải nên
tự quán sát)
Thực sự là
người tu hành thì phải thường tự xét mình, chẳng cần phải nhòm ngó người
khác.
Chánh
kinh:
Cầu đạo
chư tỳ-kheo,
Xả ly
ác ngôn luận,
Thường
dĩ hoan hỷ tâm,
Độc xử
ư nhàn tịnh.
(Các
tỳ-kheo cầu đạo,
Lìa bỏ lời
lẽ ác,
Thường
dùng tâm hoan hỷ,
Ở riêng
nơi thanh vắng)
Đây là một
tấm gương tu hành. Thật sự là người tu hành thì nhất định phải bớt nói,
ngôn ngữ phải nhu hòa, thanh tịnh, hoan hỷ, an tịnh, đúng như thường nói:
“Nhiều sự chẳng bằng ít sự; ít sự chẳng bằng vô sự”. Đấy mới là
chân chánh tu hành vậy! Trong đoạn này tổng cộng có hai mươi bốn bài kệ,
trùng tụng đại ý đã nói trong phần trường hàng. Đoạn kinh văn tiếp theo
đây là đoạn kinh tổng kết.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát phục bạch Phật ngôn:
- Hy
hữu Thế Tôn! Đam trước hội náo, nãi hữu như thị vô lượng quá ác.
(Lúc bấy
giờ, Di Lặc Bồ Tát lại bạch Phật rằng:
- Hy hữu
thay, bạch đức Thế Tôn! Mê đắm nhiệt náo bèn có vô lượng lỗi ác như thế)
Di Lặc Bồ Tát
nghe đức Phật tuyên thuyết rất cảm khái, bèn thưa: “Tham ái, ưa thích
nhiệt náo có nhiều lỗi ác như thế đó”.
Chánh
kinh:
Thoái
thất công đức, vô hữu lợi ích, tăng trưởng phiền não, đọa chư ác thú, viễn
ly bạch pháp.
(Lui sụt
công đức, chẳng có lợi ích, tăng trưởng phiền não, đọa các đường ác, xa
lìa bạch pháp)
“Bạch
pháp” là thiện pháp. [Kẻ ấy] toàn là tạo ác pháp, chẳng phải là thiện
pháp.
Chánh
kinh:
Hà hữu
Bồ Tát cầu thiện pháp giả, văn thị quá thất, nhi bất nhạo ư độc xử nhàn
tịnh.
(Có vị Bồ
Tát nào cầu thiện pháp, nghe những lỗi ấy, mà chẳng thích ở riêng nơi
thanh vắng ư?)
Đây là lời
khích lệ chúng ta. Ngài nói có Bồ Tát nào cầu thiện pháp, nghe giảng nhiều
lỗi lầm của việc ưa thích nhiệt náo như thế mà vẫn chẳng chịu buông bỏ
chăng? Vẫn chẳng tìm một nơi an tịnh để tu học hay chăng?
8.5. Sơ
nghiệp Bồ Tát nên quán ngôn luận thế gian có hai mươi lỗi lớn
8.5.a.
Trường hàng:
Phần dưới đây
nói ngôn luận thế gian có hai mươi lỗi lớn, xin hãy xem kinh văn:
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:
- Thế
Tôn! Vân hà danh vi thế thoại trung quá, nhược quán sát thời, Bồ Tát ưng
trụ quyết định chi nghĩa. Do quán thị nghĩa, bất sanh nhiệt não.
(Lúc bấy
giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:
- Bạch Thế
Tôn! Thế nào gọi là lỗi lầm của ngôn luận thế gian để khi Bồ Tát quán sát
sẽ trụ vào nghĩa quyết định. Do quán nghĩa ấy, chẳng sanh nhiệt não).
Lời lẽ thỉnh
pháp của Di Lặc Bồ Tát chẳng khó hiểu gì, chỉ e các vị đồng tu nghi hoặc
chữ “quyết định nghĩa”. Chữ “quyết định nghĩa” trong câu
“Bồ Tát ưng trụ quyết định nghĩa” chỉ sự lý chân thật. Kinh Bát Nhã
giảng Thật Tướng của các pháp, hiện tại ta gọi là chân tướng của nhân sanh
vũ trụ. Các vị ấy phải trụ, phải nên trụ trong chân tướng của nhân sanh vũ
trụ. Có thể tu học như thế thì mới chẳng sanh phiền não.
Chánh
kinh:
Phật
ngôn:
- Di
Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát ưng đương quán sát thế thoại quá thất, hữu nhị thập
chủng. Nhược quán sát thời, năng linh Bồ Tát trụ quyết định nghĩa; do quán
thị nghĩa, bất sanh nhiệt não.
(Phật dạy:
- Này Di
Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát hãy nên quán sát ngôn luận thế gian có hai mươi thứ
lầm lỗi. Như khi quán sát sẽ khiến cho Bồ Tát trụ trong nghĩa quyết
định; do quán sát nghĩa ấy, chẳng sanh nhiệt não)
Đây là lời
Phật đáp chung cho câu hỏi của Bồ Tát Di Lặc. Đích xác là có thể thực hiện
được điều ấy, vấn đề là quý vị phải quán sát, đối với lỗi lầm của ngôn
luận thế gian cũng như công đức lợi ích do lìa bỏ ngôn luận thế gian, quý
vị phải quán sát thấu triệt, hiểu rõ, quý vị mới trụ được nơi “nghĩa quyết
định”, tâm mới an trụ trong Thật Tướng các pháp, mới chẳng sanh phiền não.
Chánh
kinh:
Di Lặc!
Vân hà danh vi nhạo ư thế thoại nhị thập chủng quá?
(Di Lặc!
Thế nào gọi là hai mươi lỗi do ưa thích ngôn luận thế gian?)
“Nhạo”
là vui thích, yêu mến. Yêu thích ngôn luận thế gian có hai mươi lỗi, ở
đây, đức Phật sẽ giảng cho chúng ta.
Chánh
kinh:
Nhất
giả, tâm sanh kiêu tứ, bất kính đa văn.
(Một là
tâm sanh kiêu ngạo, phóng túng, chẳng kính đa văn)
Chữ “đa
văn” chỉ người nghe nhiều Phật pháp; đối với người học rộng đa văn, họ
chẳng hề tôn kính. Vì sao? Nói đơn giản, là vì họ biết pháp thế gian quá
nhiều, nhân đấy bèn sanh tâm kiêu mạn, kiêu ngạo, ngạo nghễ, ngã mạn, dù
hàng tỳ-kheo Bồ Tát xuất gia đọc kinh sách rất nhiều, họ vẫn coi thường,
chẳng thèm để vào mắt - chẳng kính đa văn.
Chánh
kinh:
Nhị
giả, ư chư tránh luận, đa khởi chấp trước.
(Hai là,
hay khởi chấp trước vào các tranh cãi)
Điều này từ
xưa đến nay chẳng thể tránh khỏi, tranh chấp rất nhiều! Vì sao có tranh
chấp? Vì thành kiến rất sâu.
Chánh
kinh:
Tam
giả, thất ư chánh niệm, như lý tác ý.
(Ba là
đánh mất chánh niệm, suy nghĩ đúng lý)
Họ khởi tâm
động niệm chẳng đúng lý, cũng chẳng như pháp. “Lý” là chân tướng
của nhân sanh vũ trụ, chẳng tương ưng với Lý nên gọi là “đánh mất chánh
niệm”. Chẳng biết suy nghĩ đúng lý, họ khởi tâm động niệm toàn là sanh
phiền não.
Chánh
kinh:
Tứ giả,
vi sở bất ưng thân đa tháo động.
(Bốn là
làm điều chẳng nên làm, thân hay tháo động)
“Vi”
là hành vi, là tạo tác, họ tạo tác những điều chẳng nên làm. Thế nào là
những điều chẳng nên làm? Chẳng nên tạo nghiệp tam đồ đấy! Nói đơn giản là
như trong nhà Phật thường nói: Chẳng nên làm mười ác nghiệp. “Tháo
động”: kẻ ấy cứ khăng khăng gây tạo.
Chánh
kinh:
Ngũ
giả, tốc tật cao hạ, hoại ư pháp nhẫn.
(Năm là
nhanh chóng cao thấp, hư hoại pháp nhẫn)
“Cao hạ”
ở đây là tâm sanh phân biệt, tâm phân biệt rất mạnh nên sanh ý tưởng cao
thấp. Pháp nhẫn chẳng có, chẳng thể nhẫn nại!
Chánh
kinh:
Lục
giả, tâm thường cang cường,
(Sáu là
tâm thường ương ngạnh).
Tâm ương
ngạnh này chướng ngại thiền định, chướng ngại trí huệ. Vì thế....
Chánh
kinh:
Thiền
định trí huệ tằng bất huân tu. Thất giả, phi thời nhi ngữ, ngôn luận sở
triền
(Thiền
định, trí huệ chưa từng huân tu. Bảy là không đúng thời mà nói, bị
ngôn luận ràng buộc)
“Phi
thời”: ngôn ngữ có thời tiết, nhân duyên. Vào một lúc nào đó, có những
lời chẳng nên nói, họ cứ nói bừa, cứ nói hoài những lời ấy, nên gặp phải
rất nhiều chướng nạn; như bây giờ ta thường nói là bị người khác phê bình,
bị công kích đó! Chẳng nên nói những lời nói đấy. Nói năng là cả một nghệ
thuật lớn, nhất định phải hiểu rõ thời tiết, nhân duyên. Nơi nào, lúc nào,
lời nào chẳng thể nói. Kẻ kia ngu si, chẳng có trí huệ, lời chẳng nên nói
mà cứ nói hoài! Vì thế, bị ngôn luận ràng buộc, tức là bị người khác công
kích, phê bình vậy!