Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tịnh Độ


...... ... .

 

 

PHÁT KHỞI BỒ TÁT THÙ THẮNG CHÍ NHẠO

KINH LƯỢC GIẢNG

(Nguyên văn: Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký)

Chủ giảng: Hoà Thượng Thích Tịnh Không

Cư Sĩ Truyền Tịnh Chỉnh Lý

Chuyển Ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hoà

---o0o---

 

IV. LƯỢC GIẢI KINH VĂN

B. CHÁNH TÔNG PHẦN

Chánh kinh:

Nhược dục ư bỉ chư chúng sanh đẳng, thâm sanh lân mẫn, đa sở nhiêu ích, ưng dĩ vô hy vọng tâm thanh tịnh thuyết pháp.

(Nếu đối với những chúng sanh ấy, sanh lòng thương xót sâu xa, muốn làm nhiều điều lợi ích cho họ thì phải dùng tâm không mong cầu mà thanh tịnh thuyết pháp).

 

Câu này nói về “lợi tha”. Bồ Tát đều có tâm từ bi, thấy chúng sanh rất khổ, rất đáng thương, nói chung là muốn giúp đỡ họ, nhưng rất đáng tiếc là chính mình không có trí huệ thì rốt cuộc phải giúp đỡ bằng cách nào đây? Càng giúp càng rối thêm, chúng ta thấy rất nhiều. Giúp đỡ như thế nào mà càng rối thêm? Giúp họ đọa tam đồ, đẩy họ đọa vào địa ngục, còn bảo là mình tạo công đức rất lớn. Oan uổng quá!

Ở chỗ này, quý vị phải đọc kỹ bộ kinh này, mới hiểu rằng ta thường nói mình độ chúng sanh, cứu tế những người khổ nạn, nhưng rốt cuộc là chúng ta đã làm những việc gì? Chúng ta tạo nhân quả như thế nào? Ta cần phải làm những gì thì mới đúng lý, đúng pháp, mới có thể thành tựu chính mình, giúp đỡ người khác? Kinh này dạy “sanh thâm lân mẫn, đa sở nhiêu ích”. “Nhiêu” là phong phú, phong nhiêu, cũng hàm ý lợi ích tối cao, lợi ích tối thù thắng: giúp cho người khác giác ngộ, chứ chẳng phải chi khác. Giúp họ nhận biết Phật giáo Đại Thừa, giúp họ nhận hiểu Tịnh Độ, lợi ích ấy vô lượng vô biên.

Nên dùng thái độ như thế nào? Dùng “tâm không mong cầu” để giới thiệu Phật pháp cho họ. Nếu như thuyết pháp cho họ mà có tâm mong mỏi nơi họ thì là lầm lạc rồi!

 

5. Lúc dùng tâm không mong cầu để hành pháp thí, sẽ thành hai mươi điều lợi, và lại thêm hai mươi điều lợi nữa

 

Theo cách đại sư Ngẫu Ích phán định, chia kinh này thành tất cả mười lăm đoạn, đoạn chúng tôi sẽ giảng dưới đây là đoạn thứ tám.

 

Chánh kinh:

Phục thứ Di Lặc! Nhược Bồ Tát dĩ vô hy vọng tâm, hành pháp thí thời, bất trước danh văn, lợi dưỡng, quả báo, dĩ nhiêu ích sự nhi vi thượng thủ, thường vị chúng sanh, quảng tuyên chánh pháp.

(Lại này nữa Di Lặc! Nếu Bồ Tát dùng tâm không mong cầu, lúc hành pháp thí, chẳng chấp vào danh tiếng, lợi dưỡng, quả báo, lấy sự nhiêu ích làm đầu, thường vì chúng sanh rộng nói chánh pháp).

 

“Vô hy vọng” nói cụ thể là ta chẳng hy vọng cái gì?

Điều thứ nhất là danh, chẳng vì cái danh, mà cũng chẳng vì “văn”. “Văn” nói theo ngôn ngữ ngày nay là mức độ được người ta biết đến. Chúng ta chẳng vì những thứ đó. Hiện tại có những vị đồng tu in những cuốn sách nhỏ, có một lần ở phi trường, tôi thấy một vị đồng tu cầm cuốn sách nhỏ để niệm, đại khái là Vô Lượng Thọ Kinh. Trang đầu cuốn sách ấy in một tấm hình của tôi, tôi thấy là do Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội ấn tống, thật là hồ đồ, phiền toái quá. Không nên như vậy! Quý vị làm vậy tưởng chừng như tôn trọng tôi, chứ thật sự ra là gì? Chỉ là đề xướng danh văn, lợi dưỡng, đề xướng bất tịnh thuyết pháp. Đầu kinh in hình Phật, hình Bồ Tát thì được, chứ quyết định chẳng thể in hình ai, tuyệt đối chẳng được!

Pháp thế gian có chỗ đáng học theo, có chỗ chẳng nên học theo vậy! Minh tinh điện ảnh gây chú ý, họ đăng ảnh quảng cáo rất nhiều. Lúc chúng tôi thuyết pháp, quyết định chẳng được làm như thế. Lúc phát thiếp thông báo [thuyết giảng], nếu cứ phải in hình pháp sư lên trên ấy thì có khác gì quảng cáo minh tinh đâu! Người thật sự có đức xem thấy, họ không trách quý vị nhưng cũng chẳng đến dự. Trên thiếp thông báo in hình Phật, hình hoa sen thì được, ngàn vạn phần chẳng nên in hình ai. Điều này quý vị phải nhớ lấy, tuyệt đối đừng tạo danh văn!

“Lợi” là lợi ích, “dưỡng” là cung dưỡng. Chẳng vì những thứ này [mà thuyết pháp]. Nếu chẳng vì những thứ này, lại có người vì những thứ gì? Vì quả báo. Tôi làm như thế tương lai sẽ thành Phật, thành Bồ Tát. Ý niệm thành Phật, thành Bồ Tát cũng phải bỏ sạch đi, cái gì cũng chẳng cầu thì quý vị mới thật sự thành tựu. Quý vị nghĩ tôi muốn chứng A La Hán, thành Bích Chi Phật, thành Bồ Tát thì gọi là khởi vọng tưởng, là mục tiêu của phàm phu. Họ mong mỏi thì nhất định họ sẽ chẳng đạt được.

Vì sao vậy? Chư Phật, Bồ Tát tâm địa thanh tịnh, một niệm chẳng sanh, làm sao còn có vọng niệm cơ chứ? Thành Phật, thành Bồ Tát là chúng ta nói, chứ các Ngài chẳng hề nói mình thành Phật, thành Bồ Tát. Kinh nói các Ngài thành Phật, thành Bồ Tát là tùy thuận chúng sanh mà nói. Chúng sanh hiểu như vậy cho nên Phật nói thuận theo chúng sanh, chứ trong tâm Ngài tuyệt chẳng có ý niệm ấy.

Chẳng những chư Phật, Bồ Tát không có ý niệm ấy, chúng ta xem trong kinh Kim Cang, Tu Đà Hoàn cũng đều chẳng có ý niệm ấy; ta mới nhận thức rõ ràng là Tiểu Thừa Sơ Quả còn chẳng có ý niệm ấy nên các Ngài mới chứng được Sơ Quả! Nếu có ý niệm ấy, các Ngài chẳng thể chứng Sơ Quả! Vì sao vậy? Còn có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. Có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là lục đạo phàm phu, chẳng phải là thánh nhân! Bởi thế, những lời Phật răn dạy ở đây gọi là lời răn dạy chân thật, chúng ta chẳng nên có những ý niệm như thế.

Đối với chúng sanh phải lấy việc “nhiêu ích” làm đầu. Nói theo ngôn ngữ hiện thời, “nhiêu ích” là lợi ích lớn nhất, thù thắng nhất, là giúp đỡ hết thảy chúng sanh, lấy đó làm điều ưu tiên. Tối thù thắng, thù thắng khôn sánh là dạy chúng sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Pháp môn ấy gọi là pháp khó tin, làm sao họ tin tưởng được? Điều này rất trọng yếu! Bởi thế, tự mình phải nhận thức tu hành. Nếu chính mình chẳng tu hành, làm sao kêu người khác tin tưởng được? Nhất định phải lấy chính mình làm gương tốt để chúng sanh trông vào, họ không tin cũng không được!

Chính tôi khi học Phật, gặp thầy Lý Bỉnh Nam chừng một năm, đại khái thầy Lý bảy mươi mốt tuổi, so với tôi tuổi tác chênh lệch rất nhiều! Thế mà tôi thấy cụ Lý nhiều lắm là bốn mươi tuổi, mà sao cũng chẳng thấy cụ đã ngoài bảy mươi à nghe! Là vì tinh thần cụ sung mãn, thanh âm vang rõ, mắt nhìn cũng chưa quáng. Chúng tôi thường ở một góc đọc sách tra tự điển. Thầy bảo tôi tra, lúc tra xong, thầy nói: “Cầm đến đây tôi đọc cho các anh nghe để coi thị lực tôi ra sao?” Cụ đọc không sai một chữ! Chữ trong tự điển so với chữ in trong báo còn nhỏ hơn nữa, cụ chẳng cần phải đeo kính lão vì sao? Là để biểu diễn cho chúng tôi thấy, chúng tôi không thể không tin.

Nếu nói người tu hành vừa khô héo, vừa còm cõi, vừa chẳng có tinh thần, người như vậy chúng ta trông thấy có tín tâm chăng? Quý vị học Phật phải làm gương tốt cho người khác thấy, người ta mới tin tưởng chứ! Thấy quý vị học Phật mấy năm, khô cằn héo hon, còm cõi, quý vị nói cách nào, nói nghe hay đến đâu đi nữa, người khác cũng chẳng dễ gì tiếp nhận, cũng chẳng tin tưởng. Bởi vậy, quý vị phải triển khai cho người ta thấy, họ thấy xong nếu rất hâm mộ, thì quý vị mới bảo họ: Các ngài làm như vậy đó thì các ngài sẽ giống như tôi, so ra còn tốt hơn tôi nữa đó!

Tướng tùy tâm chuyển, cảnh tùy tâm chuyển. Cảnh là hoàn cảnh sanh hoạt của chúng ta. Quý vị phải hiểu rõ ý nghĩa này, quý vị có thấy hiện thời không ít người hô hào cải biến thể chất. Cải biến thể chất là một khẩu hiệu không ít người bị mắc lừa! Những ai bị lừa? Là do những người ấy có ham muốn như thế, người ta bèn tạo ra các thứ dược vật. Ôi! những dược vật ấy có ích chi, những dược vật tưởng là hữu ích, kỳ thật là độc dược. Quý vị dùng những dược vật ấy có ai biến cải được thể chất chăng? Tôi chẳng thấy ai đạt hiệu quả cả, đủ thấy là bị lừa, bị gạt gẫm rồi!

Phật dạy chúng ta phương pháp hữu hiệu nhất: tâm địa thanh tịnh, chân thành, từ bi thì thể chất quý vị sẽ biến cải. Tâm thanh tịnh khiến cho những gì tệ hại trên thân thể quý vị biến mất, thân thể quý vị bèn thanh tịnh, chẳng có ô nhiễm. Hiện thời ăn bất cứ gì, ăn uống vào đều có chất độc cả. Dùng gì để tiêu độc đây? Dùng tâm từ bi để tiêu độc. Bởi lẽ, nếu tâm địa quý vị thanh tịnh, từ bi, lẽ nào chẳng được khỏe mạnh?

Quý vị bảo thân mình đau bệnh thì nói cách khác là quý vị thiếu tâm từ bi, tâm quý vị chẳng thanh tịnh. Quý vị nói mình thanh tịnh, từ bi đều là giả, chẳng phải thật. Phật chẳng dối người, đức Phật chẳng có thuốc gì để cho ta cả. Phật dạy ta tự điều chỉnh thân tâm mình, chẳng vì danh, văn, lợi, dưỡng, quả, báo, những thứ ấy phải bỏ sạch hết cả đi.

 

Chánh kinh:

Thường vị chúng sanh, quảng tuyên chánh pháp, đương đắc thành tựu nhị thập chủng lợi.

(Thường vì chúng sanh rộng nói chánh pháp, sẽ được thành tựu hai mươi điều lợi)

 

Hai mươi điều lợi này tự nhiên có, chẳng cần phải cầu. Chẳng cầu mà có, trái lại nếu cầu sẽ chẳng được đâu! Vì sao vậy? Bởi ý niệm mong cầu ấy là nhiễm ô, là chẳng thanh tịnh, cho nên quý vị chẳng đạt được. Quý vị đừng cầu, chẳng cầu sẽ được!

 

Chánh kinh:

Vân hà danh vi nhị thập chủng lợi?

(Thế nào là hai mươi điều lợi?)

 

Tiếp đây, kinh nói cho chúng ta biết.

 

Chánh kinh:

Sở vị: chánh niệm thành tựu.

(Chính là: chánh niệm thành tựu)

 

Đây là điều lợi thứ nhất. Chánh niệm là vô niệm. Lại sợ quý vị niệm gì cũng chẳng có, bèn biến thành Vô Tưởng Định thì hỏng mất. Quả báo của Vô Tưởng Định là ở tại trời Vô Tưởng trong Tứ Thiền, thế là học Phật lại thành học ngoại đạo rồi; bởi thế Phật mới dạy chúng ta vô niệm là “không có tà niệm thì mới gọi là Chánh Niệm”. Chánh niệm là niệm của Phật, Bồ Tát, tương ứng với Phật pháp. Điều thứ hai là:

 

Chánh kinh:

Trí huệ cụ túc.

(Đầy đủ trí huệ).

 

 Trí huệ là tác dụng do tâm thanh tịnh phát khởi, phiền não là tác dụng do tâm nhiễm ô phát khởi. Thân tâm thanh tịnh thì trí huệ tăng trưởng. Điều thứ ba là:

 

Chánh kinh:

Hữu kiên trì lực.

(Có sức kiên trì).

 

Sức kiên trì từ đâu sanh? Từ trí huệ sanh. Người ấy thông đạt, hiểu rõ hết thảy sự lý, chẳng mê hoặc mảy may, bởi thế người ấy làm gì cũng thông suốt từ đầu đến đuôi. Điều thứ tư là:

 

Chánh kinh:

Trụ thanh tịnh hạnh.

(Trụ hạnh thanh tịnh)

 

Tâm thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, hành vi thanh tịnh. Điều thứ năm là:

 

Chánh kinh:

Sanh giác ngộ tâm.

(Sanh tâm giác ngộ)

 

Niệm niệm giác chẳng mê. Điều thứ sáu là:

 

Chánh kinh:

Đắc xuất thế trí.

(đắc xuất thế trí)

 

Làm thế nào để vượt thoát lục đạo luân hồi? Làm sao để vượt thoát mười pháp giới? Người ấy hiểu rất rõ ràng, rất minh bạch.

 

Chánh kinh:

Bất vị chúng ma chi sở đắc tiện.

(Chẳng bị các ma thừa dịp làm hại).

 

Nói theo ngôn ngữ bây giờ là quyết định chẳng để cho yêu ma, quỷ quái nắm đằng chuôi. “Đắc sở tiện” nghĩa là có nhược điểm bị người khác nắm được. Yêu ma, quỷ quái định khống chế quý vị mà quý vị đã hiểu đạo lý này, tâm địa thanh tịnh, nhất trần bất nhiễm, yêu ma quỷ quái chẳng còn cách nào làm gì được quý vị cả! Những gì là nhược điểm để yêu ma quỷ quái lợi dụng? Chính là danh, văn, lợi, dưỡng, quả, báo. Hễ quý vị có những ý niệm ấy thì sẽ bị chúng thao túng, bị chúng khống chế.

Các vị đồng tu chúng ta đã từng coi qua Tây Du Ký chưa? Trong Tây Du Ký có gã Tôn Ngộ Không thần thông quảng đại, nhưng gã bị Quán Thế Âm Bồ Tát nắm chuôi, suốt đời bị Ngài khống chế, chẳng ra khỏi lòng bàn tay Ngài được. Những gì là nhược điểm của gã? Thích đội cái mũ cao. Tôn Ngộ Không thích được người khác săn đón, thích được khao thưởng, đấy chính là chỗ yếu của gã. Bởi thế đức Quán Thế Âm Bồ Tát mới tặng cho gã cái mũ cao để đội, đội vào rồi Ngài bèn niệm chú Kim Cô, gã bèn bị khống chế!

Vì thế, quý vị háo danh, háo lợi, thích được cúng dường, ham quả báo, sẽ bị người ta nắm thóp ngay, bị người khác khống chế dễ dàng. Nếu quý vị chẳng ham thích chi hết, họ chẳng có cách nào hết, đối với quý vị họ không biết làm cách nào! Chỉ cần quý vị có chút vọng tưởng, có chút ý niệm, có chút dục vọng, quý vị bèn bị ma khống chế ngay! Suy nghĩ cặn kẽ, sẽ thấy ý nghĩa của câu kinh này rất sâu rộng. Điều thứ tám, thứ chín, thứ mười là:

 

Chánh kinh:

Thiểu ư tham dục, vô hữu sân nhuế, diệc bất ngu si.

(Ít tham dục, chẳng nóng giận, cũng chẳng ngu si).

 

Ba câu này ý nói thành tựu ba thiện căn. Ba thiện căn là vô tham, vô sân, vô si. Có thể thấy là nếu tham chấp danh, văn, lợi, dưỡng, quả, báo sẽ chẳng có ba thiện căn; sao quý vị ngày ngày cứ tăng trưởng tham, sân, si? Đoạn kinh trên đây nói về ba thiện căn hiện tiền vậy. Điều thứ mười một là:

 

Chánh kinh:

Chư Phật Thế Tôn chi sở ức niệm.

(Được chư Phật Thế Tôn nghĩ nhớ)

 

Đây là được chư Phật hộ niệm, vì sao vậy? Tâm tâm tương ứng chư Phật, cho nên cảm được chư Phật hộ niệm.

 

Chánh kinh:

Phi nhân thủ hộ.

(Được phi nhân bảo vệ, gìn giữ)

 

Chữ “phi nhân” chỉ quỷ thần; quỷ thần cũng bảo vệ, giúp đỡ quý vị.

 

Chánh kinh:

Vô lượng chư thiên gia kỳ oai đức.

(Vô lượng chư thiên tăng thêm oai đức).

 

Câu này ý nói thiên long bát bộ, hộ pháp thần. Hộ pháp thần bảo vệ, giúp đỡ quý vị đấy!

 

Chánh kinh:

Quyến thuộc thân hữu vô năng trở hoại.

(Quyến thuộc, thân hữu chẳng thể ngăn trở, phá hoại).

 

Một người tu cho tốt, cả nhà cũng được hưởng lây, người nhà, quyến thuộc đều được hưởng lợi ích như quý vị, đều hưởng nhờ phước báo của quý vị.

 

Chánh kinh:

Hữu sở ngôn thuyết, nhân tất tín thọ, bất vị oan gia ty cầu kỳ tiện.

(Nói ra điều gì, người khác đều tin nhận, chẳng bị oan gia bới tìm khuyết điểm).

 

Từ vô thỉ kiếp đến nay, đã kết oán rất nhiều đối với hết thảy chúng sanh, bởi thế gặp rất nhiều chướng ngại trên đường đạo Bồ Đề, ấy là ma chướng đó! Chẳng phải là oan gia, chủ nợ dung tha quý vị đâu nhé, chỉ vì quý vị chẳng hề chấp vào danh, văn, lợi, dưỡng, quả, báo nên oan gia chủ nợ cũng chẳng biết làm sao. Họ cũng chẳng có biện pháp nào để trở ngại, quấy nhiễu quý vị. Điều thứ mười bảy là:

 

Chánh kinh:

Đắc vô sở úy.

(Được không sợ hãi).

 

Điều thứ mười tám là:

 

Chánh kinh:

Đa chư khoái lạc.

(Được nhiều điều vui sướng)

 

Đây là điều ta thường bảo là “pháp hỷ sung mãn”. Điều thứ mười chín là:

 

Chánh kinh:

Vị chư trí nhân chi sở xưng thán.

(Được những người trí khen ngợi).

 

Người có trí huệ thật sự trông thấy quý vị sẽ khen ngợi. Điều thứ hai mươi là:

 

Chánh kinh:

Thiện năng thuyết pháp, chúng nhân kính ngưỡng.

(Khéo có thể thuyết pháp, mọi người kính ngưỡng).

 

Lời quý vị nói ra, tuy là mượn lời chư Phật, Bồ Tát hoặc lời của các vị tổ sư đại đức, nhưng vì tâm quý vị chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, dù mượn lời kinh sách của người khác, nhưng lời ấy từ tự tánh lưu lộ ra ngoài, đó gọi là “khéo có thể thuyết pháp” khiến người nghe rất cảm động, tạo ấn tượng sâu đậm, chứ chẳng phải là chiếu theo kinh văn mà phân khoa; thuyết pháp như thế chẳng thể làm cho người khác được lợi ích chân thật.

Phật giảng cho ta nghe hai mươi điều, đều là những lợi ích tự nhiên đạt được, tuyệt đối chẳng phải là do mong cầu mà có.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thị vi Bồ Tát đương đắc thành tựu nhị thập chủng lợi. Bất trước danh văn, lợi dưỡng, quả báo, hành nhiêu ích sự nhi vi thượng thủ, thường vị chúng sanh dĩ vô hy vọng tâm, thanh tịnh thuyết pháp.

(Này Di Lặc! Đấy là hai mươi điều lợi mà Bồ Tát sẽ được thành tựu, chẳng chấp vào danh văn, lợi dưỡng, quả báo, lấy việc nhiêu ích làm đầu, thường vì chúng sanh dùng tâm chẳng mong cầu thanh tịnh thuyết pháp).

 

Câu này là đức Phật lại phó chúc, lại dặn dò một lần nữa. Phật nói hai mươi điều lợi, tiếp đây Ngài lại nói hai mươi điều lợi khác, đủ thấy tâm không mong cầu thanh tịnh thuyết pháp cho chúng sanh thì công đức lợi ích vô lượng vô biên. Chúng ta xem tiếp đoạn sau đây:

 

Chánh kinh:

Phục thứ Di Lặc! Nhược Bồ Tát dĩ vô hy vọng tâm, hành pháp thí thời, bất trước danh văn, lợi dưỡng, quả báo, dĩ nhiêu ích sự nhi vi thượng thủ, thường vị chúng sanh quảng tuyên chánh pháp, hựu năng thành tựu nhị thập chủng lợi.

(Lại này Di Lặc! Nếu Bồ Tát lúc hành pháp thí, do tâm không hy vọng, chẳng chấp vào danh văn, lợi dưỡng, quả báo, lấy việc nhiêu ích làm đầu, thường vì chúng sanh rộng tuyên chánh pháp, sẽ lại thành tựu hai mươi điều lợi).

 

 Hai mươi điều lợi này, quá nửa là những điều người thuyết pháp thường mong mỏi: Cầu hiểu rõ lý luận, phương pháp, đấy gọi là “như lý như pháp”. Trong nhà Phật hữu cầu tất ứng. Thế nào là “như lý như pháp?” Chẳng cầu danh văn, lợi dưỡng, quả báo là “như lý, như pháp”. Dùng tâm thanh tịnh vì chúng sanh thuyết pháp chính là tâm không mong cầu thanh tịnh thuyết pháp vậy.

 

Chánh kinh:

Vân hà danh vi nhị thập chủng lợi? Sở vị: Vị sanh biện tài, nhi năng đắc sanh.

(Thế nào là hai mươi điều lợi? Chính là: Biện tài chưa sanh sẽ được sanh khởi).

 

Đây là điều lợi ích thứ nhất. Rất nhiều người mong được biện tài vô ngại. Biện tài vô ngại do đâu mà có? Ở đây Phật dạy cho chúng ta biết: Vô ngại biện tài là tánh đức của chính ta, trong bản tánh vốn đã sẵn có. Vì sao hiện tại chưa có được biện tài này? Chưa có là do còn có chướng ngại, nghiệp chướng đó mà! Quá khứ, hiện tại tạo tác khẩu nghiệp quá nhiều nên chẳng có biện tài; tâm chẳng thanh tịnh! Tâm thanh tịnh, biện tài bèn khôi phục. Điều thứ hai là:

 

Chánh kinh:

Dĩ sanh biện tài, chung bất vong thất.

(Biện tài đã sanh, trọn chẳng quên mất).

 

Quý vị đã đắc biện tài ấy thì sẽ chẳng bị mất đi. Điều thứ ba là:

 

Chánh kinh:

Thường cần tu tập, đắc đà-ra-ni.

(Thường siêng tu tập, đắc đà-ra-ni).

 

Đà-ra-ni” là tiếng Phạn, nói theo ngôn ngữ hiện thời là “cương lãnh”. Chẳng cần biết quý vị tu học pháp môn nào, hễ quý vị nắm được cương lãnh, nắm được đại cương của pháp ấy thì lúc quý vị tu học rất dễ được thành tựu. Điều thứ tư là:

 

Chánh kinh:

Dĩ thiểu công dụng, thiện năng lợi ích vô lượng chúng sanh.

(Dùng ít công sức mà khéo có thể lợi ích vô lượng chúng sanh).

 

Chẳng cần phải mất nhiều thời gian, cũng chẳng cần phải đổ nhiều tinh thần, vẫn có thể lợi ích rất nhiều chúng sanh. Có thể thấy đó là biểu hiện của trí huệ cao độ, thiện xảo vậy! Điều thứ năm là:

 

Chánh kinh:

Dĩ thiểu công dụng, linh chư chúng sanh khởi tăng thượng tâm, cung kính tôn trọng.

(Dùng công sức ít mà khiến cho chúng sanh khởi lòng tăng thượng, cung kính, tôn trọng).

 

Cung kính, tôn trọng” là đối với Tam Bảo mà nói. Một phần cung kính được một phần lợi ích, một phần tôn trọng được một phần lợi ích. Nếu chẳng cung kính, tôn trọng, dù chư Phật, Bồ Tát có thuyết pháp hay khéo đến đâu, người nghe cũng chẳng được lợi ích. Vì thế, điều này rất là trọng yếu. Điều thứ sáu là:

 

Chánh kinh:

Đắc thân khẩu ý thanh tịnh luật nghi.

(Thân, miệng, ý phù hợp luật nghi thanh tịnh).

            

Đây chính là tam nghiệp thanh tịnh. Điều thứ bảy là:

 

Chánh kinh:

Siêu quá nhất thiết ác đạo bố úy.

(Vượt qua khỏi hết thảy những đường ác, những sự sợ hãi).

 

Đây là chuyện đương nhiên. Dù tự mình có chủng tử ác nghiệp, nhưng trong đời này vì mình đã đoạn hết ác duyên nên chủng tử ác chẳng có duyên để kết quả. Chẳng những đoạn sạch duyên tam ác đạo, mà duyên trong lục đạo cũng đoạn sạch. Chẳng những đoạn sạch các duyên lục đạo mà duyên mười pháp giới cũng bỏ sạch. Người ấy trong một đời nhất định chứng Nhất Chân Pháp Giới. Muốn vậy thì phải làm cách nào? Chắc thật niệm Phật! Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng thuộc trong mười pháp giới, người vãng sanh đã siêu thoát mười pháp giới. Điều thứ tám là:

 

Chánh kinh:

Ư mạng chung thời, tâm đắc hoan hỷ.

(Lúc lâm chung, tâm được hoan hỷ).

 

Người bình thường lúc lâm chung rất thống khổ, rất ưu sầu, thật chẳng biết làm cách nào; nhưng người tu đạo hiểu được mạng đã đến lúc chấm dứt nên họ rất hoan hỷ, rất sung sướng, đúng là lúc thoát ly biển khổ! Người ấy muốn sang sống nơi thanh tịnh tối cực, nơi thù thắng tối cực vậy. Điều thứ chín là:

 

Chánh kinh:
Hiển dương chánh pháp, tồi phục dị luận.

(Hiển dương chánh pháp, đập tan dị luận)

 

Năng lực thuyết pháp của người ấy phảng phất giống với chư Phật, Bồ Tát. Điều thứ mười là:

 

Chánh kinh:

Nhất thiết hào quý, oai đức, tôn nghiêm, do tự bất năng sở hữu khuy vọng, hà huống hạ liệt thiểu phước chúng sanh.

(Hết thảy kẻ giàu sang, oai đức, tôn nghiêm còn chẳng thể đánh giá người ấy chút phần, huống là những chúng sanh hèn kém, ít phước).

 

Câu này tán thán những thành tựu của người ấy. Phần đầu nói đến những kẻ phú quý, “hạ liệt thiểu phước” là kẻ bần tiện. Người phú quý hay bần tiện trong thế gian chẳng thể suy lường được người ấy cao thâm đến đâu. Đấy là nói đến cảnh giới của người ấy. Điều thứ mười một là:

 

Chánh kinh:

Chư căn thành tựu.

(Các căn thành tựu).

 

Điều thứ mười hai là:

 

Chánh kinh:

Vô năng ánh tế.

(Không chi che lấp được) 

 

Biểu hiện năng lực trí huệ của người ấy rất rạng rỡ, không thừa sót, không ai có thể chướng ngại nổi người ấy. Điều thứ mười ba là:

 

Chánh kinh:

Cụ túc nhiếp thọ thù thắng ý lạc.

(Nhiếp thọ đầy đủ niềm vui xứng ý thù thắng).

 

Câu này nói đến sự hưởng thọ trong cuộc sống của người ấy: đạt được hạnh phúc khoái lạc viên mãn. Niềm hạnh phúc khoái lạc đó từ trong tâm tỏa lộ ra bên ngoài, chứ chẳng phải từ bên ngoài mà có. Đấy gọi là “thù thắng ý lạc”. Hạnh phúc xứng ý của phàm phu do từ bên ngoài kích phát: hưởng thọ ngũ dục, lục trần, cho đó là khoái lạc. Chư Phật, Bồ Tát chẳng vậy, khoái lạc phát xuất từ nội tâm. Khoái lạc phát khởi từ vô lượng trí huệ, vô lượng tài nghệ, vô lượng đức năng trong tâm tánh. Đấy mới là khoái lạc chân thật. Điều thứ mười bốn, mười lăm là:

 

Chánh kinh:

Đắc xa-ma-tha, tỳ-bà-xá-na.

(Chứng đắc Chỉ, Quán).

 

Hai câu này là tiếng Phạn. Xa-ma-tha là Chỉ, là Định. Tỳ-bà-xá-na là Quán. Chúng tôi nói một cách thông tục cho quý vị dễ hiểu. Xa-ma-tha là từ buông bỏ hết thảy mà đắc Định. Quý vị buông xuống được vạn duyên thì sẽ đắc Định, đó gọi là Xa-ma-tha. Tỳ-bà-xá-na là từ “khán phá” (thấy thấu suốt bản chất các pháp) mà đắc Định. Đều là đắc định, nhưng từ buông xuống mà đắc định thì gọi là Xa-ma-tha. Từ khán phá mà đắc định thì gọi là Tỳ-bà-xá-na. Điều thứ mười sáu là:

 

Chánh kinh:

Nan hành chi hạnh giai đắc viên mãn.

(Các hạnh khó hành đều được viên mãn).

 

Thế pháp có pháp khó hành, xuất thế pháp cũng có pháp khó hành, nhưng các vị đều làm được rất thuận lợi, rất viên mãn. Vì sao thế? Là vì quý vị có trí huệ, bèn có cách thức thiện xảo. Điều thứ mười bảy, mười tám là:

 

Chánh kinh:

Phát khởi tinh tấn, phổ hộ chánh pháp.

(Phát khởi tinh tấn, hộ trì hết thảy chánh pháp).

 

Tinh tấn khó đạt phi thường. “Tấn” là tấn bộ, vĩnh viễn không lùi sụt. Tấn bộ cần phải tinh, tinh thuần chuyên nhất, chẳng xen tạp. Đó gọi là “tinh tấn”. “Phổ hộ chánh pháp” cũng lại trọng yếu phi thường, bất cứ hết thảy pháp nào do chư Phật, Bồ Tát nói ra, ta đều dùng tấm lòng chân thành để ủng hộ, trọn chẳng vì mình tu Tịnh Độ bèn chỉ hộ trì pháp Tịnh Độ, ai tham thiền mình bèn chê bai thì là lầm mất rồi. Như thế là quý vị chẳng ủng hộ người ấy rồi! Với hết thảy các pháp đức Phật Như Lai đã nói đều phải dùng tâm bình đẳng, tâm chân thành để hộ trì, như vậy mới là đúng. Đúng như trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử tham học năm mươi ba lần, quý vị xem: Năm mươi ba vị thiện tri thức, mỗi người chỉ tu có một pháp môn, nhưng đối với tất cả các pháp môn bọn họ đều thán thán, quyết định chẳng hề phỉ báng. Đấy là “phổ hộ chánh pháp”, chúng ta phải học theo. Điều thứ mười chín là:

 

Chánh kinh:

Tốc tật năng siêu Bất Thoái Chuyển địa.

(Có thể nhanh chóng vượt lên địa vị Bất Thoái Chuyển).

 

Tốc tật” là nhanh chóng. Quý vị có thể nhanh chóng vượt lên chứng đắc địa vị Bất Thoái Chuyển. Câu này chuyên chỉ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu chẳng cầu sanh Tịnh Độ, mong chứng đắc địa vị Bất Thoái Chuyển cực khó! Cực kỳ khó! Chỉ có vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có thể lập tức đạt được ba thứ Bất Thoái Chuyển. Điều thứ hai mươi là:

 

Chánh kinh:

Nhất thiết hạnh trung, tùy thuận nhi trụ.

(Tùy thuận trụ trong hết thảy các hạnh).

 

Đấy là đắc đại tự tại. Bất luận là thuận cảnh, nghịch cảnh, bất luận là thiện đạo hay ác đạo, đều có thể tùy thuận, mà cũng đều có thể tùy duyên, đều có thể hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức. Do hằng thuận, tùy hỷ thành tựu vô lượng công đức. Đấy là hai mươi điều lợi thứ hai.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thị vi Bồ Tát đương đắc thành tựu nhị thập chủng lợi. Bất trước danh văn, lợi dưỡng, quả báo, hành nhiêu ích sự nhi vi thượng thủ, thường vị chúng sanh dĩ vô hy vọng tâm, thanh tịnh thuyết pháp.

(Này Di Lặc! Đấy là hai mươi điều lợi mà Bồ Tát sẽ được thành tựu, chẳng chấp vào danh văn, lợi dưỡng, quả báo, lấy việc nhiêu ích làm đầu, thường vì chúng sanh dùng tâm chẳng mong cầu thanh tịnh thuyết pháp).

            

Câu trùng lặp như thế này rất nhiều, câu này rất trọng yếu. Hy vọng chúng ta nghe nhiều lần sẽ nhớ kỹ càng, trong sanh hoạt thường ngày thường phải nương theo đấy mà tu hành.

 

6. Những lỗi xấu ác trong đời Mạt Pháp:

6.1. Tham cầu lợi dưỡng

 

Trong đoạn kinh sau đây, đức Phật thuyết minh về những lỗi lầm, các thứ ác hạnh trong thế gian hiện thời. Chúng ta đọc xong phải tỉnh ngộ sâu xa,   trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều phải lưu tâm đề phòng vi phạm. Xin hãy xem kinh văn:

 

Chánh kinh:

Phật cáo Di Lặc: “Nhữ quán vị lai hậu ngũ bách tuế”.

(Phật bảo Di Lặc: “Ông xem trong đời tương lai, năm trăm năm sau).

 

Câu này chỉ thời đại hiện tại của chúng ta.

 

Chánh kinh:

Hữu chư Bồ Tát thậm vi vô trí.

(Có những Bồ Tát rất là vô trí).

 

Bồ Tát ở đây đều là Sơ Phát Tâm Bồ Tát, chúng ta ngày nay gặp được Phật pháp, ai nấy đã thọ Tam Quy, Ngũ Giới, Bồ Tát Giới, nên đều là những Bồ Tát được nói đến trong đoạn kinh này. Là Bồ Tát gì? Bồ Tát ngu si, chẳng có trí huệ chi cả!

 

Chánh kinh:

Hành pháp thí thời.

(Lúc hành pháp thí).

 

Trong các loại bố thí, đặc biệt nhắc đến Pháp Bố Thí. Pháp Bố Thí bậc nhất là giảng kinh thuyết pháp. Chẳng luận là tại gia Bồ Tát hay xuất gia Bồ Tát đều có thể làm được. Đây là một hiện tượng rõ rệt phi thường, người giảng kinh thuyết pháp ở Đài Loan rất nhiều.

 

Chánh kinh:

Nhược hữu lợi dưỡng, sanh hoan hỷ tâm.

(Nếu có lợi dưỡng, sanh tâm hoan hỷ).

 

Giảng kinh thuyết pháp mà được người cúng dường rất nhiều, được người cung kính, khen ngợi rất nhiều, bèn rất cao hứng, rất hoan hỷ vậy!

 

Chánh kinh:

Nhược vô lợi dưỡng, bất sanh hoan hỷ.

(Nếu không lợi dưỡng, chẳng sanh hoan hỷ).

 

Nếu không ai cung kính, cúng dường thì ý nguyện giảng kinh bèn suy giảm, thậm chí chẳng còn có ý nguyện giảng kinh nữa.

 

Chánh kinh:

Bỉ chư Bồ Tát vị nhân thuyết pháp, tác như thị tâm.

(Các Bồ Tát đó thuyết pháp cho người, sanh tâm như thế này)

 

Khởi tâm động niệm như thế đó. Khởi tâm gì? Động niệm gì?

 

Chánh kinh:

Vân hà đương linh thân hữu, đàn việt quy thuộc ư ngã?

(Phải làm thế nào khiến cho thân hữu, đàn việt phải quy thuộc mình?)

 

Nói theo cách bây giờ là “lôi kéo tín đồ”. Nghĩ đủ mọi phương cách, dùng mọi phương tiện (hay nói theo cách bây giờ là “dùng mọi thủ đoạn”) để lôi kéo tín đồ, chẳng để cho họ đi đâu khác, cúng dường ai khác. Quý vị có muốn cúng dường thì chỉ nên cúng dường tôi, chẳng được cúng dường người khác. Quý vị muốn đến đạo tràng, chỉ nên đến đạo tràng của tôi, chẳng được đến đạo tràng bên cạnh. Mang lòng như thế, khởi lên ý niệm như thế.

 

Chánh kinh:

Phục cánh niệm ngôn: Vân hà đương linh tại gia, xuất gia chư Bồ Tát đẳng, nhi ư ngã sở, sanh tịnh tín tâm, cung kính, cúng dường, y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thang dược?

(Lại còn nghĩ rằng: Phải làm thế nào để các hàng Bồ Tát tại gia, xuất gia, đối với ta sanh lòng tin trong sạch, cung kính, cúng dường quần áo, thức ăn, đồ nằm, thuốc men?)

 

Hiện nay cái gì cũng quy thành tiền cả! Hoằng pháp lợi sanh mà khởi lên ý niệm ấy thì làm sao tương ứng cho được? Đây là hiện trạng của xã hội hiện tại.

 

Chánh kinh:

Như thị Bồ Tát, dĩ tài lợi cố, vị nhân thuyết pháp!

(Hàng Bồ Tát như thế vì tài lợi mà thuyết pháp cho người)

 

Mục đích thuyết pháp là vì tài, vì lợi.

 

Chánh kinh:

Nhược vô lợi dưỡng, tâm sanh bì yếm.

(Nếu không lợi dưỡng, sanh tâm mệt chán)

 

[Không lợi dưỡng] họ sẽ chán chường, không chịu làm nữa!

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thí như hữu nhân chí nhạo thanh tịnh, hoặc vị tử xà, tử cẩu, tử nhân đẳng thi, nùng huyết lạn hoại, hệ trước kỳ cảnh, thị nhân phiền não, thâm sanh yếm hoạn. Dĩ vi nghịch cố, mê muộn bất an.

(Này Di Lặc! Ví như có người tánh ưa thanh tịnh, nếu bị xác rắn chết, chó chết, người chết v.v... máu mủ rữa nát, buộc chặt nơi cổ, người ấy sẽ phiền não, sanh chán sợ sâu xa. Do vì trái ý, họ sẽ buồn bực chẳng yên)

 

 Ở đây Phật nêu lên một thí dụ để giảng: Ví như có một người, tâm chí ưa thích thanh tịnh, chẳng chút gì ô nhiễm, chợt gặp phải tình cảnh như sau: rắn chết, chó chết, người chết. Những thứ ấy để ví với gì? Để ví với danh văn, lợi dưỡng, quả báo đã nói ở phần trên. Nếu những thứ ấy buộc ràng vào thân, sẽ giống như bị xác chết đã tươm máu mủ, thối rữa, buộc chặt vào cổ, chẳng khác chút nào! Người tâm chí ưa thích thanh tịnh coi đó là khổ, còn ai lấy đó làm vui? Bồ Tát ngu si không trí huệ coi đó là vui thì có phải là rồ dại hay không rồ dại đây? Chúng ta lại xem tiếp đoạn kinh văn tiếp theo:

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Đương tri ư mạt thế hậu, ngũ bách tuế trung, thuyết pháp chi nhân diệc phục như thị. Ư chư nhất thiết vô lợi dưỡng xứ, bất thuận kỳ tâm, vô hữu tư vị, tiện sanh yếm quyện, khí xả nhi khứ.

(Này Di Lặc! Ông nên biết rằng người thuyết pháp vào đời mạt sau, trong năm trăm năm, cũng giống như thế. Đối với hết thảy những chỗ không lợi dưỡng, họ chẳng vui lòng. Với chỗ không có mùi vị, bèn sanh mệt chán, bèn buông bỏ đi)

 

Những vị Bồ Tát ấy, chúng ta cứ xem qua liền hiểu là chí ý họ chẳng ưa thích thanh tịnh. Họ bị ngũ dục, lục trần, danh văn, lợi dưỡng buộc ràng. Vì thế nếu chẳng được danh lợi, họ sẽ chẳng làm; chỗ nào danh lợi nhiều, họ liền hiện vẻ dũng mãnh, tinh tấn, sẽ làm rất nhanh nhẹn, siêng năng. Toàn là vì danh lợi. Cần phải hiểu là danh văn, lợi dưỡng có quả báo quyết định là tam đồ. Bởi thế họ đang tu điều gì vậy? Tu tam ác đạo đấy! Họ đâu có tu đạo Bồ Đề.

 

Chánh kinh:

Bỉ chư pháp sư tác như thị niệm: Ngã ư thử trung, thuyết pháp vô ích. Hà dĩ cố? Thị chư nhân đẳng, ư ngã sở tu y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược, bất sanh ưu niệm, hà duyên ư thử, đồ tự bì lao?

(Các pháp sư đó nghĩ như thế này: Ta ở nơi đây, thuyết pháp vô ích. Vì sao vậy? Những người này đây, đối với y phục, đồ ăn, đồ nằm, thuốc men ta cần, họ chẳng lo nghĩ đến, cớ gì mình phải uổng công nhọc nhằn nơi đây?)

Khởi tâm ấy, động niệm ấy, hoàn toàn trái nghịch lời đức Như Lai răn dạy. Phật dạy ta dùng tâm không hy vọng để thanh tịnh thuyết pháp, mà họ thuyết pháp là để thỏa mãn những điều mong cầu, nhưng điều họ mong cầu vĩnh viễn không bao giờ ngơi. Điều này rất phiền toái, chẳng thể giảng tường tận cho quý vị đồng tu bộ kinh này, chỉ có thể điểm tới là thôi (2). Mọi người về nhà dốc lòng thể hội. Nếu giảng tỉ mỉ sẽ đắc tội với rất nhiều người, cho nên tôi mới nói là rất phiền toái. Ba mươi năm trước tôi giảng Thiền Lâm Bảo Huấn, có người gọi điện thoại, gởi thơ sửa lưng tôi: “Sư nói những điều này nọ đắc tội với rất nhiều người”. Bộ kinh này nếu giảng kỹ ắt sẽ lòi xương, bởi thế tôi hy vọng quý vị sẽ dốc tâm thể hội.

Điều tối trọng yếu là ta chẳng thấy lỗi người khác, mà phải phản tỉnh coi chính mình có phạm phải những căn bệnh ấy hay không. Có như vậy ta mới đạt được lợi ích chân thật. Người khác làm gì là chuyện của họ, chẳng liên can gì đến ta. Họ thành Phật chẳng liên can gì đến ta, họ đọa địa ngục cũng chẳng liên can gì đến ta. Việc gì ta phải bận tâm đến họ! Tối khẩn yếu là phải quan tâm giữ mình cho tốt; giữ mình chẳng dễ đâu! Gặp được bộ kinh này là nhân duyên thù thắng khôn sánh, y chiếu lời dạy răn chân thật của Phật Đà, tích cực phản tỉnh, kiểm điểm, sửa lỗi, đổi mới, hy vọng được giải thoát ngay trong một đời này, được vãng sanh Phật quốc, nhanh chóng được viên mãn Bồ Đề mới là mục tiêu chân chánh của chúng ta.

Chúng ta đọc đoạn kinh này một lượt nữa: “Các pháp sư đó nghĩ như thế này: Ta ở nơi đây, thuyết pháp vô ích. Vì sao vậy? Những người này đây, đối với y phục, đồ ăn, đồ nằm, thuốc men ta cần, chẳng lo nghĩ đến, cớ gì mình phải uổng công nhọc nhằn nơi đây?”

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thị chư pháp sư tự cầu cúng dường, cấp thị, tôn trọng, nhiếp thọ đồng trụ, cập ư cận trụ.

(Này Di Lặc! Các pháp sư ấy do tự cầu [được] cúng dường, cung cấp, hầu hạ, tôn trọng [nên bèn] nhiếp thọ kẻ đồng trụ và kẻ cận trụ)

 

Câu này cần lại phải nói lướt qua. “Đồng trụ” là những người ở trong cùng một đạo tràng với mình, đa phần chỉ người xuất gia. “Cận trụ” là tín đồ thường vãng lai đạo tràng mình. Đồng trụ và cận trụ là hết thảy đại chúng và hết thảy tín đồ trong đạo tràng của các pháp sư ấy. Nói chung là pháp sư nghĩ cách lung lạc, nghĩ cách khống chế để mọi người phải nghe theo lệnh mình. Đấy chính là ý nghĩa của câu này.

 

Chánh kinh:

Bất vị ư pháp, cập lợi ích sự, nhi nhiếp thọ chi.

(Chẳng vì pháp và sự lợi ích mà nhiếp thọ)

 

Họ nhiếp thọ chúng sanh chẳng phải là để chân chánh dạy người học Phật pháp, dạy người giác ngộ, dạy người liễu sanh tử, xuất tam giới. Họ chẳng nói đến những sự ấy.

 

Chánh kinh:

Thị chư pháp sư, tự cầu ẩm thực, y phục, ngọa cụ, trá hiện dị tướng.

(Các pháp sư ấy vì mong cầu thức ăn, quần áo, đồ nằm nên dối hiện tướng lạ).

 

Chữ “trá” hàm nghĩa dối làm. Đối với câu này, trong nhà Phật cũng có một câu ngạn ngữ: “Hòa thượng bất tác quái, cư sĩ bất lai bái” (Thầy chùa chẳng bày vẽ, cư sĩ chẳng đến lễ). “Trá hiện dị tướng” tức là bày vẽ những trò lạ, để kêu gọi tín đồ ngày ngày đến lễ bái. Tình trạng này xảy ra rất nhiều! Hiện tại có rất nhiều người đặc biệt cường điệu chuyện thần thông cảm ứng. “Thần thông cảm ứng” chính là “dị tướng”. Những chuyện thần thông cảm ứng như vậy có khi cũng có, nhưng nhất định chẳng nên tuyên truyền.

Trong đạo tràng chúng ta đã từng thấy chuyện này: Lúc mọi người đến chụp ảnh, trong ảnh có quang minh, có dị tướng, chúng tôi đem hủy hết những ảnh ấy, vì đó là điều chẳng hay. Nếu mọi người tham chấp vào việc ấy rất dễ bị ma dựa đó nghe! Vì thế, nếu chẳng quan tâm đến: Họ là Phật cũng hay, là ma cũng chẳng đếm xỉa tới, thì đạo tràng ấy bình yên vô sự, có thể duy trì, bảo vệ chánh pháp.

 

Chánh kinh:

Nhập ư vương thành, quốc ấp, tụ lạc.

(Họ vào trong vương thành, quốc ấp, tụ lạc).

 

“Vương thành” gọi theo cách bây giờ là thủ đô, chỗ đặt văn phòng chánh phủ trung ương. “Quốc ấp” là đô thị lớn. “Tụ lạc” là thôn trấn, xóm làng, hương trấn.

 

Chánh kinh:

Nhi thực bất vị lợi ích, thành thục ư chư chúng sanh, nhi hành pháp thí. Sở dĩ giả hà?

(nhưng thật sự chẳng vì nhằm lợi ích, thành thục cho chúng sanh mà hành pháp thí. Vì sao vậy?)

 

Bọn họ hoằng pháp lợi sanh tại các địa phương ấy, nhưng thật ra chỉ vì mục đích tư lợi, toàn là vì danh văn, lợi dưỡng, chứ chẳng thật sự nhằm làm lợi, thành thục chúng sanh. “Lợi ích” khác với “thành thục” một chút. “Lợi ích” là dạy dỗ cho họ được tiếp xúc với chánh pháp, đem chánh pháp của đức Phật giới thiệu cho họ. “Thành thục” là giúp cho ngay trong một đời này được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thật sự thoát ly luân hồi; bởi lẽ chẳng vãng sanh thì chẳng thể ly khai lục đạo luân hồi. Quý vị được lợi ích, chưa kể là thành thục. Thành thục là lợi ích viên mãn. Kiểu hành pháp thí như thế, nói theo cách bây giờ là “hoằng pháp lợi sanh” là vì cái gì? Ở đây, Phật nêu câu hỏi để chúng ta tự phản tỉnh.

 

6.2. Mười lăm thứ tà pháp đức Phật chẳng hề nói đến

 

Dưới đây, đức Phật nói đến mười lăm điều mà đức Phật chẳng bao giờ đề cập. Thật ra, trong đoạn kinh này, đức Phật chỉ nêu lên một số điều làm thí dụ, chứ chẳng phải chỉ có mười lăm điều mà thôi! Ngài hy vọng từ những điều này, chúng ta sẽ tự có thể lãnh hội, tự minh bạch đâu là chánh pháp? Đâu là tà pháp? Chúng ta hãy đọc kinh văn:

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn:

(Di Lặc! Ta chẳng hề nói:)

 

“Ngã” là đức Thích Ca Mâu Ni Phật tự xưng. Đức Phật chẳng hề nói những điều như sau:

 

Chánh kinh:

Hữu hy cầu giả vi pháp thí thanh tịnh. Hà dĩ cố? Nhược tâm hữu hy cầu, tắc pháp vô bình đẳng.

([Tâm] có mong cầu là thực hành pháp thí thanh tịnh. Vì sao vậy? Nếu tâm có mong cầu thì pháp sẽ không bình đẳng).

 

 Đây là điều thứ nhất. Bởi lẽ Phật pháp rất dễ bị người khác mạo danh lợi dụng, bắt chước giả mạo. Yêu ma, quỷ quái rất thông minh, những danh từ hay ho trong Phật pháp chúng đều lấy sử dụng hết, những chúng sanh nào mê hoặc điên đảo đều bị xí gạt cả. Chiêu bài Phật pháp rất hay, nghe rất kêu đó mà! Chứ thật sự bên trong chẳng phải là như vậy. Vì thế, thanh tịnh thí pháp thì pháp thí sẽ thanh tịnh. Nếu như quý vị đối với chúng sanh mà có tâm mong cầu, thì pháp thí ấy chẳng phải là thật, chỉ là mạo nhận chiêu bài, là giả dối, đức Phật chẳng thuyết pháp như thế. Chư Phật, Bồ Tát đối với hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian, hết thảy người, hết thảy sự, tuyệt đối chẳng có mảy may ý niệm cầu mong gì. Phiền lắm nghe!

Có lần tôi trở về đây, có những đồng tu thưa với tôi là muốn in kinh, rồi lại hỏi tôi in tác phẩm này có được chăng, in tác phẩm kia có được chăng? Tôi chẳng quan tâm đến những điều đó! Quý vị thích in thì cứ tự mình in. Những tác phẩm của tôi chẳng hề giữ bản quyền; quý vị thích làm sao thì cứ làm vậy, chỉ cần quý vị suy nghĩ xem mình làm như thế này là đúng hay chăng? Nếu việc ấy có lợi cho xã hội, cho chúng sanh thì cứ dốc sức mà làm, chẳng cần phải hỏi ý tôi. Tôi ngại phiền rộn lắm! Ta đều sợ phiền, nhưng chư Phật, Bồ Tát chẳng thấy phiền. Có phiền hay không các Ngài chẳng bận tâm đến những chuyện ấy! Bởi vậy, tâm địa thanh tịnh là điều trọng yếu phi thường. Điều thứ hai là:  

 

Chánh kinh:

Ngã bất thuyết ngôn: tham ô tâm giả năng thành chúng sanh.

(Ta chẳng nói rằng: tâm tham ô có thể thành thục chúng sanh)

 

[Tâm tham ô là] trong tâm có những phiền não như tham, sân, si, mạn đấy! Câu này ý nói chưa đoạn phiền não; nếu chính mình chưa đoạn phiền não thì quý vị thành thục người khác sao được? Làm sao giúp đỡ người khác được?

 

Chánh kinh:

Hà dĩ cố? Tự vị thành thục, năng thành thục tha, vô hữu thị xứ!

(Vì sao cố? Chính mình chưa thành thục mà lại thành thục được người khác, quyết không có lẽ đó).

 

Vô hữu thị xứ” nghĩa là chẳng có đạo lý ấy!

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: tôn trọng, cúng dường, an lạc kỳ thân, tham trước nhiếp thọ bất tịnh vật giả, vi lợi ích sự.

(Này Di Lặc! Ta chẳng hề nói: tôn trọng, cúng dường, yên vui cái thân, tham đắm thâu góp các vật bất tịnh là làm chuyện lợi ích).

 

Rất nhiều đồng tu xuất gia, tại gia nghĩ đến việc tu tập tích lũy công đức. Trong kinh Phật nói đến việc tích tập công đức, mọi người xem đến rất hoan hỷ, chúng ta phải tích cực thực hiện. Nên làm như thế nào? Nếu có những sự như sau, khởi lên những ý niệm như sau thì đều sai rồi:

- Quý vị có ý niệm tham muốn được tôn trọng, cúng dường hay chăng?

- Quý vị có tham muốn hưởng thọ chăng?

- Quý vị có ham muốn thâu góp những vật bất tịnh chăng? 

Thế nào gọi là “vật bất tịnh?” Quý vị phải tự hiểu rõ, phải hiểu minh bạch điều này. Phạm vi bao quát của từ ngữ này rất rộng. Chúng tôi xin nêu một thí dụ: Ví như lúc bố thí cúng dường, nếu dùng thủ đoạn để buộc hết thảy đại chúng dù chẳng cam tâm tình nguyện cũng phải cúng dường, bức bách họ cúng dường, thì gọi là cúng dường chẳng thanh tịnh. Bức bách như thế nào? Nói trước với những người khá thân cận với kẻ ấy: “Quý vị phải cúng dường nhiều hơn một chút chớ!” Người kia thấy có ý bất hảo, nhưng gặp lúc chẳng thể không cúng dường, không cúng dường thì mất mặt, chứ trong lòng chẳng cam tâm, chẳng tình nguyện, nhưng chẳng thể không làm, đó gọi là “vật bất tịnh”.

Tôi chỉ nêu một thí dụ đấy nhé! Những sự việc như vậy rất nhiều. Vì thế người học Phật học rất khổ sở, áp lực rất nặng đó nghe! Phật, Bồ Tát dạy chúng ta học Phật được đại tự tại, ngày ngày học được hoan hỷ, chúng ta thấy phần đông người học Phật mặt nhăn, mày nhíu, nguyên nhân bên trong rất là phức tạp! Tiếp theo đây, Phật giảng:

 

Chánh kinh:

Hà dĩ cố? Vị cầu tự thân an ổn, phong lạc, nhiếp thọ chúng hội, bất năng linh kỳ an trụ chánh tín.

(Vì sao vậy? Nếu vì muốn cho thân mình được an ổn, dư dật yên vui mà nhiếp thọ chúng hội, sẽ chẳng thể khiến cho họ an trụ trong chánh tín).

 

Chẳng thể khiến cho hết thảy chúng sanh an trụ trong chánh tín, tín nguyện của họ đều chẳng thật.          

Trong đoạn kinh văn tiếp theo đây, đức Phật cũng nói đến điều Ngài sẽ chẳng đề cập. Dụng ý của Ngài là đề phòng trong thời kỳ mạt pháp, có hạng Bồ Tát ngu si. Nhưng thật sự ra, đoạn kinh văn sau đây hàm ý: Trong thời đại ấy, có con cháu của ma vương đi xuất gia, cũng mặc ca-sa để phá hoại chánh pháp, giả mượn danh Phật pháp ngõ hầu phá hoại Phật pháp. Trong số đó, có kẻ cố ý phá hoại, có kẻ vô ý. Vô ý phá hoại Phật pháp là sao? Bị ma khống chế, tự mình chẳng hiểu làm thế đó là phá hoại Phật pháp, cứ tưởng là đang tích tập công đức. Đây chính là điều chúng ta phải suy xét, phải giác ngộ. Chúng ta hãy xem đoạn thứ tư:

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: kiểu trá chi nhân trụ a-lan-nhã.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói là người giả dối, man trá trụ nơi tịch tĩnh)

 

Câu này nói theo cách bây giờ là “bế quan, ở nhà tranh”. “Bế quan, ở nhà tranh” nhằm mục đích gì? Dùng cách thức này để lừa dối tín đồ. Mọi người nếu gặp cá nhân nào đã từng bế quan như thế, ắt nhất định chẳng lầm. Bởi lẽ, mục đích của kẻ ấy là chiêu tập danh văn, lợi dưỡng, chẳng thật sự tu hành, cũng chẳng vì hoằng pháp lợi sanh, là kẻ giả dối, man trá! Đích xác là có chuyện như thế. Nếu quý vị chú ý quan sát, sẽ nhận thấy chẳng khó khăn gì!

Dù phát giác cũng chẳng cần phải nói ra, chỉ cốt mình chẳng bị lừa là được. Người khác mắc lừa là do nhân duyên. Trong phần trên, đức Thế Tôn đã dạy chúng ta phải tu hành trong thời đại này như thế nào mới chẳng sanh phiền não, mới được an ổn giải thoát. Phật dạy chúng ta bốn phương pháp, lại nói thêm bốn phương pháp nữa, tổng cộng là tám phương pháp, các vị còn nhớ chăng? Phải nhớ cho chắc nghe! Nếu chưa nhớ thì quý vị phải nghe kỹ, nghe qua phải nghĩ cho kỹ, vô cùng trọng yếu phi thường!

Điều thứ nhất Phật dạy chúng ta là “chẳng tìm lỗi người khác”. Người khác có lỗi, trong tâm mình biết rõ, nhưng ta chẳng lấy đó làm phiền, tiếp xúc một lần rồi thôi. “Chẳng nêu tội người”: họ có phạm giới, tạo tác tội nghiệp, ta cũng chẳng chỉ trích. Mỗi người tự có nhân quả, tự có báo ứng mà! Cớ chi chúng ta phải xen vào? Trong tám điều, hai điều đầu tiên vừa nói trên trọng yếu cực kỳ phi thường, chúng ta phải hiểu rõ.

 

Chánh kinh:

Bạc phước đức giả, nhi vi thiểu dục.

(Kẻ kém phước đức làm ra vẻ thiểu dục).

 

Kẻ đó làm ra vẻ thiểu dục, làm ra vẻ tri túc, là vì sao? Là vì kẻ ấy chẳng có phước đức. Không có phước đức sao lại nói là thiểu dục được? Lúc không có phước đức bèn làm ra vẻ thiểu dục. Thiểu dục là một hạnh pháp rất cao siêu trong Phật pháp đã bị kẻ đó giả mạo.

 

Chánh kinh:

Tham thắng vị giả, danh dị mãn túc.

(Kẻ tham mùi vị thù thắng, xưng là “dễ thỏa mãn”).

 

“Thắng” là thù thắng. “Vị” là ngũ dục, lục trần. Tham muốn hưởng thọ ngũ dục, lục trần, bèn khoác lên cái tên đẹp đẽ là “dị mãn túc”. “Dị mãn túc” nghĩa là tri túc. 

 

Chánh kinh:

Đa cầu mỹ thiện, dĩ vi khất thực.

(Vì thích được đồ ăn ngon mà đi khất thực).

 

Trong thời đức Phật tại thế, phương thức sanh hoạt của người xuất gia là “thác bát” (ôm bát đi khất thực). Những kẻ khất thực [được nhắc đến trong đoạn kinh này] đi đến nơi nào? Họ chuyên môn đến khất thực nhà phú quý vì tham luyến đồ ăn ngon; chẳng đến khất thực nhà bần cùng là vì sao? Đồ cúng của kẻ nghèo không ngon! Cơm, thức ăn chẳng ngon lành chi! Đó gọi là “khất thực”. Từ ý này các vị suy ra thì thấy: cứ hễ tham muốn hưởng thọ danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục sẽ chẳng thành người xuất gia.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: khất cầu chủng chủng thượng diệu y phục, vị như thị đẳng trì phấn tảo y.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng: Xin tìm các thứ y phục tốt đẹp cũng giống như mặc y phấn tảo).

 

Đức Thế Tôn dạy các đệ tử dùng “phấn tảo y” là với dụng ý phải thời thời khắc khắc thường tự cảnh tỉnh: Thế gian này khổ lắm! Luân hồi càng đáng sợ hơn! Vì thế phải sanh sống đơn giản, mặc áo rất thô. Thời cổ khoa học, kỹ thuật chưa phát triển, một bộ quần áo rất khó có được, chẳng phải rất dễ có như thời hiện tại. Y phục của người xuất gia toàn là nhặt lại từ quần áo cũ của người tại gia đã vứt bỏ đi, chẳng ai muốn nữa. Nhặt lấy những thứ đó, xem phần nào còn có thể dùng được thì cắt ra, sau đó chằm từng miếng một lại thành bức. Đó chính là “ca-sa”.

Ca-sa là do may chằm lại như thế, toàn là do quần áo cũ chằm lại, màu sắc, chất liệu không đồng nhất, đức Phật dạy nhuộm thành màu tro hay màu cà phê, gọi là “phấn tảo y”. Y phục này người thế gian chẳng mặc được, mặc y phục này sẽ thời thời khắc khắc cảnh tỉnh chính mình, tuyệt chẳng tham muốn hưởng thọ. Ngày nay chúng ta nghĩ đến lời giáo huấn của đức Thích Ca Mâu Ni, khi chúng ta may y ca-sa, đem cả nguyên cuốn vải, cắt vụn ra, rồi may chằm lại, nhưng đấy chẳng phải là ý Phật. Vì thế, phải thường nghĩ đến cuộc sống của Tăng đoàn khi đức Thế Tôn còn tại thế, đức Thế Tôn khổ tâm răn dạy, không gì là chẳng nhằm khiến chúng ta bất cứ nơi đâu, bất cứ thời khắc nào tâm luôn cảnh tỉnh, trọn chẳng bị mê hoặc bởi ngũ dục, lục trần thế gian. Thế nên đức Phật tuyệt đối chẳng nói là xin tìm các thứ y phục quý tốt để mặc trên thân mà vẫn giống hệt như mặc y phấn tảo.

Hiện tại, người xuất gia cũng nghiên cứu cách ăn mặc tương đương [với thế gian], chất liệu toàn tuyển loại thượng hạng. Phương thức sanh hoạt như vậy rất dễ tăng trưởng tâm tham, khiến cho quý vị lưu luyến thế gian này, lìa bỏ chẳng nổi. Nếu là kẻ niệm Phật cầu vãng sanh, đến lúc A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, quý vị lại nhớ mình còn có nhiều thứ tốt đẹp quá, bỏ đi chẳng đành thì phiền quá, những thứ đó đâu có mang theo được! Bởi vậy lúc bình thường phải buông bỏ. Điều thứ sáu là:

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: tại gia, xuất gia, vô thức tri giả, vi ly hội náo.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng: kẻ tại gia, xuất gia không ai biết đến bèn là xa lìa chốn ồn náo)

 

Bồ Tát tại gia hay xuất gia, nếu mức độ tên mình được biết đến chưa nhiều, không ai biết đến mình, quý vị bèn làm ra vẻ mình là người xa lìa chốn ồn náo. Quý vị xem, cái tiếng tốt ấy hay bị người ta mạo nhận lắm.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: siểm khúc chi nhân, trị Phật hưng thế.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng người dua dối sẽ gặp Phật xuất hiện trong đời).

 

Tâm chẳng chánh trực, chẳng thành thật, người như vậy sẽ gặp hay chẳng gặp được Phật xuất thế? Dù đức Phật xuất thế, kẻ ấy cũng chẳng gặp. Vì sao chẳng gặp? Kẻ ấy có chướng ngại: Siểm khúc là chướng ngại. Người như thế nào mới gặp được Phật? Chân thành! “Trong cửa nhà Phật chẳng bỏ một ai”. Tâm địa quý vị chân thành sẽ cảm ứng đạo giao chư Phật, Bồ Tát, nên có thể gặp được các Ngài, người tâm dua dối chẳng thể gặp được. Chẳng phải là Phật không từ bi, chỉ là do thân người ấy có chướng ngại.

Trong xã hội hiện tại hay có chuyện này: “Ở Trung Quốc hay ở ngoại quốc, ta thường nghe nói ông nọ là Bồ Tát chi đó tái lai, là Phật nào đó tái lai; một số người thân cận kẻ đó thấy mình rạng rỡ, sáng suốt phi thường! Kẻ đó thấy Phật, thấy được Phật sống”. Nếu quý vị chú tâm quan sát kỹ sẽ thấy kẻ đó là “siểm khúc”, làm sao thấy Phật sống cho được? Thấy Bồ Tát cho được? Nếu là Phật tái lai, Bồ Tát tái lai, sao nói xong không thị tịch? Trong lịch sử Trung Quốc đã từng có chuyện như vậy: Các vị hé lộ thân phận xong bèn tịch diệt, đó mới là thật. Nói ra thân phận vẫn sống nhăn, thì thật là kỳ quái! Bởi vậy, nếu quý vị hiểu rõ sự lý này rồi sẽ chẳng bị mắc lừa nữa!

 

Chánh kinh:

Cầu tha đoản giả, vi như lý tu hành

(Tìm chỗ dở của người khác là tu hành đúng lý).

 

Phải nhớ kỹ điều này. Vì sao ở phần trước đức Phật dạy chúng ta điều thứ nhất là “đừng tìm lỗi người”. Tìm lỗi người chính là chuyên môn tìm chỗ dở của người khác, người như vậy tự cho mình là tu hành đúng lý, chứ thật ra là trật rồi! Phật chẳng hề thuyết pháp như vậy!

 

Chánh kinh:

Đa tổn hại giả, danh giới uẩn thanh tịnh.

(Người gây tổn hại nhiều được gọi là giới uẩn thanh tịnh)

 

Đây là nói về trì giới thanh tịnh. Người trì giới thanh tịnh làm sao có chuyện tổn hại người khác được? Phàm là ai ôm lòng tổn hại chúng sanh khác thì giới của người ấy đã bị phá, sao có thể nói là “giới uẩn thanh tịnh” được nữa?

 

Chánh kinh:

Tăng thượng mạn tâm, vi đa văn đệ nhất.

(Tâm tăng thượng mạn là đa văn bậc nhất).

 

Thế nào là “tăng thượng mạn?” Nói theo ngôn ngữ bây giờ là “đáng nên kiêu ngạo”. Kẻ ấy học rộng nghe nhiều, so ra người khác chẳng hơn được, bèn sanh khởi tâm ngạo mạn, tức là thấy mình đáng nên kiêu ngạo! Chắc chắn Phật, Bồ Tát chẳng hề thuyết pháp như thế. Chẳng riêng gì thánh nhân xuất thế (Phật, Bồ Tát), thánh nhân thế gian cũng nói: “Học vấn càng sâu càng khiêm hư, càng cung kính”, há có người học vấn sâu nào mà ngạo mạn? Chẳng hề có đạo lý ấy!

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: Háo bằng đảng giả, danh trụ luật nghi.

(Này Di Lặc! Ta chẳng hề nói kẻ thích kết bè lũ đáng gọi là người giữ luật nghi)

 

“Bằng đảng” nói theo cách bây giờ là “bè phái”. Trong Tăng đoàn mà lập ra những tổ chức nhỏ thì gọi là phá hoại luật nghi, tuyệt đối chẳng phải là “trụ luật nghi”.

 

Chánh kinh:

Tâm cống cao giả, danh tôn kính pháp sư.

(Kẻ tâm ngạo nghễ gọi là tôn kính pháp sư).

 

Mặt ngoài lễ tiết rất chu đáo, trong tâm ngạo nghễ, ngã mạn thì chẳng phải là chân chánh tôn kính pháp sư.

 

Chánh kinh:

ngữ khinh lộng, vi thiện thuyết pháp.

(Nói thêu dệt, bỡn cợt là khéo thuyết pháp)

 

Căn bệnh này quý vị phải chú tâm quan sát, quý vị đều thấy ngay. “Ỷ ngữ” là hoa ngôn xảo ngữ. “Khinh lộng” là thường dùng những môi miếng giỡn hớt đùa bỡn để giảng kinh thuyết pháp, khiến đại chúng cười vỡ cả nhà! Ôi! Kẻ ấy nói rất giỏi, nhưng Phật chẳng bảo kẻ ấy chẳng phải là người giỏi thuyết pháp đâu!

 

Chánh kinh:

Dữ tục giao tạp, năng ư tăng chúng, ly chư quá thất.

(Giao du hỗn tạp với người đời mà có thể lìa các lầm lỗi đối với tăng chúng)

 

Điều này đức Phật cũng chẳng hứa khả. Ưa thích qua lại cùng kẻ tục gia, ưa thích kết giao với tục nhân, mà chẳng hề có lầm lỗi trong tăng đoàn là điều rất khó. Vì sao vậy? Nhiễm trước tập khí thế tục, trở ngại tăng chúng tu hành thì sao có thể nói là “lìa các lầm lỗi” được?

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: Giản thắng phước điền, vi thí bất vọng báo!

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói là: Ngạo mạn đối với phước điền thù thắng là bố thí mà chẳng mong được báo)

 

Bố thí chẳng mong được báo” là điều đức Phật thường dạy chúng ta, giống như ở phần trước nói là dùng tâm không mong cầu để hành pháp bố thí. “Tâm không mong cầu” chính là “bố thí chẳng mong được báo”. Nếu có kẻ “ngạo mạn đối với phước điền thù thắng” mà cho là mình làm như vậy chính là bố thí chẳng mong cầu quả báo thì là lầm lẫn rồi, đã hiểu lầm ý nghĩa của danh từ, thuật ngữ Phật đã giảng mất rồi.

Thế nào là “giản thắng phước điền?” Thắng là tốt đẹp thù thắng. Giản” là giản mạn (đối đãi với người khác một cách qua loa, nhạt nhẽo), sơ mạn (coi thường, khinh dễ), khinh mạn. Kẻ ấy bố thí tu phước với thái độ ngạo nghễ, ngã mạn. Chẳng hạn như kẻ ấy có rất nhiều tiền, tùy tiện xả thí một ít cho chùa miếu, tâm khinh rẻ, chẳng có lấy một chút lòng tôn trọng, cung kính chi, cứ tưởng như thế là bố thí chẳng mong được báo. Hiểu ý nghĩa “bố thí chẳng mong được báo” như vậy là lầm mất rồi!

 

Chánh kinh:

Cầu ân báo giả, vi thiện nhiếp chư sự.

(Mong được đền ơn là khéo nhiếp các sự)

 

Nhiếp” nói theo cách bây giờ là “quản chế” (trông coi); giống như trong đạo tràng chúng ta ngày nay gọi là làm nghĩa công (volunteer). Đấy là “thiện nhiếp chư sự”. Lúc bọn họ đến làm nghĩa công thì mục đích là gì? Cầu được báo ân, cầu quả báo, đó chính là “chẳng khéo nhiếp các sự”. Nghĩa công, tốt lắm! Nhưng phải “tâm không mong cầu” mới là “khéo nhiếp các sự”. Có tâm mong mỏi là chẳng trúng. Vì thế, chúng ta phải hiểu rõ ràng, minh bạch ý nghĩa này.

 

Chánh kinh:

Cầu cung kính, lợi dưỡng, vi chí nhạo thanh tịnh.

(Cầu cung kính, lợi dưỡng là chí ưa thanh tịnh).

 

Người tâm chí thích thanh tịnh quyết định chẳng có ý niệm cầu cung kính, lợi dưỡng. Có ý niệm ấy mà tự cho là mình rất thanh tịnh thì lầm to rồi.

 

Chánh kinh:

Đa vọng kế giả, dĩ vi xuất gia.

(Lắm tính toán xằng bậy mà cho là mình xuất gia)

 

Vọng” là hư vọng, “kế” là tính toán. Đấy là điều người xuất gia chẳng nên làm. Phạm vi của “vọng kế” rất rộng lớn.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: Phân biệt bỉ ngã, danh nhạo trì giới.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói kẻ phân biệt ta - người gọi là thích trì giới)

 

Người trì giới quyết định chẳng phân biệt ta - người. Nếu như có ý niệm phân biệt ta - người thì người như vậy trì giới chẳng đắc định, nên chẳng phải là người trì giới chân chánh. Quý vị phải hiểu là đối với Giới Học, do Giới mà đắc Định, nhân Định khai Huệ. Người chân chánh trì giới giống như Lục Tổ nói: “Nếu người thật tu đạo, chẳng thấy lỗi thế gian”. Quý vị vẫn còn có chấp trước, phân biệt đây - kia, ta - người thì là lầm rồi!

 

Chánh kinh:

Bất tôn kính giả, danh vi thính pháp.

(Chẳng tôn kính mà gọi là nghe pháp)

 

Nơi giảng kinh thuyết pháp, người đến nghe pháp rất nhiều. Có hạng người tuy cũng đến nghe, nhưng Phật nói hạng người ấy chẳng nghe pháp. Vì sao vậy? Họ chẳng hiểu được ý nghĩa của Phật pháp. Họ đến đấy làm gì? Họ muốn nhờ nơi đó để biết coi rốt cuộc Phật giáo giảng dạy những gì, thậm chí đến để gây rắc rối nữa đấy. Rất nhiều đạo tràng gặp tình cảnh này. Vì thế giảng kinh thuyết pháp chẳng phải là chuyện dễ, đặc biệt là ở đạo tràng [có kẻ] sanh lòng khinh dễ.

Năm 1977, tôi đến Hương Cảng giảng kinh lần thứ nhất, ngay chiều hôm đó, pháp sư Sướng Hoài bảo tôi: “Pháp sư! Ở đây Ngài phải chú ý cẩn thận, địa phương này có những kẻ chuyên gây rắc rối cho pháp sư. Họ nghe xong, liền nêu ngay câu hỏi tại chỗ để bắt bí pháp sư đó nghe!” Sư nói: “Ngài phải chú ý. Rất nhiều pháp sư đều bị cứng họng tại Hương Cảng đấy!” Đó là hạng chuyên gây rối, là “kẻ chẳng tôn kính”. Họ chẳng đến để nghe pháp mà chỉ đến để gây rối thôi.

 

Chánh kinh:

Nhạo trước thế điển, chú trớ, ngôn luận, dĩ vi thọ pháp.

(Ưa đắm sách vở thế tục, bùa chú, lý luận, cho đó là thọ pháp)

 

Thọ pháp” là truyền pháp. Ưa thích sách vở thế gian, những sách ấy không phải là kinh điển Phật. Ưa thích chú ngữ, các ngôn luận như thế, cho là mình “thọ pháp”, tiếp thọ đại pháp của Như Lai. Đấy cũng là lầm lạc, chẳng phải là điều đức Phật nói.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: Ư chư không tánh, vô thắng giải giả, năng xuất ly sanh tử.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng: Đối với các tánh Không, không có thắng giải mà có thể thoát lìa sanh tử)

 

Nhờ vào đâu để liễu sanh tử, xuất tam giới? Ở đây, Phật nói rất hay, thật là đơn giản dễ hiểu. Đối với đạo lý Nhân Không Tánh, Ngã Không Tánh, sự tướng chân thật ấy, nếu quý vị chẳng thể lý giải sâu xa sẽ chẳng có biện pháp nào để liễu sanh tử, thoát tam giới. Vì thế, chúng ta tu học pháp môn, nhất định phải biết căn cứ vào lý luận nào. Nếu quý vị chẳng hiểu rõ lý luận ấy thì ai nói đến pháp môn nào có thể liễu thoát sanh tử, pháp môn nào có thể thành Phật ngay trong thân này, quý vị nghe xong liền tin ngay. Đấy gọi là “mê tín”. Đó là giả, chẳng