TRIẾT LÝ VÀ
THỰC TIỄN
Của Pháp Môn Tịnh Ðộ
Thích Tâm An
biên dịch
LUẬN NIỆM PHẬT
Ðại sư Ðàm Hư
Phật pháp có nguồn gốc từ Ấn Ðộ, được lưu truyền đến Trung Quốc và các
quốc gia khác trên thế giới. Mục đích của Phật pháp không ngoài việc giúp
chúng sinh giác ngộ tự tâm, xa lìa khổ đau đạt được an lạc. Danh từ “Phật”
có nghĩa là giác, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn. Phật lấy từ bi làm
gốc, từ nghĩa là ban vui, bi nghĩa là cứu khổ.
Sau
khi thành Phật, Ðức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, về sau những lời
dạy của Ngài được chúng đệ tử kết tập thành tam tạng mười hai bộ kinh. Vì
căn tính chúng sinh bất đồng, trình độ tiếp thu Phật pháp cũng khác nhau,
do đó Phật pháp truyền đến Trung Quốc từ tam tạng mười hai bộ kinh lại
được phân ra thành năm tông lớn: Giáo, Luật, Mật, Thiền và Tịnh. Sự phân
chia này không phải là ý muốn của Phật. Ðứng trên phương diện kinh điển
thì không cái gì gọi là tông, là phái. Nhưng để thích hợp với căn tính
chúng sinh, trong xu hướng tự nhiên, người sau mới thành lập các tông phái
như vậy. Trong các tông phái, Thiền tông lấy giáo ngoại biệt truyền, trực
chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Giáo tông dạy môn hạ trước đốn ngộ sau
mới tiệm tu, do tu mà chứng. Ðối với Luật tông thì chuyên trì giới luật,
trước giữ gìn thân, sau đó mới nhiếp tâm, giới có thể là: Ngũ giới, 250
giới, Bồ tát giới, Tam tụ tịnh giới. Do có nghiêm trì Tịnh giới, mà từ
giới sinh định, từ định phát sinh trí tuệ. Mật tông chuyên trì chú, chú
trọng tu Tam Mật tương ưng. Bốn tông này đối với người sơ cơ học đạo khó
thực hành viên mãn. Duy chỉ có Tịnh độ tông là rất đơn giản, chỉ chuyên
trì một câu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, niệm đến nhất tâm bất loạn, liền được
Phật A Di Ðà tiếp dẫn vãng sinh Cực Lạc. Không luận là người độn căn hay
lợi căn đều có thể thực hành và được nhiếp thọ.
Pháp môn Tịnh độ lấy việc hành trì duy nhất là thành tâm niệm Phật. Nếu có
người nào hỏi: “Vì sao phải niệm Phật?”. Trước tiên xin giải thích rõ hai từ “niệm Phật”. Từ “niệm” là
do hai từ “kim” và “tâm” hợp lại mà thành. Từ “Phật” là tiếng Phạn, nói
cho đủ là “Phật Ðà Da” Trung Hoa dịch là giác
ngộ, cũng còn có nghĩa là “hiểu biết”.
Việc niệm Phật người người có
thể thực hành được. Mục đích của việc niệm Phật là hiện tại đạt
được nhất tâm bất loạn, giác ngộ và giải thoát. Một niệm của chúng ta đầy
đủ thập pháp giới, nên mới nói: “Mười đời xưa nay không lìa một niệm,
hiện trong mười phương cát bụi, không cách một mảy may”. Nếu chúng ta niệm
Phật thì “Một niệm niệm Phật, một niệm giác ngộ, niệm niệm niệm Phật,
niệm niệm giác ngộ”. “Một niệm niệm Phật, một niệm tỉnh giác, niệm niệm
niệm Phật, niệm niệm tỉnh giác”. Ai mà không muốn giác ngộ, không muốn
tỉnh giác? Thế nhưng chúng ta, miệng thì nói muốn tỉnh giác, muốn giác
ngộ mà tâm lại hồ đồ. Hồ đồ về cái gì? Ðó là ý có ba nghiệp: Tham, sân,
si. Miệng có bốn: Nói dối, nói lời thêu dệt, nói ác khẩu, nói lời ly
gián. Thân có ba: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm. Do thân, khẩu, ý không
trong sạch nên hằng ngày, sáu căn tiếp xúc với sáu trần chỉ phân biệt âm
thanh, hình sắc, lợi dưỡng, hơn thua, thị phi, tốt xấu, để rồi lấy những
thứ đó làm sở tri, sở giác của mình. Niệm Phật là cải đổi, bỏ đi tất cả
những phân biệt hơn thua chấp trước đó, mà khôi phục lại cái bản tri bản
giác. Một khi cái bản tri bản giác được khôi phục hoàn toàn là thành Phật.
Việc thành Phật cũng không phải việc gì ở đâu xa xôi mà chủ yếu dụng công
niệm Phật, niệm được thành phiến thì những cặn bã của chân tâm dần dần bị
phá vỡ, lúc đó Phật tính sẽ hiển bày.
Bản tâm của chúng ta xưa nay vốn thanh tịnh, bình đẳng giác ngộ, quang minh
rực rỡ, bao trùm khắp pháp giới hư
không. Chỉ vì vô minh vọng động
mà bị sáu trần dẫn dắt, do đó sự hiểu biết của chúng ta bị hạn hẹp,
chỉ nhận thức được sắc thân tiểu ngã mà
không thể nhập tính giác đại ngã vốn có xưa nay.
Mọi người không ngờ thân thể mà chúng
ta cho là “cái ta” chỉ là bảy
đại: Ðất, nước, gió, lửa, không, căn, thức hợp lại mà thành. Nếu
đem phân chia ra từng phần thì thân thể
không tồn tại được. Thí như: Thịt da là thuộc về phần đất; máu mủ,
mồ hôi, nước mắt... là nước, hơi ấm là
lửa, sự chuyển động của không khí và hơi thở trong thân thể và bên
ngoài không trung là thuộc về phần không khí; ngoài ra còn có sáu căn là
nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn là thuộc căn đại.
Trong mỗi căn lại có mỗi thức, sáu thức thuộc về phần thức đại. Nếu đem
tất cả những phần trên phân ra từng phần, một người không thể nào tồn tại,
vậy cái gì làm “cái ta” đây? Chúng ta xưa nay mê lầm cho bảy đại là ta,
nhưng trên thực tế nó chỉ là một đãy da dơ bẩn, tanh hôi được trang hoàng
bên ngoài bởi một lớp da nên chúng có ta khó nhận thức được.
Thí
dụ chúng ta đang nghe pháp như vậy, tự nhiên có một người nào đó đem một
túi đựng đầy phân tiến lại, chắc chắn mọi người cho đó là dơ dáy và hôi
thối, người thì bịt mũi lại hoặc người thì đem nó mà bỏ, xem nó hết sức
khinh rẻ. Thật ra, chúng ta ai ai cũng có một cái túi đầy dơ dáy như vậy,
nhưng nó không lộ rõ ra bên ngoài như bao phân kia, mà được tiết ra bên
ngoài thông qua chín lỗ, nên nói: “Chín lỗ thường bất tịnh” là vậy. Mọi
người lại nhận lấy cái đãy da dơ bẩn làm cái ta, rồi yêu thương, chăm sóc,
nuôi dưỡng, bảo vệ. Nếu lấy nhãn quan Phật mà nhìn thì chúng ta thật ngu
si biết chừng nào. Do đó, mọi người cần
phải quán chiếu cái thân mà bấy
lâu nay nhận làm “cái ta”, nó chỉ là
vật đầy bất tịnh. Ðứng trên phương diện
định nghĩa “cái ta” nếu nói thân thể này thật là ta, thì chúng ta
có thể sai khiến nó làm theo ý muốn của mình, khi cần thì dùng, không cần
có thể bỏ đi. Nếu không sai khiến được nó thì “cái ta” là cái gì đây?
Theo tập quán phổ thông, mọi người đều cho thân thể là ta, từ chỗ có ta
lại có người, từ nhiều người hợp lại có chúng sinh, mỗi một chúng sinh đều
ham muốn sống trường thọ, thật ra đó là điều hoàn toàn giả danh giả tướng.
Vì “ta” và “người” là hai tướng đối đãi (tướng đối đãi là ở chỗ do có ta
mà có người, do có người mà có ta). “Chúng sinh” là nhân hư giả (do vay
mượn nhiều nhân duyên mà thành). “Thọ giả” cũng là tướng đối đãi không
thực (Ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, tướng trạng của chúng vốn biến đổi
không ngừng). Như vậy, nếu ly khai tất cả những tướng hư vọng giả danh ấy
thì có một cái ngã thật phải không?
Hơn
nữa, nghĩa “cái ta” là phải có chủ thể, mọi người thường cho thân thể là
ta, nhưng nào có sai khiến nó được đâu,
ví như: Lúc đói không ăn chịu không được, lúc khát không uống
không thể làm gì, ngay cả sinh mạng khi hơi thở đã tắt, không chết cũng
không được, thậm chí mắt thấy sắc đẹp không nhìn cũng không được, gặp hoàn
cảnh ngũ dục sung túc, không thọ nhận cũng không xong. Như vậy, nếu mọi
người không làm chủ được những vấn đề nói trên thì “cái ta” làm gì mà có.
Tất cả những cái ăn, uống, thọ nhận là thuộc phần sinh mạng, sinh mạng thì
có sinh có diệt, ngoài sinh mạng ra, mỗi chúng ta đều có một tuệ mạng, tuệ
mạng thì không sinh cũng không diệt. Như vậy tuệ mạng là cái gì mà không
sinh không diệt? Ðó là tri giác tính. Tri giác tính tuy là vô hình vô
tướng nhưng lại bao trùm khắp hư không pháp giới, không nơi nào là không
có. Cái được gọi là: “Không trung sinh đại giác, như bọt nước đại dương”.
Niệm Phật chính là nuôi dưỡng tuệ mạng pháp thân của chính mình,
nhờ vào tha lực và tự lực, cầu sinh thế
giới Cực Lạc, khai mở Phật tri
kiến, phục hồi lại bản giác tự thân.
Chư Tổ như: Thiên Thai Trí Giả Ðại sư, Vĩnh Minh Ðại sư, Long Thọ
Thiền sư, Ngẫu Ích Ðại sư, Triệt Ngộ Thiền sư... các ngài đều quy hướng
Tịnh độ, chuyên môn niệm Phật. Vì tu các tông khác thường thường căn khí
không thích hợp, hoặc khi tu gặp các cảnh tướng mà không người hướng dẫn
sẽ gặp nguy hiểm, mang bệnh vào thân. Người niệm Phật chỉ cần tín,
hạnh, nguyện đầy đủ, niệm chắc chắn thiết thực, đã có sự trợ giúp của
tha lực, lại có sự tu hành của tự lực, thì tuyệt không bao giờ gặp sai
lầm. Cho nên nói pháp môn niệm Phật là pháp môn tối thắng mau thành Phật
là vậy. Tu các pháp môn khác hoàn toàn
dựa vào tự lực, phải đoạn trừ hết tham sân si, các lậu hoặc mới
trực chứng. Nói thì dễ dàng như vậy, thực tế việc đoạn trừ tham sân si nào
có dễ, vì nó đã được huân tập từ nhiều kiếp. Tu pháp môn Tịnh độ có một
điểm đặc biệt là đới nghiệp vãng sinh. Sau khi được vãng sinh về
thế giới Cực Lạc, nhờ vào năng lực không thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà,
Ðại Thế Chí Bồ tát và Quán Thế Âm Bồ
tát, cùng chư Thánh chúng, được họ dẫn dắt huân tu, trong tương lai
dần dần nghiệp dứt tình không. Từ nơi Phàm Thánh Ðồng Cư Ðộ, rồi tu tiến
đến Phương Tiện Hữu Dư Ðộ, kế tiếp tiến lên Thật Báo Trang Nghiêm Ðộ, cuối
cùng đạt được chân thân của Phật. Ðó là giai đoạn tiến tu của người có căn
cơ hạ liệt. Ðối với người có căn tính Ðại thừa, dù sinh đến bất kỳ quốc độ
nào trong bốn quốc độ trên đều có thể thấy các quốc độ còn lại.
Niệm Phật cầu vãng sinh là pháp môn tối thắng, được vãng sinh đến thế giới Cực
Lạc thì không còn tái sinh đọa lạc,
hoàn toàn không còn tạo nghiệp,
tự mình gia công tiến tu cho đến ngày thành
Phật độ chúng sinh. Tu hành các pháp
môn khác cố nhiên cũng tốt. Nhưng công phu tu không đạt đến cứu
cánh tất sẽ bị đọa lạc. Như thuở quá
khứ có ba vị Bồ tát Thế Thân, Vô Trước, Sư Tử Giác cùng tu tập Duy
thức quán, ba vị phát nguyện sinh nội
viện Ðâu Suất thấy Bồ tát Di Lặc. Các vị cam kết với
nhau rằng, nếu ai sinh về đó trước thì quay trở lại báo cho những
người khác biết. Ðầu tiên, Sư Tử Giác viên tịch, trải qua ba năm không
thấy trở lại báo, ba năm sau Thế Thân lại viên tịch. Lúc Thế Thân sắp lâm
chung, Vô Trước bảo với Thế Thân rằng:
“Sau khi ông đến cõi trời Ðâu Suất dù bất kỳ lý do gì ông cũng phải
trở lại đây báo cho tôi biết”. Thế Thân qua đời, đúng ba năm sau ngài quay trở lại. Vô Trước hỏi
Thế Thân: “Vì lý do gì mà ông trở lại
đây muộn thế?”. Thế Thân đáp: “Tôi đến nội
viện Ðâu Suất chắp tay đảnh lễ tam bái, nhiễu quanh Bồ tát Di Lặc
một vòng là quay trở lại liền”. Vô Trước lại hỏi: “Hiện nay Sư Tử Giác
đang ở đâu? Vì sao không thấy trở lại?”. Thế Thân đáp: “Ông ấy sinh vào
cõi trời ngoại viện Ðâu Suất, không có trong nội viện. Do sinh vào cõi
trời ngoại viện đang bị ngũ dục trói buộc nên không thấy Bồ tát Di Lặc,
chính vì lý do đó mà không thể trở lại đây được”. Vô Trước sau khi nghe
nói sinh thiên rất nguy hiểm, nên phát nguyện không sinh thiên mà phát
nguyện sinh Tịnh độ (theo Tịnh Ðộ Thập Nghi Luận của Ðại sư Trí Giả).
Thiết nghĩ, ngài Sư Tử Giác là một vị Bồ tát Ðại thừa, sinh thiên còn bị
ngũ dục dẫn dắt, hà huống gì là phàm phu chúng ta, qua đó cho thấy rằng
sinh thiên là điều nguy hiểm vô cùng! Ðối với người tu thiền định, nếu
công phu chưa đạt đến trình độ siêu xuất tam giới, không luận sinh lên một
cõi trời nào, sau khi hưởng hết phước sẽ bị đọa lạc, rồi tùy theo nghiệp
mà thọ báo. Lời này đã được Phật nói cho A Nan trong Kinh Lăng Nghiêm.
Ðúng là tu Tịnh độ không có nguy hiểm. Nên nói: “Nhiều người tu đến phi
phi tưởng, không bằng quy hướng Tây phương”. Ý nói sinh đến tứ không của
phi phi tưởng, khi tuổi thọ tận, phước hết đều bị đọa lạc, không bằng sinh
về cõi Cực Lạc, dù có sinh nơi hạ hạ phẩm cũng có thể dần dần chứng đến
thượng phẩm, so với việc sinh về cõi trời phi phi tưởng tốt hơn nhiều.
Trong thời khóa niệm Phật, mỗi ngày chúng ta nên đọc Kinh Di Ðà, thường
nên đọc vào công phu chiều. Ðọc một lần, là một lần bạn đã huân tập cảnh
giới thanh tịnh trang nghiêm vào trong tàng thức. Giống như bạn xem phim,
một lần xem là một lần những hình ảnh trong phim đã huân tập vào tàng thức
của bạn. Cũng vậy bạn đọc Kinh Di Ðà lâu ngày, cảnh giới thù thắng trang
nghiêm của cõi Cực Lạc sẽ dần dần huân tập vào trong tàng thức của bạn.
Tuy hiện tại bạn chưa sinh Cực Lạc mà trong tâm đã được bao vây bởi cảnh
giới Tây phương. Trong tương lai, đến giây phút lâm chung của bạn, ngoài
công đức trì niệm danh hiệu Phật mà
hằng ngày bạn huân tập, sẽ được Phật và Thánh chúng hiện ra tiếp
dẫn. Lại còn những cảnh giới trang
nghiêm thanh tịnh mà hằng ngày bạn đọc
Kinh A Di đã được huân tập, cũng từ
trong tâm thức hiện ra trợ giúp
cho bạn vãng sinh nhanh chóng
hơn.
Ðiều được gọi là: “Tự tính Di Ðà duy tâm Tịnh độ”. Chúng sinh chính là
Phật, Phật cũng là chúng sinh. Phật và chúng sinh, Phật tính vốn bình đẳng
như nhau. Tâm tức là độ, độ tức là tâm, tất cả đều do tâm sở hiện. Vậy
người niệm Phật nên có công phu như thế nào? Nếu tín, hạnh, nguyện kiên
cố không thay đổi, tự tính và Phật tức là một, tự tính tức là Phật, Phật
tức là tự tính. Phật vốn đầy đủ vô lượng thọ, chúng sinh cũng vốn đầy đủ
vô lượng thọ, Phật vốn đầy đủ vô lượng quang, chúng sinh cũng vốn đầy đủ
vô lượng quang. Phật A Di Ðà có thế giới Cực Lạc, y báo, chính báo, tướng
hảo trang nghiêm; chúng sinh cũng có nhị báo, tướng hảo trang nghiêm.
Trong Kinh Di Ðà có nói: “Tất cả đều do Phật A Di Ðà, muốn cho pháp âm
chan hòa khắp nơi, mà biến hóa ra như vậy”. Từ câu kinh này có thể chứng
minh rằng các cảnh giới của thế giới Cực Lạc đều tùy theo nghiệp tướng
phước đức của Phật A Di Ðà, duy tâm mà sở hiện. Trong khi đó Phật tính của
chúng sinh vốn đầy đủ như Phật, mà chúng sinh lại không thể hiển hiện được những cảnh giới như Ðức Phật Di Ðà hay sao? Cho nên nói tự
tính Di Ðà, duy tâm tức Tịnh độ là vậy. Tự tính không nằm ngoài Phật và
chúng sinh, Tịnh độ cũng không ngoài tâm mà có. Tây phương Di Ðà và tự
tính Di Ðà, Tây phương Tịnh độ và duy tâm Tịnh độ đều là một. Cần phải
hiểu đúng chữ “duy tâm”, duy tâm nói đây không phải là tâm điên đảo vọng tưởng duyên theo sáu trần
hằng ngày, mà gọi “pháp pháp duy tâm”. Nói duy tâm là để hiển bày
tự tính vốn bao trùm chu biến khắp pháp giới hư không, để thấy thân tứ đại
chỉ là giả hợp. Từ đó người niệm Phật mỗi ngày khi đọc tụng Kinh Di Ðà cần
hiểu rõ như vậy, để lòng tin phát khởi
kiên cố. Kinh Di Ðà là kinh vô vấn tự thuyết. Trong kinh miêu tả về y báo,
chính báo trang nghiêm
của cõi Cực Lạc và pháp môn niệm Phật sinh Tây phương. Ý nghĩa của Kinh
Pháp Hoa và Kinh Di Ðà giống nhau. Vì Kinh Pháp Hoa Phật cũng nói cho Tôn
giả Xá Lợi Phất, cũng không ai hỏi mà tự nói. Sau khi Phật nói Kinh Vô
Lượng Nghĩa xong, Ngài ngồi xếp bằng nhập vào chánh định Vô Lượng Nghĩa Xứ
Tam Muội, thân và tâm của Phật đều không lay động, từ nơi lông trắng giữa
chặng mày phóng ra một luồng hào quang, chiếu khắp cả một muôn nghìn cõi ở
phương Ðông, hiện ra vô số tướng trang nghiêm, khiến cho hàng đại chúng vô
cùng nghi nan. Sau khi đại chúng được Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Di Lặc giải
quyết các nghi ngờ, lúc bấy giờ, Ðức Thế Tôn từ chánh định an lành mà dậy,
không có người nào thưa hỏi mà bảo với ngài Xá Lợi Phất rằng: “Trí tuệ
của Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó vào, tất cả hàng
Thanh Văn cùng Bích Chi Phật đều khó biết được... thành tựu pháp vị tằng
hữu thậm thâm... Tóm yếu mà nói, vô lượng vô biên pháp vị tằng hữu, Ðức
Phật thảy đều thành tựu”. Tôi thường nói: “Kinh Pháp Hoa là nói rộng Kinh
Di Ðà, Kinh Di Ðà lược nói Kinh Pháp Hoa”. Hai bộ kinh này đều lần lượt đi
từ sự đến lý, không như các kinh khác nói rất nhiều danh từ pháp tướng dẫn
dắt người tu ngộ lý rồi tu sự, hoàn toàn nói đến cảnh hiện lượng và tâm
hiện lượng. Nếu mọi người để tâm nghiên cứu, so sánh hai bộ kinh này chắc
chắn sẽ thấy rõ hơn.
Kinh Pháp Hoa gồm 7 quyển 28 phẩm. 14 phẩm đầu là khai quyền hiển thật, 14
phẩm sau là khai mở việc gần để nói việc sâu xa, tất cả đều nói pháp tối
thượng thừa. Ví như trong Kinh Di Ðà có nói: “Nếu có người thiện nam tín
nữ nào, được nghe danh hiệu A Di Ðà Phật, rồi niệm danh hiệu đó, trong một
ngày, hay hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hay là bảy
ngày, được nhất tâm bất loạn. Thế là người ấy vào phút lâm chung, Phật A
Di Ðà cùng chư Thánh chúng hiện ra
trước mặt, người ấy lúc chết tâm không điên đảo, tức được vãng sinh
về nơi Cực Lạc”. Trong Kinh Pháp Hoa phẩm “Dược Vương Dược Thượng Bồ tát
bổn sự” quyển thứ 6 có nói: “Nếu có người nghe kinh này, đúng như lời mà
tu hành, đến lúc mạng chung liền qua cõi An Lạc, chỗ trụ xứ của Phật A Di
Ðà, cùng chúng đại Bồ tát vây quanh, mà sinh trong tòa báu hoa sen”. Hai
đoạn kinh nói trên ý nghĩa hoàn toàn giống nhau. Kinh Di Ðà nói về sự
trang nghiêm thanh tịnh, thọ mạng, quang minh và sự hộ niệm của sáu phương
chư Phật... Tuy Kinh Pháp Hoa dùng văn tự để nói rộng có khác, thế nhưng
về mặt cảnh giới và ý nghĩa hoàn toàn giống Kinh Di Ðà. Vì vậy một câu “A
Di Ðà Phật” là pháp tối thượng thừa, bao quát vô lượng pháp môn.
Một câu “A Di Ðà Phật”, niệm được tương ưng, lập tức lục căn được thanh
tịnh. Ví dụ, quý vị hiện tại đang niệm Phật, mắt thường thấy Phật đó là
nhãn căn thanh tịnh, tai nghe âm thanh niệm Phật của mình và đại chúng, là
nhĩ căn thanh tịnh, mũi ngửi hương trầm, là tỷ căn thanh tịnh, lưỡi đang
co giãn phát ra danh hiệu Phật, là thiệt căn thanh tịnh, thân thể đang ở
trong đạo tràng thanh tịnh, ngày ngày hướng Phật lễ bái đó là thân căn
thanh tịnh, niệm Phật lạy Phật, tâm nhớ Phật là ý căn thanh tịnh. Lục căn
thanh tịnh thì ba nghiệp thanh tịnh, ba nghiệp thanh tịnh thì thân không
trộm cắp, sát sinh, tà dâm; miệng không nói hai lưỡi, ác khẩu, nói dối,
nói lời thêu dệt; ý không tham, sân, si đó là tu thập thiện. Người tu hành
không dễ gì mà đối trị được tam nghiệp, chỉ có niệm bốn chữ “A Di Ðà Phật”
mới có thể thu nhiếp, làm chủ được nghiệp, dần dần lâu ngày, niệm Phật
thành phiến, tịnh nhân tăng trưởng, đến lúc lâm chung nhất định được vãng
sinh Cực Lạc.
Phật và chúng sinh đều có chung quan niệm công phu mà thành. Phật một niệm
đầy đủ thập pháp giới, chúng sinh một niệm cũng đầy đủ thập pháp giới. Nếu
tâm khởi một niệm tham đó là Ngạ quỷ, tâm khởi một niệm sân là Ðịa ngục,
tâm khởi một niệm si là Súc sinh, khởi một niệm mạn nghi là A tu la; một
niệm vui ở ngũ thường, ngũ giới chuyển vào cõi Người, một niệm vui ở
thượng phẩm thập thiện, thì sinh vào cõi Trời, nếu lấy Tứ Ðế làm quán niệm
đó là Thanh văn, lấy Mười Hai Nhân Duyên làm quán niệm, đó là Duyên giác,
lấy Lục Ðộ làm quán niệm là Bồ tát, lấy tự lợi lợi tha, vạn hạnh bình đẳng
làm quán niệm đó là Phật. Lại như trong nhân gian có các quan niệm: Sĩ,
Nông, Công, Thương, Quân, Chính, Cảnh, Học sinh, đều là do quan niệm từ
ban đầu mà hình thành. Vậy quan niệm là cái gì? Ðó là do nhận thức của
mọi người. Người niệm Phật cũng giống như vậy, mỗi ngày mắt thấy Phật,
miệng niệm Phật, thân lễ lạy Phật, tâm nhớ Phật, tai nghe danh hiệu Phật,
từng giây từng phút lấy việc vãng sinh Tịnh độ làm quan niệm, cứ như thế
cho đến ngày thọ mạng hết, nhất định vãng sinh Tịnh độ và quyết định thành
Phật. Như tôi đã nói ở trên, Phật giáo Trung Quốc, để thích hợp với xu thế
tự nhiên, người sau mới phân chia thành một số tông phái như: Thiên Thai
tông, Hiền Thủ tông, Pháp Tướng tông (cũng gọi Từ Tư tông hoặc Duy Thức
tông), Tịnh Ðộ tông, Chân Ngôn tông, Thiền Tông, Luật tông v.v... đều do
quan hệ truyền bá và học tập chuyên môn, mới thành lập ra như vậy. Trong
các tông phái trên, chỉ có Tịnh Ðộ tông và Luật tông, việc hành trì cũng
như giáo nghĩa thâm nhập vào các tông phái khác, được các tông phái kiêm
tu, đồng thời cũng được bảy chúng đệ tử Phật tu tập. Thí dụ như: Thiên
Thai tông, Hiền Thủ tông, Tam Luận tông, Pháp Tướng tông... Phán giáo và
tu quán hoàn toàn khác nhau. Nhưng tóm lại mà nói, tất cả họ đều lấy pháp
môn Tịnh độ làm phương tiện cứu cánh, đều lấy việc niệm Phật để thành
Phật. Như Thiền tông trong tham thoại đầu cũng lấy câu “Người niệm Phật là
ai?” để tu tập. Chẳng những vậy, bạn thấy không luận là một người xuất
gia hay tại gia, cũng không luận là người học Phật vì động cơ như thế nào,
song mục đích duy nhất của người học Phật, không ngoài việc niệm Phật
thành Phật, đồng thời trong quá trình học Phật đó cần phải giữ gìn giới
luật thanh tịnh. Thí dụ như: Không luận Bắc tông, Nam tông hay một tông
phái nào, hiện nay tại Trung Quốc, mỗi lúc mọi người lên chánh điện lạy
Phật hay nhiễu quanh Phật đều niệm “Nam mô A Di Ðà Phật”. Lúc nói chuyện
hay trả lời người khác mọi người đều niệm “Nam mô A Di Ðà Phật”. Tuy
nhiên, mục đích tối hậu là không ngoài việc vãng sinh Tịnh độ thấy Phật
thành Phật. Ðiều đó cho thấy rằng pháp môn niệm Phật rất phương tiện lại
còn phổ biến. Giới luật cũng không kém quan trọng, Phật pháp có hưng thịnh
hay không, cũng từ chỗ đệ tử của Phật có giữ gìn giới luật thanh tịnh hay
không. Mọi người có giữ gìn giới luật thì Phật pháp trụ thế, ngược lại thì
Phật pháp sẽ diệt vong.
Thời Phật còn tại thế, xứ xứ mọi người đều lấy Phật làm thầy. Sau khi Phật
diệt độ, tất cả mọi người đều lấy giới luật làm thầy. Vào giờ phút Phật
nhập diệt, bốn chúng đệ tử đều thỉnh Phật trụ thế, vây quanh mà khóc lóc
thảm thiết. Lúc bấy giờ, tôn giả Vô Bần, lòng đầy bi thương suy nghĩ:
“Lúc Phật còn tại thế, mọi người lấy Phật làm y chỉ. Nay Phật nhập diệt
rồi, muốn cho Phật pháp cửu trụ thế gian phải làm gì? Cần phải thưa hỏi
Phật cho rõ”. Lúc đó, tôn giả A Nan cũng đang khóc lóc thảm thương. A Nan
là thị giả Phật, đồng thời mỗi khi Phật thuyết pháp A Nan đều có mặt bên
Phật. Do đó mà tôn giả Vô Bần nhờ A Nan hỏi Phật bốn việc. Trong đó có hai
điều: Thứ nhất, lúc Phật còn tại thế mọi người an trú vào Phật, nay Phật
diệt độ nên an trú vào đâu? Thứ hai, lúc Phật còn tại thế mọi người lấy
Phật làm thầy, khi Phật diệt độ rồi, lấy ai làm thầy? Phật dạy: “Sau khi
ta diệt độ các thầy nên an trú vào tứ niệm xứ, lấy giới luật làm thầy”.
Lời di giáo sau cùng đó cho chúng ta thấy giới luật thật quan trọng biết
chừng nào.
Phàm là người đệ tử Phật, cần phải giữ gìn giới luật Phật dạy. Tuy nhiên,
không giữ được trọn vẹn, cũng phải giữ
những giới quan trọng. Vì giữ bao
nhiêu giới thì có lợi ích bấy nhiêu,
nếu giữ được trọn thì sẽ có định
lực rất lớn. Các đại tòng lâm Nam
tông cũng như Bắc tông đều có quy củ và
gia phong. Quy củ và gia phong đó chính là mọi người đồng tu cùng
giữ gìn giới luật. Thử hỏi một tự viện, một am thất, một tịnh xá, một niệm
Phật đường mà không giữ gìn giới luật
thì Phật pháp sẽ ra sao? Ðó là những
nơi mọi người thường vãng lai, ứng nhân
tiếp vật, do đó cần phải có giới
luật. Ðiều đó cho thấy rằng niệm
Phật và trì giới quan trọng như nhau. Hiện tại, Luật
tông có Luật sư Hoằng Nhất tuy là người
chuyên hoằng truyền giới luật, thế
nhưng lại cũng chuyên niệm Phật
và khuyên người khác niệm Phật.
Ngoài Luật sư Hoằng Nhất ra còn có lão Pháp sư Ðế
Nhàn, lão Hòa thượng Hư Vân v.v...
không người nào là không chú
trọng niệm Phật. Cho nên cổ đức có nói: “Giáo diễn bổn tông, tu
hành Tịnh độ” là vậy.
Thông thường, đệ tử Phật có bảy chúng. Một là Tỳ kheo tăng, là người nam
xuất gia thọ cụ túc giới. Hai là Tỳ kheo ni, là người nữ xuất gia thọ cụ
túc giới. Ba là Thức xoa ma na được giải thích là người nữ học pháp, tức
là Sa di ni muốn thọ giới cụ túc, từ mười tám đến hai mươi tuổi, học sáu
pháp (không dâm dục, không trộm cắp, không sát sinh, không nói dối, không
uống rượu và không ăn phi thời). Trải qua sự học tập đó mới có thể thọ cụ
túc giới làm Tỳ kheo ni. Bốn là Sa di,
là người nam hậu xuất gia thọ trì mười giới. Năm là Sa di ni, là
người nữ hậu xuất gia cũng trì giữ mười giới. Sáu là Ưu bà tắc, là người
nam tại gia gần gũi Tam Bảo. Bảy là Ưu bà di, cũng là người nữ tại gia gần
gũi Tam Bảo.
Người tại gia niệm Phật, trước tiên phải quy y Tam Bảo, thọ trì ngũ giới.
Tam Bảo là gì? Là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. “Phật” bao gồm Phật Thích
Ca Mâu Ni hiện thân ở cõi Ta Bà, cho đến chư Phật hiện tại, quá khứ và vị
lai. “Pháp” có nghĩa là quy tắc, đó là lời dạy của chư Phật. “Tăng” có
nghĩa là hòa hợp, là những người xuất gia thay Phật hoằng dương chánh
pháp, làm mô phạm cho thế gian. Tam Bảo gồm có Tự Tính Tam Bảo, Biệt Tướng
Tam Bảo và Trụ Trì Tam Bảo. Tự tính Tam Bảo ở mỗi chúng sinh vốn có đầy
đủ, chẳng hướng ngoại mà tìm cầu. Như:
Linh Minh Giác Chiếu là Phật
bảo, Tịch Thường Viên Tịnh là Pháp bảo, Cách
Hòa Diệu Lạc là Tăng bảo. Biệt tướng Tam Bảo gồm
những gì? Bao gồm pháp, nhân, quả,
tính, tướng, thể, dụng. Như diệu
giác và tam thân đều gọi là
Phật, chân như lý thể và tất cả các pháp môn phương tiện,
đều gọi là Pháp, năm mươi địa vị Thánh
hiền được gọi là Tăng. Trụ trì
Tam Bảo gồm những gì? Trụ trì Tam Bảo ở thế gian, chủ yếu là muốn cho Phật pháp
được lưu truyền, đồng thời làm lợi ích
cho tất cả chúng sinh. Tượng
Phật, xá lợi... đó là Phật bảo, tam
tạng Kinh, Luật, Luận là Pháp bảo, đồ
chúng xuất gia vì sự nghiệp
hoằng pháp lợi sinh đó là Tăng bảo.
Mọi
người cần biết, người quy y Tam Bảo, ngoài việc quy y Tam Bảo ra, cần phải
quay về quy y Tam Bảo tự tính vốn có của bản thân. Chữ “Phật” được giải
thích là giác, người người đều có tính giác. Vì vậy quy y Phật, đó là quy
y tính giác của mình. Người người đều có thể tự lực làm hiển lộ tính giác
thù thắng đó. Quy y Pháp là quy y chân như diệu lý vốn có, mọi người đều
có khả năng tiếp tục phát huy chân tính của tự thân. Quy y Tăng là quy y
pháp thân thanh tịnh, tỉnh thức của tâm. Ðã quy y Phật rồi, bạn không nên
quy y bất kỳ một tôn giáo nào khác, vì các tôn giáo đó phần lớn đều ca
ngợi, tôn sùng các vị thần linh, họ không đề cao vai trò và năng lực của
con người, họ cho rằng con người chỉ
vĩnh viễn làm nô lệ cho thần linh, điều đó hoàn toàn trái ngược với
tinh thần bình đẳng mà Phật thường dạy: “Các pháp vốn bình đẳng, không có cao thấp”. Người người có tính
giác, người người có khả năng niệm Phật thành Phật. Tuy nhiên, theo quan
niệm phổ thông, khi nói đến quy y người
ta thường nghĩ rằng chỉ quy y Thế gian Trụ trì
Tam Bảo. Ðiều đó chẳng qua nhằm dẫn đạo
cho người, mục đích chính là
hướng dẫn cho bạn quay về nương tựa tự tính Tam Bảo vốn có của
chính mình. Người niệm Phật cần hiểu biết tường tận, việc thành Phật
không phải người khác thay thế, cũng
chẳng ai mang đến cho ta mà phải chính ta nỗ lực niệm Phật để tự
tính hiển lộ mới có khả năng thành Phật.
Ngoài quy Tam Bảo, mọi người cần giữ gìn năm giới để làm trợ hạnh cho việc
niệm Phật. Năm giới bao gồm: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà
dâm, không nói dối, không uống rượu. Không sát sinh là nhân, không trộm
cắp là nghĩa, không tà dâm là lễ, không nói dối là tín, không uống rượu là
trí. Bạn giữ ngũ giới tức là đã giữ ngũ thường của thế gian. Vì thế gian
thường xem trọng nhân nghĩa. Không tàn nhẫn là đạo nghĩa, không cường bạo
là lễ nhượng, không tà nhu là thật tín, không dối trá là lý trí, là không
ngu si. Người niệm Phật trì năm giới là đã nuôi dưỡng nhân nghĩa, đạo
nghĩa, lễ nhượng, thật tín, lý trí vừa là chánh nhân quân tử lại có thể
làm tư lương cho Tịnh độ.
Ngoài tam quy ngũ giới ra, người niệm Phật còn phải tu tập quán niệm Tứ
niệm xứ và Bát chánh đạo trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Tứ
niệm xứ là gì? “Tứ” là bốn, “xứ” là nơi, là chốn, là vị trí, là đối
tượng, là sở tri, là sở quán. Tứ niệm xứ là bốn cái mà người niệm Phật cần
phải nhớ và quán niệm. Thứ nhất, Quán thân bất tịnh. Quán niệm thân
thể này từ gót chân cho đến đỉnh đầu nơi nơi đều bất tịnh. Thân thể là xác
thịt do tinh cha huyết mẹ hợp lại mà
thành. Tất cả những gì làm nên
và chứa đựng trong thân thể (như thịt, máu, mủ,
phân, nước tiểu, mồ hôi, nước mắt, lông, móng, da
v.v...) đều dơ bẩn, hôi hám, không có
gì là trong sạch, tất cả đều bất
tịnh. Thứ hai, Quán thọ là khổ. Khổ nói tóm có tám loại:
Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thương yêu chia ly là khổ, muốn
không được là khổ, thù nhau mà sống chung là khổ, năm ấm bất hòa là khổ.
Còn nói đến những khổ nhỏ thì trong thế gian này có vô lượng vô biên. Bạn
nghĩ xem từ một người, cho đến một gia đình, xã hội nào mà không có những
điều khổ. Do đó người niệm Phật hãy quán niệm rằng, dù cảm thọ có vui có
khổ, nhưng ở thế gian không có niềm vui
chân thật, còn khổ đau thì đầy dẫy. Nếu có vui cũng là cái vui tạm
bợ và chỉ có cái khổ trá hình, rốt cuộc
cái vui là nguyên nhân của cái khổ. Vì thế, mọi cảm thọ đều là khổ
đau. Thứ ba, Quán tâm vô thường. Người niệm Phật phải quán
chiếu rằng tâm niệm chúng ta luôn thay đổi trong từng sát na sinh diệt,
không có một ý nghĩ nào là bền vững chắc chắn, niệm này qua niệm khác lại
đến, sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà sinh ra vọng tưởng điên đảo, không
có một ý nghĩ nào là bền vững, chắc chắn. Thứ tư là Quán pháp vô ngã.
Phải quán niệm vạn pháp trong thế gian đều do nhân duyên hòa hợp mà làm
nên, không vật gì là có bản tính độc lập, là chân thật. Tất cả đều là giả
danh giả tướng không có cái gì là có thực ngã. Ðó là nói lược về tứ niệm
xứ, người niệm Phật phải thường trực tỉnh giác quán niệm như thế, thì tâm
niệm Phật mới được vững vàng.
Bát
chánh đạo
là gì? Bát chánh đạo là tám nguyên tắc hành động chân chính, là một trong
những đạo lý căn bản của đạo Phật. Về mặt nhân bản, đó là nền đạo đức học
thực nghiệm của Phật giáo nhằm rèn luyện con người có được một nhân cách
đẹp đẽ cao thượng, trọn vẹn. Về mặt tôn giáo, đó là con đường đưa đến sự
chấm dứt khổ đau, đạt được an lạc giải thoát, chứng nhập Niết Bàn. Bát
chánh đạo bao gồm: Một là chánh kiến, là thấy biết đúng đắn sự
thật, là cái thấy vạn vật là vô thường, vô ngã, duyên sinh, đúng với bản
chất của chúng, cái thấy không bị phủ che bởi vô minh, thành kiến cố chấp.
Trái với chánh kiến là tà kiến. Chánh kiến là trí tuệ của bậc giác ngộ.
Hai là chánh tư duy, là suy nghĩ chân chính, suy nghĩ đúng với bản
tính của các pháp là vô thường, vô ngã, duyên sinh. Từ suy nghĩ chân chính
sẽ mang đến cho ta tư tưởng chân chính. Nếu tư tưởng xấu xa, sai lầm sẽ
làm cho ta trở nên một con người thấp kém, thô lỗ. Thứ ba là chánh
ngữ, là lời nói chân chính, nhiều khi chúng ta không nói dối nhưng
vẫn sai với sự thật. Chúng ta thấy biết như thế nào thì nói như vậy. Nhưng
vì cái thấy biết đã sai lạc, lầm lẫn nên dẫn đến chúng ta nói không đúng
sư thật. Lời nói chân chính là lời nói không dối trá, không độc ác, không
đâm thọc, không thêu dệt và siểm nịnh, là lời nói không xuất phát từ lòng
tham dục, ích kỷ, hận thù, giận dữ, ngu dốt, ganh tỵ. Nói năng chân chính
là không nói lời nhằm lừa gạt, nịnh hót, phỉ báng, chửi mắng, vu oan, mà
luôn nói những lời từ ái, hòa nhã, dịu dàng, đem an vui, lợi ích, tin
tưởng cho người. Thứ tư là chánh nghiệp, là hành động chân chính.
Có ba loại hành động (tam nghiệp): Hành động của ý (ý nghiệp), hành động
của miệng (khẩu nghiệp) và hành động của thân (thân nghiệp). Hành động
chân chính là hành động được soi sáng bởi chánh kiến, chánh tư duy, được
thúc đẩy bởi tình thương và hiểu biết, là đi đứng nằm ngồi đều hành động
theo chánh pháp. Thứ năm là chánh mạng, là mưu sinh chân chính, là
nghề nghiệp chân chính. Ví dụ người niệm Phật, đối với xã hội thường làm
các công việc từ thiện. Bác sĩ có công việc chuyên chữa trị bệnh để cứu
lấy sinh mạng cho người bệnh, lại có những người chuyên bán quan tài, giết
trâu mổ lợn đó cũng là nghề nghiệp v.v... Tuy nhiên, trong cuộc sống mưu
sinh, người người đều phải làm việc vì miếng cơm manh áo, thế nhưng công
việc kiếm sống cũng có những nghề nghiệp tốt và nghề nghiệp xấu. Ðã là
người tu học theo lời Phật dạy, bạn không nên chọn những nghề gây đau khổ
cho người khác, hoặc tăng thêm sự bất công cho xã hội, hoặc tàn hại thiên
nhiên và nhẫn tâm giết hại sinh mạng của mọi loài. Bạn nên tìm công việc
lương thiện, trong sạch, để tăng thêm phước đức, không nên có tâm niệm
gian tham, bóc lột sức người, không nên kiếm sống một cách bất lương trên
mồ hôi nước mắt của người khác. Thứ sáu là chánh tinh tấn, là siêng
năng chân chính. Chánh nghiệp và chánh tinh tấn có quan hệ mật thiết với
nhau. Ðứng trên phương diện nghề nghiệp mà nói, cũng là siêng năng, thế
nhưng có nghề thì đưa con người đến cuộc sống thăng hoa giải thoát, có
nghề lại đưa người ta vào con đường đọa lạc, như nghề đồ tể chẳng hạn.
Người niệm Phật tinh tấn không ngừng là nhắm thẳng đến thành Phật, cho nên
chánh tinh tấn và tà tinh tấn khác nhau là như vậy. Chánh tinh tấn được
đặt nền tảng trên tứ chánh cần (những điều ác chưa sinh đừng cho
phát sinh, những điều ác đã sinh thì trừ diệt, những việc thiện chưa sinh
làm cho phát sinh, những điều thiện đã sinh thì làm tăng trưởng). Thứ bảy
là chánh niệm, là nhớ nghĩ chân chính, khi làm việc gì thì bạn nên
để hết tâm ý vào công việc ấy. Trong cuộc sống đời thường, hằng ngày bạn
thường tiếp xúc với nhiều người, nếu bạn không có chánh niệm chắc chắn bạn
sẽ gây đau khổ cho mình và người. Người niệm Phật, điều nhớ nghĩ tốt nhất
là nhớ nghĩ đến bản nguyện của Phật A Di Ðà, nhớ một câu “Nam mô A Di Ðà
Phật” là tốt nhất. Thứ tám là chánh định, là thiền định chân chính.
“Ðịnh” là giữ tâm ý an trụ vào một đối tượng duy nhất. Phàm làm việc chân
chính, bạn nên nhất tâm nhất ý mà làm. Việc gì là tốt? Là những việc đem
lại lợi ích cho mình và cho người cả hiện tại và tương lai. Niệm Phật là
việc tốt, do đó bạn nên nhất tâm mà niệm, một khi đã nhập vào niệm Phật
tam muội thì đó là chánh định. Trên đây nói sơ lược về Bát chánh đạo cho
người sơ cơ niệm Phật. Thực ra Bát chánh đạo khi đi vào
nghiên cứu chuyên sâu, chẳng đơn giản
như đã trình bày, mà còn nhiều khía cạnh thậm thâm vô cùng.
Người niệm Phật ngoài việc nhất tâm niệm Phật, nếu còn lo sợ thân tâm
phóng dật hoặc tín, hạnh, nguyện không kiên cố, có thể lấy Tứ niệm xứ và
Bát chánh đạo để ràng buộc, kiểm điểm thân tâm. Ðối với phương pháp niệm
Phật, cũng nên dựa theo căn tính của chính mình mà lựa chọn. Ngoài các
phương pháp trì danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, quán tượng niệm
Phật, thật tướng niệm Phật, còn có một phương pháp hết sức phương tiện, là
phương pháp hô hấp niệm Phật. Hít vào bạn niệm “Nam mô A”, thở ra bạn niệm
“Di Ðà Phật”. Chỉ cần người niệm Phật có tâm kiên cố niệm Phật, từng giây
từng phút, trong các oai nghi đi đứng nằm ngồi, không lìa một câu “Nam mô
A Di Ðà Phật”. Ðó là phương pháp rất tiện lợi cho bất kỳ một người nào, dù
bạn là một công nhân đang làm việc trong các xí nghiệp, nhà máy hay là một
công ty kinh doanh v.v... cứ thực hành như vậy, đến giây phút lâm chung,
nghiệp thức cả đời bạn cũng tùy thuộc theo hơi thở niệm Phật cuối cùng đó
mà vãng sinh Cực Lạc, được thấy Phật A Di Ðà.
Ðối
với việc niệm Phật được vãng sinh của người xuất gia, tại gia, nam, nữ,
người già, trẻ thơ, và những tướng lạ trang nghiêm xảy ra vào giờ phút lâm
chung của những người niệm Phật đã có ghi chép trong truyện Vãng Sinh, nếu
nói ra đây thì không sao kể hết.
Từ
ngày tôi xuất gia đến nay, chính tôi đã chứng kiến người niệm Phật được
vãng sinh hơn hai mươi lăm vị, trường hợp vãng sinh được nghe người khác
kể thì rất nhiều. Nhân đây, tôi xin kể ba vị mà tôi đã tận mắt thấy họ
vãng sinh, mong sao qua những câu chuyện đó, có thể giúp được phần nào làm
cho tín tâm niệm Phật của các bạn càng thêm tăng trưởng.
Vị
thứ nhất là một người xuất gia, pháp sư Tu Vô, quê ở Quản Vi. Ngài xuất
thân trong một gia đình làm nghề gạch ngói. Vì gia cảnh gặp khó khăn, làm
công rất gian lao vất vả, do đó mới cảm nhận cuộc đời khổ nhiều vui ít,
mạng người trong hơi thở, tạm bợ như giọt sương đầu ngọn cỏ, như làn điện
chớp trong không trung. Thế mà hằng ngày mọi người lại tranh đấu hơn thua,
giành giựt lẫn nhau để rồi phải đau khổ. Ngài thường tư duy về pháp diệt
khổ, nghe người ta bảo niệm Phật tốt, nên phát tâm niệm Phật. Sau đó xuất
gia, chính thức được học Phật pháp, nhất là pháp môn Tịnh độ, sau khi được
nghe lại càng khẩn thiết niệm Phật, ngài gặp người khác cũng khuyên niệm
Phật.
Năm Dân Quốc thứ 50, tôi ở tại chùa Cực Lạc, Ðông Bắc Cáp Nhĩ Tân, thỉnh
lão Pháp sư Ðế Nhàn truyền giới. Một
ngày nọ, có một vị sư đến tìm tôi và nói cho biết rằng: “Có một vị
sư là Tu Vô từ Quản Vi đến, trong kỳ giới này phát tâm hành khổ hạnh”. Sau
đó đưa vị sư vào gặp tôi, tôi mới hỏi sư có thể làm được gì? Sư đáp: “Tôi phát
nguyện chăm sóc những người bệnh”. Lúc đó, Pháp sư Ðịnh Tây trụ trì chùa Cực Lạc nhận sư vào chùa, cho sư ở một căn phòng
ngoài viện. Chưa đầy mười ngày, sư lại đến tìm tôi nói cần phải đi. Lúc đó
Pháp sư Ðịnh Tây đang ngồi với tôi hỏi sư rằng: “Thầy phát tâm trông coi
những người bệnh, vì sao chưa đầy mười ngày lại đòi đi? Như vậy tâm thầy
không kiên cố rồi!”. Sư Tu Vô đáp: “Tôi không đi xứ nào cả mà tôi về Tây
phương, kính thỉnh sư giám viện mở rộng lòng từ bi, chuẩn bị cho tôi mấy
trăm cân củi, để thiêu sau khi tôi đi vậy”. Pháp sư Ðịnh Tây hỏi lại:
“Vậy khi nào thầy đi?”. Sư Tu Vô đáp: “Trong vòng mười ngày nữa”. Trả
lời xong, sư trở về thất. Ngày thứ hai,
sư lại đến tìm tôi và Pháp sư Ðịnh Tây nói: “Kính thưa Pháp sư
ngày mai tôi đi, thỉnh Pháp sư chuẩn bị cho tôi một căn phòng, và tìm cho
tôi mấy người trợ niệm để đưa tiễn tôi đi”. Sau đó Pháp sư Ðịnh Tây cho
người quét dọn một căn phòng trong nội viện, tìm một số gỗ khô, chất thành
một đống, lại tìm mấy thầy chuyên tu niệm Phật để chuẩn bị trợ niệm. Trước
giờ phút vãng sinh, những người trợ niệm nói với sư rằng: “Sư Tu Vô trước
lúc vãng sinh cũng nên làm mấy câu thơ, câu kệ, để lại cho chúng tôi làm
kỷ niệm chứ!”. Sư đáp lại rằng: “Tôi vốn xuất thân từ nơi khổ cực, sinh
ra đã phải chịu sự ngu dốt, vì vậy thơ kệ đều không biết làm, thế nhưng tôi có một
câu kinh nghiệm, xin đọc cho chư vị nghe, đó là: “Người nói được
mà không hành được, không phải là người chân trí tuệ”. Sau
đó sư ngồi kiết già, mặt hướng về hướng Tây niệm Phật, chưa đầy mười lăm
phút sau thì vãng sinh. Từ lúc sư vãng sinh cho đến chiều, không khí ngoài
trời rất nóng, thế nhưng sắc diện của sư đầy vẻ thanh thoát lạ thường, thi
thể tỏa ra một mùi thơm, cũng không có một con ruồi. Pháp sư Ðế Nhàn cùng
một nhóm Phật tử đến xem khen ngợi trường hợp thật hy hữu. Sau đó, đem thi
thể sư hỏa thiêu hoàn toàn không có một mùi hôi nào. Về sau, cư sĩ Phan
Ðối Phù nghe được, lấy sự việc bình sinh niệm Phật của sư Tu Vô viết thành
một tập sách để làm mô phạm cho người niệm Phật.
Vị thứ hai là cư sĩ Trịnh Tích Tân, người Sơn Ðông, là một thương gia. Vì
xem kinh Phật, biết được niệm Phật là tốt, từ đó phát tâm niệm Phật, bản
thân không lấy vợ. Năm 1922, tại Thanh Ðảo được nghe tôi giảng tam quy và
những lợi ích của việc niệm Phật, sợ mình không chuyên tâm niệm Phật, nên
cư sĩ đem mọi chuyện buôn bán trong gia đình giao cho em trai lo liệu. Từ
đó chuyên tâm vào niệm Phật, về sau ông tập luyện và giảng Kinh Di Ðà. Mỗi
năm có kỳ hội giảng kinh tại Thanh Ðảo, đều có ông chủ trì giảng một hai
ngày, rồi sau đó ông lại đến huyện Bình Ðộ giảng cho bạn bè. Năm 1924, cư
sĩ có mời tôi đến Bình Ðộ giảng một lần. Mùa Xuân năm 1928, cư sĩ lại đến
Bình Ðộ và Thanh Ðảo giảng kinh. Thấm thoát thời gian trôi qua, một hôm có
người từ Bình Ðộ đến nói với tôi: “Lão Pháp sư ông có biết không! Cư sĩ
Trịnh Tích Tân đã quy Tây rồi”, (theo tập tục Giao Ðông người ta gọi người
chết là nhật quy). Nghe người đó nói xong tôi rất ngạc nhiên, mới hỏi:
“Trước đây mười ngày tôi còn gặp ông ta, thấy còn rất mạnh khỏe, vì lý do
gì mà ông ta đi nhanh như vậy? Ông ta có bệnh hoạn gì không? Hay có gặp
tai nạn gì?”. Người ấy lại đáp: “Sau khi ông giảng bộ Kinh Di Ðà xong,
mọi người đều ra về, chỉ còn khoảng năm sáu vị cùng ngồi lại nói chuyện và
dùng cơm trưa, phần lớn những người này là bạn bè thân thiết của ông. Sau
buổi cơm trưa, ông mời tất cả những người bạn vào một căn phòng, rồi nói
ông phải đi. Mấy người bạn mới hỏi: “Ông đi đâu sao lại mời chúng tôi vào
phòng thế?”. Cư sĩ đáp: “Tôi vãng sinh, vì e ngại ra đi tại nhà người
khác sẽ phiền phức, nên mới mời chư vị vào đây vậy”. Các bạn ông lại nói:
“Chúng ta là bạn tri giao đã nhiều năm, chẳng những bạn vãng sinh, mà ngay
cả khi bạn bệnh hoạn mất tại nhà chúng tôi cũng không sao, cần gì phải tìm
một gian phòng khác. Hiện tại, nơi đây có rất nhiều người tin Phật, niệm
Phật. Nếu bạn chắc chắn vãng sinh, cũng nên để chúng tôi mời tất cả những
khác đến xem, để lấy đó làm tấm gương noi theo vậy”. Nói xong, những người
bạn ông vội quét dọn hai căn phòng rồi chọn lấy một. Cư sĩ Trịnh nói đôi
lời tạ từ cùng các bạn, sau đó ngồi xếp bằng, mặt xoay về hướng Tây nói
với những người bạn ông ta: “Xin cáo từ chư vị, tôi vãng sinh đây! Chúng
ta là những người tin Phật niệm Phật, kính thỉnh chư vị hãy niệm Phật để
tiễn tôi một phen”. Những người bạn lại nói: “Nay bạn vãng sinh sao không để lại vài câu kệ cho chúng tôi
làm kỷ niệm?”. Cư sĩ lại đáp: “Không nên để kệ lại, nếu mọi người
đến đây xem thì đó là một bằng chứng rồi, cũng là một kỷ niệm đẹp rồi!”.
Nói xong, mọi người đồng niệm để trợ tiễn ông ta, chưa đầy mười lăm phút
sau ông ta mỉm cười rồi vãng sinh. Do đó mà cả huyện Bình Ðộ ai ai cũng
tin niệm Phật là tốt, đồng thời có nhiều người tin Phật hơn.
Em trai của cư sĩ Trịnh, ban đầu thấy anh xả bỏ sản nghiệp chuyên tâm niệm
Phật thì chưa tin niệm Phật mấy, nghe anh khuyên niệm Phật cũng miễn cưỡng
niệm, nhưng tâm chưa khẩn thiết cho lắm. Thế mà sau khi chứng kiến cảnh
anh trai mình niệm Phật được vãng sinh, biết trước ngày giờ và ra đi trong
thanh thản, từ đó về nhà cũng tin sâu, nguyện thiết niệm Phật. Ba năm sau,
cũng vãng sinh biết trước ngày giờ, chỉ khác anh trai là lúc lâm chung có
ít bệnh.
Vị
thứ ba là nữ cư sĩ họ Trương, sinh được một trai một gái, gia cảnh rất khó
khăn, chồng làm nghề kéo xe ở một bến cảng, còn cô Trương buôn bán trong
chợ Thanh Ðảo. Nhà ở cạnh tịnh xá Trạm Sơn, trong tịnh xá có thành lập hội
Phật học. Mỗi ngày cô đều đến tịnh xá lễ Phật và nghe kinh, do nhân duyên
đó mà quy y Tam Bảo, được nghe Phật pháp, một lòng tin Phật. Bình thường ở
nhà niệm Phật, hằng ngày đều dẫn hai con đến tịnh xá lễ lạy và nghe kinh.
Nghe xong, lại quay về nhà chăm lo gia đình, một bề niệm Phật.
Cuối năm 1926, một sáng nọ, cô Trương gọi
chồng đến nói: “Anh ở lại chăm sóc các
con, ngày
nay tôi phải vãng sinh
Cực Lạc”. Anh chồng nghe vợ nói như vậy, vì cuộc sống khó khăn, lại
là người ít học tập Phật pháp nên gắt
gỏng bảo với vợ rằng: “Ði
đi!
Tôi bần cùng chắc không đủ khả năng nuôi bà, bà muốn đi thì cứ đi!”. Sau khi nói xong không hỏi
lại vợ
một câu, rồi đi làm việc. Cô Trương gọi hai con
đến gần căn dặn: “Các con ở lại phải
nghe lời cha dạy
bảo, không được ngỗ nghịch, nay mẹ phải vãng
sinh về thế giới Cực Lạc”. Lúc đó hai
đứa con của
cô ta còn nhỏ, đứa
lớn chưa đầy mười tuổi, đứa bé
khoảng năm hoặc sáu tuổi gì đó. Nghe mẹ chúng nói những lời như
vậy, cũng không hiểu ý mẹ muốn nói gì, vì vậy rồi cũng chạy đi chơi. Sau
khi chồng và con đều đi cả, cô Trương
vội thu xếp việc nhà gọn
gàng, tắm rửa sạch sẽ, vì nhà nghèo không có áo
quần mới để thay nên cô đành phải mặc
lại áo quần
cũ, lên giường ngồi
xếp bằng, chắp tay niệm Phật vãng sinh.
Nói
đến hai đứa con của cô ta, sau một hồi đi chơi trong lòng cảm thấy đói nên
quay về nhà ăn cơm. Thấy mẹ đang ngồi trên giường lại chưa nấu cơm, ban
đầu chúng cất tiếng gọi nhưng không thấy mẹ trả lời, sau đó chúng đến gần
lay mạnh vẫn thấy mẹ ngồi yên, hai đứa bé mới biết mẹ chúng đã chết. Chúng
vội khóc than gọi hàng xóm đến, mọi người hay tin đến xem, thấy cô Trương
tuy đã chết từ lâu, thế nhưng sắc diện giống như người còn sống, họ rất ca
ngợi công phu niệm Phật của cô Trương. Sau đó người chồng đi làm về khóc
lóc thảm thương. Vì gia cảnh nghèo khó, không có tiền để liệm, nên các vị
có tấm lòng tốt trong hội Phật học đứng ra chi phí toàn bộ lễ tang.
Việc quan trọng của đời người là niệm Phật để liễu sinh thoát tử. Không
luận là như thế nào, mọi người hãy tự xét hoàn cảnh của chính mình, dù
trong bận rộn hay nhàn nhã, hãy sắp xếp cho mình một thời khóa công phu
niệm Phật nhất định. Chẳng những vậy, ngay cả lúc làm việc có thể trụ tâm
mặc niệm. Bằng ngược lại suốt ngày làm các điều sát sinh, trộm cắp, dâm
dục, nói dối, tạo nhiều nghiệp ác khác thì khó mà tránh đọa lạc tam đồ,
luân hồi trong lục đạo, thọ nhận khổ não vô tận. Trong Kinh Lăng Nghiêm
Phật có nói: “Loài nào cũng thương yêu thân mạng, muốn cho mình được
sống, nên tham ăn những vật bổ dưỡng. Vì thế trong thế gian này, loài mạnh
ăn thịt loài yếu, loài khôn giết hại loài dại. Bốn loài (thai sinh, noãn
sinh, thấp sinh, hóa sinh) ăn nuốt lẫn nhau, gốc tại lòng tham sát”. Chúng
sinh vì tình ái kết chặt, thương tưởng quyến luyến nhau không rời, cho nên
thế gian này, cha mẹ, con cháu tiếp tục sinh ra không cùng tột, gốc chỉ
tại lòng tham dục. Tóm lại, vì ba nghiệp sát, đạo, dâm làm gốc, nên nghiệp
và quả nối nhau không bao giờ cùng tận. Mọi người hãy nghĩ coi tạo nghiệp
sát, đạo, dâm, chịu khổ biết dường nào. Vì thế kính khuyên mọi người niệm
Phật, nên niệm càng nhiều càng tốt. Cổ đức có nói: “Niệm Phật một câu
phước tăng vô lượng, lễ Phật một lễ tội diệt hà sa”. Trên đây, đem những
lợi ích của việc niệm Phật nói sơ lược qua, nếu mọi người muốn rõ hơn hãy
tham khảo các tập sách “Tịnh Ðộ Ngũ Kinh” hoặc “Tịnh Ðộ Thập Yếu” v.v...
Nay nói sơ lược đôi điều như vậy cho người sơ cơ có tín tâm niệm Phật. Hy
vọng rằng quý vị biết được niệm Phật là tốt rồi, hãy nên phát tâm kiên cố
niệm Phật, niệm hết sức thành khẩn, lão thật niệm Phật. Trong tương lai,
chắc chắn chúng ta sẽ gặp nhau trong hội chúng ở Tây phương vậy.
Nam
mô A Di Ðà Phật
(Ngày 1/1/ 1950, năm Canh Dần, tại Học Viện Nam Học, Hương Cảng)
TRIẾT LÝ VÀ THỰC TIỄN CỦA
PHÁP MÔN TỊNH ÐỘ
Châu Thế Long
A. TRIẾT LÝ
1.- Pháp môn Tịnh độ là pháp môn duyên khởi,
tức Như Lai tính khởi pháp môn
Như Lai đã chứng quả Phật thanh tịnh, vô minh triệt đoạn, vĩnh viễn xa lìa
sinh tử, chánh nhân Phật tính hiển lộ, tịch quang chân cảnh hiện tiền,
thường an trụ trong Thường Tịch Quang, thọ nhận an lạc thanh tịnh. Tuy
nhiên, vì đại sự nhân duyên lớn mà Phật xuất hiện ở đời, thực hiện hạnh
nguyện hiển đại bi tâm. Phật A Di Ðà lúc còn tu Bồ tát hạnh, pháp danh là
Pháp Tạng Tỳ kheo, đứng trước Phật Thế Tự Tại Vương phát ra bốn mươi tám
lời nguyện cứu độ chúng sinh. Trải qua vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp tu
hành, thành tựu thế giới Tịnh độ, để thực hiện bốn mươi tám lời nguyện, mở
bày nhị thân, lấy danh hiệu A Di Ðà, làm con thuyền Bát nhã, rộng độ mười
phương chúng sinh được sinh về Tịnh độ. Nhân vì Phật với chúng sinh trong
thế giới Ta Bà có nhiều nhân duyên, nên lấy pháp môn Tịnh độ mà dạy cho
người được vãng sinh. Cũng chính vì nhân duyên đó mà Như Lai xuất hiện ở
đời làm việc rộng độ chúng sinh. Cho nên, luận về nguyên lý căn bản, nên
mới có tên gọi là pháp môn tính khởi, hoặc có tên khác là pháp giới duyên
khởi (Như Lai tính tức là chỉ cho pháp giới tính, Như Lai tính khởi tức là
chỉ cho pháp giới duyên khởi, trên mặt văn tự nghe như khác nhau, nhưng ý
nghĩa chỉ có một). Pháp môn tính khởi, hoặc pháp môn pháp giới duyên khởi,
đều có nghĩa chỉ cho sự cứu cánh. Song, để trình bày ý nghĩa thâm sâu đó
cho một hành giả hiểu được thật khó biết dường nào. Ấn Quang Ðại sư còn
gọi với cái tên khác là pháp môn đặc biệt. Pháp môn đặc biệt, chỉ có bốn
chữ, mà ý nghĩa thật phi thường. Di Ðà Như Lai, lấy từ bi nguyện lực trực
tiếp hiển hiện nhị báo trang nghiêm, đích thân làm việc độ chúng sinh, sao
dám xem là việc nhỏ được. Công việc đó tuyệt đối không có một công việc gì
cao cả bằng. Cho nên có tên gọi pháp môn đặc biệt là hoàn toàn xứng đáng.
Trong “Văn Sao Tịnh Ðộ” Ðại sư Ấn Quang từng nói: “Nên biết pháp môn Tịnh
độ, đầy đủ bốn pháp giới, có sự tướng, sự sự pháp giới vô ngại... cho nên
mới gọi là yếu chỉ Tịnh độ. Sự tức là lý, lý tức là sự, lý sự viên dung,
khế hợp bản thể”. Bấy nhiêu lời vắn tắt đó của Ðại sư cũng đủ chứng minh
pháp môn Tịnh độ là pháp giới duyên khởi, cũng là pháp môn Như Lai khởi
tính. Vô ngại tức là chỉ cho sự thông đạt tự tại, dung hợp với bản thể.
Như tại thế giới Cực Lạc, có chim nói pháp, có cây bảy báu phát ra pháp âm
vi diệu, người nghe liền niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Ðó là do sự vô
ngại dung hợp với lý vô ngại. Các giống chim ấy đều do A Di Ðà Phật muốn
cho pháp âm được lưu chuyển mà hóa hiện ra những cảnh như vậy. Ðó là lý vô
ngại dung hợp với sự vô ngại. Lại nữa, ví như trong thế giới Cực Lạc, có
ao thất bảo, có nước tám công đức, trong ao có hoa sen lớn như bánh xe,
đầy đủ các màu sắc, xanh, vàng, đỏ, trắng, hương thơm thanh khiết. Lại
nữa, nước đó lại có thiên nhạc, đất bằng vàng rồng, ngày đêm sáu thời, hoa
mạn đà trên trời rơi xuống, chúng sinh trong nước đó sáng sớm ra hứng đem
đi cúng dường mười phương chư Phật, trưa lại trở về quốc độ dùng cơm, rồi
đi kinh hành, đó đều chỉ cho sự vô ngại. Lại nữa, Ðại sư Thần Thời có nói
rằng: “Pháp môn Tịnh độ là pháp giới duyên khởi” điều đó chứng tỏ pháp
môn Tịnh độ, lý nghĩa thật thâm sâu biết dường nào (tham khảo Tịnh Ðộ Thập
Yếu, Ðại sư Ngẫu Ích tuyển định). Vậy mà Mâu Thị Tam lại dám phê bình tính
khởi của Kinh Hoa Nghiêm và bốn trí vô ngại là hư vọng, chẳng qua là giả
lập mà có. Thật không ngờ ông ta lại cho rằng lý trung tính là nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín. Như Lai tính bao hàm vạn pháp, vạn lý trong pháp giới tất
cả các thiện đức, tự nó cũng có hàm chứa Phật tính mà vô ngại. Mâu cho
rằng lý tính là nhân, Trịnh Minh Ðạo lại cho rằng nhân là đồng thể của
đức, họ tranh luận với nhau bất phân thắng bại, ai cũng bảo thủ ý kiến của
mình. Thật ra, tất cả sự tranh luận đó bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa, do
lý không thông nên dẫn đến sự có chướng ngại, chỉ chấp trước vào lý mà bỏ
sự. Mười phương ba đời chư Phật, thể cũng như đạo đều giống nhau, thuyết
pháp độ sinh cuối cùng đều quy về Bồ tát đạo, đó là duyên vô ngại. Chúng
ta nói Tây phương Cực Lạc Tịnh độ. Mâu lại cho rằng thế giới Cực Lạc là
thế giới của các vị thần, trong tâm lại không tin có thế giới Cực Lạc.
Thật ra, thế giới chúng ta hiện đang sống theo kinh gọi là thế giới Ta Bà.
Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Ngũ Bá Ðệ Tử Thọ Ký, đoạn Phật thọ ký cho Phú
Lâu Na, có nói: “Nay ở đây quốc độ này (tức là thế giới Ta Bà), được A
nậu đa la Tam miệu Tam Bồ đề (tức là chỉ cho quả vị Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác). Ðức Phật đó lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số
cát sông Hằng mà làm thành một cõi Phật, đất làm bằng bảy thứ báu, thẳng
bằng như bàn tay... Lầu, đài bằng bảy thứ báu, đầy dẫy trong đó. Cung điện
của các vị trời ở gần trên hư không, người cùng trời giao tiếp với nhau
(cụ thể là chỉ cho sự hòa hợp giữa trời và người). Trong đó không có các
đường dữ (tức là chỉ cho bốn đường Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A tu la).
Tất cả đều do hóa sinh, không có dâm dục... nhân dân nước đó thường dùng
hai thức ăn: Một là Pháp hỷ thực, hai là Thiền duyệt thực. Có vô lượng vô
số nghìn muôn ức na do tha các chúng Bồ tát đặng sức thần thông lớn, bốn
trí vô ngại, khéo hay giáo hóa các loài chúng sinh... Kiếp tên là Bửu
Minh, nước tên là Thiện Tịnh”. Ðiều đó có thể chứng minh cho thế giới Cực
Lạc. Thế giới Ta Bà vốn đầy dẫy tội lỗi, thế nhưng đến khi Phú Lâu Na
thành Phật thì cũng tại thế giới này lại được thực hiện thành một thế giới
lý tưởng không có bốn đường ác. Tại thế giới Cực Lạc, lý cũng như sự vô
ngại. Vô ngại tức là không có sự mâu thuẫn, ngược lại nếu có mâu thuẫn thì
không được gọi là vô ngại. Ðức Phật là người chứng ngộ vạn pháp trong vũ
trụ nhân sinh, những lời Ngài nói ra đều là những sự thật, điều đó đã được
Ngài thốt lên, ngay sau khi thành đạo. Lạ thay, tất cả các chúng sinh vốn
có Phật tính như nhau nhưng vì vô minh che lấp nên không thể nhận ra được.
Những gì Ngài chứng ngộ đều có sẵn trong vũ trụ nhân sinh, cũng như những
phát minh của các nhà khoa học về các hiện tượng vật lý, vốn đã có sẵn
trong cuộc sống, chớ không phải họ tự sáng chế ra mà họ chỉ căn cứ vào các
thí nghiệm để rồi cuối cùng đưa ra kết luận về những phát minh đó. Sự
chứng đạo của Ðức Phật cũng như thế. Ngài chỉ nói ra những hiện thực của
vũ trụ, nếu lấy cái nhìn thiển cận, với một trí óc đầy tham sân như chúng
ta để đánh giá lời dạy chư Phật, nếu phê bình sai chắc chắn sẽ mang tội
lớn. Vì lời dạy của Ðức Phật vốn được chư Thiên cũng như Hộ pháp ủng hộ.
Ðức Phật A Di Ðà phát bốn mươi tám lời nguyện độ chúng sinh trong mười
phương, quang minh của Ngài vô lượng vô biên chiếu khắp mười phương, không
có một chướng ngại. Mười phương hằng hà sa số các chư Phật đều tán thán
công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà, tinh thần pháp giới duyên
khởi của Phật A Di Ðà cũng không có một chướng ngại, vốn hòa hợp với lý
tưởng mười phương thế giới.
2.-
Tâm làm Phật thì tâm là Phật
Lý tưởng văn hóa mười phương thế giới sở dĩ hòa hợp vì giữa tâm Phật và
tâm Phật có sự tương tức tương nhập với nhau, hiển phát bốn trí vô ngại.
Tâm vốn là nguồn gốc của vạn pháp trong thế giới, cũng là nguồn gốc của
nền văn hóa tinh hoa của nhân loại. Bản tâm của chúng sinh cùng với bản
tâm của chư Phật vốn đồng thể vô ngại. Song, chúng sinh vì hiện tiền bị
nghiệp thức làm chướng ngại, nên sự hiểu biết có chướng ngại, bị cục bộ
trong phạm vi nhỏ bé. Chư Phật Thế Tôn là những người đã đạt được sự hiểu
biết cùng khắp không thể đo lường. Chư Phật là “người biết đạo, khai đạo
và dạy đạo” (Kinh Pháp Hoa, quyển thứ ba, phẩm Dược Thảo Dụ). Nhưng vì mục
đích xuất hiện ở đời là vì muốn rộng độ
tất cả chúng sinh. Chúng sinh chỉ cần thực hành lời Phật dạy, nhớ
Phật, niệm Phật, hiện tiền và tương lai
nhất định được thấy Phật. Ðức Thế Tôn còn dạy: “Các Ðức Phật Như
Lai, chính là pháp giới thân, in sâu vào tâm tưởng của hết thảy chúng
sinh. Vì vậy, trong khi tâm các người
tưởng Phật, thì tâm ấy tức là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ
đẹp theo thân hình Ðức Phật, cái tâm đó làm Phật, cũng tức tâm đó là Phật.
Sự hiểu biết chân chính cùng khắp không thể đo lường của chư Phật, đều từ
nơi tâm tưởng mà sinh ra, vì thế nên
các người phải chăm lòng buộc niệm lại” (Kinh Quán Vô Lượng Thọ).
Tổ thứ mười hai Liên tông, Triệt Ngộ Ðại sư có nói: “Tâm làm Phật thì tâm
là Phật, so với việc trực chỉ bản tâm, kiến tính thành Phật của Thiền tông hoàn toàn khác nhau”. Vì
sao? Vì việc kiến tính thì khó, thế nhưng tâm làm Phật thì tâm là
Phật thì lại dễ. Thế nào gọi là kiến tính? Kiến tính là ly khai cái ý
thức của tâm, cái vọng tưởng điên đảo
nghĩ suy theo trần cảnh. Người muốn dừng những phân biệt của tâm,
muốn tâm không khởi niệm khi đối duyên
xúc cảnh, chuyện đó đâu có dễ
làm, vì những tập khí chúng sinh trong chúng ta đã tích chứa nhiều
đời nhiều kiếp không thể tính kể. Nếu đối duyên xúc cảnh mà không khởi
niệm, giữ cho tâm được sáng suốt đâu có
dễ làm. Kiến tính là xa lìa ý thức của tâm, trí tuệ quang minh phải
hiển lộ thì mới được gọi là kiến tính. Như thế nào tâm làm Phật thì tâm là Phật? Là tâm
trì niệm danh hiệu Phật, quán y
chính trang nghiêm của Phật, tức là tâm làm Phật, điều này dễ. Kinh
còn nói: “Khi tâm các người tưởng
Phật, thì tâm ấy là ba mươi hai
tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, há chẳng phải tâm tưởng Phật thì tâm là Phật hay
sao, cho nên người niệm Phật thì nhất định thấy Phật”. Trong Kinh Lăng
Nghiêm, chương “Ðại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông”, Bồ tát Ðại Thế Chí có
nói: “Mười phương Như Lai, thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con; nếu con
trốn tránh, dù mẹ có nhớ cũng chẳng có lợi ích gì, nếu con nhớ mẹ, như mẹ
nhớ con, thì mẹ con đời đời không xa cách nhau. Nếu chúng sinh đem tâm nhớ
Phật, niệm Phật thì hiện tại hay tương lai chắc chắn thấy Phật, cách Phật
không xa, chẳng cần tu thêm bất kỳ một phương tiện nào khác mà tự nhiên
tâm được khai ngộ... Gốc tu hành, nhân địa của con là ngộ được vô sinh
pháp nhẫn. Nay con nguyện ở thế giới này để nhiếp hóa mọi người vãng sinh
Tịnh độ. Nay Phật hỏi viên thông, con vốn không lựa chọn, chuyên thâu
nhiếp sáu căn, khiến cho tịnh niệm nối liền liên tục, được vào tam ma địa
(Tam muội) đó là thứ nhất”.
Căn cứ vào những lời kinh điển trên, chúng ta có thể rút ra ba điểm: Một
là niệm danh hiệu A Di Ðà và quán y chính trang nghiêm của Phật thì tâm là
Phật. Trong thời khóa tụng niệm mỗi ngày hay dù làm tất cả công việc gì,
nếu tâm chúng ta nghĩ Phật, niệm Phật thì tâm là Phật. Do tâm chuyên chú
vào danh hiệu Phật nên tâm bị tác động bởi công đức rộng lớn không thể
nghĩ bàn của Phật, những trần cấu vọng tưởng sẽ không có cơ hội nuôi
dưỡng, dần dần chân tâm sẽ hiển lộ. Nếu tâm cứ vọng tưởng theo trần cảnh
thì chân tâm khó mà hiển lộ. Hai, nếu tâm từ sáng đến chiều đều nhớ Phật
niệm Phật, thì không cần tu thêm một pháp môn nào cả, mà tâm tự nhiên được
khai ngộ, tâm được khai ngộ đó là minh tâm kiến tính. Ba, điều nhiếp lục
căn, tịnh niệm liên tục, đắc tam ma địa, nhiếp tâm niệm Phật. Ấn Quang Ðại
sư có nói: “Niệm Phật cần nên nhiếp tâm, vọng niệm từ tâm mà khởi, âm
thanh từ miệng mà lưu xuất, do đó niệm Phật cần phải niệm từng câu từng
chữ rõ ràng, tai nghe rõ ràng. Câu niệm Phật từ trong tâm mà lưu xuất, một
khi nhĩ căn được nhiếp phục, thì các căn còn lại không thể hướng ngoại,
nhanh chóng đưa đến nhất tâm bất loạn, điều mà Bồ tát Ðại Thế Chí gọi là
điều nhiếp sáu căn, tịnh niệm tương tục, được tam ma địa, đó là đệ nhất,
tức là điều đó vậy” (xem “Văn Sao Tịnh Ðộ” quyển 1).
Việc niệm Phật, điều quan trọng là phải từ tâm phát khởi, từ miệng mà lưu
xuất, miệng niệm từng câu từng chữ rõ ràng, tai nghe từng câu từng chữ rõ
ràng. Việc này ban đầu tuy khó, cần phải dụng công lâu ngày mới có được
kết quả, một khi nhĩ căn có sự tập trung vào danh hiệu, thì vọng niệm
không thể xen tạp vào được. Ðôi tai chúng ta có tác dụng đón nhận và phân tích âm
thanh từ bên ngoài, nếu một khi tai chuyên chú vào danh hiệu, tâm
không phân tán, mà tâm cũng nghe từng câu từng chữ rõ ràng, tâm, miệng,
tai phối hợp cùng niệm, thì việc nhất tâm thật không khó khăn gì.
3.-
Một niệm hiện tại là nhân của việc thăng trầm trong vui khổ
Tâm đầy đủ của linh tri, niệm là hoạt động của linh tri. Là người tu học
Phật pháp, điều căn bản là phải nắm bắt được những hoạt động của linh tri.
Triệt Ngộ Ðại sư có nói: “Phàm phu hầu hết đều có niệm. Tâm thể không có
niệm chỉ có Phật là người duy nhất chứng được. Từ hàng Ðẳng Giác trở xuống
đều có niệm. Phàm phu chúng ta khi khởi một niệm đều nằm trong phạm vi của
thập pháp giới, không có niệm nào thoát khỏi phạm vi thập pháp giới. Mỗi
một niệm khởi làm duyên cho việc thọ sinh”. Nếu đã biết được lý như vậy mà
không khởi niệm Phật thì người đó chưa được gọi là người hiểu đạo. Nếu tâm
chúng ta khởi đại từ, đại bi, công đức y chính trang nghiêm, đồng thời tâm
cùng tương ưng với vạn đức hồng danh, tức là niệm pháp giới Phật. Tâm
tương ưng với lục độ vạn hạnh của Bồ tát tức là niệm pháp giới Bồ tát. Tâm
tương ưng với Thập nhị nhân duyên đó là niệm pháp giới Duyên giác. Lấy tâm
vô ngã và quán sát Tứ đế đó là niệm pháp giới của Thanh văn. Hoặc cùng
tương ưng với tứ thiền bát định, cho đến thượng phẩm thập thiện, là niệm
pháp giới cõi Trời. Nếu tâm tương ưng với ngũ giới thì đó là niệm pháp
giới cõi Người. Nếu tu tập các bất thiện pháp, tâm hay ôm lòng sân hận,
cống cao, hơn thua đó là đã rơi vào pháp giới A tu la. Tâm nghĩ hạ phẩm
thập ác, tức là đọa vào pháp giới Súc sinh. Hoặc tâm hay ôm lòng keo kiệt
bỏn sẻn, tương ưng với trung phẩm thập ác, tức là rơi vào pháp giới Ngạ
quỷ. Nếu tâm tương ưng với thượng phẩm thập ác, tức là đọa vào pháp giới
Ðịa ngục. Thập ác gồm có: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời
thêu dệt, nói lời thô ác, nói lưỡi đôi chiều, tham lam, sân hận, si mê.
Ngược lại là thập thiện. Biết được như vậy rồi, trong đời sống thường ngày
chúng ta phải luôn xem xét, kiểm điểm xem tâm chúng ta rơi vào pháp giới
nào, có như vậy mọi người mới không để cho tâm khởi lên những niệm ác, gây
hại cho người và mình. Nếu ta để cho tâm suy nghĩ thường xuyên các niệm
xấu, chắc chắn hiện tiền cũng như trong tương lai khó mà tránh được những
nghiệp xấu.
Một
sát na chỉ xảy ra trong nháy mắt. Tham Huyền Ký, quyển thứ ba có nói:
“Trong một nháy mắt có đến sáu mươi sát na”. Như vậy, trong một nháy mắt
thôi, tâm của chúng ta đã có thể khởi ra sáu mươi niệm. Kinh Ðại Bát Nhã
có chép: “Người sống trên thế gian này, trong một ngày một đêm đã có thể
khởi lên tám nghìn bốn mươi vạn niệm”. Ðiều đó cho thấy vọng niệm trong
tâm chúng ta khởi lên liên tục không bao giờ dừng nghỉ. Vì vậy, không cho
niệm khởi là điều quan trọng. Không cần phải bàn nhiều, phương pháp đối
trị vọng niệm không gì khác hơn là dùng chánh niệm để đối trị lại vọng
niệm. Niệm Phật là phương pháp giúp chúng ta giữ được chánh niệm hơn hết.
Trong Luận Ðại thừa có nói: “Nhớ Phật niệm Phật là con đường tắt đạt đạo
nhanh nhất”. Ðại sư Ấn Quang cũng có nói: “Pháp niệm Phật là bối trần hợp
giác, là diệu pháp đệ nhất phản bản quy nguyên” (Văn Sao Tịnh Ðộ). Người
niệm Phật đến phút lâm chung, nếu tâm giữ được chánh niệm phân minh thì
quyết định được vãng sinh không nghi ngại. Chánh niệm ở đây tức là chỉ cho
tâm nhớ Phật, niệm Phật. Tâm không rời danh hiệu, thì tâm không có một mảy
may tâm niệm tham ái, sân hận. Lâm chung chánh niệm phân minh, trong
khoảng sát na được Phật tiếp dẫn vãng sinh Tịnh độ. Người muốn được như
vậy, không gì khác hơn là trong đời sống hằng ngày, phải giữ cho tâm chánh
niệm niệm Phật, tạo thành thói quen, không được lơ là chểnh mảng.
4.- Người niệm Phật tâm lực cần phải chuyên nhất
Tâm
lực vốn là nguồn sức mạnh không thể nghĩ bàn, tiếc thay nhân loại không
biết dựa vào đó mà tinh tấn tu hành phát huy diệu dụng của tâm. Trong pháp
giới, vật lực đã rất lớn, mà tâm lực lại càng lớn hơn.
Sau
đây là biểu đồ:

Nhìn chung, hiện nay tất cả nhân loại đều sợ hãi về sức mạnh công phá vĩ
đại của nguyên tử, thật ra nguồn nguyên tử đó cũng từ tâm lực mà phát
sinh, tâm lực chính là năng lực, sức mạnh nguyên tử cũng từ tâm lực mà có.
Chúng ta chỉ cần y theo Phật pháp chí thành tu hành đến ngày thành Phật,
thì thần lực của tâm có thể đạt đến cảnh giới tối cao không thể nghĩ bàn.
Lúc đó, tha hồ mà biến đổi tam thiên đại thiên thế giới.
Kinh Pháp Hoa, quyển thứ tư, phẩm “Hiện Bảo Tháp” có chép rằng: “Ðức Phật
Ða Bảo đã diệt độ, toàn thân ở trong tháp, bản nguyện đã viên mãn liền vọt
lên khen ngợi Kinh Pháp Hoa. Ðức Phật Thích Ca bảo rằng: “Phật Ða Bảo có
thệ nguyện rộng lớn, Ðức Phật nào muốn đem thân ta mà chỉ bày cho bốn
chúng, thời các vị Phật của nước đó phân thân ra nói pháp ở các nước trong
mười phương đều phải nhóm họp ở một chỗ”. Bấy giờ, Ðức Phật Thích Ca từ
lông trắng giữa chặng mày phóng ra một luồng hào quang, rộng chiếu khắp
sáu phương: Ðông, Nam, Tây, Bắc, trên dưới. Lúc đó các Ðức Phật phân thân
trong mười phương, đều bảo chúng Bồ tát: “Các ngài phải qua chỗ của Ðức
Thích Ca Mâu Ni, để cúng dường tháp báu của Ða Bảo Như Lai”. Lúc bấy giờ,
cõi Ta Bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang
nghiêm. Ðó là lần biến hóa thứ nhất. Ðức Phật chỉ lưu lại chúng trong hội
Pháp Hoa, dời các hàng trời người đi chỗ khác. Lúc đó, các Ðức Phật ở
phương Ðông đã nhóm họp, ngồi xếp bằng trên tòa sư tử, như thế lần lượt
đến khắp đầy cả tam thiên đại thiên, mà ở thân Phật của Ðức Thích Ca Mâu
Ni phân thân ra khắp cả mười phương mà vẫn chưa hết. Lúc đó, Phật Thích Ca
vì muốn dung thọ các vị Phật của mình phân thân, nên ở nơi tám phương lại
biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh.
Hai trăm muôn ức, tám phương lại kết thành một nghìn sáu trăm vạn thiên
thế giới, rồi biến các nước đó thành một nước của Phật. Ðó lần thứ hai
Phật biến hóa. Vì các Ðức Phật sẽ đến ngồi, nên ở tám phương lại biến hóa
thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh. Ðó là
lần biến hóa thứ ba. Như vậy, trong ba lần biến hóa mà đã có tám phương
Tịnh độ, ba vạn hai nghìn muôn ức na do tha các nước, lại có thể dung chứa
mười phương phân thân của chư Phật. Các Ðức Phật đều bảo các thị giả của
mình qua thăm viếng Ðức Thích Ca Mâu Ni. Các Ðức Phật trụ trong hư không,
đều thấy Ðức Ða Bảo Như Lai, ở trong tháp ngồi tòa sư tử, toàn thân như
vào cảnh thiền định. Ba vạn hai nghìn muôn ức na do tha các nước, đều do
thần lực của chư Phật biến hóa ra. So sánh hoạt động của nguyên tử với
thần lực của chư Phật làm sao mà bằng cho được. Qua đó chứng tỏ rằng tâm
lực luôn thắng vật lực, vạn pháp đều do tâm, điều này chúng tôi đã có
trình bày trong bài viết “Vạn pháp duy tâm”, xin quý vị tham khảo. Chỉ có
thần lực của chư Phật mới xứng đáng cho chúng ta nương tựa. Người niệm
Phật cần phải có tâm lực chuyên nhất, tha thiết liễu sinh thoát tử, tin
sâu, nguyện thiết, hành chuyên, nhất định sẽ được vãng sinh. Một khi đã
được vãng sinh rồi thì chuyện thành Phật không còn gì để lo ngại.
Tổ
thứ hai Liên Tông là Thiện Ðạo Ðại sư, khuyên người chỉ niệm danh hiệu A
Di Ðà Phật. Lại có người gạn hỏi: “Sao Hòa thượng không dạy người quán
tưởng Phật mà chỉ dạy chuyên trì danh
thôi, chẳng hay có ý gì?”. Ngài đáp: “Chúng sinh
đời nay phần lớn chướng nặng tâm thô,
thần thức tán
loạn. Trong khi
đó, cảnh Tịnh độ rất tế diệu, nên quán tưởng khó thành tựu. Chính
vì thế, Ðức Phật
xót thương nên chỉ dạy
niệm Phật. Tại sao? Vì xưng danh hiệu là việc dễ làm, nếu có thể
giữ mỗi niệm nối nhau không dứt, tu như thế suốt đời thì: Mười kẻ niệm
mười kẻ sẽ vãng sinh, trăm người tu trăm người về Tịnh độ. Tại sao thế?
Vì không có duyên tạp bên ngoài, nên dễ được chánh niệm, vì cùng với
bản nguyện của Phật hợp nhau, không
trái với kinh
giáo, thuận theo
lời Phật và chư Thánh chỉ dạy. Nếu
bỏ chuyên niệm Phật mà tu xen tạp những hạnh
khác, thì trong trăm ngàn người chỉ hy
vọng ba bốn kẻ được vãng sinh. Tại sao? Vì duyên tạp niệm khiến
cho mất chánh niệm, không khế hợp với bản nguyện của Phật, vì trái với
kinh giáo và lời chư
Phật, chư Thánh
dạy, hệ niệm không tiếp nối nhau, tâm không thường nhớ Phật. Vì
thân tuy hành đạo mà tâm lại tương ưng với lợi danh, vì thích theo duyên
tạp mà làm chướng ngại chánh nhân vãng sinh của mình và người. Các hàng
ngoại đạo, tục có kiến giải không giống nhau, như là: Kẻ thích chuyên tu,
người ưa tạp hạnh. Nếu như chuyên tâm niệm Phật thì mười người niệm đều
vãng sinh cả mười. Nếu như tu tạp niệm mà tâm không chí thành thì trong
ngàn người tu khó mong được một. Nguyện xin tất cả hãy nên chín chắn mà
suy nghĩ kỹ. Lại nữa, người niệm Phật khi đi, đứng, nằm, ngồi phải cố gắng
nhiếp tâm, ngày đêm chớ rời danh hiệu, quyết giữ câu niệm Phật cho đến hơi
thở cuối cùng. Như thế thì đến giây phút mãn phần, niệm trước vừa thọ
chung, niệm sau liền vãng sinh Cực Lạc. Từ đây vĩnh viễn hưởng được sự vui
“pháp lạc” vô vi mãi cho đến ngày thành Phật. Há là chẳng đáng vui sướng ư?”. (Tham khảo “Tịnh Ðộ Thánh Hiền”, quyển thượng, tập 2)
Tương truyền Ðại Sư Thiện Ðạo, là hóa thân của Phật A Di Ðà. Mỗi khi ngài
niệm “Nam Mô A Di Ðà Phật”, thì có một tia hào quang từ nơi miệng ngài
phóng ra, ngài niệm Phật từ mười câu cho đến trăm câu đều có hào quang như
vậy. Do tâm lực của ngài đã thành tựu nên mới có việc hiển hiện những điều
kỳ diệu như thế. Qua đó cũng đủ chứng minh cho chúng ta thấy diệu dụng của
niệm Phật, một khi chúng ta chuyên chú tâm niệm danh hiệu A Di Ðà Phật,
thì khiến cho tâm lực tập trung chuyên chú vào một chỗ, tạo nên một năng
lực chánh niệm rất lớn và hiện hữu mọi lúc mọi nơi, thì sự kiện “niệm
trước vừa thọ chung, niệm sau vãng sinh Cực Lạc” là việc có thể thực hiện,
lời nói đó hoàn toàn không sai trái. Do đó, trong thời tu tập mỗi ngày,
chúng ta phải định cho mình một thời khóa công phu rõ ràng. Nếu công việc
thật sự bận rộn, trong nghi lễ của thời khóa công phu chỉ cần tụng Kinh A
Di Ðà, chú vãng sinh, đọc bốn mươi tám lời nguyện trong Kinh Vô Lượng Thọ
là đủ, đối với các kinh luận khác không nhất thiết phải đọc, sau đó đọc kệ tán Phật, tiếp theo là niệm
đức hồng danh, niệm vạn câu hoặc trên vạn câu. Ngoài thời khóa chính ra,
những lúc bình thường miệng cũng không xa lìa danh hiệu Phật, tịnh niệm
liên tục, có như thế mới đạt đến nhất tâm bất loạn. Người niệm Phật cần
phải có tâm chuyên nhất, có tinh tấn, không nên vì một nhân duyên nào mà
phế bỏ công phu. Hãy xem việc niệm Phật là công việc quan trọng nhất, tâm
luôn tha thiết liễu sinh thoát tử, có như thế mới thành tựu việc vãng
sinh. Một khi tâm có tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên sẽ tạo nên tâm lực
rất lớn không gì bì kịp, vì tâm lực có diệu dụng không thể nghĩ bàn. Người
niệm Phật một khi đạt được tâm lực đó thì không khác gì tâm lực của chư
Phật trong mười phương.
5.-
Nguyện và nguyện cảm ứng đạo giao
Ðức
Phật A Di Ðà tu Bồ tát thừa phát bốn mươi tám lời nguyện. Phàm có chúng
sinh nào chí tâm xưng niệm danh hiệu
của Ngài, hoặc nghe danh hiệu của Ngài, cho đến phát đại Bồ đề tâm
(nguyện lực). Nguyện lực của Ngài đã thành tựu, Ngài trải qua
muôn kiếp tu hành, nhẫn lực tu hành
thành tựu sáu Ba la mật, siêng
năng tu Bồ tát vạn hạnh (hạnh lực).
Hạnh lực của Ngài đã viên mãn, lại
thành tựu chính báo quả vị Vô
thượng Bồ đề và y báo là nước Cực
Lạc trang nghiêm (công đức lực). Ba yếu
tố: Nguyện lực, hạnh lực, công đức lực hòa hợp tạo nên thần lực
danh hiệu không thể nghĩ bàn. Ngài dùng
danh hiệu A Di Ðà làm con thuyền
Bát nhã, cứu độ chúng sinh. Chúng sinh, tin Phật, niệm Phật, phát
tâm đại Bồ đề thành Phật độ chúng sinh,
nguyện vãng sinh Tịnh độ để được
sự giáo hóa của chư Phật, luôn luôn lấy lời nguyện đó hồi hướng về
Phật A Di Ðà. Do vậy mà có sự cảm ứng
đạo giao giữa nguyện lực của chúng sinh và nguyện lực của Phật. Ðể
có được sự cảm ứng đạo giao, người niệm Phật cần phải có tâm tin sâu, nguyện
lực phải tha thiết, hành trì phải chuyên nhất, cầu Phật lực từ bi thương
xót, gia hộ độ trì thoát ly sinh tử, tiếp dẫn vãng sinh Tịnh độ, tu tập
cho đến ngày thành Phật, trở lại Ta Bà rộng độ chúng sinh đồng thoát ly
sinh tử, đồng sinh Tịnh độ, vĩnh kiếp không còn sợ thối chuyển.
Ngẫu Ích Ðại sư có nói: “Phải tin vào Phật lực mới có thể tin sâu công
đức của danh hiệu, phải có tin trì danh mới có thể tin bản tính không thể
nghĩ bàn của chúng ta. Người có đầy đủ tâm tin sâu như vậy mới có thể phát
nguyện rộng lớn. Người niệm Phật chỉ cần ghi nhớ hai chữ “tín, nguyện”. Vì
tín, nguyện là kim chỉ nam của pháp môn Tịnh độ, chấp trì danh hiệu là
chánh hạnh. Nếu người có tín, nguyện kiên cố, đến phút lâm chung chỉ cần
mười niệm tâm không rối loạn thôi cũng được vãng sinh. Người không có tín,
nguyện dù cho niệm Phật đến trình độ gió thổi không động, mưa rơi không
thấm, kiên cố vững chắc như tường đồng, lũy sắt cũng không được vãng sinh.
Phàm là người tu tịnh nghiệp không thể không biết điều đó”. (Tham khảo
Kinh A Di Ðà yếu giải do Ðại sư trước tác). Ngài còn nói rằng: “Người có
được vãng sinh hay không vãng sinh, cũng tùy thuộc nơi chỗ có tín nguyện
hay không có tín nguyện, phẩm vị cao hay thấp là tùy thuộc ở chỗ hành trì
sâu hay cạn”.
Phật pháp chú trọng ở chỗ cảm ứng. Cũng không nằm ngoài đặc điểm đó, sự
cảm ứng là thật tướng pháp giới vốn bao trùm khắp pháp giới hư không,
không có sự ngăn ngại, vì nó vốn nhân duyên tương cảm, nương tựa nhau,
tương ứng mà có. Tại sao sự cảm ứng trong Phật pháp lại rất đặc biệt như
vậy? Vì Phật pháp vốn có pháp tính trong sạch thanh tịnh, do đó thế giới
thần linh rất ưa chuộng. Nó vốn không có sự chướng ngại như các tôn giáo
khác, nói đúng hơn thể tính của Phật pháp rất thanh tịnh bình đẳng, luôn
hướng chúng sinh về con đường chân thiện mỹ, nên rất được chư Phật cũng
như thế giới thần linh ưa thích và hộ niệm. Ðức Phật A Di Ðà khi còn là
Pháp Tạng, sau khi đứng trước Phật Thế Tự Tại Vương phát bốn mươi tám lời
nguyện rộng độ chúng sinh và sau khi nói kệ xong, lúc bấy giờ khắp các cõi
đất sáu lần chấn động, chư Thiên rải hoa đẹp lên đầu Ngài cúng dường, tự
nhiên có tiếng âm nhạc trong hư không vang lên khen ngợi và chứng quyết
Ngài nhất định sẽ thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Kinh Vô Lượng
Thọ). Ðó là sự biểu hiện sự thật chứng của pháp giới thật tướng đối với
lời phát nguyện của Pháp Tạng Tỳ kheo. Chỉ có chư Phật mới thấy được điều
đó, phàm phu chúng ta không thể thấy được. Lại nữa, Ðức Phật A Di Ðà tu Bồ
tát thừa, trải qua nhiều kiếp tu hành, công đức của Phật đã viên mãn, Ngài
đã thành Phật, lời nguyện lớn của Ngài đã thành tựu một thế giới Tịnh độ.
Trong thế giới Tịnh độ có vô lượng vô biên công đức trang nghiêm như: lầu
gác, ao báu, hoa sen, cây báu, đất bằng vàng ròng, lưới châu... tất cả
những loại trang nghiêm đó không chỉ một tay Phật có thể xây dựng được mà
do một phần cảm ứng của thế giới thần linh, thế giới chư Phật mà thành tựu
một thế giới Tịnh độ trang nghiêm như vậy. Trong đó tâm nguyện xây dựng
thế giới Tịnh độ, rộng độ chúng sinh của Phật A Di Ðà đóng vai trò chính.
Có gieo nhân ắt sẽ gặp quả cảm ứng. Nhân ví như hạt giống, quả ví như hoa
quả. Người tu pháp môn Tịnh độ cũng như thế, lấy tín, nguyện, hạnh làm
nhân, từ nhân được gieo đó, Phật A Di Ðà mới biết để đến tiếp dẫn vãng
sinh, để giáo hóa thành Phật là quả. Tín, nguyện của pháp môn Tịnh độ được
ví như sóng điện từ phát đi từ đài phát thanh, Phật A Di Ðà tiếp nhận
luồng sóng đó mới có thể định hướng chúng sinh đang tín, nguyện cầu về
nước Ngài, dựa vào đó Ngài mới có thể định vị chúng sinh đang ở phương
hướng nào để đến tiếp dẫn. Người niệm Phật sở dĩ được vãng sinh cũng nhờ
vào sự phát khởi tin sâu, nguyện thiết mới có cảm ứng đạo giao. Trong pháp
giới có vô lượng vô biên sự thật chứng của chư Phật, công đức trang nghiêm
các Ngài không thể nghĩ bàn, mười phương hằng hà sa chư Phật đều quy hướng
Tịnh độ. Vì vậy, có chúng sinh nào phát khởi tâm niệm Phật, các Ngài đều
hết sức tán thán và đồng hộ niệm cho người đó đạt được quả bất thối chuyển
A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ đề. Ðiều đó có thể chứng minh rằng, nếu người
niệm Phật phá