Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


......... .

 

Tịnh Độ Luận

---o0o--- 

PHẦN BA (1)

Kính thưa quý vị.

Trên đây là những ý kiến tương phản của hai phái cùng tu theo pháp môn Tịnh độ, một bên thiên về hiện tượng, một bên thiên về bản thể, cả hai phái đều đưa ra những lý lẽ để bênh vực cho lập trường của mình và bài bác bên kia, không bên nào chịu thua bên nào cả. Tôi đã tư duy về vấn đề này, mong tìm được những lý lẽ xác đáng để dung hoà các mâu thuẫn bất đồng của hai bên, và trong khi quán tưởng về đề tài này, tôi đã cố nhớ lại những lời Phật và Tổ đã dạy.

Phật đã khuyên chúng ta:

1.- “Phải dùng pháp của ta làm nhiên liệu để đốt cháy tâm can con, làm bùng lên ngọn lửa Bát Nhã để soi sáng con đường tiến thủ của con”. (Kinh Di Giáo).

2.- “Phải tự rèn luyện mình để trở thành một cái phao vững chắc, hay một hòn đảo an toàn làm nơi trú ẩn, đừng bao giờ tìm bất cứ một nơi ẩn trú nào khác ngoài ta, trong biển khổ trần lao mông mênh của cuộc đời”. (Kinh Pháp Cú)

3.- Phải đặt trọn niềm tin ở mình, và đặt mọi cố gắng trên Chính kiến và Chính tư duy, vì chỉ có hai thứ đó mới đưa tới cứu cánh viên mãn”. (Kinh Pháp Cú)

4.- Đừng bao giờ tin một điều gì mà tập tục, thói quen hay sự dạy dỗ theo lối nhồi sọ đã làm cho ta tin tưởng từ thời còn thơ ấu. Đối với một điều cần phải dùng trí tuệ minh mẫn để xét lại, và khi đã phân tích, cân nhắc kỹ lưỡng nếu thấy điều gì quả thật tốt lành, lợi ích cho tất cả thì hãy tin, rồi cố gắng giúp mọi người cùng tin và sống theo chân lý ấy”. (Anguttara Nikaya).

5.- Người nào chẳng may bị mắc vào lưới mê muội, mù quáng, tin càn, hiểu sai và đi lạc lối rồi thì đừng hy vọng dùng tụng kinh, cầu nguyện, lễ bái, cúng dường hoặc tu ép xác như nhịn đói, nằm đất, thức khuya dậy sớm, hành hạ xác thân để mong trở thành thanh tịnh, nếu trong tim óc của người ấy còn đầy chất độc tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến… làm cho người đó lúc nào cũng cuồng loạn. Chẳng phải vì những ngoan cố, khát vọng, tin nhảm, hiểu lầm, không theo chính đạo mà con người trở thành ô trược”. (Kinh Pháp Cú).

6.- “Chính con phải tự cố gắng đi trọn con đường của con. Ta chỉ là người hướng đạo chỉ đường cho con đi mà thôi”. (Kinh Pháp Cú).

7.- “Cúng dường vô số Phật không bằng cúng dường cho một người Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng. (Kinh Tứ Thập Nhị Chương).

8.- “Niệm vô niệm niệm, Hành vô hành hành, Tu vô tu tu, Chứng vô chứng chứng”. (Niệm đến chỗ không niệm mới là chân niệm. Làm đến chỗ không làm mới thật là làm. Tu đến chỗ không tu mới là chân tu. Chứng đến chỗ không chứng mới thật là chứng). (Kinh Tứ Thập Nhị Chương).

9.- “Này, Thiện nam tử, phải biết rằng các pháp đều bình đẳng và bất hoại diệt. Thân, Tâm và Ngã, Pháp, Sinh tử và Niết bàn đều như Không hoa. Ở trong hành giả không có tạo tác và đình chỉ. Ở quả tu không có thủ xả và đắc thất. Rốt ráo không có Năng, Sở, khứ lai, sinh diệt. Có như thế mới nhập được vào Phật đạo. (Kinh Viên Giác).

10.- Kinh Trường A Hàm có câu: “Tâm mang thế gian đi, Tâm dẫn thế gian lại, Tâm là căn bản của các pháp. Tâm sai khiến mọi sự mọi vật. Tâm nghĩ thiện thì hành động thiện, Tâm nghĩ ác thì hành động ác, hạnh phúc theo tâm như bóng theo hình”.

11.- Kinh Tâm Địa Quán có câu: “Phật pháp của ta lấy tâm làm gốc, và muôn pháp ở thế gian này đều do tâm sinh ra cả”.

12.- Kinh Hoa Nghiêm, một bộ kinh đặc biệt bàn nhiều về chữ tâm có những câu:

Tâm như công họa sư,

Họa chủng chủng ngũ ấm.

Nhất thiết thế gian trung,

Vô pháp nhi bất tạo !

13.- “Tâm, Phật, cập chúng sinh, thị tam vô sai biệt”.

14.- “Tức Tâm tức Phật”.

15.- “Nhất thiết duy tâm tạo”.

16.- “Tất cả các pháp của ta chỉ như ngón tay để chỉ mặt trăng, chớ nên lầm ngón tay là mặt trăng”. (Kinh Viên Giác).

17.- “Tâm thanh tịnh, thế giới thanh tịnh. Tâm nhiễm ô, thế giới nhiễm ô”.

18.- “Nhất thiết chúng sinh cụ hữu Như Lai trí tuệ đức tướng”.

19.- Kinh Đại Bát Niết Bàn (Q 27) có câu: “Nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tính”.

20.- Và Tổ Huệ Năng dạy:

Bồ đề chỉ hướng tâm mịch,

Hà lao hướng ngoại cầu huyền”.

21.- “Phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ đề”.

22.- “Phải xoay ngược luồng nhãn quang về phía nội tâm mà tìm chân lý, vì chân lý không ở ngoại cảnh”.

23.- “Lòng còn mải nghĩ tới sự giác ngộ thì khó vượt được mọi mê mờ. Nguồn gốc của sự tỏ ngộ ở tâm thì nên tìm nguồn gốc đó ở bên trong, chớ đừng phí công kiếm sự tỏ ngộ ở ngoài mà đưa nó vào trong”.

24.- “Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”.

25.- “Đừng nghĩ đến Thiện, đừng nghĩ đến Ác, trong lúc ấy mới hiện rõ “bản lai diện mục của mình”.

*

 

Hầu hết các kinh điển của Đại thừa Phật giáo đều chú trọng đến tâm con người. Cái tâm ấy bừng sáng lên trong mỗi bộ kinh Phật, xuyên qua bức màn danh ngôn, sắc tướng.

Từng ấy mẩu ánh sáng gom lại đủ tạo thành một bó đuốc chân lý sáng ngời dạy tôi phải tựa nương vào tâm mình để giải quyết mọi vấn đề khó khăn ở đời, và tôi có cảm nghĩ rằng Đức Tin là điều quan trọng và thiết yếu đối với người học đạo, nhất là đối với người Phật tử còn sơ cơ.

Đức Tin là mẹ của mọi công đức và phát sinh ra mọi hạnh lành. Trong tôn giáo, đức Tin mang tính chất siêu hình và siêu việt biên giới của suy tư. Trừ một số ít người sống trong chủ nghĩa hoài nghi, buông thả không định hướng và phủ nhận giá trị thiêng liêng của tâm linh thì đức Tin là điều kiện cần thiết cho người tầm đạo muốn sống một cuộc đời hướng  thượng, hữu ích.

* Trong Tín, Nguyện, Hạnh thì Tín là đức tính căn bản, hướng dẫn người tu tiến bước trên đường đạo giải thoát. Nhờ có đức Tin mà ta cố gắng phát huy trí tuệ và bồi dưỡng đạo đức, tạo thiện nghiệp cùng phát tâm vô thượng Bồ đề.

Chúng ta an tâm trước mọi thử thách và vượt qua mọi chướng ngại trên đường hành đạo. Thiếu đức Tin thì thiếu quả quyết, dũng cảm và nhẫn nại, ta sẽ ngần ngại trước sự thử thách, do đó việc tu dưỡng tâm linh của ta sẽ giảm phần hiệu năng. Nhưng đức Tin ấy cần phải lành mạnh và được soi sáng bằng trí tuệ Bát Nhã để trở nên một đức Tin sáng suốt và kiên cố, nếu không nó sẽ trở thành mê tín đưa người vào vòng tà đạo. Ta phải lấy đức Tin để soi sáng, tránh cho đức Tin khỏi trở thành cuồng tín, mới không lạc vào mê mờ, hành động mù quáng sai lầm.

Và kết quả của những đêm suy tư quán tưởng về vấn đề niệm Phật A Di Đà cầu vãng sinh Tịnh độ đã đưa tôi đến những nhận định sau đây:

 

CHƯƠNG 4

NHẬN ĐỊNH VỀ NGHI VẤN: CÓ HAY KHÔNG CÓ ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ CÕI TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC ?

 

Bởi căn cơ của chúng sinh cao thấp không đều, tính tình uỷ mị cứng rắn khác nhau, nên Phật mới phải dùng đủ mọi phương tiện, mượn cái hữu hình để chỉ cái vô hình, mở quyền chỉ thực, vị thực thi quyền, lập ra 48.000 pháp môn, xây dựng vô số thành trì giả để đưa tới một thành trì cho đó là thực, rốt cuộc thành trì mà mọi người tưởng là thực này, lại bị phá huỷ nốt vì đó vẫn chỉ là ảo ảnh phù du. Đại thừa Phật giáo trong Bát Nhã Tâm Kih đã dạy cách phá vỡ các ảo ảnh về chủ thể (ngã) và phá luôn cả cái ảo ảnh về đối tượng (pháp), để từ đó con người nhận định về Thức tại một cách trung thực hơn. Cái ảo ảnh to lớn nhất và khó phá nhất là ảo ảnh về chân lý tuyệt đối, về một đấng thiêng liêng và về một cõi Niết bàn hay Thiên đường vì đó là khát vọng ngàn đời và khắp nơi, cũng là chỗ tựa nương cuối cùng của con người đau khổ vốn ít tin tưởng vào tài sức của mình trước sự huyền vi và sức cuồng bạo của thiên nhiên.

Trong suốt quá trình lịch sử của nhân loại, con người lúc nào cũng cố gắng nối liền cái hữu hạn của đời người với cái vô cùng bất tận của không gian và thời gian. Cũng vì thế mà Phật hay Chúa đã ngự trị trên cuộc đời cơ cực, và Niết bàn, Tịnh độ Thiên đường đã dựng lên trên cõi sình lầy, gai góc, đầy bất hạnh này. Có bờ bên này đối diện với bờ bên kia. Cực lạc với Ta bà, giải thoát và trói buộc, buồn thương và hạnh phúc, hữu và vô… Đức Thích Ca Mâu Ni, Tổ Huệ Năng… và Khrisnamurti là những vị đã thoát ly khỏi cái ảo ảnh và khát vọng đó, đã siêu lên trên mọi trói buộc, để chẳng còn gì phải khát vọng nữa. Bờ bên này sở dĩ có, vì có cái ảo tưởng về sự hiện hữu của bờ bên kia. Sự thật thì giải thoát và trói buộc, Tịnh độ và Ta bà, nhân quả và phi nhân quả, tất cả những cặp mâu thuẫn trong thế giới tương đối, nhị nguyên, đều chỉ là những danh từ để chỉ những sự vật giả có, giả không, những khái niệm của ý thức so đó mà tôi. Trên đường siêu thoát, người tu phải từ bỏ dần dần cho đến thực hết những gì mình có ở đời, tương tự như người lữ hành đi trên con đường thiên lý phải vứt bỏ ở dọc đường những gì mang theo để đỡ cồng kềnh, nặng nhọc, vinh hoa, phú quý, từ bỏ hình hài của mình, cho đến cả những cảm xúc, tư tưởng của mình nữa. Và ngay cả những gì mình đã lượm được ở dọc đường tu giải thoát của nền giáo lý Phật dạy mà ta nâng niu, gìn giữ như hạt kim cương vô giá, cũng phải coi như những phương tiện chỉ cần thiết cho từng giai đoạn tu hành, như những nhịp cầu hoặc chiếc bè để qua sông, khi đã tới bờ bên kia rồi thì nhịp cầu hay chiếc bè phải để lại. Ngay cả ông lái đò đã chở mình qua sông (là Đức Phật) cũng phải từ giã nốt, để còn phải cất bước liên tục lên đường thiên lý làm nhiệm vụ hành đạo, có như thế mới là chân giác ngộ. Vì Thể của Tâm vốn “không tịch” nên không thể trụ vào tướng mê ngộ được. Cái “Hữu” bị cái “Không” vô hiệu hoá, đến lượt cái “Không” lại bị cái “Bất không” phá huỷ để cho lý trung đạo hay “Chân không diệu hữu” tỏ bày. Người quen nếp sống suy luận, nhị nguyên nặng đầu óc phân biệt cho rằng các cõi Tịnh độ, Niết bàn, là nơi hư ảo, không thật có, nhưng người có tâm vô phân biệt, quen nếp sống trực giác, tâm linh, hiểu rõ năng lực của đức Tin và Tâm thành, lại cho là các cõi Tịnh độ và Ta bà đều thực có, và chỉ là một, không hai.

Là một Đạo Sư dày kinh nghiệm, Đức Phật Thích Ca đã dẫn chúng sinh đi từ thế giới khách thể hữu hình đến thế giới bản thể vô hình, rồi lại phủ nhận cả hai thế giới hữu hình lẫn vô hình, phá cả hai bên đối đãi để hiển lộ cái lẽ phi hữu phi vô, diệc hữu diệc vô, hay cái lý Bất nhị trong thế gian, nhất nguyên vô phân biệt. Mục đích của Phật là cứu vớt chúng sinh thoát khỏi khổ đau trong tam giới, đưa tới một nơi lý tưởng Cực lạc, Niết bàn, nhưng cảnh giới cực kỳ sung sướng là Tịnh độ, Niết bàn kia chẳng phải là đâu xa lạ, mà chính lại vẫn là cảnh giới của tâm, ai ai cũng có, vốn vô sở đắc. Thế mới hay mất công bôn ba tìm kiếm khó nhọc khắp nơi, nhưng lại thấy ở nơi thật gần, ngay ở thân mình và rốt cuộc chỗ đến của lối tu tiệm ngộ theo Sự cũng là chỗ đến của lối tu đốn ngộ theo Lý. Sự chẳng khác Lý, chỉ không giống nhau ở căn cơ và hành trì siêng năng hay giải đãi mà thôi. Còn chấp Có, chấp Không, chấp Sự chấp Lý là còn mê muội và mang tâm phân biệt, chia rẽ, do đó còn bị trói buộc, khổ đau. Cũng như chứng bệnh của loài người có nhiều, lại phải có đủ mọi thứ thuốc để điều trị. 84.000 pháp môn Phật dạy, pháp môn nào cũng tuyệt diệu cả, vì có công năng trị bệnh cho loài người đến tận gốc, nhưng xét ra chỉ có hai loại là Pháp tướng và Pháp tính hay Hữu môn và Không môn đưa người tu đến toà nhà Như Lai. Khi đã tới nơi rồi thì Tướng cũng như Tính, Sự cũng như Lý, Sắc tức là Không, Tương đối tức Tuyệt đối, Hữu vi cũng như Vô vi, đường lối tuy khác nhau, nhưng cũng tụ tại một điểm là Chân Không, Chân Như, Chân Tâm, Phật tính. Pháp Tướng và Pháp Tính thoạt tưởng là độc lập khác nhau, nhưng thật ra lại bất dị, tương thành. Chúng nương lẫn nhau, tương tức tương nhập, cũng như điện âm và điện dương tưởng là tương khắc, huỷ diệt nhau, nào ngờ chúng lại kết thành một dòng điện âm dương đun đẩy tiếp nối nhau để tạo thành một dòng điện âm dương đơn thuần. Pháp tướng nhờ vào hình tướng giả bề ngoài và cái Dụng để phô bày cái Thực tướng bên trong, hay cái Thể Chân Không của các pháp. 

Người học đạo bước đầu còn dựa vào sắc tướng âm thanh, cậy vào Tha lực nhờ đó mới cởi bỏ được phiền não, nhiễm ô ở trong lòng. Pháp Tính nương vào tự lực của người tu nhiều hơn. Hành giả thu thúc lục căn, quán sát tâm mình, không lưu ý tới ngoại cảnh, cố gắng dứt bỏ chúng sinh tính, diệt trừ tận gốc tham, sân, si để tâm trở nên thanh tịnh.

Cái đích của cửa Không cũng là cái đích của cửa Hữu, giống nhau ở điểm phải thanh lọc những ác tưởng để tâm trở nên hanh khiết, pháp môn Tịnh độ là một pháp môn thần diệu vì nó có sức thu hút mọi giai tầng tín đồ Phật gioá, từ bậc thượng lưu trí thức đến hàng thất học hạ căn, từ người nhàn rỗi đến kẻ bận việc, bất cứ đi, đứng, nằm, ngồi, đang làm công việc gì cũng có thể niệm Phật được cả. Pháp môn đó thoả mãn được mọi Phật tử, người nặng tình cảm và tín ngưỡng, nương vào Tha lực thì tu theo Sự tướng, lối tiệm tu, người có ý chí tự cường, tin ở tài sức của mình thì tu theo Lý tính, lối đốn ngộ. Nhưng dù theo Sự hay Lý, tin hay không tin có Phật A Di Đà và cõi Tây phương Cực lạc, cũng có thể đạt được kết quả như nhau là diệt trừ phiền não và tâm được an vui, nếu cùng siêng năng hành trì theo con đường tu của mình đã chọn.

Điểm đặc sắc của pháp môn Tịnh độ là người tu theo Sự tướng, không hiểu về Lý, chỉ chuyên cần niệm Phật A Di Đà với Nhất Tâm bất loạn, cũng đạt được mục tiêu là trở về với Chân Tâm thanh tịnh của mình, y như người rành về Lý. Vì khả năng thu hút của pháp môn Tịnh độ và để thoả mãn cung nhằm vào mục tiêu có lợi cho đủ mọi hạng người không thể trả lời dứt khoát là Có hay Không có Đức Phật A Di Đà, và Có hay Không có cõi Tây phương Cực lạc, bởi lẽ nếu nghiêng hẳn về một bên, vừa không hài lòng bên kia, lại mắc vào lỗi Biên kiến, ngả và Có thì chấp Tướng, nghiêng về Không thì chấp Tính, bị lạc vào ngoan không. Bởi lẽ mọi pháp trên thế gian này đều chẳng thật có, chẳng thật không, chẳng phải hư, chẳng phải thực, nên đối với câu hỏi Có hay Không có Phật A Di Đà và cõi Tây phương Cực lạc, không thể đứng trên lập trường trí thức thuần tuý, nghiêng về Lý, đóng khuôn trong hình thức nhị nguyên mà trả lời Có hoặc Không dứt khoát, mà chỉ có thể đứng trên lập trường tâm linh, trong khuôn khổ nhất nguyên mà trả lời: Có và Không, - Cũng Có và cũng Không, hoặc chẳng phải Có và chẳng phải Không. Bởi lẽ Có chẳng khác gì Không, Không chẳng khác gì Có, Có tức là Không, Không tức là Có theo Bát Nhã trí.

Đối với người theo Sự, không hiểu về Lý, còn phải dựa vào Tha lực mà nuôi dưỡng tinh thần họ. Nhưng đối với ai tu đã lâu năm mà quen thói ỷ lại, cứ bám vào hình tướng, không chịu dưỡng tính tu tâm mà không chịu tin ở tự lực của mình thì cần phải trả lời là Không có.

Ở đây chúng ta nên nhớ tới lời Tổ Huệ Năng khuyên các đệ tử cách trả lời mỗi khi có người hỏi về những sự việc có tính cách đối nghịch. Tổ nói: “Hễ ai nghiêng về Có, phải lấy Không để đáp lại. Hỏi Thánh thì lấy phàm, hỏi phàm thì lấy Thánh để đối đáp, như vậy giữa hai thái cực Có, Không, Thiện, Ác… nảy sinh lý Trung Đạo hay Bất Nhị bao trùm cả hai bên, có như thế mới khỏi mắc vào lỗi thiên kiến cực đoan.

 

CHƯƠNG 5 

NHẬN ĐỊNH VỀ VẤN ĐỀ ĐỚI NGHIỆP VÃNG SINH 

Điểm nghi vấn Có hay Không có đới nghiệp vãng sinh cũng được giải đáp tương tự như nghi vấn: Có hay Không có Phật A Di Đà và cõi Tây phương Cực lạc.

Để trấn an những tâm hồn yếu đuối, đức tin không vững, và ngại mình phúc mỏng nghiệp dầy tạo nhiều quả ác, thì mong gì được dự phần hưởng phúc ở cõi Cực lạc Tây phương để chung sống với các bậc Hiền, Thánh. Về điểm này Cổ Đức có dạy: Phàm là chúng sinh ai cũng phải mang nghiệp vào thân, chẳng nặng thì nhẹ, không ai thoát khỏi nghiệp báo, do đó đừng nên thắc mắc về nhân quả, luân hồi. Cũng ví như mây đen bao phủ bầu trời, đến khi gió thổi thì mây đen liền tan, hoặc gian phòng đang tối, bỗng đèn điện bật sáng thì bóng tối biến liền. Cảnh mây đen và bóng tối chỉ là hư ảo, cũng như vô minh tạm thời che khuất Chân Tâm, chẳng phải là cảnh thật, vì đã gọi là thật thì vĩnh viễn cứ như thế mãi không hề đổi thay. Đèn điện và gió thổi có khả năng xua đuổi bóng đen thì ánh linh quang của trí tuệ cũng có khả năng phá tan vô minh phiền não, cho nên chẳng sợ mang nghiệp vào thân mà chỉ cần lo gieo nhân lành thật nhiều, và chuyên tâm thành kính niệm danh hiệu Phật A Di Đà để tới khi lâm chung quen việc niệm Phật.

Hễ nuôi dưỡng Tín Tâm cho vững và thực hành được từ 1 đến 10 niệm thanh tịnh trong lúc hấp hối cũng đủ để Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn về quốc độ của Ngài. Cũng ví như người phải vác một tảng đá lớn lội qua sông trong cơn phong ba thì khó bề tránh khỏi thuỷ tai, nhưng nếu người ấy lại được chuyên chở bằng thuyền bè, tượng trưng cho Tha lực của chư Phật thì dù phải mang nặng hàng tấn đá vẫn ung dung ngồi vững trên thuyền lướt sóng bình yên trong cơn giông bão, chẳng tổn hơi sức. Đó là lý của những người tu theo Sự, tin ở Tha lực và thuyết Đới nghiệp vãng sinh. Đối với người không hiểu về Lý thì tất cả mọi hiện tượng tâm, vật lý đều thực có, như vậy thì nghiệp báo sao lại chẳng có. Nhưng đối với người đã hiểu chân lý lại tin rằng: Xác thân này hư giả, vô ngã, vọng tâm lại điên đảo, vô thường thì nghiệp báo sao lại có được ? Đó chỉ là vấn đề nhân duyên giả sinh, giả hợp mà thôi, vậy chẳng cần phải lo ngại. Vì thế mà tâm họ lúc nào cũng an nhiên tự tại. Họ chẳng sợ quả báo mà chi lo không gieo được nhân lành. Họ hiểu rằng: nhân quả là luật thiên nhiên, có vay thì phải trả. Họ tìm mọi cách vượt lên trên nhân duyên để được giải thoát. Cũng như khi con người đã hiểu rõ luật thiên nhiên thì không làm điều gì trái luật thiên nhiên, lại còn biết lợi dụng sức mạnh của thiên nhiên để chế ra nào là tàu thuỷ, tàu ngầm, thuyền buồm… để di chuyển dưới nước, vượt biển rộng; nào là khinh khí cầu, phi cơ, hoả tiễn để đi trên không, vượt trời cao; nào là máy in, máy điện tín, điện thoại, máy chữ… để thông tin xa nhau hàng vạn dặm, nhờ đó mà thu ngắn được khoảng cách, nối liền quá khứ, hiện tại, vị lai. Con người thời nay, nhờ trí thông minh của mình đã đạt được ngũ thông và đã trở thành khổng lồ, có sức bay nhanh hơn chim, lặn sâu hơn cá, vác nặng hơn voi, chạy nhanh hơn thỏ, nghe được suốt lục địa, nhìn thấu các vật vô hình, lại có sức phá rừng, lấp biển, xuyên núi, chặn đứng các thác nước cuồn cuộn đổ xuống từ cao…

Đứng trước nghiệp và khổ đau, con người có hai cách để vượt qua:

1.- Một là đối diện với nghiệp và khổ đau để tìm hiểu nguyên nhân sinh ra nghiệp trong thân, khẩu, ý để tìm cách tiêu diệt những nhân tố ấy. Đó là thái độ áp dụng trong Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

2.- Hai là đối diện với nghiệp khổ đau, nhưng không chống lại chúng theo lối ăn miếng trả miếng, mà lại dùng Nhẫn Nhục, như một thế võ Nhu đạo, mượn cái đà của chúng để tiêu diệt chúng. Nói cách khác, khi khổ đau và nghiệp tấn công, ta không chống cự lại mà lợi dụng thế võ “Nhu thắng cương, nhược thắng cường”, lấy Nhẫn nhục ba la mật để đối phó lại. Cũng như khi quân giặc đến tấn công nếu ta đem quân ra chống cự lại, ắt phải tổn thất nhân mạng, đổ máu nặng nề, nhưng nếu ta lại bỏ ngỏ thành áp dụng chiến thuật “vườn không, nhà trống” thì quân giặc không giết hại được gì cả. Dùng nhẫn nhục để đối phó thì tính nhẫn nhục của ta được tôi luyện thêm sắc bén, ta chịu đựng khổ đau mà không kêu ca, sân hận thì ta phá được Ngã chấp, Pháp chấp, đắc quả Vô sinh Pháp nhẫn. Khi đã không sân hận oán thù thì không gây thêm nghiệp ác mới nữa, ta đình chỉ được luật nhân quả và đạt được Chân Tâm, Phật tính của mình.

Bởi vì khi trực diện với nghiệp và khổ đau thì chúng chỉ tác dụng trên con người giả của ta mà thôi, nghĩa là chúng chỉ làm cho thể xác và tinh thần hay cái thân ngũ uẩn giả hợp này bị ảnh hưởng, chứ tuyệt nhiên chúng không thể tác hại đến phần tinh thần là Chân Tâm, Phật tính của con người thật (Chân Ngã) của ta được. Những ai đã hiểu rõ luật nhân quả đều biết rằng: nghiệp với ta là một. Nghiệp chính là mình, vì ai muốn tạo nghiệp gì tuỳ ý. Không ai thoát khỏi nghiệp, bởi nghiệp gắn liền với tư tưởng và hành động của con người. Còn suy tư là còn nghiệp, chẳng dữ thì lành. Họ không sợ nghiệp và khổ đau, vì biết rằng có nghiệp mới có Giải thoát, có phiền não mới có Bồ đề. Không bị khổ đau, không vượt qua nghiệp chướng, tất không thể nào siêu thăng. Giải quyết những mâu thuẫn của trí thức như thế nào thì cũng giải quyết vấn đề nghiệp báo như thế. Trí sai biệt và phân biệt được giải quyết bằng trí Vô sai biệt và Vô phân biệt, thì nghiệp cũng được giải quyết bằng Phi nghiệp. Đau khổ và nghiệp là duyên lành tạo niềm an lạc cho tâm hồn, cũng như đoá sen thơm ngát mọc lên từ bãi sình lầy hôi tanh.

Theo nghĩa thông thường thì nghiệp là luật nhân quả tự nhiên, nhưng dưới cặp mắt của người đạt đạo quen sống với lý Bất Nhị thì nghiệp tức là phi nghiệp. Giữa mê và ngộ, nghiệp không tác động như nhau. Trong lúc người mê không ngớt than thân trách phận về nghiệp quả nặng nề, thì người ngộ lại không cảm thấy gánh nặng của nghiệp đè lên vai mình. Tuy cùng đeo nghiệp như nhau, nhưng họ lại không để ý đến nghiệp, bởi thế, tâm họ luôn thanh thản. Họ không xoá bỏ luật thiên nhiên nhưng tuỳ thuận thiên nhiên mà sống, đồng nhất với thiên nhiên trong cảnh tự tại vô ngại. Nghiệp dù có đến, họ thản nhiên chịu hậu quả của nghiệp như để trả một món nợ đã đáo hạn cho xong. Người đạt đạo trong hoàn cảnh đau buồn, dĩ nhiên là biết nhưng dường như không biết, bởi vì người này đã ẩn mình trong tính “Không”, nên mới giải thoát khỏi đau buồn. Người ấy cũng cảm xúc như ai, nhưng họ hiểu rằng, không ai tránh khỏi luật nhân quả, phải lấy tính nhẫn nhục để che cho thân mình. Đó chẳng phải là trạng thái tinh thần trơ như gỗ đá, cũng chẳng phải là ươn hèn, nhưng chính là tự độ, tự giác để giác tha. Bởi vì theo luật biến hoá của vọng tâm sinh diệt, thì khi người ta đau buồn thường hay sinh ác tưởng. Để thoả mãn ác tưởng phải tăng thêm nghiệp ác, cho nên người tu hạnh đầu đà, nhẫn nhục, tạm ẩn trong tự tính thanh tịnh Niết bàn để ngăn ác tưởng không cho phát sinh. Đó là một việc làm khó, đòi hỏi phải đi ngược dòng sinh của ác tưởng. Nhờ công phu tu tập của pháp Từ, Bi, Hỷ, Xả mới dẹp được mầm ác manh nha và an tâm vào tình trạng khách quan thanh tịnh. Đó là một cách để diệt khổ được vui, làm mất hiệu lực của luật nhân quả. Con người cũng có thể vượt qua nghiệp bằng cách chuyển Nghiệp thành Nguyện. Cũng như con người, khi đã biết rõ luật thiên nhiên thì tìm cách lợi dụng sức mạnh của thiên nhiên, vượt qua nó để phục vụ cho hạnh phúc của mình. Tâm tạo nghiệp thì tâm cũng giải được nghiệp. Có chuyển được nghiệp, cắt đứt mối giây nhân quả mới khỏi bị nghiệp trói buộc. Cứ phát ra những lời đại nguyện thanh tịnh, chân chính, vị tha, rồi cố gắng thực thi những đại nguyện ấy thì chẳng còn sợ nghiệp báo, Nhân quả nữa.

“Bất lạc nhân quả, bất muội nhân quả” khác nhau chính là ở điểm này. Do đó, những người này không tin thuyết “Đới nghiệp vãng sinh”, và đối với câu hỏi: “Có hay không có đới nghiệp vãng sinh ?” Cũng như với câu hỏi: “Chúng sinh Có hay Không có Phật tính ?”, thì có thể trả lời: “Có và Không”, “Cũng Có và cũng Không”, hay “Chẳng phải Có, chẳng phải Không”, hay “Chẳng phải không có, chẳng phải Không không có”. Tiện đây, tôi xin kể lại câu chuyện rất quen thuộc đối với đa số người trong đạo Phật:

Một bữa, một người hỏi Thiền sư Triệu Châu:

- Bạch Hoà thượng, con chó có Phật tính không ?

Ngài đáp: Không.

Người này lại hỏi:

- Kinh Pháp Hoa có nói: “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính”, cớ sao con chó lại không có Phật tính ?

Ngài đáp:

- Bởi vì Vô minh che lấp Chân Tâm, nên nói: Không. Con chó không thấy Phật tính của nó, cho nên tuy nó có Phật tính mà cũng coi như nó không có vậy.

Bữa khác, có người lại hỏi Thiền sư Triệu Châu:

- Bạch Hoà thượng, con chó có Phật tính không ?

Ngài đáp: Có

Người ấy gặng hỏi:

- Nếu có Phật tính, sao nó lại phải đội lốt chó ?

Ngài đáp:

- Bởi vì đã biết là có Phật tính mà nó còn hành động theo lối súc sinh, nên mới phải đội lốt chó. Cũng như người có kiến thức mà lại cư xử thiếu nhân cách, không sống theo nhân đạo thì phải đoạ kiếp chó và đội lốt thú chứ sao ?

Như vậy, ta thấy rõ: “Tuỳ theo căn cơ và tính tình của người đặt câu hỏi mà phải trả lời lúc Có, lúc Không về cùng một vấn đề, âu cũng là phương tiện để người nghe giải mê, khai ngộ”.

 

CHƯƠNG 6 

NHẬN ĐỊNH VỀ MỘT SỐ QUAN NIỆM SAI LẦM THÔNG THƯỜNG CỦA NGƯỜI THỜI ĐẠI.

 

Xin lưu ý quý vị về mấy điểm sai lầm thông thường sau đây của người thời đại:

Mục 1: Thuyết nhị nguyên.

Với đường lối thuần lý của triết học và khoa học Tây phương đặt cơ sở trên luận thuyết “Cogito ergo sum” của Descartes thì đa số người Tây phương hiện nay vẫn còn quen nhận thức cuộc đời theo đường lối Nhị nguyên. Thậm chí họ còn đặt ra nguyên tắc “Bài trung” (Principe du Tiers exclu) để đánh đổ chủ nghĩa “nửa vời”.

Theo họ thì việc dời đổi chẳng thế nọ cũng thế kia, chẳng tốt thì xấu, chẳng đúng thì sai, chẳng đen thì trắng, nếu Có thì tất chẳng phải là Không. Họ cho rằng: mọi hiện tượng trong trời đất đều thật có, bởi vì cái gì cũng rõ ràng, sờ sờ ngay trước mắt. Theo biện chứng: Tôi tư duy, vậy thì tôi hiện hữu, cho nên phải có Ta, có Người, có Sinh, có Diệt, có Vật, có Tâm… quyền lợi mâu thuẫn sinh ra tranh chấp, chứ không thể có tình trạng nửa vời, chẳng trắng, chẳng đen, chẳng thiện, chẳng ác, chẳng đúng, chẳng sai, chẳng không, chẳng có, mờ mờ ảo ảo. Khi nào trí óc của con người còn đi theo con đường mòn nhị nguyên xưa nay, thì kết quả không sao tránh khỏi là phải phủ nhận hoặc chấp nhận dứt khoát, và như thế là rơi vào thế đối lập, chia rẽ, phân biệt bạn và thù. Phật giáo chủ trương: Chỉ khi nào không khẳng định cũng không phủ định, và sống trong sai biệt - vô sai biệt, và phân biệt - vô phân biệt, thì lúc đó mới đạt tới Thực tại tuyệt đối.

Nhưng gần đây đã thấy xuất hiện trên thế giới một số Triết gia và Khoa học gia tân tiến, lên tiếng cảnh cáo đường lối thuần lý của nền Triết học và Khoa học ở thế kỷ XIX như Heidegger, Nietztsche, Kierkegard, Dostoiewsky. Những vị này đã can đảm nhận thấy những khuyết điểm của quan niệm xưa kia, nhìn đời bằng con mắt thị phi, phân biệt rành rẽ, vì sau nhiều cuộc thử nghiệm trong lãnh vực Điện tử, họ đã đi sâu vào một thế giới lạ lùng ở đó chẳng phải là sự, chẳng phải là tâm, mà chỉ là một hệ thống chằng chịt, trong đó quan niệm thông thường về vật chất tan biến như mây khói. Nếu coi Điện tử là nền tảng của vật chất như các vật thể khác thì nó lại không có khối lượng vật chất khi nó ở thể loãng, bất động, trái lại nó lại năng động. Họ đâm ra lúng túng không biết nên đặt Điện tử vào khu vực vật chất với danh hiệu là Lượng tử hay Chất tử (Corpuscule de matière) hay cho nó vào hàng ngũ Năng lực (tinh thần) với danh hiệu là Ba động của Tinh lực (Onde d’énergie) bởi vì nó gồm đủ cả tính của vật chất lẫn năng lực, vừa là Vật vừa là Tâm. Rốt cuộc, buộc lòng người ta phải tạm đặt cho nó danh từ là Lượng tử Ba động (Onde Corpuscule) để chỉ cho một Thực tại nghịch lý phi vật chất, phi tinh thần ấy.

* Theo thuyết Tất Định hay Định Mệnh của La Place cho rằng: “Không có gì ngoài vật chất cả, và mọi hiện tượng trong vũ trụ đều do vật chất sinh ra”, biến hoá theo luật nhân quả, do đó có thể đoán định được tất cả những gì sẽ phải xảy ra. Nhưng tới năm 1927, nhà bác học Đức Heisenberg đã chứng minh cho thế giới thấy rằng nguyên lý Tất Định hay Định Mệnh an bài không thể áp dụng trong thế giới Điện tử được nữa, và không sao biết trước được vị trí và tốc độ của Điện tử ra sao cả. Hơn nữa các Khoa học gia ngày nay không còn dám tự hào là mình đã dùng cặp mắt và khối óc khách quan để quan sát ngoại vật như thường lệ nữa, mà họ đã phải thú nhận rằng những đặc tính của Lượng tử hay Chất tử đều do trí óc chủ quan của họ tạo nên, chứ thật sự thì các vật này không có những đặc tính riêng biệt, độc lập đối với trí óc của người quan sát (L’electron ne possède pá de propriétés indépendantes de mon esprit - trích tài liệu Tham luận tại cuộc toạ đàm ở Cordoue, Tây Ban Nha, năm 1979, về đề tài Sciece ét Conscience - Khoa học và Tâm thức).

Nói khác đi, thì họ phải công nhận rằng trong lãnh vực cực vi thì chủ thể quan sát không tách rời khỏi đối tượng được quan sát, và như vậy thì khoa học ngày nay cũng đi tới nhận thức giống như của Long Thọ Bồ tát trong Phật giáo Đại thừa ở thế kỷ thứ II dương lịch là: Phi hữu phi vô, diệc hữu diệc vô, tức là pháp môn Bất Nhị hay tâm vật nhất như, mà lời nói của loài người khó diễn tả nổi. Phật giáo cho rằng: Các pháp đều do nhân duyên giả sinh, giả diệt, và bản chất của chúng vốn Vô tự tính. Các pháp không tự nhiên có, phải do tương quan với những cái không phải nó mà có, nên sự Có ấy là Giả có. Có khái niệm về Sinh vì có khái niệm về Diệt. Sự mâu thuẫn giữa Có, Không, Sinh, Diệt đưa đến một tổng đề Phi Có Phi Không, Phi Sinh Phi Diệt hay Bất Nhị, nhưng trong cái Bất Nhị vẫn ngầm chứa cái Nhị đối lập với nó. Cứ như thế, một pháp luôn luôn hàm chứa một pháp khác, mâu thuẫn với nó. Từ đối nghịch, mâu thuẫn đi tới một tổng đề, vẫn hàm chứa một mầm mâu thuẫn mới, nằm trong giới hạn của khái niệm, danh từ Tổng để cứu cánh phải là Thực tại tuyệt đối vượt ra ngoài tính chất tương đối, so đo của ngôn ngữ, khái niệm.

Hiểu rõ lý nhân duyên trùng điệp sẽ phá tan được những cặp mâu thuẫn nhị nguyên và những khái niệm nhị biên để đạt tới Chân lý tuyệt đối, không còn tranh luận hão huyền nữa. Thấu triệt lý nhân duyên tức đi tới thể Không tịch, phá vỡ được Ngã chấp, Pháp chấp và đạt tới chân trời Chân Không Diệu hữu.

Lý nhân duyên chuyển được sự thúc phọc thành sự tự do. Trong các Kinh điển của Đại thừa Phật giáo chủ trương Chân Không - Diệu Hữu đều hàm chứa lý đó như: Vô tận trùng trùng duyên khởi trong Kinh Hoa Nghiêm, Thực tướng quan trong Kinh Pháp Hoa, Chân như quan trong Khởi Tín Luận và Tịnh độ quan trong Kinh A Di Đà và Kinh Vô Lượng Thọ.

Phật giáo chủ trương phá chấp triệt để nào là chấp Có, chấp Không, chấp Thường, chấp Đoạn, chấp Ngã, chấp Pháp, vì với xu hướng Nhất Nguyên hay tinh thần Bất Nhị, đạo Phật đã đạt chân lý tuyệt đối viên dung, không còn bị vướng mắc vào lỗi lầm nào cả. Muốn được như vậy, người Phật tử học đạo phải gột sạch óc phân biệt nhị nguyên, từ bỏ mọi ràng buộc vào Có, Không, Thường, Đoạn, và không chấp vào danh từ, để thấy được Thực tại toàn diện và nhất quán, một Thực tại thoát lý cả Có lẫn Không, vượt khỏi mọi khái niệm, siêu việt trên lãnh vực của hình, danh, sắc, tướng, ở ngoài nhận thức chủ quan, tương đối.

Muốn được như vậy thì người học đạo phải rời bỏ mảnh đất thuần lý của khoa học và triết học cổ điển, lỗi thời mà dấn thân vào cảnh giới tâm linh, tức là vượt qua lý trí để trực quán thực tại nguyên thuỷ của tâm, siêu lên mọi phân biệt tỷ giảo của triết học và khoa học nhị nguyên, chỉ thấy Thực tại trong Tỷ lượng một cách méo mó, thiên lệch, làm cho Chủ và Khách, Tâm và Cảnh đối đầu nhau đưa tới tình trạng phân ly, vị kỷ, cố chấp mà không thấy được chân lý “Vạn vật đồng nhất thể”, “Chúng sinh giai hữu Phật tính”, “Ta là Người, Người là Ta, bình đẳng vô phân biệt và vô sai biệt”. Người giác ngộ sống với lý Bất Nhị, thấy rõ thực tướng của các pháp đều Không, Vô tướng, Vô tác, thấy rõ tính cách ảo ảnh phù du của ý thức và giác quan là đầu mối của vô minh, đã bóp méo và cắt xén thực tại, làm cho con người bị mù quáng và khổ đau, và thấy được tính cách trong sáng của sự vật ở đời, khi đã từ bỏ được nhận thức thiên lệch để thấu triệt được thực tại phổ quát, đại đồng, và khi ấy thì phá được hàng rào ngăn cách Chủ và Khách, Tâm và Cảnh để không còn yêu ghét, khổ đau nữa. Muốn tiến tới điểm đó thì không thể đi theo đường lối của Lý trí suy luận, phân biệt và phải bằng trực giác tâm linh và Đức Tin lành mạnh, tức là bằng Thiền quán và Niệm Phật, Chính mê vọng tạo ra cảm giác, nguồn gốc của khổ đau, đưa tới ác tưởng và hành động sai lầm. Đó là mục đích mà Phật ra đời để khai thị cho chúng sinh ngộ nhập vào tri kiến Phật của mình và thấy được Thực tại toàn chân.

Mục 2: Hư vô chủ nghĩa.

Thà nghiêng về phía chấp Có, khẳng định có Đức Phật A Di Đà và cõi Tây phương Cực lạc, rồi thành kính tin tưởng vào Tha lực và chuyên cần niệm danh hiệu Phật A Di Đà, cầu mong tha thiết được đới nghiệp vãng sinh về quốc độ của Ngài, còn hơn là ngả về phía chấp Không, phủ nhận cõi Tịnh độ Tây phương, chẳng chịu chăm lo gieo nhân lành, vun trồng cội đức, không tin có Tha lực để rồi chẳng chịu khó niệm Phật, mất Tín Tâm thành người vô đạo.

Lý “Đệ Nhất nghĩa Không” hay “Nhất thiết giai Không”, trên mặt bản thể của đạo, và thuyết “Tất cả mọi sự vật đều thực hữu trên mặt hiện tượng” là hai bộ mặt của một Thực tại toàn diện gồm đủ cả Tính lẫn Tướng, Thể và Dụng. Sống trong thế gian dù biết là mê vọng, giả dối, nhưng ta vẫn phải sống hết mình, làm tròn sứ mạng của ta, để cuộc đời mình được thăng hoa tiến bộ về mọi mặt. Ta không thể khư khư ôm giữ mãi lý “Không” trong giấc ngủ mê man siêu hình, hoặc khoanh tay ngồi nhìn thiên hạ, sống ngoài vòng cương toả, mà phải tích cực hoạt động làm lợi ích cho đời, có như thế mới hiểu rõ mối liên hệ mật thiết giữa pháp Không và pháp Có, giữa Tuyệt đối và Tương đối, giữa Chân Ngã và Giả Ngã, giữa Phật thừa và Nhân thừa.

Câu nói: “Tự tính Di Đà, duy tâm Tịnh độ” có nghĩa là ngoài bản tính của ta thì không có Phật A Di Đà, và ngoài tâm mình thì không có cõi Tịnh độ. Đó là trạng thái tuyệt đối của bản thể Chân Tâm khi đã chứng ngộ được lý “Chân Không Diệu Hữu”. Đây là cảnh giới hư vô tịch tĩnh của bậc chân nhân khi đã phá vỡ được xiềng xích của Ngã chấp và Pháp chấp. Đối với người thường, còn phải dầy công tu luyện khi chưa đạt tới bậc thang đó, còn phải tập đi lần từng bước ngắn và thấp cho khỏi vấp ngã, dựa vào Tướng, Dụng của các pháp phương tiện để thân chứng được “Đệ Nhất nghĩa Không”. Nếu chẳng tự lượng sức mình, cứ nhắm mắt bắt chước những bậc thượng căn, học đòi hành theo lý “Đệ nhất nghĩa không” ngay từ lúc mới chập chững bước vào cửa đạo là một việc làm tối nguy hiểm. Bởi vì hành động của người đạt đạo đã chứng “Đệ nhất nghĩa Không” là hành động của người theo lý “Tri hành hợp nhất”, còn đối với kẻ chưa am hiểu lý “Đệ nhất nghĩa Không”, cái gì cũng cho là không cả, ngả theo Hư vô chủ nghĩa, thì chẳng khác nào người khờ dại, phải lội qua sông khi chưa biết bơi đã vội phá huỷ cây cầu nối liền hai bờ, hay không chịu dùng thuyền bè để qua sông. Khi ta còn ở trong vòng tương đối, chưa ngộ được lý “Đệ nhất nghĩa Không”, thì còn phải dựa vào sắc tướng, nương vào âm thanh để tiến tu từng bước đầu. Mỗi bậc tu có những quả sở đắc riêng, nếu công phu nội chứng của hành giả chưa đạt tới trình độ chín muồi thì không thể bảo rằng: Tâm Cảnh đều không, năng sở đều tịch, do đó cảnh Cực lạc Tây phương cùng Phật A Di Đà  là những đối tượng cần thiết để nương tựa mà tiến tu cho tới giải thoát cứu cánh. Chỉ khi nào triệt thấu được chân tướng của các pháp là Phi hữu, Phi vô, diệc hữu diệc vô, mới khỏi bị mắc kẹt vào gọng kìm Có, Không của thế tục, nghĩa là không còn ở trạng thái “hiệp giác bội trần”, cũng chẳng “hiệp trần bội giác”. Pháp Có chẳng ràng buộc nổi mình nên không còn bị phiền não quấy rối, mà pháp Không cũng chẳng lôi kéo nổi ta, do đó mới ung dung thành tựu được mọi lợi ích cho đời. Người chấp Hữu có thể dùng môn thuốc “Không” để trị cho lành bệnh, còn người chấp Vô, lạc vào Hư vô chủ nghĩa thì nguy hiểm vô cùng, vì đó là một chứng bệnh nan y khó chữa. Trong lục độ ba la mật thì Trí Bát nhã là phần cốt tuỷ cần phải đạt tới mới mong được giải thoát. Lý Bát Nhã Chân Không là một liều tiên dược đối với ai thiên về sự tướng, nhưng lại là một liều độc dược giết người đối với ai không biết cách sử dụng nó. Tỷ như người hành đạo mà coi thường giới luật, cứ sát sinh, uống rượu, ăn thịt, nói năng bừa bãi, rồi viện lẽ “nhất thiết giai không” để biện minh cho việc làm càn bậy của mình thì phải đoạ địa ngục nhanh như tia chớp. Những ai đã hiểu lý “Chân Không” một cách chân chính, biết buông thả vọng duyên thì tu pháp môn nào cũng đạt tới “Tam Luân Không tịch”, phá được Ngã và Ngã sở, lìa hết các pháp để tới chỗ “Hành vô hành hạnh”, “Tu vô tu tu”, thì lý Bát Nhã quả là Thánh dược lợi ích vô cùng.

* Quan niệm về “Không” biểu thị giá trị siêu việt của thực tại, thoát ly mọi nhận thức chủ quan thiên lệch. Đó cũng là tư tưởng tích cực nhập thế giúp ta không sợ khổ đau để ung dung tiến bước trên đường hành đạo Bồ tát, với đôi giày Nhẫn nhục và Tinh tiến. Nhưng muốn đạt tới Chân Không là bản thể của các pháp người học đạo phải băng qua chặng đường dài chấp Hữu, cũng như muốn đạt tới địa vị Vô học, phải học đủ các pháp môn, nghiên cứu đủ Tam tạng kinh điển để không còn gì phải học nữa, rồi dùng pháp Xả để tùng Tướng nhập Tính. Nhờ quán tưởng và Thiền định lâu ngày, nhờ tư duy sâu sắc người tu hành thấy rằng, dù ở nội tâm hay ở ngoại cảnh, không có cái gì trường tồn vĩnh cửu, bất biến, cũng không có tự ngã trong mọi dòng hiện tướng, do đó người tu loại bỏ được mọi khuynh hướng ích kỷ, tham luyến, đắm say, sống với toàn thể vũ trụ bằng trái tim tràn đầy tình thương bao la, không tham sống, không sợ chết, vui vẻ đợi sự giải thoát đến với mình để tiếp tục một cuộc sống tươi đẹp hơn ở kiếp sau.

Mục 3: Tri phải Hành

Biết tức là Hành, Hành tức là Biết. Biết cặn kẽ đến ngọn nguồn tức là Giác ngộ. Giác ngộ và Hành động triệt để theo sự hiểu biết viên mãn của mình tức là thành Phật.

Phật học và khoa học giống nhau ở điểm chung là Tri Hành hợp nhất. Sau khi hiểu rõ lý thuyết thì nhà khoa học đi ngay vào thực nghiệm, cũng như người học Phật đem giáo lý Phật dạy ra thực hành ở đời.

Không bao giờ có Tri lại thiếu Hành vì đạo Phật là một đạo thực tiễn, không ưa lý luận suông, nhất là đối với pháp môn Tịnh độ. Bản ý của Phật là muốn cho chúng sinh thoát khổ được vui nên Phật mới dùng phương tiện niệm Phật A Di Đà để chúng sinh gieo những hạt giống tốt lành vào tâm hồn của mình, cốt để an tâm dưỡng tính diệt trừ mầm ác cho tâm trở nên thanh tịnh an vui. Không cần xét xem Có hay Không có cõi Tây phương Cực lạc rồi mới niệm Phật A Di Đà, bởi vì biết như vậy chẳng lợi ích gì, mà còn làm mất thời giờ dùng để niệm Phật và giảm Tín Tâm cần phải nuôi dưỡng để mỗi ngày thêm vững mạnh hơn chỉ cần niệm Phật cho chuyên, cho thuần là đủ, rồi kết quả đạt được, tuỳ ý muốn của hành giả, hoặc được tâm thanh tịnh ở hiện tại, hoặc được về thế giới Cực lạc Tây phương trong vị lai, đều diệt trừ được phiền não, tâm được tự tại cả. Vấn đề Tịnh độ, Niết bàn, Chân tâm, Phật tính thuộc về bản thể siêu hình chỉ cảm thấy mà không thể chỉ bày hay lý giải bằng giác quan, ngôn ngữ của người thế gian mà phải thể nghiệm bằng trực giác và chấp nhận bằng đức Tin tuyệt đối. Tuy không thể chỉ bày những thứ đó bằng mắt bằng tay được, bởi vì chúng không có sắc tướng, nhưng đó lại là một thực thể thường hằng, hiện diện khắp không gian và thời gian. Khi nào Chân Tâm hiển lộ thì Phật A Di Đà mới xuất hiện tại tâm. Đức A Di Đà mà ta thấy được là Phật của tâm ta, do đó mới bảo là Tự tính Di Đà, duy tâm Tịnh độ. Khi nói đến duy tâm, tự tính thì phải hiểu đó là chân tâm thanh tịnh và Phật tính sáng suốt bất sinh bất diệt của mình, không phải là cái tâm tà vọng bất tịnh, giả hợp, giả hoại của ta. Cầu được thấy Đức Phật kia tức là cầu được thấy chân tâm, tự tính của mình. Mong được vãng sinh Cực lạc thế giới tức là mong được thấy những đức tính thanh cao quý báu của ta. Đó là ý nghĩa câu kinh “Tức Tâm tức Phật” và “Tức thân thành Phật”.

Vấn đề Có hay Không có Phật A Di Đà và cõi Tây phương Cực lạc chỉ là nghi vấn của hạng người sơ cơ thiên về Lý bỏ Sự, tín tâm không vững, hoặc của những học giả mang tâm phân biệt, nhị nguyên, chỉ muốn thoả mãn tính đa nghi mà thôi, chứ đối với bậc tu hành chân chính đã luyện được tâm bình đẳng, Bất nhị, thì càng đi sâu vào đường đạo lại càng gột rửa được tâm phân biệt nhị nguyên bấy nhiêu. Những ai đã đi sâu vào đạo lý thì tín tâm sáng suốt vững mạnh, hết lòng tin lời Phật dạy và họ hiểu rằng Phật không bao giờ nói sai lời, dối gạt ai bao giờ và mọi thắc mắc, hoài nghi đều có hại cho đức tin. Do đó ta thấy những bậc tu chứng cao, những vị cao Tăng thạc đức chưa từng vị nào thắc mắc hoài nghi về vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của Phật A Di Đà cả. Chắc hẳn các Ngài không muốn gieo mối hoài nghi có hại, thoái chuyển những người mới vào đạo, tín tâm chưa vững. Các Ngài dạy rằng: hãy cứ Tin Sâu, Nguyện thiết và Niệm Phật A Di Đà với tâm bất loạn, rồi muốn cầu gì cũng sẽ được toại nguyện. Đó là một lời dạy bảo thiết thực đầy ý nghĩa: Tri Hành hợp nhất mới được giác ngộ, giải thoát thành Phật.

 

CHƯƠNG 7

NHẬN ĐỊNH VỀ NGHI VẤN: LỜI PHẬT VÀ LỜI TỔ DẠY CÓ MÂU THUẪN NHAU KHÔNG ?

 

Phật dạy: “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Phật lại dạy: “Y pháp bất y nhân. Y nghĩa bất y ngữ. Y trí bất y thức. Y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh”. Người học đạo, khi đọc tụng kinh điển phải hiểu ý Phật muốn dạy gì qua lời kinh. Muốn khỏi hiểu lầm Phật, phải xét xem Phật đã đứng về phía tục đế của quảng đại quần chúng trong thế giới lưỡng nguyên tương đối đầy phân biệt và sai biệt, hay đứng về phía Chân đế trong thế giới bình đẳng nhất nguyên vô sai biệt và vô phân biệt. Khi Phật thuyết về Viên giáo hay Chân lý tuyệt đối, Không hai thì bao nhiêu cặp mâu thuẫn trên thế gian này đều bình đẳng như nhau: Phật, Chúng sinh, Niết bàn, Ta bà…, bao nhiêu những pháp phương tiện đều chỉ có giá trị phù du, ảo ảnh. Có khi Phật dùng ngôn thuyết pháp, lấy những vật hữu hình để dẫn dắt chúng sinh thâm nhập vào thế giới vô hình của Chân Không. Lại có khi Phật dùng vô ngôn hay tâm truyền tâm để đi vào đạo. Đối với từng hạng người, căn cơ cao thấp khác nhau, tính tình uỷ mị, sắt đá bất đồng, Phật tuỳ nghi nói pháp để trả lời lúc Có, lúc Không về cùng một vấn đề. Có hiểu được lời nói của Phật mới mong thoát khỏi mắc vào sai lầm đáng tiếc.

Một buổi, một đệ tử hỏi Phật về vấn đề Có hay Không có Niết bàn ? Phật đáp: “Không có Niết bàn, cũng chẳng có sinh, tử nốt”.

Thấy vậy, người đệ tử sửng sốt hỏi tiếp:

- Bạch Đức Thế Tôn, nếu vậy thì trì giới tu Thiền, giữ gìn phạm hạnh và cầu được tri kiến Phật, chẳng có chút lợi ích gì sao ?

Lúc đó Phạm Thiên Vương lên tiếng đáp thay Phật, và nói:

- Này ! Thiện nam tử, kẻ ngu muội muốn lẫn tránh hư không, chạy khắp Đông, Tây, Nam, Bắc và bốn phương bàng đâu đâu cũng gặp hư không. Còn người đi tìm hư không mà chẳng biết hình tướng của hư không ra sao chạy lùng khắp nơi mà chẳng thấy hư không đâu cả, rốt cuộc chỉ tốn công vô ích.

Kẻ cầu Niết bàn cũng vậy. Người ấy hàng ngày thường sống trong Niết bàn mà chẳng biết Niết bàn ở đâu cả. Họ thường sống ở trong Niết bàn mà không biết Chân Thể của Niết bàn ra sao. Bởi thương chúng sinh phải sống trong trần lao sinh tử nên Phật Thích Ca mới chỉ cảnh giới Cực lạc Tây phương để đối lại với cảnh giới Ta bà, mong gợi lòng ham thích được sống ở nơi hạnh phúc yên vui mà chán ghét cõi khổ đau này. Nhưng muốn được sinh về cõi Cực lạc Tây phương phải đâu dễ dàng mà cần phải có đủ ba điều kiện là Tín, Nguyện, và Hành, nghĩa là phải Tin lời Phật dạy, phải thiết tha cầu nguyện được về nơi này và phải nhất tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà, tức là phải tự mình gắng sức đem những chủng tử lành gieo vào A lại da thức làm cho tâm mình dần dần trong sạch. Ta nên hiểu mật ý của Phật ở đây là muốn thấy hạnh phúc thì phải tìm ở nội tâm không ở ngoại cảnh, nghĩa là phải diệt trừ tận gốc những dục vọng điên cuồng khiến cho cõi lòng mình được trong sạch, chính đó là Niết bàn, Tịnh độ, nơi tạo ra hạnh phúc chân chính đời đời. Đức Phật Thích Ca đã nhằm về phía quần chúng, phần đông căn cơ thấp kém, không hiểu thế nào là Phật tính, chân tâm, nên Ngài mới khuyên chúng sinh nên hướng về hưởng hạnh phúc, nhưng cõi Cực lạc đâu phải là ở nơi xa lạ, mà chính lại là cái tâm thanh tịnh của mình, và Đức Phật A Di Đà lại chính là Đức Phật của ta, hay chính là ta khi đã giác ngộ.

* Đối với Tổ Huệ Năng thì đối tượng của Ngài khi giảng về vấn đề này lại là những đệ tử, phần đông là Thiền sinh đã hiểu ít nhiều thế nào là Chân Không, Chân Như, Phật tính, nên Tổ mới khuyên họ là phải “Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”.

Phương pháp của Tổ Hụê Năng là dạy người đời phải xa lìa đối tượng, từ bỏ quan niệm lưỡng nguyên, đi sâu vào bản thể, sống với lý Bất Nhị, vì theo đó thì phiền não tức Bồ đề, chúng sinh tức Phật, niệm trước còn mê muội là phàm phu, niệm sau giác ngộ liền thành Phật. Niệm trước còn dính cảnh trần thế còn phiền não, niệm sau lìa trần cảnh thành Bồ đề.

Tổ nói: “Tâm con người đã là Phật rồi, còn hồ nghi gì nữa ? Bởi vì kinh Phật có nói: “Tâm sinh chủng chủng pháp sinh. Tâm diệt chủng chủng pháp diệt”. Muốn thành Phật hay muốn có Trí Bát Nhã phải đạt tới chỗ “Nhất hạnh và Nhất tướng Tam muội”. Nếu ở trong bốn oai nghi, bất luận ở đâu và lúc nào cũng giữ cho tâm thuần nhất, không trụ vào đâu cả và thực hành Tịnh độ, như thế gọi là Nhất hạnh và Nhất tướng tam muội. Ngài có làm bài kệ khuyên chúng sinh như sau:

Yêu ghét chẳng quan tâm,

Duỗi dài hai chân nằm.

…Đối cảnh, Tâm nhiễu động,

Bồ đề làm sao lớn ?

Chủ trương của Tổ Hụê Năng khuyên người đời hướng vào nội tâm để thành Phật, nào có gì mâu thuẫn với lời giáo huấn của Đức Thế Tôn ? Có khác chăng chỉ là ở chỗ Tổ Hụê Năng đã dùng lời nói thẳng để chỉ vào cái đích mà Đức Phật Thích Ca cũng ngầm mong chúng sinh tiến tới, nhưng Phật lại không muốn nói thẳng ra vì sợ có người không hiểu, hoặc hiểu mà lại ngại khó không dám theo. Vì thế mà Phật đã phải dùng những pháp quyền để chỉ thực, “dĩ huyễn độ chân”, nhằm vào cái tâm đầy ngã dục của người không hiểu thế nào là Phật tính, chân tâm nên Ngài mới khuyên chúng sinh nên hướng về cõi Cực lạc cầu Phật A Di Đà để được hưởng hạnh phúc tuyệt vời ở Tây phương, cách xa cõi trần hàng vạn ức Phật độ, ai muốn được sinh về nơi ấy thì phải dốc lòng tin, cầu nguyện được về cõi đó, và cố gắng niệm Phật A Di Đà, sẽ được Ngài phóng quang tiếp dẫn. Thực ra theo lý Bất nhị thì cõi Tây phương Cực lạc chỉ là tâm của người giác ngộ và Phật A Di Đà chỉ là Phật ở trong tâm của người đó thôi.

Tổ Huệ Năng khi nêu lên thuyết “kiến tính thành Phật” chẳng hề có bài bác tín ngưỡng của môn phái Tịnh độ, cũng chẳng hề có ý muốn đề cao Thiền tông tối thượng thừa và hạ thấp môn phái Tịnh độ do Thích Ca đề xướng, chẳng qua chỉ muốn thức tỉnh những ai quá thiên về Sự trụ tâm vào hình tướng Phật và cảnh Cực lạc mà quên hẳn tâm mình chính là Tâm Phật và tính mình là Phật tính, vì thế mà không hiểu được ý nghĩa lời Phật dạy, chỉ biết niệm Phật cầu vãng sinh mà chẳng biết vãn hồi Phật tính, không biết minh tâm kiến tính để thấy Phật tại tâm mình.

* Vậy “Kiến tính” là gì ? Kiến là nhìn thẳng. Tính là cái tính thấy biết của mình. Kiến tính là nhìn thẳng vào lòng mình. Đó là phương pháp “hồi quang phản bản” hay “Nội quán” để quan sát tự tâm, dùng toàn lực tinh thần (lý trí và tình cảm) làm đối tượng cho ý thức của mình. Bởi vì những hiện tượng tâm lý có tính cách chủ quan, ngoài mình ra không ai thấy được nên sự thấy biết ở đây phải là trực tiếp, không bằng căn trần, giác quan hay suy luận, mà bằng Tụê nhãn của chân tâm. Muốn thấy Phật tính của mình cần phải thấy bản tính hay cái tính bẩm sinh thanh tịnh trong con người mình bấy lâu bị vô minh tà kiến phiền não và sở tri làm chướng ngại, nay được sáng tỏ tức thời. Sự trực giác đó không đến lần lần và tuần tự trong suy tư phân biệt. Từ chỗ trực ngộ đó, ta có một nhãn quan đổi mới hẳn cuộc đời mình, làm cho ta xử kỷ tiếp vật theo đúng chân lý. Nhìn thẳng vào lòng mình thì lòng mình là đối tượng và tính thấy biết của mình là chủ thể. Ta tự đối diện với ta. Ta soi vào gương lòng để nhìn thấy rõ bộ mặt thật xưa nay của mình, hay thấy rõ lương tâm ta. Lúc đó thì Năng Sở, Chủ Khách, Tâm Cảnh, người hát và kẻ nghe hát chỉ là một. Khi ta nhìn thẳng vào lòng mình, lắng đọng mọi suy tư, không để cho vọng niệm buồn, thương, yêu, ghét dấy lên, ta chợt nhận thấy tính mình là tính Phật, và bộ mặt xưa nay của ta cùng với sắc diện quang minh của Phật không khác. Rất tiếc là xưa nay chúng ta vẫn quen phóng luồng nhãn quang ra phía ngoài để ngó cảnh vật mà không hướng nó về phía nội tâm. Ta mải đuổi theo những hiện tượng bên ngoài mà quên mất Đức Phật vẫn ngự trị trong lòng mình. Điều quan trọng là phải biết trở về Giác tính hay Tự tính Di Đà của mình. Lấy trí tuệ để soi sáng sự vật mà không phải mượn nguồn ánh sáng hay bàn tay nào để soi hộ mình cả. Phải cầm đuốc mà soi đường đời hay đường đạo mà đi. Đó là giác ngộ tại tâm hay trở về với bản tính thanh tịnh của ta. Đó là Trực giác Đốn ngộ, nhờ tự lực quán chiếu. Khác hẳn lối tìm sự giác ngộ ở ngoài tâm hay Tiệm ngộ, nhờ vào Tha lực và sùng tín. Muốn Kiến tính phải làm bừng sáng cái đức sáng sẵn có của mình, hay cái Tính năng biết của ta, và nhìn đời trực tiếp theo nghĩa Kiến (     ) chứ không gián tiếp theo nghĩa chữ Thị (     ) mang đầy tính chất phân biệt, thị phi. Đó là phương pháp tu để được giải thoát rốt ráo, trong một Sát na, trừ sạch các vọng niệm và làm bừng sáng cái tâm Chân Như vô sở trụ và vô sở đắc, hay làm hiển lộ Trí Bát nhã của mình.

* Tâm con người tựa như biển cả, nổi sóng không ngừng, khó bề Kiến tính để thấy được Tự Tính Phật hay Chân Tâm của ta. Muốn Kiến tính phải Định Tâm an thần bằng sức mạnh tập trung của ý chí vào nội giới, không để cho ý thức buông lung phóng ra ngoài và phân tán năng lực tinh thần qua cửa ngõ của các giác quan. Sự chuyển hướng luồng nhãn quang từ ngoài vào trong là cả một công phu tu luyện lâu dài, bền bỉ, đòi hỏi phải có sự quyết tâm của hành giả để tự thắng mình.

Khi ta suy nghĩ, ta biết lần hồi theo đà của suy luận. Cái biết đó là tiệm biết. Khi ta Thấy (Kiến    ) ta thấy rõ tất cả trong một sát na bừng sáng, hoặc chẳng thấy gì, chứ không thể thấy lần hồi được. Cái Thấy đó là thấy Đốn. Tổ Hụê Năng dạy phương pháp “Kiến tính thành Phật”, tức là nhắm vào cái Thấy đó. Đối với Lục Tổ thì: hoặc là thành Phật hẳn, hoặc là không thành Phật, chứ không thể có việc thành Phật lần hồi, mỗi ngày một chút theo lối cải thiện hay Tiệm tu. Với Kiến tính thì Lý chẳng ngoài tâm, Lý là Sở ngộ mà tâm là Năng ngộ (Kiến phần) và Phật sở ngộ (Tướng phần) là một. Giác ngộ là thấy rõ chân tướng của sự sống chết trong thực tế, ở ngay lúc hiện tiền và ngay đây chứ không phải đâu xa và trong tương lai. Cõi Tịnh độ ở tâm của người giác ngộ không còn phân biệt nhân ngã, tâm cảnh nữa, tức là ở trạng thái sinh hoạt bình thường ngay tại đây và ngay lúc này, ý thức được rõ ràng công việc của mình đang làm, tức là ở trạng thái chính niệm vậy.

* Để giúp các đệ tử đả thông tư tưởng về Phật tính hay Tri kiến Phật của mình, các Tổ Sư Thiền thường dùng câu thoại đầu: “Bính Đinh đồng tử lai cầu hoả” (Bính, Đinh là hai cung Hoả trong Tử vi). Ý muốn nói: Thần lửa lại còn đi xin lửa, để chế diễu những ai còn si mê, lòng đầy tự ty, tự khinh mình không có khả năng thành Phật.

Cũng như người cầu đạo cứ cầu xin người khác chỉ đạo cho mình, chẳng ngờ mình đã sẵn có đạo nơi mình rồi, mình đã có Phật tại tâm, còn đi kiếm Phật ở nơi khác.

* Trong Thiên Chúa giáo cũng có câu mang ý nghĩa tương tự: “Đạo ở bên ngươi. Đạo ở trong miệng và trong lòng ngươi, để ngươi có thể đem nó ra mà thực hiện…” (…Car la Parole est tout près de toi pourque tu la mettes en pratique… (Bible de Jérusalem).

* Và theo quan niệm của Nho gia Trình Y Xuyên thì người quân tử hành đạo phải thực hành cho được mục tiêu sau đây: Không phải là truyền đạo trời cho người, mà là truyền đạo của lòng mình cho người. Cũng không phải là truyền đạo của lòng mình cho người mà là truyền đạo của lòng người cho người”. Có nghĩa là phải khai mở đạo tâm hay chỉ bày Tri kiến Phật hoặc Phật tính sẵn có nơi mỗi cá nhân để cho ai nấy đều thấy rõ mình là Phật sẽ thành, mình là Phật đang thành.

* Mỗi chúng ta đều có hạt Như ý bảo châu tức là Phật tính hay Tri kiến Phật, một kho tàng vô giá mà ta không biết khai thác. Muốn tìm Phật hay cõi Tịnh độ phải biết tìm trong đáy lòng mình, bởi vì:

Liên Tâm đã sẵn trong đầu

Niết bàn chớ có tìm đâu ngoài lòng.

(B.S. Nguyễn Văn Thọ)

Để diễn tả cái ý Phật tại tâm, ngoài tâm không có Phật, trong vườn hoa Thiền có bài thơ truyền tụng như sau:

Tùng hạ vấn đồng tử

Ngôn: Sư thệ dược khứ

Chỉ tại thử sơn trung

Vân thâm bất kiến xứ.

(Dịch: Dưới gốc tùng hỏi đồng tử. Đồng tử thưa: Thầy tôi nói là đi hái thuốc. Chỉ quanh quẩn núi này mà thôi, nhưng bởi mây phủ nên không thấy). Đại ý nói: Chúng sinh đi tìm Phật. Phật chẳng ở đâu xa, chỉ ở ngay tâm mình, nhưng vì chúng sinh bị vô minh che lấp chân tâm nên không thấy mà thôi. Phải tìm sự giải thoát ở ngay cái hiện hữu, không ngoài sự vật ở thế gian, và đạo là Tự nhiên hay tâm bình thường vậy. Người hành đạo phải vượt lên trên cái bình thường tương đối để tới cái Phi thường tuyệt đối, nhưng khi đã đạt tới đó rồi, lại phải từ nơi tuyệt đối phi thường trở về với cái bình thường tương đối nghĩa là phải tìm cõi Phi thường trong những cái bình thường tìm cái Vô hạn trong những cái Hữu hạn, tìm cõi Tịnh độ ở ngay chốn Ta bà, hay ở ngay trong tâm ta. Đó là cái mà Thiền tông cho là từ trong đạo lý bình thường mà minh tâm kiến tính vậy.

Tổ Huệ Năng dạy:

Phật Pháp tại thế gian,

Bất ly thế gian, giác

Ly thế mịch Bồ đề,

Khắp như cầu thố giác.

Nếu lánh thế gian mà tìm sự giác ngộ thì khác nào đi tìm sừng thỏ, lông rùa khắp nơi ? Với nhãn quan đó thì “thấy” ở đây tức “thấy cái không thể thấy được”. Thấy cái “không thấy” tức là thấy cái Chân tướng Vô tướng, hay Chân Như hoặc Chân Không của vạn pháp.

Cái thấy về thể tính chân tâm vốn vô sinh, cho nên không có sự phát sinh ra cái thấy ấy. “Kiến tính thành Phật” tức là thấy cái chân lý “Không” của mọi sự vật trong trời đất một cách viên mãn tuyệt đối.

* Người đời thường không làm theo những điều mình nói, chỉ ham học hỏi mà biếng nhác việc tu hành, có biết đâu đã có Tịnh độ duy tâm thì phải có Tây phương Cực lạc thế giới, và khi có Di Đà tự tính, tất phải thân chứng được Di Đà Tây phương. Trong khi niệm Phật ta đình chỉ được mọi tạp niệm và thể nhập vào chỗ thâm viễn của tâm thể thì ngay lúc đó ta là Phật A Di Đà và tâm ta là cõi Cực lạc theo lý “Tức thân thành Phật”.

* Pháp môn Tịnh độ viên mãn ở chỗ tỏ ngộ được “Phật khác tức là Phật mình”. Nếu chỉ biết có “Phật mình” thì còn ngã kiến, ngã chấp. Nếu chỉ thấy có “Phật khác”, là còn tha kiến, vọng ngoại. Chấp tha kiến hay chấp ngã kiến, chấp ngoại cảnh hay chấp nội tâm, đều là nhị biên điên đảo. Phải nên hiểu rằng: Phật Di Đà ở Tây phương và Phật Di Đà trong tâm ta không khác, như thế mới là tỏ ngộ câu: “Phật tức Tâm, Tâm tức Phật”, và mới thấy rõ lý: Phải có sự trì danh, cầu Phật khác hiện ra, mới ngộ được lý trì danh, thấy được “Phật mình” hiển lộ. Chính trong lúc ta thấy Phật A Di Đà và Thánh chúng hiện ra đón mình là lúc ta thấy Phật mình hiện rõ trong tự tâm.

Tất cả các pháp môn Phật dạy dù thuộc về Tính hay Tướng đều chỉ là phương tiện, giá trị ngang nhau, nghiêng về phía nào cũng đều có hại. Lối tu không thấp, không cao, mau, chậm. Sự sai biệt do công phu của người hành trì, tinh tiến chuyên cần hay biếng nhác giải đãi mà thôi. Có những người thiên về Lý mà xao lãng công phu niệm Phật, bởi họ đã lầm lẫn Chân đế với Tục đế, không phân biệt được Dụng với Thể, Tương đối với Tuyệt đối, còn đang lẽo đẽo trên đường tu và đã muốn tới ngay nơi cứu cánh giải thoát rồi. Họ có biết đâu rằng: học đạo cần phải dầy công thực tu thực chứng, qua nhiều giai đoạn trong Tục đế mới chứng được Chân đế, chứ đâu phải là công việc dễ dàng.

Trong Kinh Kim Cương, Phật dạy ông Tu Bồ Đề:

Nhược dĩ sắc kiến ngã,

Dĩ âm thanh cầu ngã,

Thị nhân hành tà đạo,

Bất năng kiến Như Lai.

… “Như Lai giả, vô sở tòng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai”, và “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”… “Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai”. Rồi Phật lại dạy tiếp ông Tu Bồ Đề trong tiết “Vô đoạn vô diệt” của Kinh Kim Cương: “Ông đừng tưởng rằng Như Lai không dùng sắc tướng để cầu đạo quả Vô thượng Bồ đề bởi vì nếu khởi ra ý nghĩ đó tức là coi các pháp đều đoạn diệt cả”, và trong bài Chú Bát Nhã Tâm Kinh cũng có câu: “Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố” nhưng liền ngay đấy Phật lại dạy: “Tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa. Đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề”. Qua những câu kinh trên, ta thấy ngay rằng: người tu cần phải trải qua nhiều giai đoạn chứng ngộ liên tiếp trong Tục đế, dựa vào hình, danh, sắc, tướng của các pháp phương tiện trong hiện tượng giới để lần hồi, tòng tướng nhập tánh, đem Dụng vào Thể, từ tương đối tiến đến tuyệt đối, tới nơi không còn gì để chứng ngộ nữa, như thế mới thật là chứng ngộ.

Mục 4: Chân đế và Tục đế.

Lời Phật dạy trong các kinh điển thường mang hai ý nghĩa: nghĩa bóng và nghĩa đen, nghĩa sâu và nghĩa cạn, còn gọi là Chân đế (Thắng nghĩa đế) và Tục đế. Tương đương với hai thứ hiểu biết, giác ngộ hoặc hai nền chân lý Tuyệt đối và Tương đối của thế gian.

Người Phật tử tuy sống trong tương đối song phải biết hướng về Tuyệt đối để tâm được thanh cao, thoát khỏi tầm thường vị kỷ và tìm hạnh phúc chân thật ở nơi tâm hồn an lạc, vị tha, siêu thoát.

a) Tục đế. Có thứ giác ngộ gián tiếp của trí thức là tập, hay cái thấy biết của hạng người “học nhi tri chi”, do tiệm tu, dùng tinh tiến, nhẫn nại, gom góp tư lương qua nhiều kiếp tu tập, tuy đó chưa phải là giác ngộ hoàn toàn nhưng cũng không phải là vô giá trị.

Thứ hiểu biết này đưa tới chân lý tương đối hay Tục đế của hạng người căn cơ từ bậc trung trở xuống, và phân làm ba loại:

1.- Khẳng định về sự thực hữu của mọi sự vật trong hiện tượng giới.

2.- Khẳng định về cả Hữu lẫn Vô.

3.- Không khẳng định cũng không phủ định cả Hữu lẫn Vô.

b) Chân đế - Có thứ hiểu biết trực tiếp do Đốn ngộ mà được. Đó là thứ giác ngộ hay hiểu biết của hàng vô sư tự ngộ, hay của bậc “Sinh nhi tri chi”. Nếu cái biết trên (tục đế) còn khiếm khuyết thì cái biết dưới (chân đế) hoàn toàn viên mãn của Bát Nhã trí có giá trị siêu việt đưa tới chân lý tuyệt đối. Cái biết mà không tự nó sinh ra tất cả phải nhờ con đường Tha lực của tín ngưỡng hay hành động cầu phúc để đi tới dần dần từng bước, và khi Tuệ giác đã bừng thức tỉnh thì tín ngưỡng lùi bước, nhường chỗ cho Tuệ giác viên chiếu. Tín ngưỡng và cầu phúc được ví như cái chốt điện dùng để bật cho sáng. Khi đã có ánh sáng điện rồi thì chốt điện không cần đến nữa, cũng như đã giác ngộ thành Phật thì mọi pháp phương tiện đều trở thành vô ích. Việc học Phật, lúc đầu còn phải dùng đến tín ngưỡng để đưa tới chỗ hiểu biết tầm thường chưa chính xác, lấy cái giả Trí. Tâm còn mang nặng phân biệt ta và người, tâm và cảnh, yêu và ghét, ác và thiện, có và không… trong thế giới lưỡng nguyên tương đối. Muốn đạt tới Chân trí hay Giác ngộ hoàn toàn thì Tín chưa đủ mà còn cần phải có thực nghiệm tâm linh bằng công phu Thiền quán nữa, và ở trong đó thì chủ thể đồng nhất với đối tượng. Tâm và vật, hữu và vô chỉ là một. Bản thể đồng nhất ấy vừa tiềm tàng trong hiện thực, lại vừa siêu lên trên hiện thực. Giác ngộ bằng đường lối trực giác tâm linh đưa tới nền chân lý tuyệt đối hay Chân đế, ở đó có ba bậc:

1.- Khẳng định về Vô Hữu.

2.- Phủ định cả Hữu lẫn Vô.

3.- Không không khẳng định và không không phủ định cả Hữu lẫn Vô.

Ở bậc thấp thì Hữu thuộc về Chân lý Tương đối và Vô thuộc về Chân lý tuyệt đối.

Ở bậc trung cả Hữu lần Vô đều là Chân lý Tương đối. Phi Hữu, phi Vô, diệc Hữu diệc Vô thuộc về Chân lý Tuyệt đối.

Ở bậc cao hơn thì Nhị nguyên hay Nhất nguyên cực đoan đều là Chân lý Tương đối, mà không phải là Nhị nguyên, cũng không phải là Nhất nguyên mới là Chân lý Tuyệt đối. Nhận Sinh Tử và Niết bàn đều thật có là rơi vào cực đoan Tương đối hay Tục đế. Phủ nhận cả hai quan niệm Chân đế và Tục đế. Niết bàn và Sinh Tử là ở trong Chân lý Tuyệt đối của Trung đạo. Nhưng cả hai đều Có và Không. Tục đế và Chân đế là cực đoan, cần phải xa lìa, nếu ta còn chấp vào đó, mà ngay cả quãng giữa (Trung đạo) cũng cần phải xả ly nốt, bởi vì lý Trung đạo còn ở trong thế giới của ý niệm và danh từ. Ý niệm về Trung đạo sở dĩ Có vì ý niệm về Có và Không, hai cực đoan phải tránh, như vậy thì Trung đạo, chưa phải Tuyệt đối cao. Đã là ý niệm thì chưa phải là Tuyệt đối vì Chân lý Tuyệt đối tối cao ở ngoài vòng của ý niệm, Chân lý tối cao hay Trung đạo mà không có ý niệm được thì cũng không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, văn tự được.

c ) Tương đối và Tuyệt đối.

Nếu bảo rằng thế giới hiện tượng không có thì quả là không đúng, bởi vì những giác quan của ta không cho phép ta chấp nhận một nhận thức như vậy. Theo lý Tuyệt đối thì vạn hữu đều không thật có, hay đều giả cả, nhưng theo lý Tương đối và mối tương quan giữa vật này và vật kia thì vạn hữu đều có, bởi lẽ hiện tượng giới sờ sờ ngay trước mắt ta, song nó lại chẳng trường tồn, bất biến mà chỉ là giả tướng sinh diệt từng sát na đổi thay thất thường, không có tính cá biệt bền vững. Thế giới hiện tượng biến động ảo ảnh phù du là do thế giới tính bản thể Chân Không tạo ra. Chừng nào mà ta chưa nhập được vào bản thể chung của mọi sự mọi vật thì những giả tướng ấy vẫn còn là cảnh thật tương đối trong đó có ta, có người, vật nọ vật kia hiện ra trước giác quan của mình. Thực tại (hay Chân lý) có hai thứ: ở thể tĩnh và ở thể động. Thực tại ở thể tĩnh bị đóng khung trong không gian và thời gian, không phổ cập được cho mọi loài, không thể áp dụng cho mọi trường hợp được. Thực tại ở thể động, trái lại có tính cách khách quan, đồng nhất, có thể áp dụng cho mọi loại, mọi nơi. Nếu nền đạo đức, luân lý ở Tây phương thuộc về Thực tại ở thể tĩnh, thì đạo Phật Đông phương lại thuộc về Thực tại ở thể động. Nói cách khác thì ở Tây phương, nền đạo đức luân lý còn ở trong tương đối, nhưng đối với Phật giáo ở Đông phương nó lại hướng về viễn đích tuyệt đối, tối thượng. Tuy quan niệm về Thiện, Ác đối với cả Đông lẫn Tây đều như nhau trong tương đối, nhưng ở Phật giáo thì cái Thiện không đứng nguyên một chỗ mà nó lại tiến lên mãi mãi. Cái thiện không tĩnh ở chỗ phát khởi mà lại ở đích nhắm tới, mà đích này lại không ở yên một chỗ, nó càng ngày càng xa tuỳ theo mức độ không có trong thế giới tương đối mà chỉ có trong thế giới tuyệt đối của chư Phật. Cái Thiện của loài người thuộc về bất cứ ngôn ngữ, địa phương nào, cũng chỉ là cái Thiện trong phạm vi tương đối mà thôi. Nó được mệnh danh là “tình trạng khả quan hơn trước”, trong khi cái Ác được gọi là “tình trạng tồi tệ hơn xưa” vì trong ngôn ngữ của loài người không có danh từ “Toàn thiện, Toàn ác hay Tuyệt đối Thiện, Tuyệt đối Ác”, mà chỉ được gọi là Thiện hơn hay Ác hơn mà thôi. Bởi vậy chúng ta phải tránh cái “Bất thiện hơn trước” và cố gắng thực hiện cho được cái “Thiện hơn xưa”. Không có một thế giới khách quan ở ngoài thế giới chủ quan do tâm ta tạo ra, do đó những hành động và phản ứng đều diễn ra trong cái thế giới chủ quan ấy. Những việc thiện hay ác mà ta tưởng đã thi thố đối với người khác, thực ra chính chúng đã gây nghiệp quả cho ta, cũng như khi ngậm máu phun người thì miệng mình bị dơ bẩn trước. Khi làm xong một việc ác để hòng hại ai và để thoả mãn lòng ích kỷ hay thù hận của mình, ta đã hành động thực sai lầm, bởi đã quan niệm lệch lạc về Chân Ngã và Giả Ngã. Ban thưởng cho một việc làm Thiện không ngoài hành động Thiện ấy, bởi vì sự khen thưởng đã nằm trong việc Thiện đó rồi. Người làm việc Thiện được hưởng ngay quả báo tốt lành do mình đã gieo nhân. Rốt cuộc người đó đã trở thành một người thiện. Hình phạt đối với một việc Ác gắn liền với hành động Ác ấy, vì người gây nghiệp bất thiện với kẻ phải lãnh quả xấu chỉ là một, kết quả là người đó đã trở thành một gã bất thiện và mọi hành động của kẻ ấy đều trở thành ác, nếu y không sớm thay đổi ý nghĩ, chịu hối cải và quay về nẻo thiện.

Mọi sự vật trong thế gian này đều được sinh thành do nhân duyên và tâm tạo vạn hữu, bề ngoài tuy khác nhau về hình tướng, nhưng bên trong lại cùng chung một bản thể là tâm. Căn bản của thực tại không phải là tâm vật, Thể Dụng, siêu nhiên và hiện thực đối nhau trong thể lưỡng nguyên mà là “Nhất Chân Pháp Giới”, được nhìn theo hai khía cạnh: hiện tượng và bản thể hay tương đối và tuyệt đối. Thực tại tối hậu không thể làm đối tượng hoá để được hiểu biết bằng lý trí và tình cảm cho nên phải dung nhiếp các hiện tượng bề ngoài hình như có vẻ mâu thuẫn nhau. Lấy tâm quán tâm để tới Giác ngộ là một việc làm thuần tuý kinh nghiệm bản thân, không ai làm thay ta được. Những ý niệm của chúng ta đối với các vấn đề vũ trụ nhân sinh, dựa trên căn bản nhị nguyên tương đối do biến kế sở chấp mà có, đều là mê vọng ảo huyền. Thực tại tối hậu khác xa Thực tại tương đối hay Tục đế của thế gian, nhờ Thức giác của con người mà đạt được khi Thực tại tối hậu được thấy, nghe, hay biết qua lăng kính của các giác quan của so đo phân biệt. Học đạo cốt để hiểu để thấy và để đừng chấp vào chân lý tương đối do ngôn ngữ, văn tự biểu lộ, mà phải nương theo chân lý diễn tả trong các kinh Phật, coi đó là ngọn hải đăng chỉ đường cho con thuyền lênh đênh trên mặt biển bao la đầy bảo tố và dẫn lối với Chân lý Tuyệt đối. Trong khi còn lần mò đi tìm Chân lý Tuyệt đối, ta có quyền được hoài nghi, vì nghi là lợi khí sắc bén đôi khi giúp ta chóng giác ngộ sự thật. Phật thường khuyên chúng ta đừng nên mù quáng chấp chặt về văn tự và hình tướng bề ngoài mà phải dùng trí óc và công phu quán chiều chân lý để giải mê khai ngộ. Phương pháp học Phật khác lối học cổ điển của Tây phương ở điểm không bao giờ cố chấp, vì sự cố chấp thường che lấp chân lý. Có triệt để phá chấp, mới mong phá tan vô minh diệt trừ vọng tưởng được. Ngã chấp và Pháp chấp, thường bao vây trực giác. Chân lý tuyệt đối phải tìm ở ngoài thế giới hình, danh, sắc, tướng và vượt khỏi giới hạn của không gian và thời gian. Trong A Di Đà Sớ Sao có nói: “Lý viên ngôn thông, ngôn sinh lý tán”. Khi phải dùng đến lời nói, văn tự để diễn tả, mà cho là như vậy có thể đạt tới Chân lý Tuyệt đối thì chắc chắn Chân lý đó bị móp méo, lệch lạc, không còn là Chân lý tròn đầy nữa, vì đã gọi là Chân lý Tuyệt đối thì bản thể của nó vốn thường trụ, chỉ có thể trực nhận mà không thể giải bày được. Muốn trực nhận Chân lý phải là bậc giác ngộ mà tâm trí của vị này đã khai mở để đón nhận chính kiến và chính tư duy, hầu nhìn thấy rõ chân tướng của sự vật. Mong thoát ly thế tục bằng suy tư theo kiểu thế gian thì càng làm cho ta sa lầy thêm vào vũng bùn ngã chấp, pháp chấp, vì khi suy nghĩ thì phải phân tích, mổ xẻ theo lối nhị nguyên, chia cách ta với đối tượng thành hai thế giới riêng biệt, trong khi trực nhận chân lý bằng tâm linh thì ta liền thấy mình thể nhập vào đối tượng thành một