ĐỊA TẠNG
BỒ TÁT THÁNH ĐỨC ĐẠI QUAN
(Nhận định tổng
quát về thánh đức của Bồ Tát Ðịa Tạng)
Hoằng Nhất Ðại Sư biên thuật
Chuyển ngữ: Bửu
Quang tự đệ tử Như Hòa
---o0o---
MỤC LỤC:
Lời Tựa
Tháng Chín năm Dân Quốc 21 (Nhâm Thân
–1932), tôi sống tại Trĩ Sơn; cư sĩ Lý Viên Tịnh gởi thư nhờ tôi cung cấp
tài liệu để giúp ông biên soạn tác phẩm Cửu Hoa Sơn Chí. Tôi tự nghĩ từ
khi mình thế phát xuất gia đến nay, chí tâm quy y Ðịa Tạng Bồ Tát suốt 15
năm, thọ ân Ngài rất hậu, từ lâu đã muốn gom chép những giáo tích của Ngài
để lưu truyền trong đời, tán dương thánh đức ngõ hầu báo đáp thâm ân. Nay
chính là đúng lúc vậy. Tháng Hai năm sau, vân du Nam Mân, trụ ở Vạn Thọ
Nham, bèn thu chép những sự việc, gộp thành một cuốn đặt tên là Ðịa Tạng
Bồ Tát Thánh Ðức Ðại Quan, giao cho thư cục khắc bản in riêng để lưu hành
và tặng cho cư sĩ Lý Viên Tịnh dùng làm tài liệu.
Cận đại, các sách tán dương, diễn
thuật sự tích Bồ Tát Ðịa Tạng của Tăng, tục rất nhiều; nhưng đa số chỉ dựa
vào mỗi riêng mình kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện. Nay tôi duyệt kỹ Ðại Tạng và
các trước tác của mọi nhà, những điều trước đây người khác đã nói rõ thì
tôi chỉ trình bày đại lược, chẳng hạn như ý chỉ lớn lao của bổn nguyện, sự
ứng tích của Bồ Tát nơi núi Cửu Hoa v.v… Những điều người khác chưa đề cập
đến hay còn thiếu sót thì tôi bổ túc, chẳng hạn như các bài văn khác. Chỉ
tiếc là trong suốt mấy mươi năm qua, đối với những chuyện hóa tích của Bồ
Tát được ghi chép trong Ðại Tạng và các tác phẩm của các nhà, tôi vẫn lưu
ý, nhưng chưa hề ghi chép, chọn lọc tỉ mỉ, đến nay phải biên soạn gấp,
chẳng thể kiểm chứng trọn vẹn được, đành cậy vào trí nhớ để lược chép
thành một quyển, khó lòng tránh khỏi sai sót, lầm lẫn.
Nói chung, tác phẩm này được chia
thành 10 chương:
1) Chương thứ nhất là Thích Danh,
Biện Dị (giải thích danh hiệu, bàn về những điểm sai khác): Do các kinh
khi truyền dịch danh hiệu của ngài Ðịa Tạng, văn tự nhiều ít, có sai khác
đôi chút, nay tôi nêu ra hết, chỉ ra những điểm sai biệt.
2) Chương thứ hai là thuật đại ý kinh
Thập Luân, nêu bật nghĩa kinh, chép ra tường tận. Phần kinh văn xưng tán
công đức của Ðịa Tạng Bồ Tát trong phẩm Tự chép ra rất dài, chỉ mong những
người thấy nghe đều hoan hỷ lớn, cùng sinh lòng tin sâu xa, chí tâm quy y.
3) Chương thứ ba luận về đại ý kinh
Chiêm Sát, cũng trích lục tường tận.
4) Chương thứ tư luận về đại ý kinh
Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, tôi theo đúng cuốn Duyệt Tạng Tri Tân của ngài
Ngẫu Ích, sao lục phần cương yếu và trích lục 2 tiết kinh văn phụ thuộc để
chỉ rõ nguyên nhân tại sao ngày nay chúng ta được thọ ân của Bồ Tát.
5) Chương thứ năm tán thán Pháp Thân,
đại ý của nghi quỹ và chân ngôn Diệt Ðịnh Nghiệp.
6) Chương thứ sáu luận về những bản
kinh khác đề cập đến Bồ Tát.
7) Chương thứ bảy nói về các bản chú
sớ của mọi nhà.
8) Chương thứ tám nói về các nghi
thức sám hối của mọi nhà soạn.
9) Chương thứ chín nói về các tác
phẩm tán thán, biên thuật của mọi nhà, trích dẫn nguyên văn cả 19 đoạn
trong tác phẩm Linh Phong Tán Ðịa Tạng Bồ Tát Biệt Tập, chiếm cả 10 trang
giấy, để thấy đại sư Ngẫu Ích cả một đời mổ tim vẩy máu, quy ngưỡng, tin
tưởng, tán dương Bồ Tát, ngõ hầu kẻ hậu học noi gương Bồ Tát tinh tấn tu
trì, thiệu long quang đại.
10) Chương thứ mười là vấn đáp quyết
nghi, chỉ gồm có bốn câu hỏi, lẽ ra chẳng phải chỉ có vậy, tạm đành khuyết
lược.
Lúc sao lục, vì thời gian gấp rút
chẳng thể kiểm chứng tường tận, nên hình thức trình bày cũng chẳng thể
hoàn thiện được…. (1) Trước ngày cảo bản hoàn thành 2 hôm, cư sĩ Lư Thế
Hầu cắt ngón tay lấy máu vẽ một bức thánh tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, đem dâng
lên chùa. Thắng duyên khéo gặp, thật chẳng thể nghĩ bàn nên tôi cho chụp
ảnh cẩn thận, đăng ở đầu sách này. Lư cư sĩ, tên tự là Cù Nhi, giỏi hội
họa, xa nhà theo hầu cha già đang sống ở Tư Minh. Ông thiên tánh thuần
hậu, thờ song thân nổi tiếng hiếu nghĩa. Cũng có lẽ là từ nhiều kiếp đến
nay, ông Lư thường được Bồ Tát Ðịa Tạng giáo hóa đó chăng?
Sa môn Hoằng Nhất Diễn Âm trần thuật
tại chùa Ðại Hoa Nghiêm ở Vĩnh Ninh
Ðịa Tạng Bồ Tát Thánh Ðức Ðại Quan
Vĩnh Ninh Ðại Hoa Nghiêm tự Sa môn
Hoằng Nhất Diễn Âm kính soạn
A. Chương
thứ nhất: Thích Danh Biện Dị
^
Tên Bồ Tát đọc theo tiếng Phạn là
Khất Xoa Ðể Nghiệt Sa (Ksitigarbha), Hán dịch là Ðịa Tạng. Nhưng trong các
bản kinh truyền dịch, tên Ngài cũng có chỗ được dịch dài hơn, kể ra như
dưới đây:
a) Ðịa Tạng Bồ Tát. Danh hiệu này là
tên thông dụng trong các bản dịch kinh. Ý nghĩa chữ “Ðịa Tạng” như trong
Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh Sớ của đại sư Ngẫu Ích đã giảng rộng.
b) Danh hiệu Ðại Ðịa Tạng Bồ Tát phát
xuất từ phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm bản
dịch đời Tấn.
c) Danh xưng Trì Ðịa Tạng Bồ Tát phát
xuất từ kinh Phật Thuyết La Ma Già được dịch vào đời Tây Tần. Kinh này
chính là bản dịch khác của phẩm Nhập Pháp Giới.
d) Danh hiệu Ðịa Tạng Vương Bồ Tát
phát xuất từ kinh Ðại Thừa Bổn Sanh Tâm Ðịa Quán dịch vào thời Ðường. Ngài
Lai Châu đời Thanh giải thích: “Chấp chưởng U Minh, tùy nguyện tự tại; vì
thế được tôn là Vương”. Nghĩa chữ Vương rất rộng, lời giải thích trên chưa
được trọn vẹn.
B. Chương thứ hai: Ðại ý
kinh Thập Luân
^
Cả ba chương nói về đại ý các kinh
sau đây đều dựa theo tác phẩm Duyệt Tạng Tri Tân của đại sư Ngẫu Ích đời
Minh, chỉ tăng giảm đôi chút.
Kinh này có hai bản dịch:
1) Phật Thuyết Ðại Phương Quảng Thập
Luân Kinh, 8 quyển, dịch vào thời Bắc Lương, mất tên người dịch, cùng một
bản gốc với bản dịch sau, nhưng lời văn thiếu sót, sơ lược.
2) Ðại Thừa Ðại Tập Ðịa Tạng Thập
Luân Kinh, 10 quyển, ngài Huyền Trang dịch vào đời Ðường.
Ở đây, tôi căn cứ vào bản này, lược
chép đại ý.
Người chấp bút cho bản dịch là sư Ðại
Thừa Phưởng, ngài cũng là người soạn bài tựa đặt ở đầu kinh. Sư cho rằng:
Kinh Thập Luân nhằm để giáo hóa chúng sanh thời Mạt Pháp. Kinh minh thị
điều gì? Phật thấy đời ác Mạt Pháp, cách Thánh đã xa, bại căn (căn cơ bại
hoại) giống như đồ đựng hư hỏng, kẻ không kiến cậy vào hiểu biết sanh vọng
tưởng, chìm đắm, say sưa ngũ dục khác nào ruộng cằn, mạ chẳng trổ được,
phóng túng tạo tác thập ác tựa hồ thân cấu uế hôi thối. Vì thế, kinh này
gột rửa tấm thân hôi thối, mở con mắt lòa, đúc nặn lại đồ đựng đã hư vỡ,
vun bón cho ruộng cằn được phì nhiêu. Xem mấy lời ấy đã tạm biết được
những căn cơ được giáo hóa bởi kinh này vậy.
A.1. Phẩm Tự thứ nhất:
Phật ngự tại núi Khư La Ðế Da, từ
phương Nam có đám mây trôi tới, tuôn xuống các thứ cúng dường, diễn các
tiếng Pháp; trong tay mỗi người tham dự pháp hội đều có Như Ý châu tuôn ra
các báu, phóng quang khắp cả mười phương cõi. Họ lại thấy địa đại trên
thân mình tăng thêm nhiều, nặng nề, cứng chắc, khó giở thân lên nổi. Có vị
Thiên Ðế Thích tên là Vô Cấu Sanh, dùng kệ hỏi Phật. Phật vì ông ta rộng
khen công đức của Ðịa Tạng Bồ Tát. Kinh chép:
“Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Vô Cấu
Sanh Ðế Thích rằng:
- Các ông nên biết: Có Bồ Tát Ma Ha
Tát tên là Ðịa Tạng đã từng trong vô lượng vô số đại kiếp, vào đời trược
ác, thành thục hữu tình trong thế giới không có Phật. Nay Ngài và tám mươi
trăm ngàn na-dữu-đa tần-bạt-đà-la Bồ Tát cùng muốn đến đây lễ kính, thân
cận, cúng dường ta. Vì thấy pháp hội Ðại Tập sanh tâm tùy hỷ nên Ngài cùng
các quyến thuộc hiện hình tướng Thanh Văn, sắp đến nơi đây, bèn dùng sức
thần thông hiện ra sự biến hóa ấy.
Vị Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát này có
vô số vô lượng công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn để trang nghiêm; hết
thảy thế gian, ThanhVăn, Ðộc Giác chẳng thể suy lường được nổi [các công
đức ấy]. Vị Ðại Bồ Tát này là kho tàng các công đức vi diệu, là xuất xứ
của các của báu giải thoát, là tròng mắt sáng sạch của các Bồ Tát, là
người dẫn đường cho các thương nhân đạt đến Niết Bàn. Ngài như châu Như Ý
tuôn ra các tài bảo, tùy theo lòng mong cầu đều được thỏa mãn trọn vẹn.
Ví như bến bãi để thương nhân thu
nhặt của báu, Ngài là ruộng tốt có thể sanh trưởng căn lành, là lạc khí
chứa đầy giải thoát, là hiền bình xuất sanh công đức diệu bảo. Bồ Tát
chiếu soi người hành thiện như mặt trời rạng rỡ, chiếu sáng người lạc
đường giống như đuốc sáng; trừ nóng phiền não như mặt trăng trong mát, như
kẻ không chân được xe cộ, như người đi xa chuẩn bị đầy đủ tư lương, như
người lạc lối gặp người chỉ đường, như kẻ cuồng được uống thuốc hay, như
kẻ tật bệnh gặp được lương y, như người còm cõi, già cả được nương ghế,
gậy; như kẻ mệt nhọc được nghỉ trên giường, tòa.
Ðối với kẻ vượt bốn dòng, Ngài làm
cầu cống. Với kẻ hướng đến bờ kia, Ngài làm thuyền bè. Ngài là quả báo thù
thắng của ba thiện căn, là những dòng nhánh dẫn khởi từ ba gốc thiện,
thường rộng bố thí như bánh xe luôn xoay chuyển, trì giới kiên cố như núi
Diệu Cao, tinh tấn khó hoại như báu Kim Cang, an nhẫn bất động hệt như đại
địa, tịnh lự thâm mật hệt như bí tạng, đạt đến bình đẳng, trang nghiêm,
đẹp đẽ như tràng hoa đẹp, trí huệ rộng sâu hệt như biển cả, chẳng bị nhiễm
trước như thái hư không, diệu quả cận nhân như các cánh hoa, chế phục các
ngoại đạo như sư tử chúa, hàng phục các thiên ma như đại long tượng, chém
giặc phiền não hệt như thần kiếm, chán các huyên tạp như Ðộc Giác thừa,
rửa nhơ phiền não như nước trong sạch, trừ khử hôi thối như gió thổi mạnh,
đoạn các kết phược như đao kiếm sắc, bảo hộ các kẻ sợ hãi như thân thuộc,
như bạn bè, phòng các oán địch như lũy, như thành.
Cứu các nguy nạn hệt như cha mẹ, giấu
kín các kẻ khiếp hèn hệt như rừng rậm, như mùa Hè đi xa náu mình dưới bóng
cây to. Ðối với kẻ nóng khát, ngài làm nước trong lạnh; với kẻ đói làm các
quả ngọt. Với kẻ lõa lồ, ngài làm các y phục. Với kẻ bị nóng bức, thiếu
thốn ngài làm đám mây dầy lớn. Vì kẻ bần cùng làm báu Như Ý. Vì kẻ hoảng
sợ làm chỗ quy y. Vì kẻ trồng cấy làm mưa ngọt nhuần thấm. Vì các nước dơ
làm Nguyệt Ái châu (2). Ngài khiến cho các hữu tình thiện căn chẳng hoại;
hiện cảnh giới mầu nhiệm khiến cho hữu tình vui sướng; khuyến phát hữu
tình càng thêm tàm quý. Với kẻ cầu phước huệ, Ngài làm cho họ được trang
nghiêm đầy đủ; trừ được phiền não như thuốc xổ, thâu nhiếp loạn tâm như
cảnh Ðẳng Trì, biện tài không úng trệ như nước xoay bánh xe guồng, nhiếp
sự buộc tâm như Diệu Sắc Quán, an nhẫn, trụ vững như núi Diệu Cao; tổng
trì rộng sâu hệt như biển cả, thần túc vô ngại ví như hư không; diệt trừ
hết thảy Hoặc Chướng tập khí hệt như vầng mặt trời chói lọi soi tan băng
mỏng, thường dạo chơi trong đường chánh Tịnh Lự Vô Sắc [và] bến bãi quý
báu Trí Nhất Thiết Trí, có thể vô công dụng chuyển đại pháp luân.
Này thiện nam tử! Ðịa Tạng Bồ Tát Ma
Ha Tát đây có vô số vô lượng công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn như thế
đó. Ngài cùng các quyến thuộc muốn đến nơi đây nên trước hết, hiện ra
tướng thần thông như vậy!”
Bồ Tát và các quyến thuộc hiện hình
tướng Thanh Văn, làm lễ dưới chân Phật, tán lễ, cúng dường. Phật lại vì
Hảo Nghi Vấn Bồ Tát rộng thuật vô lượng công đức của Ðịa Tạng Bồ Tát. Kinh
chép:
“Phật ngôn:
- Hãy nghe cho kỹ! Khéo nghĩ nhớ lấy!
Ta sẽ vì ông lược nói ít phần. Vị Ðại Sĩ như thế thành tựu vô lượng công
đức chẳng thể nghĩ bàn. Ngài đã có thể an trụ trong Thủ Lăng Già Ma
tam-ma-địa; khéo có thể ngộ nhập cảnh giới Như Lai, đã đắc Vô Sanh Pháp
Nhẫn tối thắng, đã được tự tại trong Phật Pháp, đã có thể kham nhẫn hết
thảy địa vị trí huệ, đã có thể vượt qua biển Nhất Thiết Trí, đã có thể an
trụ Sư Tử Phấn Tấn Tràng tam-ma-địa, đã có thể khéo trèo lên núi Nhất
Thiết Trí, đã có thể đập tan ngoại đạo tà luận. Ngài muốn thành thục hết
thảy hữu tình nên đều dừng ở trong hết thảy cõi Phật. Bậc Ðại Sĩ như thế
này hễ dừng ở nơi cõi Phật nào, hễ an trụ trong các tam- ma-địa nào thì
đều phát khởi công đức thù thắng, thành thục vô lượng các hữu tình được
Ngài hóa độ”.
Tiếp đó, kinh văn trần thuật chi tiết
Bồ Tát nhập vào các thứ Ðịnh. Do sức của các Ðịnh ấy, các hữu tình [trong
pháp hội] kia được lợi ích, an lạc. Ở đây chỉ trình bày đại khái như sau:
|
Khiến cho hết thảy
hữu tình trong cõi Phật ấy: |
Ðều được cùng thấy
các cảnh giới Tam Ma Ðịa mà ngài đã thực hành |
|
Vô lượng vật cúng
thượng diệu đáng nên dùng thứ nào thì đều có thể dùng thứ đó để cung
kính cúng dường chư Phật Thế Tôn. |
|
Thảy đều cùng thấy
vô lượng tội lỗi của các cảnh giới cõi Dục nên tâm được thanh tịnh.
|
|
Ðều được đầy đủ
lòng tàm quý tăng thượng, lìa các pháp ác, tâm chẳng quên mất.
|
|
Ðều được thiện xảo
thiên nhãn, trí thông v.v… liễu đạt nhân quả đời này, đời sau.
|
|
Ðều lìa khỏi hết
thảy ưu sầu, hôn muội. |
|
Ðều được đầy đủ
thần thông thiện xảo. |
|
Thấy khắp các cõi
Phật trong mười phương |
|
Xả tà quy chánh,
quy y Tam Bảo. |
|
Thảy đều xa lìa
các sự sợ hãi trong đời sau, đắc pháp an ủi. |
|
Hễ nghĩ đến đều
được thức ăn sung túc. |
|
Không một ai là
chẳng được thế lực tăng thượng, lìa các bệnh khổ. |
|
Tùy theo ý thích
đều được giường, tòa, đồ trải, y phục, đồ trang sức quý báu, các thứ
vật cần dùng không thiếu hụt, thù thắng đẹp đẽ, đoan nghiêm.
|
|
Thật đáng ưa
thích, thân tâm mạnh mẽ, xa lìa hết thảy oán ghét trói buộc, hòa thuận
vui sướng, vui vẻ trọn đủ. |
|
Thí, Giới, an
nhẫn, dũng mãnh, tinh tấn, tâm không tán loạn, thành tựu trí huệ.
|
|
Ðều hưởng vô lượng
hoan hỷ thắng diệu. |
|
Ðắc Vô Ngại Trí,
có thể tu các sự nghiệp thanh tịnh. |
|
Ðều được đầy đủ
các căn chẳng thiếu, thường thích viễn ly, thâm tâm tịch tĩnh.
|
|
Ðều chê trách sâu
xa nghiệp họa của tự thân, đều khéo hộ trì đường trọng yếu để sanh lên
Trời là Thập Thiện Nghiệp Ðạo. |
|
Thảy đều phát khởi
từ tâm, bi tâm, tâm không oán hại, tâm phổ bình đẳng, tâm làm lợi ích
an lạc lẫn nhau. |
|
Lìa các sự đấu đá,
tật dịch, đói kém, mưa gió trái thời, đắng, rít, cay, chua. Các ác sắc
xúc thảy đều tiêu diệt. |
|
Khiến cho cõi Phật
ấy |
Tất cả hết thảy
Tiểu Luân Vi Sơn, Ðại Luân Vi Sơn, Tô Mê Lô Sơn và các núi khác, khe,
suối, ngòi, lạch, ngói, gạch, gai độc, các cây cỏ bẩn thỉu thảy đều
chẳng hiện. |
|
Tất cả hết thảy
các tà, cổ độc, các trùng, thú ác, tai hoạnh, dịch lệ, tối tăm, bụi
bặm, các thứ bất tịnh, hôi thối thảy đều tiêu diệt.
|
|
Ðất phẳng như lòng
bàn tay, các thứ tốt lành tự nhiên đột ngột hiện ra, thanh tịnh thù
thắng, các tướng trang nghiêm. |
|
Hết thảy Ma Vương
và các quyến thuộc thảy đều hoảng hốt, quy y Tam Bảo. |
|
Hết thảy cõi đất
do các báu hợp thành, hoàn toàn không có các khuyết điểm.
|
|
Các thứ cây báu,
cây y phục, cây sanh ra đồ vật báu, cây sanh ra anh lạc, cây hoa, cây
quả, cây sanh ra các thứ âm nhạc, vô lượng nhạc cụ đều trang nghiêm
trọn khắp cõi nước. |
Tiếp đó, kinh lại giảng rộng: Nếu có
ai chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma
Ha Tát thì sẽ đạt được các thứ lợi ích, an lạc. Kinh chép:
“Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
mong cầu các thứ, bị ưu khổ bức ngặt nghèo, mà có thể chí tâm xưng danh,
niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều
được thỏa những điều mình cầu mong đúng như pháp, lìa khỏi các ưu khổ. Tùy
theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay
Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
đói khát bức bách mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng
dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được thỏa điều mong cầu
đúng như pháp, thức ăn sung túc. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ
đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
thiếu thốn các thứ y phục, vật trang sức báu, thuốc men, giường chiếu, và
các vật cần dùng, có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng
dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được thỏa điều mình mong
cầu đúng như pháp: y phục, vật trang sức báu, thuốc men, giường chiếu, và
các vật cần dùng chẳng thiếu thứ gì. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát
sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
đang yêu thương mà bị biệt ly, dù oán ghét vẫn phải chung đụng, mà có thể
chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha
Tát thì hết thảy đều được yêu thương hội hợp, oán ghét biệt ly. Tùy theo
[căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết
Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
thân tâm ưu khổ, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng
dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được thân tâm yên ổn,
khỏi hẳn các bệnh. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên
đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
chống trái lẫn nhau, khởi lên các mối tranh đấu, mà có thể chí tâm xưng
danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết
thảy đều bỏ được tâm độc hại, hòa mục với nhau, hoan hỷ chịu đựng, sanh
lòng thẹn hổ đối với nhau, đối với nhau bằng tâm từ. Tùy theo [căn cơ]
thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
giam trong lao ngục, gông, cùm, xiềng, xích trói buộc nơi thân, chịu đủ
các nỗi khổ, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường
Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được giải thoát, lao ngục, gông
cùm, xiềng xích; tự tại yên vui. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ
đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
đang bị, hoặc lẽ ra phải bị giam cầm, đánh đập tra khảo, sắp sửa bị hại,
mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ
Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều tránh khỏi được sự giam cầm, đánh đập, gia
hại. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh
Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
thân tâm nhọc mỏi, khí lực yếu kém, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm
tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được
thân tâm vui sướng, khí lực cường thịnh. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ
Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
các căn chẳng đủ, bất cứ căn nào bị tổn hoại, mà có thể chí tâm xưng danh,
niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều
được các căn đầy đủ, chẳng bị tổn hoại. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ
Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
điên cuồng tâm loạn, bị quỷ mị dựa, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm
tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được
tâm chẳng cuồng loạn, lìa các ưu não. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát
sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
tham dục, nóng giận, ngu si, phẫn hận, keo kiệt, ganh tỵ, kiêu căng, ngạo
mạn, ác kiến, ham ngủ, phóng dật, si mê v.v… thảy đều lừng lẫy, não loạn
thân tâm, thường chẳng yên vui, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng,
quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều lìa được
tham, sân v.v… thân tâm yên vui. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ
đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
lửa đốt, bị nước vùi, bị gió cuốn, hoặc bị rơi rụng, té xuống từ chỗ núi
non, vách núi, bờ vực, cây cối, nhà cửa, trong lòng kinh hoàng, mà có thể
chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha
Tát thì hết thảy đều lìa được nguy nạn, an ổn, không tổn hại. Tùy theo
[căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết
Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
rắn độc, trùng độc cắn phải, hoặc trúng nhằm các thứ độc dược, mà có thể
chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha
Tát thì hết thảy đều lìa được các sự não hại. Tùy theo [căn cơ] thích ứng,
Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
ác quỷ nắm giữ, thành ra các bệnh ngược nên cứ phát bệnh mỗi ngày, hoặc
phát bệnh cách ngày, hoặc cách ba, bốn ngày mới phát bệnh một lần; hoặc
quỷ khiến cho người ấy cuồng loạn, thân tâm run rẩy, mê man, mất cả ý niệm
trọn chẳng biết gì, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng
dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều giải thoát không sợ hãi,
thân tâm yên vui. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên
đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
các Dược Xoa, La Sát, ngạ quỷ, quỷ Tất Xá Giá, quỷ Bố Ðát Na, quỷ Cưu Bàn
Trà, quỷ Yết Tra Bố Ðát Na, quỷ hút tinh khí, và các loài hổ, sói, sư tử,
ác thú, cổ độc, các thứ chú thuật ếm đối, oán tặc, quân trận, và các thứ
kinh sợ khác gây phiền nhiễu, thân tâm hoảng hốt, sợ mất thân mạng, tham
sống sợ chết, ghét khổ cầu vui, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng,
quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều lìa được
các sự sợ hãi, bảo toàn thân mạng. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ
đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
hoặc vì đa văn, hoặc vì tịnh tín, hoặc vì tịnh giới, hoặc vì tịnh lự, hoặc
vì thần thông, hoặc vì Bát Nhã, hoặc vì giải thoát, hoặc vì sắc đẹp, hoặc
vì giọng hay, hoặc vì hương thơm, hoặc vì vị ngon, hoặc vì cảm xúc êm ái,
hoặc vì lợi dưỡng, hoặc vì tiếng tăm, hoặc vì công đức, hoặc vì khéo léo,
hoặc vì hoa quả, hoặc vì rừng cây, hoặc vì giường tòa, hoặc vì đồ trải,
hoặc vì đường sá, hoặc vì tiền của, gạo thóc, hoặc vì thuốc men, hoặc vì
nhà cửa, hoặc vì tôi tớ, hoặc vì màu sắc, hoặc vì mưa lành, hoặc vì cầu
nước, hoặc vì mùa màng, hoặc vì quạt, phất trần, hoặc vì gió mát, hoặc vì
cầu lửa, hoặc vì xe cộ, hoặc vì con cái, hoặc vì phương tiện, hoặc vì tu
phước, hoặc vì ấm áp, hoặc vì mát mẻ, hoặc vì nghĩ nhớ, hoặc vì các sự lợi
lạc xuất thế gian hay thế gian; trong lúc truy cầu [những điều ấy] bị các
nỗi ưu khổ bức bách ngặt nghèo, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng,
quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì do công đức, sức oai
thần diệu định của vị thiện nam tử đây (tức Ðịa Tạng Bồ Tát) sẽ khiến cho
hết thảy đều lìa được ưu khổ, ý nguyện được thỏa mãn trọn vẹn. Tùy theo
[căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết
Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
dùng các hạt giống gieo cấy trong ruộng hoang hoặc ruộng thục (3), dù là
siêng năng chăm sóc hay chẳng siêng năng mà có thể chí tâm xưng danh, niệm
tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì do công đức, sức
oai thần diệu định của vị thiện nam tử ấy (tức Ðịa Tạng Bồ Tát) khiến cho
hết thảy quả, hạt sum suê. Vì cớ sao vậy? Vị thiện nam tử này từng ở trong
vô lượng vô số đại kiếp quá khứ, đối trước không thể biết nổi số lượng chư
Phật Thế Tôn, phát ra đại thệ nguyện tinh tấn, kiên cố. Do nguyện lực đó,
vì muốn thành thục các hữu tình nên Ngài thường gìn giữ khắp hết thảy đại
địa, thường gìn giữ khắp hết thảy hạt giống, thường khiến cho khắp hết
thảy hữu tình thọ dụng tùy ý. Do sức oai thần của vị thiện nam tử này
khiến cho rễ, tua, mầm, củ, cành, lá, hoa, quả của hết thảy thảo mộc trong
đại địa thảy đều sinh trưởng, cỏ thuốc, ngũ cốc, lúa mạ, hoa quả sum suê,
chín vàng, tươi tốt, thơm tho, mềm mịn, ngon lành.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình vì
tham, sân, si v.v… mãnh liệt mà gây tạo sát sanh, hoặc không cho cứ lấy,
hoặc muốn làm hạnh tà, hoặc nói lời dối trá, hoặc nói thô ác, hoặc nói ly
gián, hoặc nói lời tạp uế, hoặc tham, hoặc sân, hoặc lại còn tà kiến, tạo
nghiệp Thập Ác, nhưng nếu có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính,
cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy phiền não thảy đều tiêu
diệt, xa lìa Thập Ác, thành tựu Thập Thiện, khởi tâm từ bi và tâm lợi ích
đối với các chúng sanh.
Vị thiện nam tử này thành tựu sức công đức oai thần diệu định, dũng mãnh,
tinh tấn như thế. Trong khoảng một bữa ăn, Ngài có thể ở trong vô lượng vô
số cõi Phật, trong mỗi một cõi Phật, trong khoảng bữa ăn có thể độ thoát
vô lượng, vô số các hữu tình được Ngài giáo hóa nhiều như số cát sông Căng
Già, khiến họ lìa các khổ, đều được an vui. Tùy theo căn cơ thích ứng, Bồ
Tát sẽ đặt yên họ trong đường sinh Thiên hay Niết Bàn”.
Phật còn giảng rộng về các thân của
Ðịa Tạng Bồ Tát trong mười phương cõi, vì các hữu tình thuyết pháp thích
ứng. Kinh chép:
“Hoặc có lúc Ngài hiện làm thân Ðại
Phạm Vương vì các hữu tình thuyết pháp thích ứng; hoặc lại hiện làm thân
Ðại Tự Tại Thiên, hoặc hiện thân Tha Hóa Tự Tại Thiên cõi Dục, hoặc hiện
thân Nhạo Biến Hóa Thiên, hoặc hiện thân Ðổ Sử Ða Thiên, hoặc hiện thân Dạ
Ma Thiên, hoặc hiện thân Ðế Thích Thiên, hoặc hiện thân Tứ Ðại Vương
Thiên, hoặc hiện thân Phật, hoặc hiện thân Bồ Tát, hoặc hiện thân Ðộc
Giác, hoặc hiện thân Thanh Văn, hoặc hiện Chuyển Luân Vương, hoặc hiện
thân Sát Ðế Lợi, hoặc hiện thân Bà La Môn, hoặc hiện thân Phiệt Xá, hoặc
hiện thân Thú Ðạt La, hoặc hiện thân trượng phu, hoặc hiện thân phụ nữ,
hoặc hiện thân bé trai, hoặc hiện thân bé gái, hoặc hiện thân Kiện Ðạt
Phược, hoặc hiện thân A Tố Lạc, hoặc hiện thân Khẩn Nại Lạc, hoặc hiện
thân Mạc Hô Lạc Già, hoặc hiện thân rồng, hoặc hiện thân Dược Xoa, hoặc
hiện thân La Sát, hoặc hiện thân Cưu Bạn Trà, hoặc hiện thân Tất Xá Giá,
hoặc hiện thân ngạ quỷ, hoặc hiện thân Bố Ðát Na, hoặc hiện thân Yết Tra
Bố Ðát Na, hoặc hiện thân quỷ Áo Xa Ha Lạc, hoặc hiện thân sư tử, hoặc
hiện thân hương tượng, hoặc hiện thân ngựa, hoặc hiện thân trâu, hoặc hiện
thân các loài cầm thú, hoặc hiện thân vua Diêm La, hoặc hiện thân ngục tốt
cõi Ðịa Ngục, hoặc hiện làm thân các hữu tình trong Ðịa Ngục. Hiện vô số
vô lượng các thân khác loại như thế đó, vì các hữu tình thuyết pháp thích
ứng. Tùy theo căn cơ thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trong đường sanh
Thiên, Niết Bàn”.
Phật lại so sánh: Chí tâm quy y, xưng
danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát cầu các sở
nguyện là thù thắng nhất. Kinh chép:
“Giả sử có người trong trăm kiếp chí
tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường các vị như Di Lặc,
Diệu Cát Tường, Quán Tự Tại, Phổ Hiền… là thượng thủ của các đại Bồ Tát Ma
Ha Tát nhiều như cát sông Căng Già để cầu các sở nguyện thì chẳng bằng
người trong khoảng một bữa ăn chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái,
cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát để cầu các sở nguyện, mau chóng được mãn nguyện
trọn vẹn. Vì sao như thế? Ðịa Tạng Bồ Tát lợi ích, an lạc hết thảy hữu
tình, khiến cho sở nguyện của các hữu tình được viên mãn. Ngài giống như
châu Như Ý, cũng lại như kho tàng. Bậc Ðại Sĩ như thế vì muốn thành thục
các hữu tình nên từ lâu đã tu đại nguyện đại bi kiên cố, dũng mãnh, tinh
tấn hơn các vị Bồ Tát khác. Vì thế các ông phải nên cúng dường”.
Khi Phật giảng rộng công đức chẳng
thể nghĩ bàn của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đã xong, chúng hội đều hưng
khởi cúng dường. Kinh chép:
“Lúc bấy giờ, đại chúng đến từ mười
phương: hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát và các Thanh Văn, trời, người, Dược Xoa,
Kiện Ðạt Phược v.v… đều từ chỗ ngồi đứng dậy, tùy theo khả năng của mình,
ai nấy cầm các mảnh vàng, bạc… các hương, hoa báu dâng rải lên Ðịa Tạng Bồ
Tát Ma Ha Tát, lại cầm các thứ y phục thượng diệu, bảo châu Mạt Ni, chân
châu, tràng hoa, chuỗi ngọc, dây báu vàng bạc, tràng phan, lọng v.v… dâng
lên Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát; lại dùng vô lượng âm nhạc thượng diệu, các
thứ tán tụng để cung kính cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát”.
Chúng hội đã hưng khởi cúng dường
xong, Ðịa Tạng Bồ Tát bèn chuyển cúng các vật ấy lên đức Thế Tôn, đồng
thời nói thần chú để lợi ích hết thảy.
Trên đây là đại ý của phần Tự Phẩm
thứ nhất. Kinh văn trong phẩm này đa phần tán dương công đức Ðịa Tạng
BồTát nên trích lục ra khá dài dòng, trong các phẩm tiếp sau đây, đa số
chỉ lược dẫn.
A.2. Phẩm Thập Luân thứ hai:
Ðịa Tạng Bồ Tát hỏi Phật: “Làm thế
nào để chuyển được Phật luân trong đời ngũ trược?” Phật đáp: “Do sức bổn
nguyện, thành tựu mười thứ Phật luân nên có thể ngự trong cõi này. Ðó
chính là Thập Ðịa Lực”. Với mỗi một lực, Phật đều ví như Chuyển Luân Thánh
Vương.
A.3. Phẩm Vô Y Hạnh thứ ba:
Lúc bấy giờ trong hội có Ðại Phạm
Thiên tên là Thiên Tạng hỏi Phật các việc: Thiền Ðịnh, đọc tụng, tạo phước
v.v… Phật kể ra mười hai hạnh Vô Y (hạnh không nên làm theo). Nếu như tu
Ðịnh mà vướng phải một hạnh đó thì trọn chẳng thể thành tựu được các tam
ma địa. Ðức Thế Tôn lại còn khen ngợi người tu Ðịnh sẽ được Thích, Phạm,
Hộ Thế Tứ Vương Thiên, Chuyển Luân Vương v.v… tán thán, lễ bái, cung kính,
hầu hạ, dâng cúng trăm ngàn na-dữu-đa vật cúng và nói kệ tụng. Kinh chép:
“Tu Ðịnh dứt được Hoặc, các nghiệp
khác chẳng làm được vậy. Vì thế, tu Ðịnh là cao quý, kẻ trí nên cúng
dường”.
Tiếp đó, Phật dạy người xuất gia dù
phá giới vẫn có thể phát sinh mười thứ tư duy thù thắng; quốc vương, đại
thần chẳng nên làm nhục họ một cách phi lý. Tiếp đó, kinh giảng về tội Ngũ
Vô Gián, bốn tội căn bản, tội báng chánh pháp và tội nghi Tam Bảo, [những
tội này] gọi là đại tội ác nghiệp cực trọng, là pháp chẳng nên thực hành.
Kẻ nào phạm phải đều chẳng phải là đệ tử Phật. Phải nên hộ trì bốn giới
Căn Bản.
Tiếp đó, nhân lời hỏi của tôn giả Ưu
Ba Ly: “Ðời mạt có ác hạnh Bật Sô (tỳ kheo) thì nên dùng phương tiện gì để
quở trách, cử tội, trục xuất và trị phạt?”, Phật giải đáp tường tận. Kế
đấy, ngài Ðịa Tạng Bồ Tát nguyện cứu đời mạt, nên nói trong đời mạt có
mười sự ác (thập ác luân), tức là: Quốc vương, tể quan v.v.. do vì bảo vệ
Bật Sô ác nên não hại những vị tu hành thanh tịnh, hạng vua quan như vậy
gọi là Chiên Ðà La; cho đến đối với kẻ phá giới, không có giới hạnh đều
chẳng nên làm hại, hạ nhục họ. Bồ Tát kể lại những chuyện cổ như La Sát,
voi say đều kính trọng áo ca sa để làm chứng. Nếu xa lìa được 10 điều ác
ấy thì sẽ được 10 pháp tăng trưởng, xa lìa hai mươi lỗi.
Phạm Thiên Thiên Tạng lại nói bài
thần chú Hộ Quốc Bất Thối Luân Tâm.
A.4. Phẩm Hữu Y Hạnh thứ tư:
Kim Cang Tạng Bồ Tát hỏi: “Phật đã
bảo kẻ phá giới chẳng phải là đệ tử Phật, nhưng sao chẳng cho phép hủy
nhục họ? Hơn nữa, trong các kinh khác kinh nào cũng chỉ riêng khen ngợi
Ðại Thừa, cớ sao trong kinh này lại nói: Ðối với pháp Tam Thừa đều chẳng
cho ẩn giấu?” Phật đáp: Có 10 loại hữu tình khó được thân người, lại có
mười pháp vô y hạnh sai khác, có bốn thứ Tăng và bốn thứ Sa Môn. Vì thế kẻ
phá giới tuy chẳng phải là đệ tử Phật, chẳng đáng hưởng cúng dường, nhưng
vẫn có hình dáng thánh hiền nên chẳng được làm hại, hủy nhục họ. Tam Thừa
đều là phương tiện độ sanh của Như Lai nên dù có tu Ðại Thừa cũng chẳng
được phế bỏ hai thừa kia.
Tiếp đó, Phật lại dạy mười Hữu Y hạnh
mà ba thừa cùng có, lại có mười Hữu Y Hạnh mà Ðộc Giác và Ðại Thừa cùng
chia sẻ. Rồi Phật dạy Ðại Thừa Vô Trần Cấu Hạnh Luân, Vô Thủ Hạnh Luân.
Tùy theo căn cơ chúng sanh nói pháp Tam Thừa, giới, tịnh, từ bi an lạc hết
thảy thì mới gọi là Ðại Thừa.
A.5. Phẩm Sám Hối thứ năm:
Chúng hội nghe pháp ai nấy đều sám
hối tội trước. Phật vì họ giảng mười pháp khiến cho Bồ Tát đạt được con
đường chánh Vô Tội Pháp Nhẫn. Tiếp đó, Phật dạy: đã đắc pháp nhẫn rồi,
Phật mới chấp thuận cho họ được ở ngôi vua. Hoặc phải hành Thập Thiện,
hoặc tin Tam Bảo mới đáng giữ ngôi vua. Nếu không, chắc chắn sẽ bị đọa
lạc.
A.6. Phẩm Thiện Nghiệp Ðạo, thứ sáu:
Kim Cang Tạng Bồ Tát lại hỏi: Làm thế
nào để người trong Tam Thừa đắc pháp không lầm lỗi, cho đến tâm hạnh
nguyện Bồ Ðề không chán đủ? Phật đáp: Mười thiện nghiệp đạo chính là thập
luân của Bồ Tát. Phật giảng rộng về nhân quả lợi ích; tiếp đó, Ngài bài
xích điều sai, khuyên tu [điều đúng]. Kinh chép:
“Vì thế, thiện nam tử! Nếu chẳng chân
thật mong cầu mười thiện nghiệp đạo như thế để chứng Phật Quả, và tệ nhất
là chẳng chân thật thủ hộ một thiện nghiệp đạo nào, cho đến lúc mạng
chung, tự xưng rằng: Ta là người hành Ðại Thừa chân thật, ta cầu Vô Thượng
Chánh Ðẳng Bồ Ðề, thì hãy biết rằng gã Bổ Ðặc Già La (hữu tình) ấy hư dối
đến cùng cực, là đại vọng ngữ, đối trước chư Phật Thế Tôn trong mười
phương cõi mà dối gạt thế gian, không thẹn, không hổ, nói Không Ðoạn Kiến,
lường gạt, dối trá, ngu si, [khi] thân hoại mạng chung sẽ đọa trong các
đường ác!
Này thiện nam tử! Nếu chỉ nói bàn và
chỉ thấy nghe, chẳng do tu hành Thập Thiện nghiệp đạo mà có thể đắc Bồ Ðề,
bát Niết Bàn; trong một kiếp, hoặc trong một niệm mà có thể khiến cho các
chúng sinh nhiều như toán, số, vi trần trong hết thảy cõi Phật nơi mười
phương đều đạt Chánh Giác, nhập Niết Bàn thì trọn chẳng có lẽ ấy. Vì cớ
sao thế? Thập Thiện nghiệp đạo là cội gốc của Ðại Thừa, là nhân của Bồ Ðề,
là thang bậc kiên cố để chứng Niết Bàn.
Này thiện nam tử! Nếu chỉ do sức phát
tâm thệ nguyện, chẳng do tu hành Thập Thiện nghiệp đạo mà có thể đắc Bồ
Ðề, bát Niết Bàn; trong một kiếp, hoặc trong một niệm mà có thể khiến cho
các chúng sinh nhiều như toán, số, vi trần trong hết thảy cõi Phật nơi
mười phương đều đạt Chánh Giác, nhập Niết Bàn thì trọn chẳng có lẽ ấy. Vì
cớ sao thế? Thập Thiện nghiệp đạo là căn bản của quả báo công đức xuất thế
thù thắng.
Này thiện nam tử! Nếu chẳng tu hành
Thập Thiện nghiệp đạo, dù có trải qua các kiếp nhiều như số vi trần trong
mười phương hết thảy cõi Phật, tự xưng là Ðại Thừa, hoặc nói, hoặc nghe,
hoặc chỉ phát tâm, hoặc phát thệ nguyện, vẫn trọn chẳng thể chứng được Bồ
Ðề Niết Bàn, cũng chẳng làm cho người khác thoát khổ sanh tử được nổi.
Này thiện nam tử! Phải do tu hành
Thập Thiện nghiệp đạo thì thế gian mới có các dòng đại phú quý như sát đế
lợi, bà la môn v.v… Từ Tứ Thiên Vương thiên cho đến Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ thiên hoặc Thanh Văn thừa, hoặc Ðộc Giác thừa, cho đến Vô Thượng
Chánh Ðẳng Bồ Ðề đều do tu hành Thập Thiện nghiệp đạo phẩm loại sai khác.
Vì vậy, thiện nam tử! Nếu muốn mau
được mãn nguyện Vô Thượng Chánh Ðẳng Bồ Ðề thì nên tu Thập Thiện nghiệp
đạo như vậy để tự trang nghiêm, chứ chẳng phải là trụ trong Thập Ác, chẳng
hợp luật nghi mà có thể viên mãn đại nguyện Vô Thượng Chánh Ðẳng Bồ Ðề như
thế được. Nếu cầu mau được ngộ cảnh giới Ðại Thừa, mau chứng Vô Thượng
Chánh Ðẳng Bồ Ðề, mau mãn hết thảy pháp nguyện thì trước hết phải hộ trì
Thập Thiện nghiệp đạo. Vì cớ sao thế? Thập Thiện nghiệp đạo là căn bản để
an lập hết thảy công đức thiện pháp, là nhân của quả báo thế gian, xuất
thế gian thù thắng. Vì thế phải tu Thập Thiện nghiệp đạo.
A.7. Phẩm Phước Ðiền Tướng thứ bảy:
Kinh lại dạy về mười Tài Thí Ðại Giáp
Trụ Luân của Bồ Tát, mười Pháp Thí Ðại Giáp Trụ Luân, Tịnh Giới Ðại Giáp
Trụ Luân, An Nhẫn Ðại Giáp Trụ Luân, Tinh Tấn Ðại Giáp Trụ Luân, Tịnh Lự
Ðại Giáp Trụ Luân, Bát Nhã và Thiện Xảo Phương Tiện Ðại Giáp Trụ Luân, Ðại
Từ Ðại Giáp Trụ Luân, Ðại Bi Ðại Giáp Trụ Luân, Kiên Cố Ðại Nhẫn Ðại Giáp
Trụ Luân. Có thế mới làm đại phước điền cho hết thảy Thanh Văn, Ðộc Giác.
A.8. Phẩm Hoạch Ích, Chúc Lụy (Ðạt
lợi ích, dặn dò) thứ tám
Ðại chúng ai nấy được lợi ích vô
lượng, Phật đem pháp này phó chúc cho Hư Không Tạng Bồ Tát. Kinh chép:
“Này thiện nam tử! Ta nay đem pháp
môn Ðịa Tạng Thập Luân Ðại Ký giao vào tay ông, ông nên thọ trì, khiến cho
được lưu truyền rộng rãi. Nếu các chúng sanh đối với pháp môn này mà có
thể đọc tụng, tư duy nghĩa lý, giải nói cho người khác trụ chánh hạnh thì
ông hãy nên vì người đó thủ hộ mười pháp khiến cho được lợi ích, an lạc
trong đêm dài. Những gì là mười?
Một là vì kẻ ấy thủ hộ khiến hết thảy
tiền của, địa vị chẳng bị thiếu hụt.
Hai là vì kẻ ấy thủ hộ khiến cho hết
thảy oán địch chẳng xâm hại được.
Ba là vì kẻ ấy thủ hộ khiến bỏ được
hết thảy tà kiến, tà quy, thập ác nghiệp đạo.
Bốn là vì kẻ ấy thủ hộ khiến chẳng bị
lãnh hết thảy hình phạt trên thân hay bị trách phạt bằng lời nói.
Năm là vì kẻ ấy thủ hộ, ngăn che,
đoạn trừ hết thảy báng hủy, coi thường, đùa bỡn.
Sáu là vì kẻ ấy thủ hộ khiến cho đối
với hết thảy quỹ phạm, thi-la (giới) đều chẳng vi phạm.
Bảy là vì kẻ ấy thủ hộ khiến trừ diệt
hết thảy phi nhân, tứ đại trái nghịch nhau, già, bệnh không đúng thời.
Tám là vì kẻ ấy thủ hộ khiến chẳng
gặp phải hết thảy tai nạn phi thời, phi lý, chết yểu.
Chín là vì kẻ ấy thủ hộ khiến lúc sắp
chết, được thấy hết thảy hình sắc của chư Phật.
Mười là vì kẻ ấy thủ hộ khiến cho sau
khi chết, được sanh trong đường lành, lợi ích yên vui.
Này thiện nam tử! Nếu các hữu tình
đối với pháp môn này mà có thể đọc tụng, tư duy ý nghĩa, vì người khác
giải nói, trụ trong chánh hạnh thì ông hãy nên vì người ấy càng thêm siêng
năng thủ hộ mười pháp như thế khiến kẻ ấy được lợi ích, an lạc trong đêm
dài”.
Phụ chú:
Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Ðà Ra Ni, 1
quyển, do ngài Huệ Lâm dịch đời Ðường được nhắc đến trong quyển 18 của tác
phẩm Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa chính là bản dịch của phần kinh văn nói về
đà ra ni trong phẩm Tự của kinh ÐịaTạng Thập Luân.
Pháp Sư Huệ Lâm nói: “Ðịa Tạng Bồ Tát
Ðà Ra Ni trong kinh vốn là cổ dịch, âm vận không sát [với âm gốc], dùng
chữ mâu thuẫn. Nay tôi có bản thọ trì bằng tiếng Phạn, nhân đó, bèn sửa
đổi âm nghĩa, y theo kinh văn dịch lại. Những vị biết tiếng Phạn xin hãy
so sánh hai bản sau sẽ biết chi tiết”.
Nhận định:
Trước sau, Ðà Ra Ni này có ba bản
dịch, một bản được chép trong phẩm Tự kinh Ðại Phương Quảng Thập Luân đời
Bắc Lương, bản thứ hai là đà ra ni chép trong bản kinh Ðịa Tạng Thập Luân
dịch thời Ðường và bản thứ ba là bản dịch lưu hành riêng được nói ở trên
đây.
C. Chương thứ ba: Ðại ý
kinh Chiêm Sát
^
Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo
gồm 2 quyển, do sa môn Bồ Ðề Ðăng người ngoại quốc dịch vào đời Tùy.
Ðại sư Ngẫu Ích đời Minh bảo: “Kinh
này thật sự là thuốc thần để chữa bịnh trong đời mạt, chẳng thể chẳng gấp
gáp lưu truyền”.
Trong quyển thượng, Phật ngự trong
núi Kỳ Xà Quật tại thành Vương Xá, Bồ Tát Kiên Tịnh Tín vì chúng sanh đời
mạt thưa hỏi phương tiện. Kinh chép:
“Kiên Tịnh Tín Bồ Tát thưa:
- Như trước kia Phật đã nói: ‘Nếu như
ta đã qua đời, sau khi Chánh Pháp diệt mất, Tượng Pháp sắp tận, sắp vào
đời Mạt, trong thời gian như thế, chúng sanh phước mỏng, lắm nỗi suy não,
cõi nước lắm phen loạn lạc, tai nạn xảy ra mãi, các thứ ách nạn kinh sợ
bức nhiễu. Các đệ tử của ta đánh mất thiện niệm, chỉ thêm lớn tham, sân,
ghen ghét, ngã mạn, dù có vẻ dường như hành thiện pháp, nhưng chỉ chăm cầu
lợi dưỡng, danh tiếng thế gian là chính, chẳng thể chuyên tâm tu yếu đạo
xuất thế. Lúc bấy giờ, các chúng sanh thấy tai ương, loạn lạc trong đời,
tâm thường khiếp nhược, buồn sợ thân mình và các thân thuộc chẳng được cơm
no, áo ấm. Do bởi lắm nhân duyên chướng ngại như vậy nên đối với Phật
pháp, họ là kẻ độn căn, ít lòng tin, đắc đạo lại cực ít. Thậm chí dần dần
người sanh lòng tin, thành tựu trong Tam Thừa cũng lại rất hiếm. Tất cả
những người tu học Thiền Ðịnh thế gian, phát sanh các thần thông, tự biết
túc mạng, lần lần không còn có ai. Như thế, đến khi vào trong đời Mạt Pháp
đã lâu, kẻ đắc đạo, giữ lòng tin, tu Thiền Ðịnh đạt thần thông v.v... hoàn
toàn không còn có ai nữa’.
Con nay vì những kẻ thiện căn ít ỏi
trong thời ác vị lai Tượng Pháp sắp hết và trong đời Mạt Pháp, thưa hỏi
Như Lai lập phương tiện nào, khai thị, dạy dỗ khiến họ sanh tín tâm, trừ
được suy não, bởi vì lúc họ gặp phải sự ác, do sẵn lắm chướng ngại, họ sẽ
lui sụt thiện tâm. Ðối với pháp nhân quả thế gian và xuất thế gian, họ
nhiều lần đem lòng ngờ vực, chẳng thể vững tâm chuyên cầu pháp lành. Chúng
sanh như thế đáng thương, đáng cứu. Ðức Thế Tôn đại từ, Nhất Thiết Chủng
Trí, nguyện lập phương tiện để hiểu dụ, khiến họ lìa khỏi lưới nghi, trừ
các chướng ngại, tăng trưởng lòng tin, ở trong thừa nào cũng mau được bất
thối”.
Phật bảo Ngài đem hỏi Ðịa Tạng Bồ
Tát, đồng thời minh thị địa vị cao quý và nhân duyên thù thắng của Bồ Tát.
Kinh chép:
“Từ khi Ðịa Tạng Bồ Tát phát tâm đến
nay đã trải qua vô lượng, vô biên chẳng thể nghĩ bàn a tăng kỳ kiếp. Từ
lâu, Ngài đã vượt qua biển Tát Bà Nhã, công đức viên mãn, trọn đủ, nhưng
chỉ y theo sức bản nguyện tự tại, quyền xảo hiện hóa hiện bóng trong mười
phương.
Tuy Ngài đi vào khắp hết thảy cõi
nước, thường khởi công nghiệp, nhưng Ngài đặc biệt chú trọng đến đời ác
ngũ trược. Ðiều đó cũng là do sức bản nguyện huân tập vậy và cũng do chúng
sanh đáng được hưởng sự giáo hóa của Ngài. Từ mười một kiếp đến nay, Bồ
Tát trang nghiêm thế giới này, thành thục chúng sanh. Vì thế ở trong hội
này, thân tướng Ngài đoan nghiêm, oai đức thù thắng, ngoại trừ Như Lai,
không ai hơn được Ngài.
Lại nữa, sự nghiệp hóa độ của Ngài
trong thế giới này, chỉ trừ các vị Biến Cát (Phổ Hiền), Quán Thế Âm v.v…
các Ðại Bồ Tát đều chẳng sánh bằng được. Vì vậy, sức bản thệ nguyện của Bồ
Tát nhanh chóng thỏa mãn hết thảy sở cầu của chúng sanh, diệt hết thảy tội
trọng của chúng sanh, trừ các chướng ngại, được an lạc trong hiện đời.
Lại nữa, vị Bồ Tát nầy còn có tên là
Bậc Khéo Nói An Ủi, nghĩa là: khéo nói pháp sâu, khéo chỉ dạy khiến kẻ sơ
học khởi lòng cầu Ðại Thừa chẳng bị khiếp nhược. Do các nhân duyên như
thế, trong thế giới này, chúng sanh khát ngưỡng, nhận sự giáo hóa, đắc độ.
Bởi thế, ta nay bảo Bồ Tát ấy hãy nói”.
Ðịa Tạng Bồ Tát bèn dạy 3 thứ mộc
luân để khảo sát nghiệp báo thiện, ác trong ba đời, đồng thời chỉ dạy
phương pháp sám hối như trong kinh đã rộng nói.
Trong quyển hạ, Ðịa Tạng Bồ Tát lại
chỉ ra cảnh giới Nhất Thật và hai thứ phép Quán: Duy Tâm Thức Quán và Chân
Như Thực Quán. Ðịa Tạng Bồ Tát lại vì kẻ thiện căn mỏng manh, phiền não
dày đặc, lắm nghi, lắm chướng, dạy riêng một phương tiện để lìa chướng
duyên, cầu sanh Tịnh Ðộ. Kinh chép:
“Nếu ai dù học những tín giải như thế
nhưng vì thiện căn mỏng manh, chẳng thể tiến lên, chẳng tạm chế phục được
các ác nghiệp phiền não, trong lòng ngờ vực, khiếp hãi, sợ đọa ba đường
ác, sợ sanh trong chỗ tám nạn, sợ chẳng thường được gặp gỡ Phật, Bồ Tát
v.v… chẳng được cúng dường, nghe lãnh chánh pháp, sợ khó thể thành tựu
hạnh Bồ Ðề. Có những điều nghi ngờ, sợ hãi và các thứ chướng ngại như thế
thì hãy nên trong mọi lúc, trong mọi chỗ, thường siêng tụng niệm danh hiệu
của ta. Nếu được nhất tâm, thiện căn tăng trưởng, tâm ý sắc bén thì hãy
nên quán pháp thân của ta và pháp thân của hết thảy chư Phật thể tánh bình
đẳng với thể tánh của thân chính mình, không hai, không khác, chẳng sanh,
chẳng diệt, thường, lạc, ngã, tịnh, công đức viên mãn, đáng để quy y. Lại
nên quán sát tướng trạng thân tâm của chính mình là vô thường, khổ, vô
ngã, bất tịnh, như huyễn, như hóa, đáng nên chán lìa.
Nếu có thể tu học phép Quán như thế
thì sẽ mau được tăng trưởng tâm tịnh tín, tất cả các chướng dần dần tổn
giảm. Vì cớ sao? Người ấy gọi là học tập, nghe danh hiệu ta thì cũng có
thể học tập, nghe danh hiệu mười phương chư Phật. Ðã có thể học chí tâm,
lễ bái, cúng dường ta thì cũng có thể học chí tâm, lễ bái, cúng dường mười
phương chư Phật. Gọi là học nghe kinh Ðại Thừa sâu xa, gọi là học nắm giữ,
biên chép, cúng dường, cung kính kinh Ðại Thừa sâu xa, gọi là học thọ trì,
đọc tụng các kinh Ðại Thừa sâu xa, gọi là học xa lìa tà kiến, đối với
chánh nghĩa sâu chẳng hủy báng, gọi là học tin hiểu Ðệ Nhất Thật Nghĩa rốt
ráo rất sâu, gọi là có thể trừ được các tội chướng, gọi là sẽ được vô
lượng công đức tụ tập. Người ấy xả mạng thì trọn chẳng đọa vào ác đạo, chỗ
tám nạn, lại được nghe chánh pháp, quen tin tưởng, tu hành, cũng có thể
tùy nguyện vãng sanh cõi Phật thanh tịnh ở phương khác.
Lại nữa, nếu ai muốn sanh về cõi Tịnh
nào trong hiện tại ở mười phương thì hãy nên dốc lòng tụng niệm danh hiệu
của đức Phật ở thế giới đó, nhất tâm bất loạn; quán sát như trên thì quyết
định sẽ được sanh về cõi tịnh của đức Phật ấy, thiện căn tăng trưởng, mau
được bất thối”.
Kế đó, Bồ Tát dạy về tam nhẫn, tứ
Phật để tỏ rõ địa vị viên mãn, và khéo léo thuyết pháp an ủi kẻ khiếp
nhược, xa lìa cái lỗi chống đối nhau.
Ðịa Tạng Bồ Tát thuyết pháp xong,
Phật phó chúc thọ trì. Kinh chép:
“Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các đại
chúng rằng:
- Các vị ai nấy hãy nên thọ trì pháp
môn này, lưu truyền rộng rãi trong nơi mình ở. Vì cớ sao vậy? Pháp môn như
thế này rất là khó gặp, có đại lợi ích. Nếu ai được nghe danh hiệu Ðịa
Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát và tin lời Ngài dạy thì phải biết là người ấy mau
lìa được hết thảy tất cả sự chướng ngại, mau đạt đến đạo Vô Thượng.
Ngay khi đó, đại chúng đều cùng phát
nguyện: “Con sẽ thọ trì, lưu truyền trong thế gian, chẳng dám để mất”.
D. Chương thứ tư: Ðại ý
kinh Bổn Nguyện ^
Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện gồm
hai quyển, bản thông dụng chia thành 3 quyển, do sa-môn Thật Xoa Nan Ðà
người nước Vu Ðiền dịch vào thời Ðường.
D.1. Phẩm thứ nhất: Ðao Lợi Thiên
Cung Thần Thông
Phật ngự trên trời Ðao Lợi, vì mẹ
thuyết pháp. Mười phương chư Phật, Bồ Tát nhóm hội khen ngợi. Như Lai mỉm
cười, phóng ra mây quang minh, phát ra tiếng vi diệu. Mười phương Trời,
Rồng, quỷ thần thảy cũng đều đến dự hội. Phật vì Văn Thù Bồ Tát nói nhân
xưa của Ðịa Tạng Bồ Tát.
D.2. Phẩm thứ hai: Phân Thân Tập Hội
Các phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát
trong chốn địa ngục ở mười phương và các chúng sanh được Ngài giáo hóa đến
gặp Thế Tôn. Thế Tôn xoa đầu phó chúc, kinh chép:
“Ông xem: Ta trong bao kiếp siêng khổ
độ thoát các chúng sanh tội khổ ương ngạnh khó bề giáo hóa như thế. Những
kẻ chưa được điều phục sẽ phải theo nghiệp báo ứng. Như lúc chúng bị đọa
ác đạo chịu sự khổ lớn, ông hãy nên nghĩ nhớ lúc ta ở trên cung trời Ðao
Lợi ân cần dặn dò, đều khiến cho các chúng sanh trong thế giới Sa Bà mãi
đến khi đức Di Lặc xuất thế, đều được giải thoát, vĩnh viễn lìa khỏi các
khổ, gặp Phật thọ ký”.
D.3. Phẩm thứ ba: Quán Chúng Sanh
Nghiệp Duyên
Ma Da Phu Nhân hỏi về những đường ác
do nghiệp báo chiêu cảm, Ðịa Tạng Bồ Tát đáp đại lược về 5 sự vô gián.
D.4. Phẩm thứ tư: Diêm Phù Chúng Sanh
Nghiệp Cảm
Ngài Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát lại hỏi
về nhân xưa, Phật lại lược thuyết 2 chuyện. Tứ Thiên Vương thỉnh vấn về
phương tiện đại nguyện của Bồ Tát, Phật lại thuật những pháp báo ứng mà Bồ
Tát đã nói.
D.5. Phẩm thứ năm: Ðịa Ngục Danh Hiệu
Phổ Hiền Bồ Tát hỏi, Ðịa Tạng Bồ Tát
đáp.
D.6. Phẩm thứ sáu: Như Lai Tán Thán
Phật phóng quang minh nơi thân, vang
ra âm thanh lớn khen ngợi Ðịa Tạng Bồ Tát. Phổ Quảng Bồ Tát thưa hỏi về
lợi ích. Phật vì Bồ Tát phân biệt giải đáp về các việc: thờ tượng, đọc
tụng kinh, trì danh v.v…
D.7. Phẩm thứ 7: Lợi Ích Tồn Vong
Ðịa Tạng Bồ Tát bạch Phật phổ khuyến
chúng sanh đoạn ác, tu thiện. Trưởng giả Ðại Biện thưa hỏi về công đức
siêu độ người chết, Ðịa Tạng Bồ Tát dạy: Siêu độ người chết, trong bảy
phần công đức, người mất chỉ hưởng được một.
D.8. Phẩm thứ tám: Diêm La Vương
Chúng Tán Thán
Quỷ Vương và Diêm La Thiên Tử nương
vào sức oai thần của Phật và Bồ Tát đều lên đến trời Ðao Lợi, thưa hỏi vì
sao chúng sanh chẳng nương theo đường lành. Phật dùng thí dụ người mê đi
lạc đường để giảng. Lại còn có Ác Ðộc Quỷ Vương, Chủ Mạng Quỷ Vương, mỗi
ông đều phát thiện nguyện, Phật khen ngợi, ấn khả và thọ ký cho Chủ Mạng.
D.9. Phẩm thứ chín: Xưng Phật Danh
Hiệu
Vì để lợi ích chúng sanh, Ðịa Tạng Bồ
Tát diễn thuyết công đức của danh hiệu chư Phật quá khứ.
D.10. Phẩm thứ 10: Giảo Lượng Bố Thí
Công Ðức Duyên
Ðịa Tạng Bồ Tát thưa hỏi, Phật phân
biệt đáp.
D.11. Phẩm thứ 11: Ðịa Thần Hộ Pháp
Kiên Lao Ðịa Thần minh thị mười điều
lợi do thờ hình tượng Bồ Tát.
D.12. Phẩm thứ 12: Kiến Văn Lợi Ích
Phật phóng quang minh từ trên đỉnh
đầu, dùng diệu âm xưng dương Ðịa Tạng Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát thỉnh vấn
về những sự chẳng thể nghĩ bàn, Phật bèn phân biệt giải đáp những sự cúng
dường hình tượng, thọ trì danh hiệu v.v…
D.13. Phẩm thứ 13: Chúc Lụy Nhân
Thiên
Phật lại xoa đầu Ðịa Tạng Bồ Tát,
giao phó Bồ Tát hóa độ các chúng sanh, kinh chép:
“Này Ðịa Tạng! Này Ðịa Tạng! Hãy nhớ
hôm nay ta ở trên trời Ðao Lợi, giữa đại hội của trăm ngàn vạn ức bất khả
thuyết bất khả thuyết hết thảy chư Phật, Bồ Tát, trời, rồng tám bộ lại đem
các hàng trời, người, chúng sanh chưa thoát khỏi tam giới còn ở trong nhà
lửa giao phó cho ông, chẳng để cho một chúng sanh nào đọa lạc trong đường
ác dẫu chỉ một ngày một đêm, huống hồ là lại bị đọa lạc vào Ngũ Vô Gián và
địa ngục A Tỳ suốt cả trăm vạn ức kiếp, chẳng có lúc ra.
Này Ðịa Tạng! Chí tánh của chúng sanh trong Nam
Diêm Phù Ðề đây vô định, quen thói ác thì nhiều, dù có phát thiện tâm,
trong khoảnh khắc lại lui sụt. Nếu gặp ác duyên thì niệm niệm tăng trưởng.
Bởi lẽ đó, ta phân ra trăm ngàn ức thân để hóa độ, tùy theo từng căn tánh
mà độ thoát.
Này Ðịa Tạng! Nay ta ân cần đem hàng trời,
người giao phó cho ông. Trong đời vị lai, nếu có trời, người và thiện nam
tử, thiện nữ nhân gieo được chút thiện căn trong Phật pháp [chỉ bằng] một
sợi lông, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước thì ông nên dùng đạo lực
ủng hộ kẻ đó, dần dần tu tập Vô Thượng chớ để thối thất.
Lại này Ðịa Tạng! Trong đời mai sau, dù trời
hay người theo nghiệp báo ứng, rớt trong ác đạo, lúc sắp đọa trong đường
ác, hoặc đã đến cửa đường ác mà nếu các chúng sanh ấy niệm được danh hiệu
một đức Phật, một vị Bồ Tát, một câu, một kệ kinh điển Ðại Thừa thì ông
nên dùng thần lực phương tiện cứu vớt các chúng sanh ấy. Ở chỗ người ấy,
ông sẽ hiện vô biên thân để làm tan nát địa ngục khiến kẻ ấy được sanh lên
trời, hưởng sự vui thù thắng, mầu nhiệm”.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bèn nói kệ rằng:
Hiện tại, vị lai chúng trời người
Ta nay ân cần giao cho ông
Dùng đại thần thông, phương tiện độ
Ðừng cho ác đạo lọt vào trong.
Kế tiếp đó, Hư Không Tạng Bồ Tát nói hai mươi
tám lợi ích do được thấy hình tượng Ðịa Tạng, nghe kinh điển này; và lại
nói bảy điều lợi ích.
Phụ chú:
Kinh Phật Thuyết Ðịa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân
DuyênVương Thập Vương, 1 quyển, do Tạng Xuyên đời Ðường biên thuật được
chép trong Tục Tạng Kinh của Nhật Bản là kinh do người đời ngụy tạo, chẳng
nên lưu thông.
E. Chương thứ năm: Ðại ý [các kinh] tán dương Pháp Thân, các nghi quỹ cùng
Diệt Ðịnh Nghiệp Chân Ngôn
^
a) Bách Thiên Tụng Ðại Tập Kinh Ðịa Tạng Bồ
Tát Thỉnh Vấn Pháp Thân Tán, 1 quyển, do ngài Bất Không dịch vào đời
Ðường. Kinh này tán thán công đức của Pháp Thân, Pháp Giới, Bồ Ðề, Niết
Bàn, Thập Ðịa, Ðẳng Giác, Diệu Giác, tất cả đều dùng thể loại kệ tụng 5
chữ; cuối cùng là bài kệ bảy chữ như sau:
Nếu ai tương ứng hiển lý này,
Chỉ dùng thân, huệ để phân tích,
Kẻ ấy sanh trong hoa sen sạch
Nghe Vô Lượng Thọ Phật nói pháp.
b) Ðịa Tạng Bồ Tát Nghi Quỹ, một quyển,
do ngài Thâu Bà Ca La người xứ Thiên Trúc dịch vào đời Ðường, Trung Hoa
thường dịch tên ngài là Thiện Vô Úy. Ðại ý: Phật ngự tại núi Khư La Ðề Da,
Ðịa Tạng Bồ Tát bay lên không trung, nói thần chú, rồi nói cách họa tượng
v.v…
Trong phần Thành Tựu Pháp, lại nói: Nếu niệm
thần chú thì sẽ được diệt tội sanh thiện, xả thân sẽ sanh sang Cực Lạc.
Dùng cỏ để hộ ma (4) ba vạn biến v.v…
c) Ðịa Tạng Bồ Tát Diệt Ðịnh Nghiệp Chân
Ngôn:
Thấy chép trong Bất Ðộng Tập của Cam Lộ Pháp Sư
ở Mông Sơn đời Tống, phần nghi thức Mông Sơn Thí Thực, chưa rõ trích từ
kinh nào, mong bậc hậu hiền sẽ khảo chứng tường tận vậy. Bài chú ấy như
sau:
Om, bát ra mạt lân đà nĩnh, sa ba hà.
(có bản chép chữ Lân thành “ninh”).
F.
Chương thứ sáu: Các kinh lưu truyền khác ^
F.1. Kim Cang Tam Muội Kinh:
2 quyển, dịch từ thời Bắc Lương. Trong phẩm
Tổng Trì thứ tám, Ðịa Tạng Bồ Tát thưa hỏi, đức Phật giải đáp, rộng phân
biệt nghĩa Vô Sanh để đoạn trừ lòng nghi của đại chúng. Kinh văn rất rộng,
ai cần xin hãy tự tìm đọc.
Sau đó, lòng nghi của đại chúng đã được giải
quyết, Ðịa Tạng Bồ Tát biết đại chúng đã hết nghi, bèn nói kệ tụng. Kinh
chép:
“Con biết chúng tâm ngờ,
Thế nên ân cần hỏi,
Như Lai đại từ thiện,
Phân biệt chẳng còn sót,
Cả hai chúng này đây
Thảy đều hiểu rõ cả
Con nay trọn khắp chốn
Giáo hóa khắp chúng sanh
Giống như Phật đại bi,
Chẳng buông bỏ bổn nguyện
Ở địa vị Nhất Tử (5),
Vẫn trụ trong phiền não”.
Phật lại giảng rộng cho đại chúng nghe về công
đức trì kinh, trì danh, kinh chép:
“Vị Bồ Tát này chẳng thể nghĩ bàn, luôn vì đại
từ cứu khổ chúng sanh. Nếu có chúng sanh trì kinh pháp này, trì danh hiệu
Bồ Tát này thì sẽ chẳng bị đọa trong đường ác, hết thảy chướng nạn thảy
đều trừ diệt. Nếu có chúng sanh trì kinh này, không còn tạp niệm khác,
chuyên niệm kinh này, tu tập đúng pháp thì lúc bấy giờ Bồ Tát sẽ thường
hóa thân để thuyết pháp, ủng hộ người ấy trọn chẳng buông bỏ, khiến cho
những người ấy mau đắc Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hàng Bồ Tát các
ông nếu muốn giáo hóa chúng sanh thì đều nên dạy họ tu tập Ðại Thừa quyết
định liễu nghĩa như thế này”.
Pháp Sư Viên Chứng đời Minh chú giải như sau:
“Kệ chép: ‘Chẳng bỏ bổn nguyện’ mà Bồ Tát
nguyện rằng: ‘Chúng sanh độ hết mới chứng Bồ Ðề, địa ngục chưa không, trọn
chẳng thành Phật đạo’. Do vậy, thệ nguyện của Ngài chẳng thể nghĩ bàn, từ
bi chẳng thể nghĩ bàn. Ngài cứu chúng sanh khổ nên chúng sanh chẳng thể
chẳng biết báo ân. Nếu muốn báo ân Ngài thì không có cách nào khác ngoài
việc trì kinh này. Nếu trì danh hiệu Ngài thì chẳng những là báo ân mà còn
là tự đạt được lợi lạc rộng lớn, chẳng đọa ác đạo, diệt chướng trừ tội.
Câu “các ông hiện tiền Bồ Tát” có hai duyên: Một là nên học theo Ðịa Tạng
Bồ Tát đại từ cứu giúp khắp cả, hai là thường dạy chúng sanh tu tập kinh
điển như vậy”.
E.2. Pháp hội Tu Di Tạng trong kinh Ðại Tập:
Gồm 2 quyển 57, 58 của kinh Ðại Tập bộ chữ Hàm,
thuộc phần Tu Di Tạng, do các vị Na Liên Ðề Gia Xá và Pháp Trí người nước
Ô Trành dịch vào đời Cao Tề.
F.2.1. Phẩm thứ hai: Bồ Tát Thiền
Phật bảo Bồ Tát chẳng đọa trong Ðịnh Tụ của Nhị
Thừa, như thực quán sát, đắc Nhất Thiết Pháp Vô Ngữ Ngôn Không Tam Muội;
như ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đã đạt đến tự tại ở bờ kia trong tam muội này,
nên có thể lợi ích hết thảy chúng sanh.
Tiếp đó, kinh văn rộng nêu các chuyện Ðịa Tạng
Bồ Tát nhập định để lợi sanh. Kinh văn rất rộng, ở đây chỉ lược trích.
Kinh chép:
“Hoặc khiến cho những vật cần dùng để sanh sống
của chúng sanh như thức ăn, quần áo, ngọa cụ, vườn nhà v.v… hết thảy các
sắc, thanh, hương, vị, xúc v.v… đáng yêu thảy đều được sung túc. Hoặc
khiến cho các bệnh phong, hoàng đảm v.v… của chúng sanh cho đến các bịnh
phiền não: tham, sân, si v.v…, những bệnh khổ nơi thân tâm như thế thảy
đều trừ diệt. Hoặc khiến cho nỗi khổ trong ba đường ác và nóng, lạnh, các
nỗi khổ: oán ghét phải gặp gỡ nhau, yêu thương xa lìa, cầu chẳng được thảy
đều trừ diệt. Khiến các chúng sanh lìa hết thảy khổ não và pháp chẳng
lành, thành tựu hết thảy pháp lành, dùng từ tâm đối xử với nhau, cho đến
khiến cho các chúng s