PHÁP MÔN TRÌ DANH NIỆM PHẬT
Niệm Phật trì danh là giữ gìn hành trì
một câu danh hiệu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, rất đơn giản dễ dàng, nhưng
pháp rất là rộng lớn. Chỉ cần niệm Phật một cách chí thành, khẩn thiết,
chuyên nhứt và cung kính, mới có thể cảm ứng với đạo, tức đời sống được
lợi ích.
Người tu tịnh độ từ xưa đến nay, phương
pháp trì danh niệm Phật, được thành tựu ấy con số rất nhiều. Pháp môn đó
rất là thẳng tắt, rất viên đốn, có thể vượt qua mà không cần trải qua sự
lần hồi tu hành, vả lại có thể đốn siêu (vượt qua mau chóng). Cũng giống
như từ cấp tiểu học vượt thẳng lên đại học mà bằng phương pháp rất là
đơn giản, khiến người ta không dám tin, thật là “bất khả tư nghì” (không
thể nghĩ bàn)!
Ðối với pháp môn vô thượng mà giản dị
nầy, chớ nên coi dễ mà không siêng năng, chớ cho là khó mà sinh e sợ
thối lui, chớ cho là cạn cợt mà tỏ vẻ khinh khi, chớ cho là sâu xa mà
không dám thừa đương, chớ muốn mau lẹ mà không chịu bền lâu, chớ lười
mỏi mà không mạnh mẽ, chớ vì ngu chậm mà cứ mãi vô tâm, chớ vì căn cơ
mình cạn cợt mà tự chê không có phần.
Ví như mài dao, mài lâu dao lụt thành dao
bén, nếu vì lụt mà chẳng chịu mài, để đó thành đồ vô dụng.
Lại nữa nếu cho rằng tu hành là khổ, thì
không biết là lười mỏi càng khổ hơn sao? Tu hành thì siêng năng lao nhọc
tạm thời mà an lạc vĩnh kiếp, lười mỏi thì cầu an một thời mà thọ khổ
nhiều đời. Bỡi vậy trì danh hiệu Phật là chơn bất khả tư nghì, hay tu
trì thì tâm tánh cũng bất khả tư nghì.
Người tu hành cần cầu một đời việc xong,
mau ra khỏi sinh tử, thì chỉ có pháp môn trì danh niệm Phật. Vì trì danh
niệm Phật, một phương diện là nhờ sức lực tín, hạnh, nguyện chính mình;
phương diện khác lại có thêm lực đại bi đại nguyện của đức Phật A Di Ðà.
Có được hai lực lượng tự lực và tha lực, thì dù tự lực chưa đủ còn có
Phật lực mà có thể nương cậy. Cho nên nói rằng trì danh niệm Phật là một
phương pháp rất ổn định.
Một pháp trì danh rất họp thời cơ, bỡi vì
pháp môn nầy không bỏ phế pháp thế gian mà chứng Phật pháp, không lìa
Phật pháp mà hành pháp thế gian, tùy thời tùy cơ mà có thể tu hành,
không cần vào núi ẩn tu, hoặc đóng cửa ngồi yên, đối với việc hữu ích
cho đời vẫn có thể làm được.
Muốn được lợi ích Phật pháp thì phải có
tâm cung kính, có một phần cung kính thì tiêu được một phần tội nghiệp,
thêm một phần phước huệ. Có được sự cung kính mười phần thì tiêu mười
phần tội nghiệp, tăng thêm mười phần phước huệ. Nếu không có tâm cung
kính thì dẫn đến thói hư hèn ngạo mạn, nghiệp tội ngày càng tăng mà
phước huệ ngày càng giảm đi. Do đó mà sự cung kính chí thành thật là
“siêu phàm nhập thánh”, cũng là bí quyết “liễu sinh thoát tử”. Có thể
đem tâm chí thành, nhất tâm niệm Phật, tâm cung kính nhớ Phật, chắc chắn
có thể lìa được biển khổ sinh tử. Chỉ cần một lòng buộc niệm không rạn
vỡ, chắc chắn sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây.
Tâm cung kính là rất tin tưởng đối với
Phật và Bồ tát, cần nương theo pháp mà làm, tôn trọng pháp. Mà không
phải là cung kính bên ngoài, thấy tượng Phật khúm núm vái chào. Bên
ngoài biểu hiện cung kính mà trong tâm không cung kính đó là hư ngụy.
Nên phải từ trong tâm chân chính rõ hiểu Phật và Bồ tát, không phải là
cung kính bướng bỉnh miễn cưỡng. Thật sự có chỗ rõ hiểu rồi, thì từ
trong tâm sinh khởi lòng cung kính, đây tức là “như pháp”.
Niệm Phật và tâm chí thành, tâm cung kính
có phải là chơn chánh không? Chư vị nghĩ xem trong lúc niệm Phật hoặc
tụng kinh nếu như gặp một người khá quan trọng hoặc một công việc quan
trọng, thì niệm Phật tụng kinh sẽ trở thành thứ yếu (ít quan trọng hơn);
Như vậy có thể thấy rằng sự cung kính, chí thành nầy chưa được chơn
thuần, cho nên cần phải chân thành cung kính một cách chơn chánh, thì
niệm Phật tụng kinh mới là việc lớn thứ nhất của đời người. Ví như có
người, trong lúc anh niệm Phật tụng kinh, bảo anh rằng: “Hiện tại có một
việc buôn bán nếu làm gấp thì sẽ thu được lãi là trăm vạn đồng”, bảo đảm
rằng anh sẽ quay đầu đi, không niệm Phật được rồi. Có thể thấy rằng
chúng ta cung kính, chí thành đối với Phật và Bồ Tát mà chịu không nổi
thử thách, khi trải qua thử thách thì mới hiểu được tâm cung kính, tâm
chí thành nầy không chơn thật một chút nào cả.
à
Pháp môn niệm Phật, không phải là phương pháp kỳ diệu gì cả, chỉ cần
chúng ta có thể dốc lòng mà niệm, nhất định sẽ thành công. Thế nào gọi
là dốc lòng (hay còn gọi là “tâm chết”), tức là làm cho chết sạch đi tất
cả những cái tâm phiền não, vọng tưởng, chấp trước. Nhất tâm chuyên niệm
“Nam Mô A Di Ðà Phật”, trong tâm có Phật, Phật không lìa tâm, tâm không
lìa Phật, nhất tâm bất loạn.
Tác dụng của trì danh niệm Phật là cần
phải đem tâm ta và tâm Phật họp nhất, đến mức chí thành, yên tĩnh, chân
không, vắng lặng, cùng Phật tâm tâm nhiếp với nhau, tâm ta và tâm Phật
trọn vẹn một thể. Tự nhiên có những cảnh giới bất khả tư nghì. Nếu tâm
ta mờ mịt tán loạn, nguyện đã mất đi sức lực vốn có của bản tâm, làm sao
có được những cảnh giới ấy xuất hiện.
Ví dụ như một giọt nước rơi vào trong đất
thì chẳng làm được gì, nếu rời đất mà vào biển thì nước cả biển cùng với
giọt nước nầy hoà thành một thể, lực đó rất lớn bất khả tư nghì.
Giọt nước dụ cái tâm, đất dụ cho sáu căn,
sáu trần và sáu thức (6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. 6
trần: sắc, tiếng, mùi, vị, va chạm, pháp. 6 thức: là sự cảm
giác của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Nhiếp giữ các căn, xa rời các
trần, vượt thoát các thức, tức chung thông với tâm Phật, chứng với tâm
Phật, thành là một thể. Sức oai thần đó cũng là bất khả tư nghì.
Trì danh niệm Phật tuy dễ dàng, một
phương pháp tu hành nhẹ nhàng thoải mái; Song khó ở chỗ là không có tín
tâm, nguyện tâm, hằng tâm đối với Ðức Di Ðà, chỉ muốn sinh về thế giới
Cực Lạc phương tây! Niệm Phật kiểu làm theo lệ, có thể qua loa thì qua
loa, có thể bày biện thì bày biện, tùy tiện không chuyên tâm, qua được
cho qua, thế thì không có chút gì ở tại tâm ý.
Trì danh niệm Phật, nên cần phải trong
lúc niệm chuyên chú vào một cảnh, không nghĩ tưởng việc khác, tất cả đều
buông bỏ, nên nhất tâm niệm Phật, hễ nghĩ là Phật, tưởng cũng là Phật,
đến lúc công phu thuần thục, rỗng rang tự nhiên rơi rụng câu niệm Phật,
chứng nhập vào cảnh giới “vô niệm” mà không niệm nào chẳng niệm. Công
phu đến đây niệm Phật mới là đạt đến phương pháp, cảm ứng với đạo, thấy
được sức công hiệu tốt đẹp.
NHẤT TÂM NIỆM PHẬT
Nhất tâm niệm Phật, là chỉ có một tâm
niệm Phật, ngoài ra không có niệm tạp vọng tưởng phiền não. Miệng niệm
Di Ðà mà tâm không tán loạn, miệng niệm Di Ðà tâm tán loạn thì không
được lợi ích.
Niệm cần phải niệm nhất tâm, trong miệng
niệm Phật, trong tâm tưởng Phật, niệm là Phật, tưởng cũng là Phật, không
kể là có vọng tưởng hay không vọng tưởng, nếu là niệm Phật mà tâm tán
loạn, hoặc tưởng việc khác, thì không phải là nhất tâm niệm Phật.
Niệm Phật không khó mà khó ở chỗ trì lâu,
trì lâu không khó mà khó ở nhất tâm, nhất tâm thế nào? Nhất tâm tức là
xả bỏ tất cả công việc của thế tục, buông tất cả việc đời đi, chẳng nên
nghĩ, chẳng muốn nhớ, không mong lấy, không vọng dùng, mà chỉ có tâm
niệm Phật tưởng Phật.
Giữ gìn sáu hoặc bốn chữ danh hiệu Ðức A
Di Ðà, đều cần phải chí thành khẩn thiết, nhất tâm niệm Phật, vọng tưởng
tạp niệm khởi, không nên để ý nó, càng không được lởn vởn theo nó, anh
niệm Phật của anh, ngày ngày dụng công, năm năm dụng công, thời gian lâu
rồi niệm Phật thuần thục, tâm chẳng dong ruổi bên ngoài, vọng tưởng tập
khí từ vô thỉ kiếp đến nay tự nhiên tiêu ma hết. Tối kỵ là tất cả trạng
thái bồng bồng bềnh bềnh, một cái tâm trôi trôi nổi nổi, chẳng dùng một
chút sức lực nào cả, kiểu như thế thì chỉ có một sự rỗng tuếch buông
trôi thời gian mà thôi!
Giữ gìn danh hiệu Phật, niệm từ tâm khởi,
tiếng từ miệng phát, âm vào nơi tai, từng chữ từng câu niệm được rõ
ràng, nghe được rõ ràng, nhiếp cả sáu căn, chẳng được niệm kiểu nuốt
chửng hàm hồ qua đi. Nhất tâm niệm Phật, nếu hay chí thành, chẳng chấp
thủ ở nơi tướng, tự có thể nhiếp cả sáu căn, có ngày công phu thuần
thục, định - huệ tự nhiên hiện tiền, ba món độc (tham - sân - si) không
khởi, ác nghiệp chẳng tạo ra.
Có những người miệng thì niệm Phật, trong
tâm ham muốn suy nghĩ sai quấy loạn tưởng, phép niệm như thế là không có
chỗ tác dụng. Nên cần phải niệm Phật nơi miệng, tưởng Phật nơi tâm, tâm
và miệng họp nhất. Ngoài câu niệm Phật ra, việc gì cũng không tưởng
nghĩ, niệm gì cũng không khởi, mới dễ được nhất tâm bất loạn.
Thử nghĩ, miệng niệm Phật, tay lần chuỗi,
mà tâm lại tưởng việc khác, hoặc mắt nhìn ngó đông tây, hoặc nghe âm
thinh nào đó, hoặc có người nào đi qua bên cạnh thì quay đầu mà dòm ngó
đánh tiếng đưa tin, hoặc tâm tình buồn phiền, hoặc công việc bận rộn khó
nhọc, vả lại gấp rút thời gian làm như qua loa niệm số mục cho hết việc,
tức khiến cho mỗi ngày số lượng niệm đến ngàn câu danh hiệu Phật, cũng
chẳng được kể là nhất tâm niệm Phật.
Niệm Phật không nên mong cầu công hiệu
tâm mới có thể thanh tịnh, nên làm đến chỗ “vô sở cầu”. Người tu hành
niệm Phật, tuy hàng ngày bề bộn công việc, dù công việc bề bộn mà tâm
không bề bộn, giữ gìn tâm thanh tịnh.
Học Phật tu hành, điều cần yếu trước nhất
là tâm sạch và ít ham muốn, mới hay đạm bạc với việc đời, không mang
không vát, không buồn, không suy nghĩ, mới có thể chuyên chí nhất tâm
niệm Phật. Nếu đa dục (ham muốn nhiều) thì bị sự trói buộc của tham sân
si, bị lao vào sự lao nhọc lọc lừa mưu mẹo của việc đời, tâm tình rối
loạn niệm Phật làm sao được nhất tâm?
Niệm Phật cần phải niệm toàn cả phương
vị, cũng tức là nói: tâm, hành vi và miệng của người niệm Phật cần phải
kết họp thành một thể, mở miệng niệm Phật, trong tâm nên cần phải tưởng
nhớ Phật và hành vi cũng không nên trái với lời dạy răn của Phật. Thân,
miệng và tâm họp nhất là cương lĩnh chính yếu của niệm Phật giải thoát.
Nếu như danh hiệu Phật mà ta niệm chỉ dính ngoài cửa miệng và không cùng
tâm, thân kết họp với nhau làm sao có thể đạt được sự lợi ích của niệm
Phật.
Chánh tín niệm Phật là không nên chấp
trước phải niệm như thế nào, nghĩ tưởng đến thì niệm, quên niệm cũng bất
tất phải vấn vương nơi ý, có những lúc bệnh hoạn hoặc đau khổ, có thể
niệm thì lập tức niệm.
NIỆM PHẬT NHIỀU
Niệm Phật nhiều không phải là số lượng
cho nhiều, mà là hằng ngày niệm Phật, tùy thời gian, tùy nơi chỗ, đi
đứng ngồi nằm, lúc động lúc tịnh rảnh rang hay bận rộn, công việc không
dụng tâm mà đều là A Di Ðà Phật. Có thể niệm Phật số mục nhiều lại có
thể tinh thuần “nhất tâm”, thế thì càng tốt.
Niệm Phật nên phải niệm nhiều mới có thể
nuôi thành thói quen niệm Phật, thói quen trở thành tự nhiên, bình
thường mới có thể khởi niệm niệm Phật tùy thời tùy chỗ. Niệm Phật không
có thói quen, chỉ định thời gian công khóa mới khởi được tưởng niệm
Phật, lúc bình thường sẽ khởi không được tưởng niệm Phật. Nếu ngẫu nhiên
khởi được tưởng niệm Phật, thì niệm cũng không được bao nhiêu tiếng rồi
dứt mất. Cho nên niệm Phật cần phải niệm nhiều để tập thành thói quen
niệm Phật.
Muốn tập thành thói quen niệm Phật, không
phải là một sớm một chiều thì có thể được, mà phải là năm dài tháng rộng
nuôi dưỡng mà thành, thói quen thành thục một cách tự nhiên càng phải
cần đến công phu sâu dày.
Vì sao cần niệm Phật nhiều? Ðó là vì tăng
thêm lớn lực niệm Phật, khiến cho nghiệp lực giảm lại ít đi, lực niệm
Phật càng lớn thì lực của nghiệp càng nhỏ. Lực niệm Phật lớn, đến lúc
“nhất tâm bất loạn” thì được “Niệm Phật tam muội”. Lực của nghiệp nhỏ,
nhỏ đến khi vọng tưởng tạp niệm không khởi, phiền não sẽ dứt. Lực niệm
Phật lớn thì lúc mạng chung biết trước thời gian, chánh niệm hiện tiền,
tâm không điên đảo mà niệm Phật vãng sanh. Còn lực của nghiệp mà lớn hơn
lực niệm Phật, thì lúc mạng chung nghiệp lực hiện tiền, nghiệp của ngày
trước chiêu cảm khiến tâm sinh sợ sệt, tâm chẳng điên đảo trở thành điên
đảo, tâm một khi điên đảo thì bị nghiệp lực dẫn chạy, chuyển nhập luân
hồi.
Người đời do tập khí vô minh phiền não,
không phải đời nầy mới có, mà đời đời kiếp kiếp đã có rồi, vả lại từ nhỏ
đã nuôi dưỡng thêm lớn, hằng ngày đều tưởng đến, hằng giờ đều dùng đến,
thì bảo làm sao nó không phát sinh nghiệp lực rất lớn? Cũng như vậy,
chúng ta nên niệm Phật cho thành một sức mạnh, trực tiếp lôi kéo khắc
phục những vô minh tập khí, phiền não, vọng tưởng. Cũng tương tự, nên
hằng ngày niệm Phật, hằng giờ niệm Phật, trong cuộc sống thường ngày tùy
thời, tùy chỗ mà tưởng mà niệm. Niệm lâu rồi thì sự niệm Phật mới phát
sinh ra “lực niệm Phật”, niệm Phật càng nhiều thì lực niệm Phật càng
lớn, nghiệp lực sẽ theo đó mà bị diệt nhỏ đi hoặc tiêu mất, lúc mạng
chung vãng sinh mới không có chướng ngại, mới có sự nắm chắc!
Chúng tại gia đã bận rộn công việc nhà
lại càng bề bộn công việc xã hội, thực là rất bộn rộn, vậy thì cái nhân
chính là bận rộn! Vì việc vãng sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây, dù
bận rộn cũng nên lợi dụng thời gian để niệm Phật; không như vậy thì
không có lực niệm Phật, trong tâm không có Phật, lúc mạng chung làm sao
có thể chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo để mà niệm Phật vãng
sanh!
TRONG TÂM CÓ PHẬT
Trong tâm có Phật, là tùy thời tùy chỗ
khởi tưởng niệm Phật, đi, đứng, ngồi, nằm, lúc động, tịnh, nhàn nhã, bận
rộn, công việc không dụng tâm mà đều có A Di Ðà Phật, lúc miệng không
niệm mà tâm vẫn ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, không niệm mà không
phải chẳng niệm, Phật không rời tâm, tâm không rời Phật, mới có thể được
“nhất tâm bất loạn”, tâm ta với tâm Phật thông nhau, tâm và Phật ở cảnh
giới “nhất như”, được niệm Phật tam muội.
à
Trong miệng niệm Phật không ổn định, trong tâm nghĩ bậy tưởng loạn, phép
niệm như thế thì đều không có chỗ tác dụng. Nên cần phải trong miệng
niệm Phật, trong tâm tưởng Phật, tâm - miệng như nhất. Ngoài một câu
danh hiệu Phật ra, việc nào cũng không nên nghĩ tưởng đến, niệm nào cũng
không nên khởi, đây tức gọi là nhất tâm bất loạn, nhiên hậu mới dễ dàng
thành công.
Nhất tâm bất loạn, mà nếu như xen lộn
niệm khác, thẳng đến chuyên niệm mà không đạt được, chuyên niệm mà hãy
còn chẳng thành, thì nhất tâm bất loạn càng khó làm được.
Niệm Phật khi công phu thuần thục nhất
định có cảm ứng bất khả tư nghì. Người ở thế gian phước báo lớn không
phải là giàu có tiền bạc hay sống lâu, mà phước báo chân chánh là lúc
lâm chung không có bệnh, tinh thần sáng suốt, biết được đi đến đâu, đây
mới là phước chân chánh.
Trong cuộc sống hằng ngày tùy duyên mà
qua ngày, mang mọi cái phân biệt, chấp trước, buồn lo... buông bỏ cả đi,
được đại tự tại, đó mới là hạnh phúc chân chính.
Như gặp tai nạn lớn, nên niệm: Nam Mô A
Di Ðà Phật tiếp dẫn con... vãng sinh về thế giới Cực Lạc. Niệm ngày đêm
không dừng, đến lúc vãng sinh.
Niệm Phật, nếu như không thể nghiêm trì
giới luật, dừng dứt tham sân, hàng phục vọng niệm, đánh phá chấp trước,
mà muốn cầu nhất tâm bất loạn thì ắt sẽ vời vợi xa xăm.
Gọi là “nhất tâm bất loạn” tức là chỉ có
một tâm niệm Phật, không có tạp niệm của phiền não vọng tưởng.
Nếu trong tâm không có Phật, không những
lúc bình thường mất niệm (không khởi được tưởng niệm), nếu là ngẫu nhiên
khởi được tưởng niệm, niệm cũng không được mấy câu thì dứt quãng rồi, có
lúc ngay cả thời khóa sáng chiều cũng không biết niệm.
Lúc niệm Phật, người khác gọi anh, anh
đều không biết, như thế mới có “định lực”, có công phu. Lúc niệm Phật mà
có gió thổi cỏ động anh đều biết cả, như thế là không có định lực, nên
cần phải quyết tâm công phu thêm nữa.
Ðương nhiên chẳng phải là ngay khi bắt
đầu niệm thì đạt được cảnh giới “trong tâm có Phật”. Anh (chị) không
ngại thì từ ngày nay bắt đầu, cố gắng công phu không dứt, như vậy thời
gian lâu, anh (chị) nhất định trong tâm có Phật. Nên biết thành công tất
cả đều là bắt đầu từ hiện tại.
Người sơ cơ học Phật niệm Phật, cố nhiên
là chẳng dễ niệm Phật nhiều, càng chẳng thể bàn luận trong tâm có Phật.
Song có thể chuyên tâm nhất ý niệm hằng ngày, niệm hằng giờ, lâu ngày
công phu sâu dày, tự nhiên sẽ có thể niệm Phật nhiều, trong tâm có Phật.
Không nên chỉ vì công việc thế tục bận rộn mà không chịu dụng công niệm
Phật, không niệm thì trong tâm làm sao có Phật?
Tối kỵ là ngay lúc có thời gian mà chỉ
biết ăn uống chơi vui, nói khoét, xem ti vi... bỏ câu A Di Ðà Phật sang
bên một cách thoải mái, thế thì trong tâm làm sao có Phật!
Trong tâm anh không có Phật, thì
cần trong tâm Phật có anh không? Lúc anh mạng chung cần Phật đến tiếp
dẫn anh không? Phải biết rằng cầu sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây
là tự anh cần đến thôi, chứ không phải là đức A Di Ðà cần anh đến đâu
nhé!
Thử nghĩ, có một người ở nơi xa muốn kết
bạn cùng anh mà chỉ cho anh danh thiếp, mỗi lần thấy mặt cũng chỉ một
thoáng, đánh tiếng thăm hỏi, ngay cả nói cũng không được lấy một câu,
giao thiệp càng ít ỏi, người đó muốn đến chỗ anh ở, cần anh đi đón tiếp,
anh đi đón tiếp không? Như vậy đem lòng mình so ra thì biết.
Chuyên trì danh hiệu A Di Ðà Phật đơn
giản dễ làm. Chuyên là chuyên nhất, chuyên tâm. Trì là giữ gìn không để
mất nó đi. Danh hiệu là sáu hoặc bốn chữ “Nam Mô A Di Ðà Phật”. Chúng ta
một ngày đến tối, không được rời xa câu Phật hiệu nầy, niệm to tiếng,
nhỏ tiếng hay mặc niệm (niệm thầm) đều được. Không nên gián đoạn, lộn
xộn, hoài nghi; nên phải chân thành, khẩn thiết, cung kính, chơn chánh
phát nguyện vãng sinh về thế giới Cực Lạc, vãng sinh về thế giới Cực Lạc
là cơ sở nắm chắc.
Vãng sinh về thế giới Cực Lạc có 2 vấn đề
cần thiết không thể không biết: 1- Chánh niệm hiện tiền. 2 - Tâm không
điên đảo.
Chánh
niệm hiện tiền: Là khi mạng chung, nghĩ niệm là Phật mà tưởng cũng là
Phật, lúc cuối cùng của hơi thở còn ở tại nơi câu niệm Phật, niệm Phật
vãng sanh.
Tâm
không điên đảo: Là khi mạng chung chỉ có tâm niệm Phật tưởng Phật thôi,
không nhớ tưởng đến tất cả công việc của thế tục. Ngày thường tu hành
tinh tấn, niệm Phật niệm đến nhất tâm bất loạn rồi, lúc mạng chung nếu
có mảy may tưởng niệm việc thế tục tâm sẽ điên đảo, một khi tâm điên đảo
thì chẳng được vãng sanh!
Lúc bình thường không cố công niệm Phật,
mà từ trong tâm tham ái dính mắc gốc rễ sinh tử như: Giàu có, sự nghiệp,
danh tiếng, người thân, ăn uống, chơi bời, không như ý thì giận dữ oán
hận... lúc mạng chung làm sao mà không nghĩ đến chúng? Ngay lúc nghĩ nó,
tâm sẽ diên đảo, cộng thêm nghiệp đời trước chiêu cảm, tâm hoang mang, ý
hoảng loạn, bệnh khổ rất nhiều, tà niệm hiện tiền, tâm không điên đảo
cũng thành điên đảo!
Trong tâm phàm phu của chúng ta vọng
tưởng tạp niệm rất là nhiều, niệm nầy vừa đi thì niệm khác lại đến. Niệm
Phật tức là cần gom trói cái tâm vọng tưởng tạp niệm nầy, niệm danh hiệu
Phật nhiều một chút thì niệm tạp loạn vọng tưởng ít đi một chút, hằng
giờ dụng công, công phu sâu dày thì có thể thu gom tất cả các niệm tạp
niệm vọng tưởng nầy trên danh hiệu Phật, tất cả các niệm tạp loạn vọng
tưởng đều không có, đó là nhất tâm bất loạn rồi.
Chánh niệm hiện tiền: Khi con người đến
lúc mạng sống gần như sắp đứt hơi thở, dứt khoát trong tâm rõ ràng biết
được muốn đến chỗ nào, trong tâm an tịnh chỉ có vấn đề niệm Phật tưởng
Phật, không được có niệm khác xuất hiện.
Tà niệm hiện tiền: Người tu hành bình
thường không cố công niệm Phật, chỉ giải đãi (biếng nhác), bày biện, lơ
là, đến lúc mạng chung tâm nầy sẽ chắc chắn hôn mê tán loạn, điên điên
đảo đảo, một chút cũng đoán không được!
Niệm Phật phải sinh chánh tín, mới có thể
dụng công tốt đẹp, tùy thời tùy chỗ niệm Phật. Nếu sinh “bất chánh tín”
thì niệm Phật thành ra cầu tài, cầu bình yên... có lúc niệm lúc không.
Tâm của người niệm Phật nếu không phải là
tâm thanh tịnh mà là tâm niệm Phật. Tức là tâm phiền não, tâm vọng
tưởng, tham ái dính mắc việc thế tục, trong tâm thường nghĩ đến nó, cả
ngày nhớ mãi không quên, lúc mạng chung làm sao không nghĩ tới nó! Như
vậy làm sao có thể chánh niệm hiện tiền, niệm Phật vãng sinh! Vậy nên
cần phải buông bỏ việc thế tục. Có nó hay không, không nên nghĩ đến nó,
càng không được để nó trong tâm để mà nghĩ tưởng.
Không luận ở nơi hoàn cảnh nào, lại nữa
bận rộn cũng được, khi công việc cần suy nghĩ nghiên cứu mà buông câu
Phật hiệu, công việc xong rồi lập tức khởi ngay Phật hiệu. Giả như trong
việc không nhu cầu vấn đề suy nghĩ nghiên cứu có thể một mặt làm việc,
một mặt niệm Phật, lúc gặp cảnh thuận hay nghịch đều không quên niệm
Phật, làm được thế nầy, việc vãng sinh có hy vọng.
Tâm niệm Phật chơn hay không chơn, chỉ
nên xét nghiệm ở trong phiền não vui ưa, hay ghét bỏ. Ví dụ người niệm
Phật có chơn tâm, ở trong phiền não ưa ghét, tất nhiên niệm Phật mỗi
niệm mỗi niệm không gián đoạn; còn nếu như một vài vui giận đến trước,
mà A Di Ðà Phật vứt bỏ ở sau, như thế làm sao có thể được sự linh nghiệm
của niệm Phật!
Cổ đức nói rằng: “Học Phật không khó mà
khó ở sự phát tâm, phát tâm không khó má khó ở sự dõng mãnh, dõng mãnh
không khó mà khó ở sự giữ gìn lâu xa”. Lại nói: không luận là nghề
nghiệp công việc gì, lúc bắt đầu chưa có chi không chịu cố gắng siêng
năng, dẫn đến lâu ngày tình thế dời đổi, tâm mỏi mệt sanh, hoặc được ít
cho là đủ, hoặc sợ khó mà sống cầu an, phép đời như thế, học Phật cũng
vậy.
SỰ TỐI KỴ TRONG NIỆM PHẬT
Sự tối kỵ trong niệm Phật: “Tinh thần
phân tán, câu chữ mơ hồ, đã không âm tiết lại không liền lạc, tâm chẳng
ứng với miệng, tiếng chẳng nhiếp với niệm, khinh lờn thành quen”.
Người niệm Phật chủ yếu dễ phát sinh sai
lệch, thì cần ngăn chặng.
Tinh
thần phân tán: Lúc niệm Phật tư tưởng không tập trung, đưa tinh thần lên
không được. Tâm tình rơi rớt, ý chí thì chìm mất, không tinh ròng khơi
dậy, tạp niệm thì vô cùng, chẳng hôn trầm cũng trạo cử, đây là vấn đề
tối kỵ. Còn vấn đề kiêng kỵ là câu chữ mơ hồ.
Câu
chữ mơ hồ: Một câu hiệu Phật nầy, thanh âm phát ra thì lờ lờ mờ mờ,
người khác nghe không rõ ngay cả chính mình nghe cũng không rõ. Cho nên
có câu rằng: “Mình còn chưa nghe thì Phật làm sao nghe”.
Ðã
không âm tiết: Âm tiết điều hòa thích ứng thì niệm Phật dễ nhiếp tâm,
phương pháp hữu ích thì lực mới to lớn; Ngược lại, sáu chữ trong một câu
Phật hiệu, bất kể nhịp gõ chữ nào, lúc thì một nhịp, nửa nhịp, một phần
tư nhịp, một phần tám nhịp, thế thì làm cho mỗi câu hiệu Phật bị biến
đổi, niệm loạn thành một mảng, còn bàn luận nhiếp tâm thế nào. Không
những thời gian từng chữ sắp đặt được tốt, mà sự cao thấp nhẹ nặng của
thanh âm cũng phải hợp với tiết tấu. Bỡi vì niệm Phật có tiết tấu thì
giống nước chảy róc rách, tự nhiên hợp vận, niệm Phật dễ dàng rõ ràng.
Không âm tiết đã chẳng tốt, cọng thêm lại chẳng liên quan thì càng sai.
Lại
chẳng liền lạc: Là câu sau không tiếp câu trước. “Tịnh niệm tương tục”
rất là trọng yếu của sự niệm Phật, mà nếu không liên quan làm sao kế tục
với nhau.
Tâm
chẳng ứng với niệm Phật: Là trong miệng thì niệm Nam Mô A Di Ðà Phật, mà
ở trong tâm tính toán riêng một việc ở bên ngoài như: mua chiếc xe mới,
hoặc muốn đến chỗ nào, vì tính toán những việc đó thì tâm và miệng làm
sao có thể ứng với nhau. Ðến nỗi ngoài ra có một tình huống là: ngay lúc
niệm Phật, tạp niệm lăng xăng không biết tạp niệm nhiều thế nầy từ đâu
đến, đây khởi kia mất, không cách nào trừ bỏ. Tuy vậy chẳng nên buồn lo,
vì đây là hiện tượng tất nhiên trong quá trình niệm Phật, chẳng nên quan
tâm nó (mặc cho vọng niệm lăng xăng, hãy nghe chính mình và niệm Phật rõ
ràng), đây là yếu quyết. Then chốt vẫn là khởi lên một câu hiệu Phật
nầy.
Tiếng
không nhiếp niệm: Tiếng - chỉ cho lúc niệm Phật, tiếng niệm Phật trong
miệng phát ra, âm thinh nầy có tác dụng rất lớn, then chốt của pháp môn
tịnh độ, cũng có thể nói là “Mật quyết”, tức ở nơi tự niệm tự nghe. Cái
được niệm là Nam Mô A Di Ðà Phật, cái được nghe cũng là: Nam Mô A Di Ðà
Phật. Cho nên đều nhiếp sáu căn, trước tiên thì thiệt căn (lưỡi) và nhĩ
căn (tai) đều nhiếp. Lúc nầy niệm là danh hiệu Phật, mà nghe cũng là
danh hiệu Phật, tưởng cũng là danh hiệu Phật, nên ý căn (ý) cũng được
nhiếp, tay giữ chuỗi niệm (thân), (mắt) thì nhìn tượng Phật, trong tỷ
căn (mũi) được nghe là mùi hương đốt cúng Phật, cho nên ba căn nầy cũng
được nhiếp. Nhiếp sáu căn đều là then chốt ở nơi nghe. Thông thường
chúng ta tự tu, dùng cách “Kim cang trì” tốt nhất, tức là có một tí âm
thanh vừa vừa ở giữa miệng môi và chân răng, không phải to lắm. Cách nầy
niệm đã có âm thanh lại vừa dưỡng khí, gọi là Kim cang trì. Mặc nhiên
cũng có thể nghe, song mặc niệm thì mệt một chút. Âm thanh lớn nhỏ có
thể linh hoạt, lúc tán loạn và lúc phiền não khởi có thể niệm lớn, dùng
âm thanh để nhiếp niệm. Nếu niệm được yên tịnh thì có thể niệm nhỏ, niệm
cách Kim cang trì hoặc nhỏ một chút đều có thể được. Cần có tiếng, cần
nghe được tiếng nầy. Âm thanh nầy thì có nhiếp được niệm; đây là chỗ thù
thắng của pháp môn niệm Phật, then chốt là ở nơi “Tự nghe”.
Khinh
lờn thành quen: Nếu như lúc niệm tự tâm phiền tạp tán loạn, tiếng được
niệm tất nhiên lộn xộn khó nghe. Tâm không chuyên chú tai cũng mất linh
nghiệm, tác dụng của tiếng niệm tự nhiên không nhiếp niệm một chút nào
cả. Ở tình huống nầy đâu có tác dụng nhiếp đều sáu căn. Ngược lại cái
hay dẫn khởi là kết quả xấu có hại “Khinh lờn thành quen”, đây là thành
ngữ thường dùng ở trong đạo Phật. Niệm một cách khinh thường không thể
chuyển thức thành trí, mà là nuôi lớn cái thói quen (Thức). Chúng ta
niệm Phật tức là chuyển ý thức phân biệt thành “Diệu quán sát trí”. Nên
khiến nó chuyển. Nếu niệm như thế nầy: vừa không âm tiết, tán loạn, tinh
thần lăng xăng, lại vừa không liền suốt, tưởng trong tâm và niệm trong
miệng không giống nhau, âm thanh được niệm cũng nhiếp không được ở nơi
tâm, phép niệm nầy không phải là “chuyển” Thức mà là “nuôi dưỡng” Thức,
Thức được bồi dưỡng ở trong đó, đây chính là “nỗi buồn của cổ đức”, tức
là niệm cách nầy rất đáng tiếc! - Khó được thân người, khó sinh ở quốc
gia trung tâm, khó nghe được Phật pháp, khó tin tịnh độ; Dù còn chịu
niệm, nhưng lại niệm kiểu nầy cho nên Cổ đức rất là buồn tiếc. Niệm cách
nầy thì “vĩnh viễn khó thành từng loạt”, niệm Phật niệm đến khi nhất tâm
bất loạn rất khó, trước nhất phải đạt đến niệm Phật thành thói quen.
Chúng ta nên phải niệm cho được thành thói quen, ít thì mười mấy câu,
nhiều thì ba chục câu, nhiều nữa thì một tràng hai tràng, trong lúc nầy
tâm không được động chạy, từ đầu đến cuối đều là: Nam Mô A Di Ðà Phật,
đây gọi thành tràng, mức độ chính mình là thế nào, chính mình hoàn toàn
có thể biết. Cho nên pháp niệm nầy, kiểu như trên, tức là “vĩnh viễn
chẳng thành loạt”, đây là phép niệm không tốt, thì nên tránh đi, nên
tránh khỏi chỗ dễ sinh sai lệch, mà nên tập trung tinh thần sức lực mặt
hướng về ánh sáng.
Trước mắt chỉ nêu ra sự cấm kỵ của niệm
Phật, cần gắng sức trừ bỏ, sau đây chính là con đường vạch ra nên tuân
thủ đối với việc trước mắt:
+ Âm thanh hài hòa vận tiết ổn định:
Thanh hòa, chỉ cho tiếng và ý khi niệm Phật nên hài hòa, hòa mỹ, yên
hòa. Bỡi vì âm rất là quan hệ, nếu niệm quá gắt gao hay khàn giọng thì
âm thanh chẳng được hòa. Tiếng của người đến chỗ mà âm thanh tốt đẹp vi
diệu, thanh tịnh trang nghiêm, thì tự nhiên tâm sẽ khoáng đạt tinh thần
vui vẻ, thân tâm được an hòa. Ngược lại thì khiến tâm người loạn, nóng
nảy không an.
Vận ổn: Vận là âm thanh hài hòa, lại chỉ
cho khí độ của thần vận cao nhã. Ổn là chỉ cho sự an định thỏa đáng, vận
ổn là âm thanh an hòa trầm tĩnh, khí vận thì cao nhã, tự nhiên có một sự
điều hòa của âm vận.
+ Khẩn thiết chu đáo: Khẩn thiết,
ta niệm Phật như đang ở trước Phật, cách nầy mỗi niệm một tiếng, đều là
từ trong tâm chí thành phát ra, khẩn khẩn thiết thiết niệm: Nam Mô A Di
Ðà Phật, cần phải từng câu từng câu, đây tức là cách niệm chu đáo, cũng
tức là tịnh niệm nối nhau. Ðối với người đã có thời khóa ổn định, trước
nhất yêu cầu là phải rất chu đáo ở trong thời khóa, thời gian nầy không
nên lệch lạc. Lại nói thêm rằng, thế thì không chỉ vỏn vẹn trong định
khóa mới chu đáo, mà nên phải xuyên suốt được tùy lúc tùy chỗ, đều cần
phải thường thường khởi lên một câu Phật hiệu nầy. Nếu có thể được như
vậy, thành tràng thành hạt cũng chẳng khó. Pháp môn tịnh độ (niệm Phật)
có cái hay ở trong đây, người đời có thể làm được, không phải là cao
không vói tới. Cần anh khai ngộ, thế thì khó rồi, không phải là người
người đều có thể, anh cũng có tánh khả năng, chỉ cần làm được cho dù một
hai người của ngàn vạn người khó, hiện tại anh có thể kể ra mấy chục
người khai ngộ không? Niệm Phật vãng sanh cũng không phải là kiểu nầy,
mà ai cũng đều có thể niệm. Cần chu đáo, thường có một câu nầy, sự tình
là có thể làm được, vấn đề là tự mình không chịu niệm. Phiền não một khi
khởi lên thì không chịu niệm. Giận dữ gấp rút là phiền não, vui vẻ đắc ý
cũng là phiền não; Kỳ thật xét kỹ trong phiền não cũng có thể niệm, chỉ
là chính mình không chịu niệm, nếu hay tỉ mỉ chu đáo, trì niệm khẩn
thiết, tự nhiên sẽ thành loạt thành tràng, nhất tâm bất loạn. Cho nên
việc niệm Phật vãng sinh thường xuyên lúc nào cũng được quan tâm.
+ Trầm lắng an nhàn: Câu nói nầy
chính là chỉ thẳng những chỗ bệnh trước mắt rất nhiều của người tu hành.
Có người dụng công chỉ có lòng muốn gấp gáp, bực tức chẳng thể mau mau
liền có chỗ thành tựu, do đó rất là khẩn trương, rất là gấp rút. Ðây
cũng là có tâm mong cầu. Nhưng sự thù thắng của niệm Phật thì từ nơi
“hữu niệm” mà thầm hợp với “vô niệm”, từ “hữu cầu” mà khế hợp với “vô
cầu”, từ “vãng sanh” mà chứng được “vô sanh”. Nên “trầm lắng”, trầm lắng
đến mức bình tĩnh, tâm tư không có một chút lo nghĩ bồi hồi sợ được sợ
mất nào, lo nghĩ bất an nào. Mà vả lại nên “an nhàn”; Bỡi vì có người nổ
lực, cũng bỡi ở tâm tư nôn nóng mà rơi vào sự khẩn trương, bề bộn, rối
loạn, lo lắng, gấp rút... Như vậy là đi ngược lại lời dạy của bậc Thánh
rồi!
“An nhàn”, hai chữ này tiến đến một bực
nữa mà nói, không những chỉ là sự bình tĩnh (trấn định), mà còn là muôn
duyên đều nhất loạt buông mất, không giữ không cầu, cho nên là một người
đại nhàn giữa trời đất. Trong tâm chỉ nhớ câu niệm Phật, một câu danh
hiệu Phật rõ ràng trước mặt, đã không có điều ngăn ngại lại chẳng điên
đảo, vắng lặng an tâm. Cho nên có thể thấy rằng hai chữ AN NHÀN quan
trọng cần yếu mười phần. Ngược lại, nếu gấp rút ở trong lòng, muốn thấy
Phật thấy hào quang, muốn thấy xuất hiện điềm lành, niệm thế nầy thì sẽ
sinh ra tâm bệnh; Vả lại không phải là do niệm Phật mà sinh ra bệnh đâu,
mà là do trong lòng, gấp rút như thế nên sinh ra tâm bệnh. Chúng ta nên
rất là an nhàn, vì sao có thể an nhàn? - Vì tín tâm! Người có tín tâm
thì rất an nhàn. Có người hỏi rằng: Ta sao lại niệm chưa tốt, còn vọng
tưởng tạp niệm? Ngài Ngẫu Ích đại sư giảng rất rõ: “vãng sanh hay không,
hoàn toàn do nơi chỗ có hay không có tín nguyện”. Vậy thì anh có hay
không có tín tâm sâu xa? Phải là phát nguyện chân chánh hay không? Chân
chánh đó là không muốn lưu luyến thế giới Ta Bà nầy, mà ưa thích Cực Lạc
nguyện cầu vãng sanh. Trên thực tế rất nhiều người còn lưu luyến, chẳng
thể lìa bỏ, tham luyến tài sản, sự nghiệp, danh vọng, vợ con, vật chất,
hưởng thụ, cuộc sống hiện tại tốt đẹp v.v... nên cố sức ham muốn nhiều
nhưng sống được mấy năm, rồi lại muốn tốt nhất là trường sinh bất lão!
Chính là lưu luyến thế giới nầy mà bỏ lìa không được. Cho nên ưa thích
Cực Lạc cần phải phát “đại nguyện”. Nhiều kiếp trở lại đây tất cả chúng
sinh đều là quyến thuộc của mình đang ở trong biển khổ đợi chờ ta cứu
độ, nhưng ta làm sao mới có thể độ chúng sinh đây! Tự ta còn là người
đang giãy giụa trong biển khổ, không có một chút năng lực nào cứu độ
người khác, chỉ sau khi vãng sanh, nương sức gia trì của Phật, ta sẽ có
được trí tuệ rồi cứu độ lập tức tất cả những quyến thuộc nầy. Phải là
tâm tình như thế nầy và nguyện lực như thế nầy. Có tín và nguyện tự
nhiên sẽ niệm, thì nhất định vãng sanh, cho nên vãng sanh hay không,
hoàn toàn nhờ ở sự có hay không có tín nguyện. Mọi người nói muốn vãng
sanh, thì trước nhất mọi người ở ngay nơi tín nguyện mà dốc sức công
phu. Nguyện nầy của ta có chơn chánh hay không? Nếu tín nguyện thiết tha
thì chắc chắn vãng sanh; Lại nữa vấn đề niệm Phật, trong tâm không nên
gấp rút nôn nóng mà phải tự nhiên an nhàn.
+ Tiếng hợp với tâm, tâm ứng với tiếng:
Tiếng niệm Phật từ trong tâm thành khẩn thanh tịnh phát ra tự nhiên hài
hòa an ổn, âm thanh câu niệm Phật nầy vi diệu, trải qua tai mình mà đạt
đến bản tâm, được nghe chính là được niệm, cho nên tự nhiên họp nhau,
tiếng họp với tâm. Âm thanh nầy là danh hiệu Phật muôn đức trang nghiêm,
cũng tức là âm thanh muôn đức trang nghiêm vậy. Âm thanh nầy vào từ nhĩ
căn là tự tâm được niệm, tự tâm niệm Phật, tự tâm là Phật. Cho nên tự
tâm chắc chắn tương ứng với tiếng được nghe. Tiếng hợp tâm, tâm hợp
tiếng, cho nên nói rằng: “tâm và tiếng nương nhau”. Nói một cách đơn
giản: Ta niệm Phật, mà niệm Phật có tiếng thì âm thanh trở lại trợ giúp
cho ta. Do ta phát ra tiếng, tiếng trở lại giúp ta, cho nên nói nương
nhau. Niệm như thế nầy không cần dùng cách bài trừ vọng niệm mà vọng
niệm tự tiêu mất.
Chưa có thể “nhất tâm” thì trước phải cầu
“chuyên niệm”, chưa có thể được “bất loạn” thì trước phải học tập “thành
từng loạt”.
Nhất tâm bất loạn là lúc niệm Phật tâm
không tán loạn, dẫn tới tâm chí thành, chuyên niệm danh hiệu Phật. Trong
“Kinh Vô Lượng Thọ”, một điều kiện căn bản được yêu cầu của “ba hạng
vãng sanh” đó là: “một hướng (lòng) chuyên niệm”. Thường xuyên chuyên
niệm một câu A Di Ðà Phật nầy, là thời gian niệm rất chuyên tâm, không
có vọng tưởng tạp niệm. Chưa thể đạt được nhất tâm thì trước phải chuyên
niệm. Chuyên nhất chẳng biến đổi, là đối với người thấy khác hay suy
nghĩ dời đổi mà nói, đứng núi nầy trông núi nọ, nói chung là chẳng thể
yên được ở pháp môn mình tu, có nghĩa là ngày nay muốn niệm Phật, ngày
mai muốn tham thiền, ngày mốt lại muốn tu mật, tóm lại muốn học nhiều
bao nhiêu cách mới có thể nương nhờ được?
+ Chưa có thể “bất loạn”, trước phải
“học thành từng loạt”: Làm chưa đạt được cái tâm “hoàn toàn đều
không tán loạn”, thì trước nên khiến nó thành từng loạt. Ta không thể
suốt không tán loạn, nhưng ta có cách làm mấy mươi câu thành một loạt,
trong một loạt mấy mươi câu nầy không có vọng tưởng tạp loạn; Nếu người
không chân thật dụng công thì ngay cả lập thành loạt niệm như thế nầy
cũng khó mà làm được. Cho nên nói rằng: “Chơn siêng chơn chuyên, công
hiệu tự thấy, không cần hỏi người, xin tự nghiệm lấy”. Như người uống
nước, lạnh hay nóng tự biết.
Từng câu niệm mà chơn, chắc chắn ra khỏi
Ta Bà. Thế nào gọi là CHƠN? - Một câu giải thích rất bình thường, nếu
muốn niệm được chơn, chỉ cần niệm của chơn. Không phải là ngụy trang dối
người, không phải là làm trên hình thức, không phải là có mục đích khác,
không phải là vọng cầu điều quấy, không phải là cái vỏ bề ngoài. Phải
nên khẩn cầu thiết tha, thường thật tín nguyện trì danh, một câu danh
hiệu Phật nầy tự mình niệm rất rõ ràng, toàn bộ rất rõ ràng, tức là niệm
chơn rồi vậy.
Niệm Phật chẳng thể cầu trước tiên là
nhất tâm bất loạn, vì nhất tâm bất loạn rất là khó, có thể được một loạt
một tràng, tức là ba mươi, năm mươi hoặc ba trăm, năm trăm câu... mà
không loạn, lại có thể tùy lúc tùy nơi mà có thể khởi tưởng niệm Phật.
Niệm Phật mà có thể “nhất tâm bất loạn”
đương nhiên là điều tốt rồi, nhưng có thể niệm được thành loạt thành
tràng mà chẳng loạn đều không phải là dễ đâu. Có thể niệm được thành
loạt thành tràng không loạn, tùy lúc tùy nơi khởi được tưởng niệm cũng
là niệm Phật rồi. E rằng chỉ biết niệm Phật trong thời khóa nhất định,
ngoài ra lúc bình thường chẳng tưởng được để niệm Phật!
Lúc niệm Phật nhất định nên niệm một cách
“chánh tâm thành ý” và “cung kính”, đây là bí quyết nhiệm mầu của niệm
Phật trì danh, mà vả lại trong lúc niệm Phật cần tâm không nên thêm
việc, chuyên tâm chỉ Nam MôA Di Ðà Phật, niệm được thuần thục, thì có
thể nhất tâm bất loạn rồi.
CHẲNG NIỆM GÌ CẢ -
CHỈ NIỆM A DI ÐÀ PHẬT
Niệm Phật như thế nào? Xin bảo cùng mọi
người một phương pháp: Tức là tùy lúc tùy nơi đi đứng ngồi nằm, động
tịnh rổi rảnh hay bận rộn, lúc đi đường niệm, lúc đứng cũng niệm, lúc
ngồi cũng niệm, lúc nằm cũng niệm, công tác chẳng dụng tâm suy nghĩ cũng
niệm, lúc phiền não niệm, lúc vui vẻ cũng niệm. Việc quá khứ không nghĩ
tưởng, việc hiện tại trừ lúc đang công tác cũng không nghĩ tưởng, việc
vị lai không nghĩ tưởng, việc lớn không tưởng, việc nhỏ cũng không
tưởng, việc ác không tưởng, việc thiện cũng không tưởng, chung qui đều
không nghĩ tưởng. Như thế nào mới là chẳng nghĩ tưởng? - Tức là niệm chí
thành chuyên nhất: A Di Ðà Phật, không chấp trước tốt xấu, có không,
được mất, chê khen, buông hết tình đời việc tục, chỉ có một câu A Di Ðà
Phật. Con người cả ngày vì tình đời việc tục mà bận rộn, nghĩ đông nghĩ
tây, tâm làm sao có thể yên tịnh được, chẳng những lúc niệm Phật tâm
không thể nhất tâm bất loạn, ngay cả lúc niệm Phật thành loạt thành
tràng cũng chẳng thể được; Như thế việc vãng sanh thế giới Cực Lạc dẹp
bỏ ư?
CHỈ SỚM TỐI MỖI NGÀY NIỆM MỘT LẦN NIỆM PHẬT THÌ LỰC CHẲNG ÐỦ
Chẳng nên cho là sớm tối mỗi ngày niệm
một lần niệm Phật, thì là đã niệm Phật, lúc mạng chung có thể vãng sanh
thế giới Cực Lạc rồi! Không có việc tốt như thế đâu. Chỉ nương vào sớm
tối mỗi ngày niệm một lần niệm Phật, thì có thể nhất tâm bất loạn không?
Trong tâm có Phật không? Nhân vì nghiệp chướng của chúng ta rất sâu
nặng, ngày trước chẳng nói chi, tức là phiền nào, dục vọng, ác niệm, ác
hạnh của hiện tại nay đây không phải là ít, những phiền não ác niệm nầy
cần nương nơi lực niệm Phật để tiêu trừ, lực niệm Phật càng lớn thì lực
của nghiệp sẽ càng nhỏ đi, lúc mạng chung mới có thể “chánh niệm” hiện
ra trước mặt, niệm Phật vãng sanh. Ta thử nghĩ xem lực niệm Phật của ta
có thể lớn hơn lực của nghiệp không? – Trong kinh A Di Ðà có nói:
“Không thể lấy chút ít thiện căn nhân
duyên phước đức, mà được sinh nước kia (Cực Lạc)”.
Nếu ta chỉ sớm tối mỗi ngày niệm một lần
niệm Phật, thì trong ta không hiện hữu Phật, sao có thể cảm thông cùng
đức Phật A Di Ðà? Như thế chẳng ngại rằng Phật A Di Ðà quên ta lâu quá,
đến lúc ta mạng chung chẳng đến đón ta; mà chỉ ngại rằng tự mình không
thật sự thường xuyên niệm Phật, chẳng niệm Phật nhiều, trong tâm không
có Phật. Bình thường không biết niệm Phật, lúc mạng chung làm sao có thể
khởi tưởng niệm Phật!
Thiện căn nhân duyên phước đức; chí thành
trì niệm danh hiệu đức A Di Ðà là “chánh hạnh”, gọi là thiện căn. Hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, thọ giữ giới cấm, chẳng làm việc ác,
ưa làm việc thiện, đó là “trợ hạnh”, gọi là phước đức. Không rõ được
việc tu chân chánh nầy tức là không có thiện căn. Tu mà chỉ cầu tự độ,
không phát tâm độ chúng sinh, tức là thiện căn ít. Không rõ việc tu các
trợ hạnh thì là không có phước đức. Tu chỉ cầu phước báo trời người, mà
không hồi hướng cho chúng sinh, tức là phước đức ít. Niệm Phật là nhân
chính, dừng ác tu thiện là duyên trợ giúp. Cho nên nói rằng: không thể
lấy chút ít thiện căn nhân duyên phước đức mà được sinh nước kia.
Mười niệm có thể vãng sanh! Từ sớm đến
tối niệm Phật gom lại hơn mười niệm không? Niệm Phật sớm tối sao không
thể vãng sanh? Nếu có thể, thì có chỗ nắm chắc không? - Người mà mười
niệm có thể được vãng sanh, trong muôn người khó được mấy người! Chúng
ta muốn sanh về thế giới Cực Lạc nên mới niệm Phật, vì sao không làm cái
việc có cơ sở chắc chắn ư?
Mười niệm vãng sanh; Là khi mạng chung
gặp được Thiện tri thức khai thị, dạy cho niệm Phật, thì tâm sinh hoan
hỉ, thần chí trong sáng, nguyện sanh thế giới Cực Lạc, mình lại có thể
niệm chí tâm, cho đến mười niệm, nhưng đây là do sự quan hệ từ sự gieo
trồng đời trước mà nay chín, nếu chẳng phải vậy, thì sợ rằng nghiệp
chướng dắt dẫn, bạn lành khó gặp, mười niệm khó thành. Bị bệnh khổ bức
xúc, nghiệp trước chiêu cảm, chánh niệm khó thành, mười niệm tuy dễ,
thật ra khó may mắn tập trung. Ngay lúc thân thể con người khỏe mạnh,
dõng mãnh tinh tấn mà không thể giữ gìn tâm may mắn ấy, sớm chuẩn bị cho
tư lương tịnh độ, để khỏi đến lúc cần đến không kịp.
Giữ không được cái tâm ở lại lúc ta mạng
chung, muốn mời Thiện tri thức đến để khai thị hoặc trợ niệm, thì có
biết lúc mạng chung đến không? Mời được Thiện tri thức không? Cần có
Thiện tri thức khai thị trợ niệm cũng khó được để mà nhờ cậy! (Có người
trợ niệm thì chẳng vãng sanh, không người trợ niệm đã vãng sanh rồi),
ngay cả tự mình còn nương cậy không được, huống nữa nương cậy người
khác! Nương cậy có được không? Lúc vãng sanh phát sanh chướng ngại, mạng
anh liền dứt rồi; cho nên muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì nên làm
cái việc có cơ sở chắc chắn, không nên giữ lấy cái tâm may mắn đó!
Ngài Thiện Ðạo đại sư, trong bài kệ
khuyến hóa, nói rằng:
“Lần nữa da gà tóc hạt, nhìn xem bước
đi lóng cóng, chỉ có tu hành nẻo chánh, thường chuyên niệm Phật A Di Ðà”.
NUÔI THÀNH THÓI QUEN NIỆM PHẬT
Niệm Phật là sớm tối mỗi ngày biết được
niệm, vậy thì bình thường biết được niệm không? Ngẫu nhiên nhớ được
niệm, niệm cũng không được mấy câu thì dứt. Nếu muốn nuôi dưỡng thành
thói quen niệm Phật, tốt nhất là sáng sớm thức dậy còn ở trên giường thì
niệm (niệm thầm), tối lại lúc ngủ cũng niệm, niệm đến khi ngủ, từ nay
bắt tay làm đi thì thói quen niệm Phật dễ nuôi dưỡng thành. Ngày ngày
niệm, giờ giờ niệm, khởi tưởng thì niệm liền, mới có thể nuôi thành thói
quen niệm Phật, khiến thói quen trở thành tự nhiên, tự nhiên miệng lúc
chẳng niệm mà tâm vẫn ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, trong tâm có
Phật, lâu ngày công phu sâu dày, miệng niệm tâm nghĩ, tự nhiên thành
một, nhất tâm bất loạn. Niệm Phật niệm đến lúc quên ta (vong ngã), thì
đạt được niệm Phật tam muội, cũng có thể ngộ đạo, đoạn trừ phiền não,
liễu thoát sinh tử.
Nếu cả ngày vì công việc bận rộn! Vì danh
lợi bận rộn! Vì hưởng thụ dằng dặc xao nhãng, phân tán buông lung, tâm
chẳng ở tại đạo, cần công phu tu tập cũng lúc có lúc không, dứt quãng
hay tới tấp bất thường, thường bị động chuyển trong sự vui, giận, buồn,
ưa... đối việc thuận ý thì tâm sinh khấp khởi vui reo, đối với việc
nghịch ý thì khởi tâm ghét hận (trôi nổi theo sóng phiền não, làm sao
bình tâm tịnh ý mà xét việc sai đúng), thì làm sao có thể nuôi dưỡng
thành thói quen niệm Phật. Ðâu rõ biết ba tạng, mười hai bộ kinh, biện
tài không ngăn ngại, danh tướng thì bàn luận lung tung, biết rõ mà không
làm, nói rõ mà không luyện, thì ra không khỏi ba cõi!
NIỆM PHẬT CÓ NỀ NẾP
Mọi người đều có thể hiểu được ý tứ của
câu “Niệm Phật có nề nếp”, tức là toàn tâm toàn lực niệm Phật mà tâm
không xen thêm việc khác, lúc có phiền não - niệm Phật, lúc hoan hỉ -
cũng niệm Phật, ban ngày - niệm Phật, ban đêm - niệm Phật, lúc bận rộn -
niệm Phật, lúc nhàn rỗi - cũng niệm Phật, không lúc nào là không khắc
sâu và không ở tại câu niệm Phật. Ðại khái là mọi người liệu hiểu được ý
nghĩa vấn đề niệm Phật có nề nếp (thói quen). Kỳ thật đây chỉ là nêu lên
sự công phu trên bề mặt, mà chưa phải là niệm Phật trên vấn đề “Ðức
hạnh”. Tu hành mà chỉ ở mỗi sự biểu hiện của công phu bên ngoài, mà
không có sự nổ lực thăng tiến ở nơi “đức hạnh”, nghiêm trì giới luật
(năm giới, mười giới, sáu độ), thanh tịnh tâm; Thế thì, thói quen niệm
Phật của người đó cũng giống như một máy niệm Phật quay chuyển tự động,
tự động niệm hoài câu hiệu Phật, máy tự động niệm Phật tuy có thể có
thói quen niệm Phật, song không thấy có thể vãng sanh thế Cực Lạc.
Người không tu hành thì có thể làm người
không cần nề nếp lắm, nhưng người tu hành thì nửa chút việc cũng chẳng
nên lơ là, chẳng nên thường bị việc thế tục như: Công tác, kết hôn, sinh
con, lo gia đình, mua xe mua nhà... nhiều việc nhiều việc bận rộn! Trong
tâm tham ái dính mắc sinh - tử - yêu - hận! Nên nương theo lời dạy như
pháp mà tu hành nề nề nếp nếp, nhiên hậu mới có thể được giải thoát
(sinh về thế giới Cực Lạc ở tây phương), đây là vấn đề ý vị sâu xa, cũng
là chỗ diệu nghĩa của một câu “Niệm Phật có nề nếp” nầy. Nếu như người
có thể dụng công niệm Phật phát ra bằng miệng thì càng bổ sung được
những thiếu sót trên nhân phẩm; như thế có thể khẳng định rằng Phật giáo
đồ bao gồm đại bộ phận đều được giải thoát (sinh tây) rồi. Song đứng
trên sự thật ngược lại không phải là như thế, có rất nhiều người niệm
Phật chính mình đối với chính mình không có tín tâm, lại còn thưa với
thân hữu (bạn bè thân) hãy vì mình mà lúc lâm chung niệm giúp mình một
phen (người có tín tâm đầy đủ thì không cần phải thưa gởi như thế đâu);
đây chính là người tu hành niệm Phật chẳng đủ sự thành thục, tín tâm dễ
bị động lay vậy. Cũng tức là nói rằng danh hiệu Phật bình thường ta niệm
chẳng đủ thành nề nếp, trong tâm ta bị những sự việc hoặc những ý niệm
“không nề nếp” của ta chiếm lĩnh, trong tâm tồn tại những việc thế tục
so tính cưu mang dắt dẫn mãi, khiến cho ta biến thành kẻ “miệng thì nề
nếp mà tâm không nề nếp”. Cần nên biết rằng sự tình giải thoát (sinh
tây) là chẳng thể hoàn toàn nhờ vào cửa miệng là xong, càng nên quan
trọng là công phu trong tâm, nề nếp (thanh tịnh) trong tâm; trên miệng
niệm tới niệm lui đều là một câu A Di Ðà Phật, miệng không biết được
chính mình có thói quen hay không, nó chỉ là phản ảnh lại nhu cầu của
nội tâm mà thôi, nó chẳng qua là công cụ phát thanh, nếu ta không dùng
nó thì cũng chẳng thể ảnh hưởng lại nội tâm; cho nên công phu trên miệng
không hoàn toàn chứng minh chỗ có nề nếp hay không, công phu trong tâm
mới là chính của nề nếp. Ta nếu niệm Phật nề nếp thì nên dùng nề nếp
(thanh tịnh) trong tâm để niệm, ngàn vạn lần xin chớ nên dùng tâm không
nề nếp mà niệm đức Phật nề nếp (thanh tịnh)! Nếu thế là hành vi tự khi
dối, là chướng ngại cho việc giải thoát (sinh tây).
Lại nói rằng, một việc niệm Phật có nề
nếp nầy thật chẳng phải dễ, đa số mọi người thật ra rất khó mà niệm Phật
có nề nếp, tóm lại là đem Phật mình niệm thành ra ông thần tài để cầu
tài, mong rằng có thể được của tiền giàu có v.v... đây vốn là bản tính
của con người sai quấy sâu dày, nhưng ta có thể ở trong quá trình niệm
Phật cầu tài, ngược lại mà xen lẫn sự ham muốn càng nhiều của mình,
khiến cho mình càng khó bỏ thoát được vướng mắc của ham muốn, biến thành
niệm Phật cầu phước báo trời người. Cho nên niệm Phật thành nề nếp, tức
là cần gội bỏ sạch hết tất cả những ý niệm ham muốn của thế tục nầy,
nhìn rõ buông cả, đem tâm nhẹ nhàn không chấp, không vọng lấy, không
vọng dùng, niệm Phật một cách chân thực tồn tại. Chẳng nên chỉ niệm Phật
trên miệng mà ngược lại trong tâm, để cho sáu dục chiếm đầy, thế thì chỗ
thành tựu mà ta niệm Phật thu hoạch được khả năng ít ỏi không đủ dùng
cho ta, vì ta đã đều để nó dụng cho việc tiền tài, giàu có, thân nhân...
trên những việc ngoài thân, mà không tập trung lực lượng để đối phó ngay
cái nguồn của tất cả phiền não (tâm) đã phát ra. Ta có thể đúng như chỗ
nguyện mà được sự linh nghiệm về tiền bạc giàu có v.v... thì ta ngược
lại cũng khó chiến thắng nổi kẻ địch rất lớn của nhân loại đó là: Tự
ngã; Nó từ trong danh lợi và lòng ham muốn mong cầu của thế gian mà
thoát ra. Do vì tâm niệm của ta đã chẳng thuần tịnh được.
Trong “nề nếp” đã bao hàm ý nghĩa là
hướng theo Phật Ðà mà học tập, nhìn chung, ngoan ngoãn chiếu theo lời
dạy của Phật Ðà mà làm. Người chẳng có nề nếp, ngoài việc niệm Phật trên
cữa miệng ra, các bộ phận khác đều xa lìa tâm Phật và hạnh Phật, nên
biết rằng đức Di Ðà thì không thể mang được một bộ răng của anh lúc anh
lâm chung vãng sanh, cái mà ngài mang là cái TÂM của anh, một cái tâm
thanh tịnh, tâm học Ngài, nghĩ tưởng Ngài và có nề nề nếp nếp (thói
quen) niệm đến Ngài!
Niệm Phật đương nhiên có thể giải thoát
(sanh tây), chẳng thế thì cũng không thể có nhiều người xét rộng pháp
môn nầy, nhưng niệm Phật giải thoát thật ra chẳng phải là không có điều
kiện, nhân vì danh hiệu Phật ắt phải cần kết hợp với người niệm Phật,
mới có thể khiến cho một câu danh hiệu Phật phát huy có sức ứng hợp của
nó; cũng tức là nói tâm của người niệm Phật, hành vi (thân) và miệng cần
phải kết hợp thành một thể; Miệng niệm Phật, trong tâm cũng cần tưởng
Phật, hành vi thì không thể trái với sự dạy răn của Phật, đây mới là sự
niệm Phật chu toàn.
Kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật dạy rằng:
“...Chánh tâm chánh ý, trai giới thanh
tịnh, một ngày một đêm, hơn cả trăm năm làm thiện ở cõi nước Vô Lượng
Thọ, bỡi vì sao? Vì cõi nước kia là Vô Vi tự nhiên, sẵn chứa các việc
thiện, không có việc ác dù nhỏ; ở cõi nầy tu thiện, mười ngày mười đêm,
hơn cả trăm năm làm việc thiện ở các nước Phật phương khác, bỡi vì sao?
Ở các nước Phật khác người làm việc thiện rất nhiều, người làm ác rất ít
ỏi, phước đức tự nhiên, không có chỗ tạo ra ác. Chỉ vì cõi nầy việc ác
rất nhiều, không có tự nhiên, siêng nơi khổ cầu ham muốn, chuyển đến dối
gạt nhau, tâm nhọc nhằn thân khốn cùng, uống đắng ăn độc, việc ác như
thế, chưa từng yên dứt”.
NHẤT NIỆM LÚC LÂM
CHUNG RẤT LÀ QUAN TRỌNG
Chúng ta niệm Phật phải toàn lực ở lúc
lâm chung, nhất niệm chánh niệm (niệm Phật tưởng Phật) thì niệm Phật
vãng sanh; nhất niệm tà niệm (tưởng việc thế gian, một khi tưởng việc
thế gian thì tâm điên đảo) thì rơi vào luân hồi. Sớm niệm tối niệm một
câu danh hiệu Phật, đi niệm ngồi niệm... cho đến cả ngày cả năm niệm
niệm không thôi, không lúc nào chẳng là thuần thục câu niệm nầy đến khi
lâm chung nhất niệm mới thôi. Do nhất niệm nầy chỗ liên hệ rất là quan
trọng, nó dắt hồn dẫn phách, tạo mạng sanh thân, chẳng việc gì chẳng do
đây, nên niệm thiện thì lên thiên đàng, niệm ác thì xuống địa ngục, niệm
ma bèn thành ma, niệm Phật lại thành Phật. Nếu bình thường chẳng niệm
nhiều, huân tập chín chắn sắc bén, trong tâm có Phật, đến lúc lâm chung
thì sớm đã quên mất chánh niệm niệm Phật, vẫn phải theo các niệm thiện
ác đã huân tập chín muồi từ nhiều đời mà đi, luân hồi khắp sáu nẻo đều
từ một niệm nầy làm chủ. Nếu chuyên chú ở nơi đức Phật, thì thân tuy
chết mất, mà thần thức trong sáng, tức theo nơi nhất niệm mà vãng sanh
về thế giới Cực Lạc vậy.
Cho nên niệm thuần thục (trong tâm có
Phật) một câu: Nam Mô A Di Ðà Phật, lúc mạng chung mới có thể chánh niệm
hiện tiền, tâm không điên đảo, niệm Phật vãng sanh; nếu bình thường
chẳng niệm Phật (trong tâm không có Phật), lúc mạng chung làm sao biết
Phật! Lúc ấy tưởng và niệm đều là những chuyện thế gian, lại thêm khi
lâm chung bệnh nguy đau khổ rất nhiều, hoặc sanh ý bên ngoài, hoặc tiếng
kêu khóc của vợ con, thần chí thì hôn mê, nghiệp trước thì chiêu cảm, ác
nghiệp thì hiện ra, tâm hoảng hốt, ý tán loạn, sáu thần không chủ, hoặc
tham yêu cội gốc thức ái sanh tử thế gian, tà niệm hiện ra, điên điên
đảo đảo, tâm niệm Phật thế nào cũng không làm sao khởi lên được, nghiệp
lực hiện ra, bị nghiệp lực dẫn dắt vào luân hồi, cho nên biết rằng nhất
niệm lúc lâm chung rất là quan trọng, quan trọng lắm!
Phải quán sát thân nầy như hư không. Thân
vì nghiệp chướng từ vô thỉ trở lại đây sinh ra, nghiệp chướng thì do
vọng tưởng mà khởi. Chánh niệm sanh, thì vọng tưởng diệt, nghiệp chướng
tiêu trừ.
Phải biết rằng bệnh khổ vây lấy thân là
vì nghiệp báo, đây bỡi đời trước tạo ra các ác nghiệp nên đời nầy thọ
báo, thấy như quả báo nặng thọ nhận nhẹ, mình niệm Phật của mình, nhất
tâm niệm Phật, lại chẳng thấy khổ. Chẳng được để bệnh làm khổ, tâm sanh
phiền não vọng tưởng. Vọng tưởng một khi khởi lên thì nghiệp chướng liền
đến, mà nghiệp chướng đến thì tâm liền điên đảo.
Vì sao niệm Phật nhiều như thế mà có
người chẳng được vãng sanh ư? Bỡi vì là “TÍN - HẠNH - NGUYỆN chẳng đầy
đủ nên lúc mạng chung tâm sanh điên đảo”, nghiệp lực hiện ra, bỡi bị
nghiệp lực dẫn đi chuyển đến trong sáu đường.
Cho nên niệm Phật cần phải nhất tâm
chuyên niệm, niệm nhiều, niệm cho nề nếp để dưỡng thành thói quen niệm
Phật, trong tâm có Phật, lúc mạng chung mới có thể chánh niệm hiện tiền,
tâm không điên đảo mà niệm Phật vãng sanh.
HỌC PHẬT CẦN KỊP THỜI
Học Phật tu hành là việc rất yên vui của
người đời, cũng là việc đáng quí khó có thể được. Căn cứ pháp của Phật
dạy rằng: “Thân người khó được, quốc gia trung tâm (nơi có Phật pháp)
khó sinh vào, Phật pháp khó nghe, Bậc đại thiện tri thức khó gặp”.
Một tầng lại khó hơn một tầng. Trong kinh lấy người nghe được Phật pháp
khó cũng giống như ví dụ con rùa mù gặp được lỗ bộng cây nổi, chín chắn
mà nghĩ lại, thật là chẳng sai một chút nào! Hiện tại nhân khẩu trên thế
giới nhiều như thế nào, chân chánh có thể nghe được Phật pháp thì có bao
nhiêu người ư? Người trên thế giới có thể vào đạo Phật học Phật tu hành,
ở trong sóng của biển người, thực tại là số ít trong số ít. Người học
Phật tu hành đại khái là như đây không dễ dàng, chỉ khó như đây mới đáng
quí, nhưng vì sao có những người rốt cuộc đem việc đó cho là việc dư
thừa, rồi thì tránh né chỉ sợ rằng chẳng kịp? Ðây chính là vấn đề rất ý
vị! Thật có phải là nhân duyên chưa tới không?
Có người nói: Hiện tại ta không có rảnh
tu hành, cũng không rảnh niệm Phật. Chúng ta một ngày hai mươi bốn tiếng
đồng hồ, thật ra không có rảnh rang một chút sao? Không phải thế, đều là
vì danh lợi và dục vọng chất đầy cả trong đầu, trong đó có rảnh không?
Người có tín tâm lấy Phật pháp làm của chí bảo, người không tín tâm đem
Phật pháp làm vật phẩm tiêu khiển lúc nhàn rổi! Có thể thọ dụng Phật
pháp hay không cũng ở trong đây.
Lại có người nói, mức độ của ta sáu mươi
tuổi về sau mới học Phật, hiện tại còn chưa phải là lúc. Người nói những
lời nầy, có đáng hay không - Khi đến tuổi sáu mươi thật sự học Phật,
đương nhiên là rất có vấn đề, bỡi vì trong đầu của anh ta trang bị đầy
cả tiền bạc giàu có, quyền thế, danh vọng địa vị, nam nữ, ăn uống... ham
muốn những vật chất hưởng thụ, sợ sệt lắm sau khi học Phật những vấn đề
nầy thỏa mãn không thành, nên quyết cần nhân cơ hội lúc còn thanh niên
trẻ khỏe mà lăn lộn trong năm dục, đợi đến khi tuổi tác già rồi, thể lực
suy yếu, lúc không còn khí lực vui chơi, muốn suy nghĩ học Phật tu hành,
mà tâm học Phật của anh ta chẳng thuần, ý lại không chánh, tâp khí tâm
bệnh sửa mà không thể đổi, vấn đề lợi ích Phật pháp dẫu có được cũng
quyết chẳng thể to lớn.
Có những người tuổi trẻ lầm cho là niệm
Phật chẳng cần sớm, chẳng cần phải niệm ở hiện tại, vì hiện tại còn phải
chuẩn bị làm rất nhiều việc, lại nói ra rất nhiều lý do, lầm cho pháp
môn niệm Phật rất là cạn cợt, coi khinh một câu Phật hiệu “Nam Mô A Di
Ðà Phật”, ngược lại chưa nghĩ ra lời dạy của người xưa:
“Chớ đợi tuổi già mới học Phật
Mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xanh”
Chớ nên đợi lúc tuổi già nua tinh thần
sức lực suy yếu, bốn đại chẳng điều hòa, bệnh đau nhiều nỗi, ở trong
phiền não vì tham lam khốn đốn, nghiệp ác xâm lấn, danh lợi ham muốn lại
khó buông bỏ, nói tu hành (niệm Phật) đâu phải là việc dễ, niệm Phật
chẳng có thói quen, nề nếp, thì trong tâm không có Phật, lúc mạng chung
làm sao có thể “Chánh niệm hiện tiền”, tâm chẳng điên đảo? Niệm Phật
vãng sanh? Cho nên càng là tuổi trẻ thì càng nên học Phật (niệm Phật),
nuôi thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn!
Có người nói: Học Phật (niệm Phật) là
tốt, nhưng nhà người ta mỗi ngày bận rộn đến tối, mỗi năm bận rộn tới
đầu, chỉ có thể được cái no ấm, đã không tiền làm công đức, cũng không
có thời gian rảnh rổi để nghe kinh, niệm Phật. Cuộc sống cần khẩn
trương, niệm Phật tuy cũng tốt, nhưng không phải là đồ uống miếng ăn,
hãy đợi đợi ta phát tài rồi mới niệm Phật (!)
Có người cho rằng: Tôi là công nhân viên
chức, chỗ ở là nhà chung, chẳng thuận tiện. Cúng Phật lạy Phật hẳn nhiên
là không thuận tiện, niệm Phật cũng là làm rối sự yên ninh của người
khác, tôi làm không được. Nơi công cộng nhiều sự bất tiện, thật ra chẳng
sai. Nhưng làm việc gì cũng đều có cách thông suốt của nó, nếu biết niệm
Phật là lớn, chỉ cần “thành tâm” mặc niệm (niệm thầm), bèn có hiệu quả
lớn, mà chẳng nhất định phải là niệm ra tiếng.
Có người nói rằng: Niệm Phật là pháp của
ông già bà lão và người độn căn tu. Hễ gặp những luận điệu như thế nầy
cần phải đề cao cảnh giác, chớ nên vì những miệng lưỡi bén nhọn đó
chuyển ý. Trong sử Phật giáo chư vị Ðại đức tôn kính, vì sao sau khi
thấu triệt và giác ngộ được đạo lý, đều ra sức suy tôn niệm Phật cầu
sanh tịnh độ? Như vậy chư vị Ðại đức đâu phải là người tầm thường kẻ độn
căn! Sự - Lý không nói cũng tự rõ, chúng ta phải tự suy tư. Một điều
khác, đó là xưa nay người thành tựu trong niệm Phật rất nhiều. Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni thương xót chúng hữu tình, chỉ bày cho thời kỳ mạt pháp,
pháp môn niệm Phật rất là khế họp căn cơ chúng sinh, pháp tu đơn giản rõ
ràng, đạo tràng khắp nơi thuận tiện thích ứng, rảnh rổi bận rộn đều có
thể tu, hễ phàm là người chí thành niệm Phật, đều tương ứng với đại bi
đại nguyện của đức Phật A Di Ðà.
Ðây đều là những vấn đề không rõ biết
pháp môn học Phật (trì danh niệm Phật) cho là học Phật (niệm Phật) cần
tụng kinh, hoặc ngồi yên, hoặc cần tiền làm công đức v.v... pháp môn
niệm Phật chỉ giữ một câu danh hiệu: “Nam Mô A Di Ðà Phật”, đã đơn giản,
lại thẳng tắc, không tiền làm công đức cũng được; người giàu niệm, người
nghèo cũng có thể niệm, lúc rảnh rỗi niệm, lúc bận rộn cũng có thể niệm,
là một phương pháp tùy lúc tùy nơi đều có thể niệm.
Biết chân chánh, thấy chân chánh, đó là
vấn đề rất quan trọng. Nếu cái biết và thấy (tri kiến) của con người
không chân chánh, thì dễ lầm lạc vào ngoại đạo, ngoài tâm chấp lấy pháp,
tất cả mê tình nương tà kiến mà khởi, tức chỗ trụ làm nhân chịu sự trói
buột, rất sợ ma, hoặc nguyện lực có chỗ thiếu sót. Cho nên nói là nguyên
nhân không Chơn thì chuốt lấy kết quả gập ghềnh, nếu người tu hành tri
kiến thuần chánh, chuyên chí niệm Phật, sanh về nước Cực Lạc, có thể từ
phàm phu thẳng đến quả Phật.
Này các bạn tuổi trẻ! Nếu thật sự muốn
lúc mạng chung vãng sanh về thế giới Cực Lạc, học Phật tu hành (niệm
Phật) thì càng sớm càng tốt, nuôi thành thói quen niệm Phật, trong tâm
có Phật, khiến vọng tưởng không sinh, phiền não dứt trừ, vãng sanh Cực
Lạc thì có cơ sở chắc chắn. Chẳng đợi tuổi già mới học Phật, vì tham lam
vây quanh, nghiệp ác xâm lấn, danh lợi ham muốn v.v... buông không rời
được, nói vãng sanh thế giới Cực Lạc đâu phải dễ, một khi mất thân
người, lại rơi rớt ở trong sáu đường thì có được vui không!
PHÁP NIỆM NIỆM PHẬT
Vì cần thích ứng hoàn cảnh và tâm cảnh
niệm Phật mà khởi lên cái nhìn thấy, vì cần thích ứng với căn khí của
người niệm Phật mà có các việc không đồng. Lúc nguời tu hành niệm Phật
có thể lựa chọn phương pháp thích hợp cho mình rồi mới thực hành. Nếu là
niệm được một thời gian mà cảm thấy phương pháp nầy không thể trấn định
tâm cảnh lúc bấy giờ, bèn có thể đổi một phương pháp, như thế một lần
đổi lại một một lần đổi, đều không có gì chẳng được, chỉ cần thời gian
này có thể “định tâm” dẹp trừ vọng tưởng tạp niệm thì là phương pháp tốt
cho thời gian nầy. Thí như trị bệnh, chỉ cần trị lành được bệnh tức là
thuốc hay đối với chứng bệnh. Vọng tưởng của chúng sinh là bệnh, danh
hiệu Phật là thuốc, có thể trừ được cố tật, đó là diệu dược.
1 -
Niệm
to tiếng: Là phép niệm mở to
cổ họng, phép niệm đó chỉ giây lát thôi, ngại vấn đề hao khí không thể
trì lâu, chỉ đối trị với hôn ám nặng nề (hôn trầm), biếng nhát mỏi mệt
(giải đãi), vọng tưởng, hiệu qủa rất là rõ ràng. Nhân vì niệm to tiếng
có thể sảng khoái đầu óc, chấn chỉnh tinh thần, nhưng không nên niệm
lâu, niệm lâu sẽ làm thương tổn nguyên khí và đau cổ khan giọng... tâm
bệnh phát sinh. Lúc niệm to tiếng cần chú ý, chẳng nên làm trở ngại an
ninh của người khác mà chuốt lấy sự chán ghét, như thế không có tâm Từ
bi.
2 -
Niệm
nhỏ tiếng: Niệm nhỏ tiếng thì
khó nhiếp vọng tâm vọng niệm, thời gian thì có thể niệm lâu được nhưng
dễ bị hôn trầm. Lúc tinh thần hưng phấn, người và cảnh không có sự trở
ngại lại có thể niệm to tiếng.
3 -
Niệm
Kim Cang: Tức là miệng môi máy
động, nửa có tiếng nửa im lặng, âm thanh phát ra giữa môi và răng để
chính mình nghe được thích nghi; người hành giả một mặt niệm, một mặt
dùng tai để nghe, bất luận là sáu hay bốn chữ, chỉ cần từng chữ từng câu
nghe được rõ ràng không sai chạy, tự nhiên tâm định. Pháp niệm nầy hiệu
lực rất lớn, cho nên dùng từ Kim Cang làm ví dụ mà đặt tên.
Ba cách trên đây là nối kết với duyên bên
ngoài.
4 -
Niệm
thầm (mặt niệm): Nếu to tiếng, nhỏ tiếng đều không thích nghi, niệm Kim Cang vẫn còn
ngại dấu vết; hoặc là chỗ nhơ uế không sạch sẽ, cho đến tắm rửa, đại
tiểu tiện, lúc người ồn ào, không nên niệm ra tiếng, chỉ còn cách là
niệm thuần dụng tâm. Mặc niệm chữ nhiều khó niệm, niệm bốn chữ, ở trong
tâm thức của hành giả mới có sự sáng suốt rõ ràng.
5 -
Niệm
nhớ tưởng: Tức là tâm niệm,
miệng - môi - lưỡi đều không động, tâm niệm tất cả rõ ràng, lúc nghe trở
lại tiếng của tai rõ rõ ràng ràng thì vọng tưởng khởi, ắt cần phải nhiếp
tâm, thấy cảnh không duyên, tâm mới có thể định, mới là trên đường niệm
Phật, Nếu không như vậy tưởng khởi lên, đó là niệm Phật trống rỗng, việc
vãng sanh e rằng không đủ sức!
Hai cách trên là nối kết với sự huân tập
bên trong.
6 -
Niệm
truy đảnh (tiếp câu): Là dùng
phương pháp niệm Kim Cang, nhưng giữa chữ và chữ, giữa câu và câu, liên
tiếp liền lạc nhau rất là nghiêm túc, hình như là một chữ đuổi theo một
chữ, một câu gối đầu một câu, khoảng giữa không có chỗ hở đứt, cho nên
gọi là “truy đảnh”. Lúc nầy trong lòng khẩn trương, tâm và miệng đều
tiến đến câu niệm, cho nên vọng tưởng tạm thời lắng lặng.
7 -
Niệm
ngồi yên: (tĩnh thổ thiền): Là
xếp bằng ngồi ngay ngắn, trạng thái thoải mái, thân cần phải chính ngay,
không lắc lư thân, nên thuận với tự nhiên, không gồng lưng ưỡn người, để
khỏi bị khí nóng bốc lên, cũng chẳng nên cong lưng cúi đầu, lưỡi tì vào
hàm trên, nếu tiết nước dãi thì từ từ nuốt xuống yết hầu, khép hờ mắt,
lặng nhìn ngay sống mũi. Ngồi yên nghĩ tưởng niệm Phật, chẳng phải là
tham thiền, cũng chẳng phải là chỉ quán, có thể ngồi lâu dài. Hành giả
khi mới ngồi, do vọng tưởng nhiều hơn niệm Phật, do niệm tạp nhiễm nhiều
hơn niệm tịnh sạch; Lúc nầy thì nên phải dọn trừ đi muôn duyên, buông bỏ
tất cả, nhiếp cả sáu căn. Sớm tối mỗi lúc ngồi một lần, thời gian còn
lại khác nên nhớ tưởng niệm Phật. Niệm Phật như thế, thì hiệu quả của
việc thu được tăng hơn nữa. Lâu xa về sau, thì tùy lúc tùy nơi, một câu
danh hiệu Phật, lúc miệng chẳng thể niệm thì tâm cũng tại niệm, không
niệm mà tự niệm, ở nơi niệm liên tục kỹ càng không dứt, mới là trên
đường niệm Phật. Niệm ngồi yên, chẳng dùng chuỗi để niệm, cũng chẳng nhớ
số lượng, chỉ cần có niệm thì tốt. Nhưng trong công khóa sớm tối nhất
định phải niệm ra tiếng, có thể niệm to tiếng càng tốt. Nếu ở trong nguy
nạn thì nên phát tiếng niệm to, lúc nầy chẳng nên so kể là chỗ nhơ uế.
Ðến lúc mạng chung cũng cần phải niệm ra tiếng, có thể niệm to tiếng rất
tốt, cần phải nhớ! Phải nhớ!
Nếu vọng niệm nhiều, tức nên dùng pháp
“mười niệm nhớ số”, tức là niệm một hơi từ câu thứ nhất đến câu thứ mười
thì dừng, lại tiếp tục niệm từ câu một đến câu thứ mười, chẳng được niệm
leo đến hai, ba mươi chẳng hạn, để khỏi bị lực của tâm không kham nổi,
ắt phải bị bệnh. Nếu nhớ thẳng mười câu mà khó nhớ, có thể phân làm hai
hơi, từ một đến năm, từ sáu đến mười, chỉ nhờ vào sức nhớ của tâm mà
chẳng được lần chuỗi, thì mới dốc toàn tâm lực ở nơi một tiếng hiệu
Phật, vọng niệm không dấy khởi, nhất tâm bất loạn, lâu phải tự được; khi
nhiếp được tâm thì đồng, mà khi dụng công thì rất khác nhau. Người kia
hết một hơi là một niệm, chỉ có thể sáng sớm một lần, thường dụng công
thì tổn khí thọ bệnh. Người nầy thì từ sáng đến tối, hoặc có tiếng hoặc
không tiếng, tùy lúc mau lúc chậm, đi đứng ngồi nằm đều không lúc nào là
chẳng thích nghi. Chẳng những bỏ được vọng mà rất có khả năng dưỡng
thần, so với người lần chuỗi nhớ số kia, lợi ích khác xa.
Niệm có kỳ hạn:
Nếu muốn được nhất tâm bất loạn, hiện tại chứng được tam muội, cần lựa
chọn một cái thất yên tịnh, bặt dứt duyên bên ngoài, xin khách không nên
nói chuyện, chỉ vì một câu danh hiệu Phật, niệm “ truy đảnh” (dùng phép
niệm kim cang), hoặc phép “mười niệm nhớ số”. Không nên to tiếng làm tổn
thương khí lực, hoặc làm cho bị công hỏa lên; không được ngầm giận mà
tổn thương máu, hoặc lơ là thành thói quen, trầm tĩnh nặng nề tối tăm.
Cũng chẳng nên niệm qua loa cho hết ngày giờ, cho cùng năm mãn tháng;
lúc còn sức khỏe nên niệm mạnh mẽ một ngày một đêm đến bảy ngày bảy đêm
không dừng, tích cực nối tiếp, mạnh mẽ lại càng mạnh mẽ, tình thức dứt
bặt, tự nhiên thân tâm lại không bị loạn, tức gọi là nhất tâm bất loạn.
Nếu chẳng được cảnh giới nầy thì tuy có tạm thời thanh tịnh, cũng là nơi
nghỉ tạm, lúc thanh tịnh thì có niệm, lúc động loạn thì mất niệm, huống
chi lúc lâm chung rất là đau khổ phiền muộn thì sao? Có thể thấy rằng
lúc bình thường trong cảnh yên tịnh chút chút, thì tâm ý thức được việc
ở bên, đến lúc buồn phiền thì dù ý thức thông minh làm chủ cũng đều dùng
chẳng được vậy.
Nếu liên tục kỳ hạn mà dễ sinh bệnh, thì
chẳng nên làm lâu. Xin khuyên chư vị bạn đạo, nương theo phươ