Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


......... .

 

TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm
Soạn thuật
---o0o---

CHƯƠNG III

TIẾT 2

 

           Trong tiết-mục (thứ hai) nầy ...

           Xin giải-thích sơ qua về 12 phần đảnh-lễ Tam-bảo - Tức là đảnh-lễ Phật-bảo, Pháp-bảo và Tăng-bảo.

           Trước hết,

           Giải-thích ÐOẠN MỘT - Câu Ðảnh-lễ thứ nhất.

      

A.  NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

                        Hoằng-dương môn Tịnh-độ,

                        Thích-Ca Mâu-ni PHẬT.

                        Trăm ngàn ức hóa thân,

                        Khắp pháp-giới chư PHẬT.

 

a.  Hai chữ "Nhứt-tâm" đây có nghĩa là:

           - Chỉ còn lại có "mỗi một TÂM" duy-nhất (tức là TÂM tưởng đến PHẬT) mà thôi chớ không còn có thêm vào bất-cứ một tâm-tư, suy-nghĩ thứ hai, thứ ba nào khác ... xen lộn vào trong đầu óc, tâm-tưởng của mình hết cả.

           Có như thế thì mới "Cảm-ứng đạo-giao" không thể nghĩ bàn cùng với PHẬT được.

 

b.  Ðảnh-lễ:

           - Ðảnh là đảnh đầu,

           - Lễ là lạy xuống.

Hai chữ nầy có nghĩa là:

           - Cúi đầu và mặt lạy xuống (dưới chân của PHẬT) - Gọi là: - "Ðầu, diện tiếp-túc quy-mạng lễ", để bày-tỏ lòng cực-kỳ tôn-kính lên PHẬT.

 

c.  Hoằng-Dương:  Có nghĩa là làm cho sáng tỏ, rực-rỡ cái đạo pháp của ta lên, khiến khắp cả mọi nơi và mọi người xa-gần đều rõ biết hết (để cùng nhau tu-học và chứng được quả-vị giải-thoát).

 

d.  Môn Tịnh-độ:   Là một môn-pháp tu chuyên niệm danh-hiệu Phật A DI-ÐÀ để cầu sanh về CỰC-LẠC quốc-độ mà chúng-ta hiện đang tu-học và trì-niệm mỗi ngày.

 

Thế nên câu kệ nầy có ý-nghĩa như sau:

           - Nay con một lòng, cúi đầu đảnh-lễ pháp-môn Tịnh-độ là một pháp-môn tu-học đại-thừa, vừa thắng-diệu, vừa hợp với căn-cơ của tất-cả chúng-sanh chúng con trong thời buổi mạt-pháp nầy.

           Ðây là con đường thẳng tắt để tiến đến quả vị vô-sanh, là cầu, là đò, đưa chúng-sanh chúng con đáo qua bỉ ngạn.

           Con nguyện sẽ y theo pháp-môn Tịnh-độ mà đức Bổn-sư đã khai-mở, chỉ đường, để tu-học và nguyện sẽ hoằng dương pháp-môn nầy cho rộng-rãi thêm ra để báo đền công-ơn của đức từ-phụ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT và đức A DI-ÐÀ Thế-tôn từ-mẫu (đã vì chúng con mà dạy-dỗ, dắt-dìu....)

 

GIẢI-THÍCH CÂU THỨ 2:

B.  THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT:

 

           1.  THÍCH-CA (dịch là Năng-nhân) là họ MÂU-NI (dịch là Tịnh-Mặc) là tên.  PHẬT là quả-vị chứng-đắc cứu-cánh tột cùng - đầy-đủ cả bốn nghĩa là:  Chơn-thường, chơn-lạc, chơn-ngã, chơn-tịnh.

           - NĂNG-NHÂN là năng giúp cho chúng-sanh cho chín giới (được giải-thoát).

           - TỊNH-MẶC là dứt hết tất-cả các hoặc-nghiệp, vô-khứ, vô lai.

 

SƠ-LƯỢC TIỂU-SỬ:

 

           1.  Ngài nguyên là một vị Cổ PHẬT, đã thành PHẬT từ vô-lượng, vô-biên (bất khả xưng kể) A tăng-kỳ kiếp về trước - (Giảng theo nghĩa Ðại-thừa).

 

           2.  Trước hết NGÀI dùng thiện-xảo phương-tiện (1), ẩn pháp-thân Tỳ-lô Giá-Na, thị-hiện và giáng-tích thành ra một vì đại Bồ-tát "Nhất sanh bổ-xứ" tên là HỘ-MINH, nơi (nội-viện) cung trời Ðâu-xuất để giáo-hóa thiên chúng.

 

           3.  Kế đó, vì quán-sát cơ-duyên của chúng-sanh nơi Nam-Thiện bộ châu đã đến thời-kỳ thành-thục (chín mùi) rồi nên NGÀI mới thị-hiện giáng-sanh vào trong dòng-họ THÍCH-CA, tại xứ Ca-Tỳ La-Vệ (thuộc miền trung nước Aán-Ðộ).  Cha là TỊNH-PHẠN (đại vương), mẹ là MA-DA hoàng-hậu.

           Phu-nhơn chiêm-bao, mơ thấy Bồ-tát cõi voi trắng 6 ngà (2) bay xuống, nhập vào hông bên hữu mà thọ thai.

 

           4.  Trước giờ đản-sanh, hoàng-hậu vào dạo chơi nơi vườn ngự-uyển Lâm Tỳ-Ni, nhơn thấy trên cây Vô-Ưu hoa nở rộ, bà đưa tay hữu lên vịn cành hoa.  Bồ-tát từ nơi hông mặt của mẹ mà hóa-sanh ra.

           (Trong 4 cách sanh là Thai, noãn, thấp, hóa thì cách hóa-sanh là tối-thắng và cao quý nhất - Ðức Phật THÍCH-CA thì gá vào hông bên mặt của mẹ mà hóa-sanh - Sau nầy đức DI-LẶC PHẬT sẽ gá vào nơi trán của mẹ mà hóa-sanh.)

           Tất-cả chư PHẬT đều sanh ra bằng cách hóa-sanh nầy chớ không có theo lối thông-thường của chúng-sanh là do nơi sản-môn (cửa mình) của mẹ mà chào đời.

           Khi vừa đặt chân xuống đất, NGÀI liền đi qua bốn hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc, mỗi phương đều đủ 7 bước.  Tay hữu chỉ lên trời, tay tả chỉ xuống đất, miệng thốt lời rằng:

           - "Thiên-thượng, thiên-hạ, duy NGÃ độc-tôn" (Câu pháp-ngữ thậm-thâm nầy có vô-lượng nghĩa-lý.  Nay chỉ xin lược ra 2 ý-nghĩ sau đây:

           a.  Nghĩa thường (nghĩa đen) là:

           - Trên trời, dưới trời duy chỉ có TA là tôn-quý hơn cả (vì TA là PHẬT).

           b.  Pháp-nghĩa (nghĩa bóng) là:

           - Trên trời, dưới trời chỉ có cái CHƠN-NGÃ (tức là Phật-tánh thanh-tịnh) là tôn-quý, là độc-tôn hơn hết tất-cả.

           Lúc đó trên không trung hiện ra 9 con rồng phun nước xuống tắm-gội cho thân PHẬT vừa mới đản-sanh.

 

           5.  Phụ-hoàng đưa Thái-tử đến Thiên-miếu (miếu thờ Trời) lạy ra mắt Ðại Tự-Tại Thiên-vương (theo phong-tục thời đó).  Khi NGÀI vừa bước chân vào trong miễu thì (pho tượng) của Ðại Tự-Tại thiên-vương và các vị thần tùy-thuộc liền đứng dậy, bước tránh qua một bên, quỳ xuống, chấp tay kính-lễ NGÀI.

 

           6.  Vua cha đặt tên cho NGÀI là SĨ ÐẠT-TA (Sarva siddhartha),

           Năm lên 8 tuổi, NGÀI làu-thông hết tất-cả sách vở thế-gian - mà không cần phải học-hỏi chi cả.

 

           7.  Vua cha cưới công-chúa DA-DU ÐÀ LA (tức là nàng DA-THU) cho thái-tử làm vợ.  Vì là cổ-PHẬT tái-lai, nên Thái-tử đối với công-chúa không có dục-nhiễm bất-tịnh.  NGÀI lấy tay chỉ vào bụng công-chúa, nói rằng:

           - "Sau đây sáu năm, nàng sẽ sanh hoàng-tử.  (Công-chúa mang thai 6 năm, sau sanh ra Thái-tử LA HẦU LA - Lúc đó NGÀI đã đi tu rồi).

 

           8.  Năm lên 19 tuổi, NGÀI dạo-chơi nơi bốn cửa thành thấy bốn cảnh:  Già, bệnh, chết và Sa-môn (Thầy tu Bà la-môn), ngộ lý vô-thường.

           - Ðêm 19 tháng 2, bốn vị Ðại Thiên-Vương (Tứ đại Thiên-vương) bồng 4 chân ngựa Kiền-Trắc bay ra khỏi thành Ca-Tỳ La-Vệ - Ðến núi Ðàn-đặc đáp xuống - Thái-tử tự rút gươm tự cắt tóc mình, nguyện rằng:

           - "Cùng các chúng-sanh dứt trừ phiền-não, trói-buộc".

 

           9.  Bấy giờ Trời Tịnh-Cư bay xuống hóa làm người thợ săn đắp áo ca-sa.  Thái-tử đem vương-phục (áo vua) của mình đến đổi lấy áo ca-sa (của người thợ săn biến-hóa nầy).

 

           10.  Kế NGÀI đi vào trong núi Di-Lâu, theo hai vị tiên tên là A-Lam và Ca-Lam (thị-hiện) học phép định "Bất dụng-xứ" trong ba năm (Phép định nầy của cõi trời Sắc-giới, còn lệ-thuộc vào trong vòng sanh-tử chớ chưa cứu-cánh giải-thoát).

 

           11.  Tiếp sau đó NGÀI theo tiên-nhơn Uất-Ðầu Lam-Phất thị-hiện học phép định "Phi-tưởng, phi-phi tưởng" trong ba năm (Phép định nầy của Trời Vô-sắc giới - cũng vẫn còn lệ-thuộc trong vòng sanh-tử chớ chưa được giải-thoát).

           Sau khi thị-hiện học 2 phép ÐỊNH "Bất dụng xứ" và "Phi-tưởng, phi-phi tưởng" nầy xong, Thái-tử mới bảo cho các tiên-nhơn ấy biết rằng:

           - "Phép tu của quý Ngài rất hay, nhưng vẫn chưa phải là chánh-pháp giải-thoát rốt-ráo"

           Các tiên-nhơn đều kính-phục, thưa cùng NGÀI rằng:

           - "Chúng tôi chỉ biết đến bao nhiêu đó mà thôi.  Sau nầy nếu như NGÀI có chứng-đắc được pháp tu nào cao hơn, xin từ-bi chỉ dạy lại cho chúng tôi tu-học.

 

           12.  Thái-tử từ-giã, một mình đi vào núi Tượng-Ðầu, theo chúng ngoại-đạo thị-hiện tu khổ-hạnh, mỗi ngày chỉ ăn có một hột mè, một hột bắp ... tu theo pháp :

                   "VÔ TÂM, VÔ Ý, VÔ THỌ, VÔ HÀNH".

(Tức là phép tu VÔ CÔNG DỤNG-TRÍ của bậc Ðẳng-giác Bồ-tát).

           Các ngoại-đạo đều kính-phục và cùng nhau nương theo NGÀI tu-tập.

           Tu như thế sáu năm, tự biết ngày giờ thành-đạo đã đến.

(Mất một thời-gian, tu-tập tất-cả là 12 năm cùng với 19 tuổi đời, vị chi là 31 tuổi mới thành-đạo.  (trong kinh nói 30 tuổi là theo lịch Tàu).

 

           13.  Thái-tử nghĩ, nếu để thân ốm-yếu, gầy còm (vì tu khổ-hạnh) ... e rằng chúng-sanh nhục-nhãn phàm-phu không hiểu-thấu, không tin-tưởng và phục-tùng giáo-hóa, nên phải ăn lại cho hồi phục 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp tùy-hình - trước đã.

 

           14.  Ngài đến sông Ni-Liên tắm gội, thọ bát cháo sữa của nàng Mục-nữ (người con gái chăn bò) dâng cúng mà ăn - Dần-dần hồi-phục được các tướng-hảo của PHẬT.

 

           15.  Ngài đến bên cây bồ-đề TẤT BÁT LA tĩnh-tọa.

           Thiên-Ðế Thích hóa ra một đồng-tử tên "Kiết-tường", cắt cỏ lót chỗ ngồi cho ngài.

 

           16.  Ngồi trên tòa cỏ xong, ngài nhập vào đại-định trong 49 ngày - Ðến ngày mùng tám tháng 2 (lịch Tàu), sau khi phóng quang dẹp ma xong ngài vào chánh-định.  Ðến rạng-đông ngày mùng 8, thấy sao Mai (minh tinh) mọc, ngài (thị-hiện) hoát-nhiên đại-ngộ - THÀNH PHẬT, ÐẲNG CHÁNH-GIÁC - Xưng hiệu là THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.

 

           17.  Sau đó trong 21 ngày kế tiếp, ngài vì chư "pháp thân đại-sĩ Bồ-tát" mà thuyết kinh HOA-NGHIÊM.

 

           18.  Phạm-vương, Ðế-Thích đến cung-thỉnh Phật chuyển Pháp-luân.

           Ngài nhận lời - liền đến xứ Ba-la-nại, nơi vườn lộc-dã độ 5 vị Kiều-Trần Như.

 

           19.  Sau đó đến nước Ma-Kiệt Ðề độ 3 anh em ngài Ca-Diếp Ba (Ưu Lâu-Tần-Loa Ca-diếp - Già-da Ca-Diếp, Na-Ðề Ca-Diếp) ... các ngài Xá-lợi-Phất, Mục Kiền-Liên. Vv....

 

           20.  Trước sau ngài thuyết-pháp trên 300 hội, độ được vô-lượng nhơn, thiên giải-thoát.

 

           21.  Ngài hóa độ được 49 năm.

           Ðể lại 12 bộ kinh và nhập Ðại Niết-bàn vào năm 80 tuổi.

           Câu kệ nầy có ý dạy rằng:

           - Nay con xin một lòng, cúi đầu đảnh-lễ đức cha lành:  - Bổn-sư THÍCH-CA MÂU-NI THẾ-TÔN.  Người đã vì chúng con mà thị-hiện giáng-trần, tu-hành gian-khổ, chứng thành Phật-quả, trước là để độ riêng cho chúng con và sau là để độ chung cho khắp cả muôn loài đồng đăng giác-ngạn.

 

 

C.  Giải thích câu thứ ba:

                            Trăm ngàn ức Hóa Thân.

                            (Thiên, Bá, Ức Hóa Thân)

 

Qua con số trên đây thì:

           - Trăm là số BÁ (tức là số 100).

           - Ngàn là SỐ THIÊN (tức là số 1000).

           - Ức là số BÁ-THIÊN (tức là số 100,000) (3).

Vậy cho nên câu:  Thiên, bá, ức (nêu trên) chính là con số sau đây:

           Thiên bá ức = 1000 * 100 * 100,000 = 10,000,000,000.

           - Ðọc theo lối nhơn-gian thì là 10 tỷ.

           - Ðọc theo lối trong kinh đạo là:  THIÊN, BÁ, ỨC.

           Ðây là con số những thế-giới thuộc về sở-hữu (có sẵn) của cõi TA-BÀ mà đức THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT làm giáo-chủ, gọi là ÐẠI-THIÊN THẾ-GIỚI (hay còn gọi bằng một tên khác nữa là Tam thiên đại-thiên thế-giới).

           Ðơn-vị và danh-xưng của những thế-giới thuộc về cõi Ta-bà được gọi bằng các tên sau đây:

                   - Tiểu thế-giới.

                   - Tiểu-thiên thế-giới.

                   - Trung-thiên thế-giới.

                   - Ðại-thiên thế-giới.

Ðể cho dễ hiểu, xin quý liên-hữu xem kỹ phần trình bày nêu ra dưới đây về - ÐẠI THIÊN THẾ-GIỚI của chúng ta:

           Trước hết xin nói về Tiểu thế-giới.

 

A.  TIỂU THẾ-GIỚI gồm có:

           - 1 núi Tu-di.

           - 1 mặt trời.

           - 1 mặt trăng.

           - 4 châu thiên hạ (4)

           - 1 cõi trời Tứ vương (ở giữa núi Tu-di)

           - 1 cõi trời Ðạo-lợi (trên đỉnh núi Tu-di)

           - 1 cõi trời Dạ-Ma.

           - 1 cõi Trời Ðâu-suất.

           - 1 cõi Trời Hóa-lạc.

           - 1 cõi Trời Tha-Hóa tự-tại.

(Các cõi trời nầy thuộc về Dục-giới thiên - Tất cả Thiên chúng đều có ái-dục).

           - 1 cõi Trời Sơ-Thiền (trùm che bao phủ),  Cõi trời nầy thuộc về "Sắc giới thiên".

           (Cõi Sơ-Thiền thiên nầy gồm có 3 từng trời sở-hữu và tùy-thuộc là:

           - Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên, Phạm vương thiên)

           (3 cõi trời nầy thuộc về sắc-giới thiên - không có ái dục)

 

B.  TIỂU-THIÊN THẾ-GIỚI:

           Trước tiên thì lấy:

           - Một ngàn cái "TIỂU THẾ-GIỚI" như (ở trên) vậy, họp lại thì thành ra một "TIỂU THIÊN THẾ-GIỚI" (Tiểu thiên tức là "một ngàn nhỏ").

           Và như thế thì một "TIỂU THIÊN THẾ-GIỚI" gồm có:

           - 1000 núi Tu-di.

           - 1000 mặt trời.

           - 1000 mặt trăng.

           - 1000 tứ châu thiên hạ.

           - 1000 cõi trời Tứ-vương.

           - 1000 cõi trời Ðạo-lợi.

           - 1000 cõi trời Dạ-Ma.

           - 1000 cõi trời Ðâu-suất.

           - 1000 cõi trời Hóa-lạc.

           - 1000 cõi trời Tha-Hóa Tự-Tại.

           - 1000 cõi trời Sơ-thiền.

           Bao trùm và che phủ lên trên "TIỂU-THIÊN THẾ-GIỚI" nầy là một cõi trời NHỊ-THIỀN".  Cõi "Nhị thiền-thiên" nầy cũng gồm có ba từng trời sở-hữu và tùy-thuộc sau đây:

           - Thiểu-quang Thiên, Vô-lượng quang thiên, Quang-âm thiên.

           (Ba cõi trời nầy thuộc về sắc-giới thiên-chúng đều không có ái-dục).

 

C.  TRUNG-THIÊN THẾ-GIỚI:

           Kế đến là lấy:

           - Một ngàn (1000) cái "TIỂU THIÊN THẾ-GIỚI" như (ở trên) vậy họp lại thì thành ra một "TRUNG THIÊN THẾ-GIỚI" (Trung thiên là một ngàn trung bình).

           ­­Và như thế thì một "TRUNG THIÊN THẾ-GIỚI" gồm có:

           - 1,000,000 núi Tu-di.

           - 1,000,000 mặt trời.

           - 1,000,000 mặt trăng.

           - 1,000,000 Tứ châu thiên hạ.

           - 1,000,000 Tứ-vương thiên.

           - 1,000,000 Ðạo-lợi thiên.

           - 1,000,000 Dạ-Ma thiên.

           - 1,000,000 Ðâu-Suất thiên.

           - 1,000,000 Hóa-lạc thiên.

           - 1,000,000 Tha-Hóa Tự-Tại thiên.

           - 1,000,000 Sơ-thiền thiên.

           - 1,000         Nhị-thiền thiên.

           Bao-trùm và che-phủ lên trên cõi "TRUNG THIÊN THẾ-GIỚI" nầy là một cõi trời "TAM-THIỀN".

           Cõi "TAM-THIỀN THIÊN" nầy cũng gồm có ba từng trời sở-hữu và tùy-thuộc sau đây:  - Thiểu-tịnh thiên, Vô-lượng tịnh thiên, Biến-tịnh thiên.  - Vì đây là trời Sắc-giới, nên các Thiên-chúng đều không có ái-dục.

 

D.  ÐẠI-THIÊN THẾ-GIỚI:

           Sau rốt là lấy:

           - Một ngàn cái "TRUNG THIÊN THẾ-GIỚI" như (ở trên) vậy, hợp lại thành ra một "ÐẠI-THIÊN THẾ-GIỚI" (Ðại thiên là một ngàn lớn).

           Và như thế thì một "ÐẠI-THIÊN THẾ-GIỚI gồm có:

           - 1,000,000,000 (một tỷ)  Tu-di sơn.

           - 1,000,000,000 mặt trời.

           - 1,000,000,000 mặt trăng.

           - 1,000,000,000 Tứ châu thiên hạ.

           - 1,000,000,000 Tứ vương thiên.

           - 1,000,000,000 Ðạo-lợi thiên.

           - 1,000,000,000 Dạ-Ma thiên.

           - 1,000,000,000 Ðâu-Suất thiên.

           - 1,000,000,000 Hóa-lạc thiên.

           - 1,000,000,000 Tha-Hóa Tự-Tại thiên.

           - 1,000,000,000 Sơ thiền thiên.

           - 1,000,000 (một triệu)  Nhị-thiền thiên.

           - 1,000 (một ngàn) Tam thiền thiên.

           Bao trùm và che-phủ lên cõi "ÐẠI THIÊN THẾ-GIỚI" nầy là MỘT cõi trời "TỨ THIỀN".

 

           Cõi "Tứ thiền thiên" nầy gồm có chín từng trời sở-hữu và tùy-thuộc sau đây:

           - Vô vân thiên.

           - Thiểu quả thiên (còn gọi là Phước sanh thiên).

           - Quảng quả thiên.

           - Vô-lượng quả thiên (còn gọi là vô-tưởng thiên).

           - Vô nhiệt thiên.

           - Vô não thiên (còn gọi là vô phiền thiên).

           - Thiện-kiến thiên.

           - Diệu thiện kiến thiên (còn gọi là Thiện-hiện thiên).

           - A Ca Nhị tra thiên.  (còn gọi là sắc cứu-cánh thiên).

           (Chín cõi trời nầy cũng thuộc "Sắc-giới thiên" - thiên-chúng đều không có ái-dục).

           - Trên đây là "TAM-THIÊN ÐẠI THIÊN" thế-giới, hay còn gọi bằng một tên nữa là "TA-BÀ THẾ-GIỚI", tức là thế-giới thuộc về sự hóa-độ của đức bổn-sư THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.

 

           Ghi-chú quang-trọng:

           a.  Tam thiên là do nơi ba cái "THIÊN":

           - Tiểu thiên, trung thiên và Ðại thiên họp lại mà thành tên.

           b.  Gọi là TAM THIÊN ÐẠI THIÊN thế-giới vì lấy 3 cái "THIÊN" kia và hai chữ "ÐẠI THIÊN" sau chót họp lại mà thành danh.  Chớ không phải là cõi TA-BÀ nầy có đến 3000 cái ÐẠI THIÊN THẾ-GIỚI đâu -

           c.  Cõi TA-BÀ nầy chỉ có MỘT (01) cái "ÐẠI THIÊN THẾ-GIỚI" duy-nhất mà thôi.

           Vì vậy nên:

           - Gọi cho đúng là:  - ÐẠI THIÊN THẾ-GIỚI (tức là TA-BÀ THẾ-GIỚI).

           Bởi vì thấy có một ít chư học-giả nghiên-cứu kinh Phật cùng số đông chư Phật-tử học Phật (đời nay) hiểu lầm chữ "Tam thiên đại thiên thế-giới" là 3000 cái đại thiên thế-giới - Một sự sai-biệt về số-lượng rất lớn - nên ở đây cần phải đính-chánh lại cho rõ để tránh các sự lầm-lẫn về sau.

 

Còn sao gọi là:

                        Thiên bá ức hóa thân

                     (Trăm, ngàn, ức hóa thân)

 

           Tức là trong tất-cả các quốc-độ sở-hữu của cõi TA-BÀ, hay là cõi "ÐẠI THIÊN THẾ-GIỚI" nầy - gồm có Thiên, bá, ức quốc độ - Ðức THÍCH-CA MÂU-NI Thế-tôn đều có phân ra đầy-đủ hóa thân PHẬT (của ngài) ở tại các cõi đó (cứ mỗi một cõi là có một hóa-thân Thích-Ca PHẬT), cũng đồng thị-hiện ra đầy-đủ các tướng, như là:

           - Ðâu-Suất giáng-thần.

           - Ðản-sanh tại vườn ngự-uyển ....

           - Dạo chơi bốn cửa thành ....

           - Vượt thành xuất gia ...

           - Tu khổ-hạnh.

           - Hàng-phục ma-quân, chứng thành đạo-quả.

           - Chuyển pháp-luân.

           - Nhập Niết-bàn.

Y-hệt như lúc Ngài thị-hiện giáng sinh ở tại châu Nam Thiện-bộ của chúng-ta đây vậy.  Bởi vì nếu có thị-hiện như thế thì mới có thể giáo-hóa hết các chúng-sanh (hữu-duyên với Phật-đạo) ở khắpc nơi trong Ðại-thiên thế-giới của cõi Ta-bà nầy được.

 

D.  Giải-thích câu:

                        Biến Pháp-giới chư PHẬT.

                        (Khắp pháp-giới chư Phật)

 

           a.  BIẾN: Có nghĩa là cùng khắp tất-cả mọi nơi, mọi chỗ, tức là không chỗ nào là chẳng có (sự hiện-diện của Phật).

           b.  PHÁP-GIỚI:  Hai chữ nầy có vô-lượng, vô-biên nghĩa-lý khó mà giải-thích cho hết được.  Chỉ xin tóm-tắt mà thôi.

           - Pháp-giới ở đây gồm có 2 phần là SỰ và LÝ.

           1.  Về SỰ PHÁP-GIỚI:  Thì tất-cả các tướng-dạng thuộc về hai phần DANH và SẮC (tức là TÂM và TƯỚNG) đều gọi chung bằng một tên là PHÁP.  Các PHÁP nầy (đứng về mặt SỰ mà nói) thì mỗi pháp đều có cái tánh-thể riêng-biệt - chẳng hạn như" :

           - Nhơn-đạo (loài người) thì lấy "Ngũ-giới" làm pháp.

           - Thiên-đạo (trời) thì lấy "Thập-thiện" làm pháp.

           - A Tu-la đạo thì lấy "Phước và Sân" làm pháp.

           - Ðịa-ngục đạo thì lấy "Thập-ác" làm pháp.

           - Ngạ-quỷ đạo thì lấy "Tham-lam, bỏn-xẻn" làm pháp.

           - Súc-sanh đạo thì lấy "Si-mê" làm pháp.

           Ðây là 6 cảnh-giới của lục-phàm (sáu loài phàm-phu), lấy các "PHÁP" ấy làm thể-dạng mà định-ngôi và phân-loại ở trong vòng tam-giới sanh tử.

           Như trên vừa giải, hàng "lục-phàm" vì lấy các pháp ấy mà làm "thể", cho nên phải bị trầm-luân trong biển khổ sanh-tử, luân-hồi.

           Còn như chư thánh-nhơn trong vòng "Tứ thánh" - (Ðứng về phương-diện SỰ mà nói) thì quý NGÀI ấy cũng lấy các pháp riêng để làm thể-dạng.

           Chẳng-hạn như:

           - Thanh-văn quả thì lấy "Tứ-đế" làm pháp.

           - Duyên-giác quả thì lấy "Thập nhị nhân-duyên" làm pháp.

           - Bồ-tát quả thì lấy "Thập ba-la Mật" làm pháp (5)

           - Phật-quả thì lấy "Thường-tịch Niết-bàn" làm pháp. (6)

           Ðó chẳng qua là bởi vì các cảnh-giới và các căn tánh của chúng-sanh có cao-thấp bất-đồng, nên pháp cũng phải chia ra làm nhiều loại tương-xứng cho dễ-dàng hóa-độ mà thôi.

 

           2.  VỀ LÝ PHÁP-GIỚI:

           (Ðã có giảng ở trước, nơi phần "Nhứt thiết pháp thường-trú" rồi nên ở đây chỉ sơ-lược và bổ-túc thêm một ít ... )

           Còn đứng trên phương-diện LÝ mà nói thì dầu cho là NGƯỜI hay VẬT gì đi nữa cũng đều có một cái PHẬT-TÁNH, cái CHƠN-NHƯ tánh giống nhau:

           Cho nên:

           - Người có TU thì thành PHẬT - đã đành

           - Thú-vật, nếu có TU, ắt cũng thành PHẬT được.

           ...............

           Riêng về phương-diện chúng-sanh thì có tất-cả 18 cảnh pháp-giới sau đây:

 

a.  Nội pháp-giới:  gồm có 6 cái căn-cảnh (ở trong) là:

           - Nhãn giới căn (là căn con mắt) - chủ về hai trần là SÁNG và TỐI.

           - Nhĩ giới căn (là căn lỗ tai) - chủ về hai trần là ÐỘNG và TỊNH.

           - Tỷ giới căn (là căn mũi) - chủ về hai trần là THÔNG và NGHẸT

           - Thiệt giới căn (là căn mũi) - chủ về hai trần là LẠT và BIẾN (vị).

           - Thân giới căn (là xác-thân tứ đại) - chủ về hai trần HIỆP và LY.

           - Ý giới căn (là tâm sanh-diệt) - chủ về hai trần là SANH và DIỆT.

 

b.  Ngoại Pháp-giới:

           Gồm có 6 cái trần cảnh (ở ngoài) là:

           - Sắc-giới cảnh (thuộc về phần-hành của Nhãn căn).

           - Thanh-giới cảnh (thuộc về phần-hành của Nhĩ căn).

           - Hương-giới cảnh (thuộc về phần-hành của Tỹ căn).

           - Vị-giới cảnh (thuộc về phần-hành của Thiệt căn).

           - Xúc-giới cảnh (thuộc về phần-hành của Thân căn).

           - Pháp-giới cảnh (thuộc về phần-hành của Ý căn.)

 

c.  Trung-gian pháp-giới:  (Khoảng giữa nộingoại pháp-giới)

Gồm có 6 cảnh-giới là:

           - NHÃN-THỨC giới - Nhiệm-vụ là phân-biệt các loại (hình) SẮC TRẦN.

           - NHĨ-THỨC giới - Nhiệm-vụ là phân-biệt các loại (âm) THANH TRẦN.

           - TỶ-THỨC giới - Nhiệm-vụ là phân-biệt các loại (mùi) HƯƠNG-TRẦN.

           - THIỆT-THỨC giới - Nhiệm-vụ là phân-biệt các loại (mùi) VỊ TRẦN.

           - THÂN-THỨC giới - Nhiệm-vụ là phân-biệt các loại (cảm) XÚC (giác) TRẦN.

           - Ý-THỨC giới - Nhiệm-vụ là phân-biệt các loại pháp SANH, DIỆT.

 

VẬY:

           Kết yếu câu:  Khắp pháp-giới chư PHẬT - Như sau:

           Do vì chúng-sanh có đầy-đủ 18 cảnh-giới như thế cho nên mới (bị) bày ra đủ hết các loại quả-báo sai-biệt cùng các loại Thiện, ác, khổ, vui ... chẳng qua là cũng bởi tại ở nơi TÂM ham mê chạy theo hai phần DANH, SẮC (làm nhơn) mà cảm-hiện ra vô-số chủng-loại thế-giới sai khác (thành quả) , vô-số hình-tướng xấu, đẹp, Vô-số căn-tánh cao, thấp khác nhau đầy khắp cả tam-giới Tử, Sanh nơi 10 phương quốc độ (thế-giới ở khắp trong 10 phương).

 

Vì thế nên trong kinh PHẬT dạy:

           - "Bởi nơi ba cõi (7) định NGÔI, sáu đường phân LOẠI, nên bày ra hình tướng có xấu, đẹp - quả-báo có khổ, vui.

           Tìm ra chỗ khởi đầu, (thiệt là) chẳng ra ngoài hai chữ SẮC, TÂM.

           Xả đến chỗ HỘI-QUY (8), (thiệt là) chẳng ra ngoài hai chữ SANH, DIỆT.

           Chính là ý vừa giảng ở trên vậy.

 

           Chư PHẬT nói chung, và đức Bổn-sư THÍCH-CA Mâu-ni Thế-tôn nói riêng, đều vì tâm ÐẠI-BI mà thị-hiện ứng, hóa thân ra trong khắp các vi-trần quốc độ ở 10 “phương pháp-giới chúng-sanh" đó, dùng đủ mọi thiện-xảo phương-tiện mà tiếp-độ, dắt-dìu, khiến cho cứu-cánh được thoát ra ngoài cái cảnh:

           - "Ba cõi định ngôi, sau đường phân-loại" để:

           "CHỨNG THÀNH PHẬT QUẢ" như PHẬT vậy mà thôi.

           Lành vậy thay!

 

          Trên đây, chúng-ta đã nhứt-tâm đảnh-lễ đức Bổn-sư THÍCH-CA MÂU-NI Thế-tôn (trước tiên hết) rồi - Ðể tỏ lòng ân-trọng lên NGÀI là giáo-chủ của cõi TA-BÀ nầy và cũng là đấng Như-lai đã vì chúng-ta mà chỉ bày ra con đường TỊNH-ÐỘ.

           Kế tiếp sau đây là phần đảnh-lễ lên đức giáo-chủ CỰC-LẠC quốc-độ A-DI-ÐÀ PHẬT - Ðấng NHƯ-LAI đã vì tất-cả chúng-sanh mà phát ra 48 đại-nguyện vương, khai bày ra cửu-phẩm và từ-mẫn duỗi tay tiếp-độ, dắt-dìu ...

 

Giải-thích câu Ðảnh-Lễ thứ 2:

A.  Nhứt-tâm đảnh-lễ:

                   Thường-tịch quang Tịnh-độ,

                   A-Di-Ðà Như-lai.

                   Pháp-thân mầu thanh-tịnh,

                   Khắp pháp-giới chư PHẬT.

       

           Bốn chữ:  "-Nhứt-tâm đảnh-lễ" ở đây (ý-nghĩa cũng y như phần giảng ở câu đảnh-lễ đầu-tiên vậy) - Vì thế nên không lập lại để tỉnh-giảm bút-lực cho các phần sau.

 

B.  THƯỜNG-TỊCH QUANG TỊNH-ÐỘ:

           Ðây là danh-xưng của một trong bốn "cảnh giới" (khu vực) của cõi Cực-lạc.

           Bởi vì Cõi Cực-lạc của đức A-DI-ÐÀ PHẬT được chia thành bốn cảnh giới khác nhau như sau:

           (Từ bên ngoài vào đến bên trong)

 

           1.  Phàm thánh đồng cư độ:

           Ðây là khu-vực dành cho các bậc vãng-sanh mà còn mang theo nghiệp (đới nghiệp vãng-sanh) hoặc còn một ít nghiệp nữa (trong ba phẩm Hạ là:  Hạ phẩm hạ sanh, hạ phẩm trung sanh và hạ phẩm thượng sanh).

           Tất-cả các bậc vãng-sanh nầy đều được cảm báo thân "Liên-hoa hóa-sanh", đồng về cư trụ ở nơi đây, nương nhờ theo nguyện-lực của đức Phật A-DI-ÐÀ mà tu-tập, cho nên đều được dự vào ngôi-vị BẤT THỐI CHUYỂN -

           Ðây gọi là quả "VỊ BẤT THỐI" (9).

 

           2.  Phương-tiện hữu-dư độ:

           Ðây là khu-vực dành riêng cho các bậc vãng-sanh mà công tu-hành đã đạt đến mức-độ "SỰ NHỨT-TÂM" (tức là phần hành-trì" - Hai phần "Kiến-hoặc" và "Tư hoặc" đều đã đoạn hết, cả "Trần-sa hoặc" cũng đã trừ luôn - Ðây chính là các bậc Thanh-văn, Duyên-giác.  (Trong ba phẩm Trung là:  Trung phẩm hạ-sanh, Trung phẩm Trung-sanh, Trung phẩm Thượng-sanh).

           Tất-cả các bậc vãng-sanh nầy cũng đều cảm báo được thân "Liên-hoa hóa-sanh", đồng về cư-trụ tại nơi đây, nương theo nguyện-lực của PHẬT A-DI-ÐÀ và của riêng mình và tu-hành bất-thối chuyển.

           - Ðây gọi là quả-vị "HÀNH BẤT THỐI".

 

           3.  Thật-báo trang-nghiêm độ:

           Ðây là khu-vực dành riêng cho các bậc vãng-sanh mà công tu-hành đã đạt đến mức độ "LÝ NHỨT TÂM", tức là đã phá được một vài phần VÔ-MINH trở lên rồi (nghĩa là phá từ "một phần VÔ-MINH") cho đến tiêu trừ hết-cả "41 phần vô-minh".

           Các bậc được vãng-sanh vào nơi khu-vực nầy đều là những bậc "Bồ-tát pháp-thân Ðại-sĩ" của các giai-vị THẬP-TRỤ, THẬP-HẠNH, THẬP HỒI-HƯỚNG, và THẬP-ÐỊA.  (Trong ba phẩm vãng-sanh bậc THƯỢNG là:  - Thượng-phẩm Thượng-sanh, Thượng-phẩm Trung-sanh và Thượng-phẩm Hạ-sanh).

           Các bậc đại Bồ-tát nầy nương nơi nguyện-lực của riêng mình mà tu-niệm để chứng-đắc quả-vị "Vô-Thượng Bồ-đề".

           - Ðây gọi là quả-vị "NIỆM BẤT THỐI".

 

           4.  Thường Tịch-quang Tịnh-độ:

           Nơi khu-vực nầy chỉ dành cho PHẬT và các vị Ðẳng-giác Bồ-tát, Nhứt sanh bổ-xứ Bồ-tát (như Quán-Âm, Thế-Chí, Văn-Thù, Phổ-hiền, Di-Lặc vv...)  cư-trụ mà thôi.

           Như vậy, kết ý của câu:

           "THƯỜNG TỊCH QUANG TỊNH-ÐỘ" nầy như sau:

           - Chúng con xin cúi đầu, nhứt tâm kính-lễ về cõi "Thường tịch-quang tịnh-độ" cùng kính lễ đức PHẬT A-DI-ÐÀ - và chư Ðẳng-giác đại Bồ-tát, Nhứt-sanh bổ-xứ Bồ-tát ...

           (Tác đại chứng-minh)

 

C.  A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI:

     (Ðức PHẬT A-DI-ÐÀ)

           Ðây là một đức NHƯ-LAI, Chí-chơn, Ứng, Chánh-đẳng giác - Giáo-chủ của cõi nước Cực-lạc - A-DI-ÐÀ PHẬT.

           Là một đức Như-lai được chư PHẬT mười phương đồng xưng-tán công-đức, và chúng-ta - người con PHẬT hiện-tại đây, ngày đêm chí-tâm lễ-lạy, xưng-niệm danh-hiệu A-DI-ÐÀ PHẬT của NGÀI, phát-nguyện được "ÐỚI-NGHIỆP VÃNG-SANH" (10) về nơi CỰC-LẠC, dự vào trong "cửu phẩm liên-đài", thoát vòng luân-hồi, sanh-tử.

           Kinh Tiểu-bổn A-DI-ÐÀ (Phật thuyết A-DI-ÐÀ) dạy:

           - Từ đây về phương-Tây, trải qua 10 muôn ức (11) cõi PHẬT, có thế-giới tên là Cực-Lạc, cõi ấy có đức PHẬT hiệu là A-DI-ÐÀ, hiện đang thuyết pháp.

           Vì sao cõi kia lại gọi là Cực-lạc ?

 

           - Vì chúng-sanh ở cõi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng toàn những điều vui, nên gọi là Cực-lạc.

           Ðức Phật ấy vì sao mà có hiệu là A-DI-ÐÀ ?

           - Bởi vì:

           - Quang-minh của đức PHẬT ấy vô-lượng, vô-biên soi sáng khắp cả 10 phương quốc-độ, không chỗ nào làm chướng-ngại được, nên hiệu là A-DI-ÐÀ.

           - Ðức PHẬT ấy (cùng với nhân-dân của ngài) sống lâu vô-lượng, vô-biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A-DI-ÐÀ - và cũng bởi vì có thọ-lượng vô-biên như vậy, nên ngài còn có thêm tên khác nữa là VÔ-LƯỢNG THỌ PHẬT.

           Sau đây là phần miêu-tả về thân tướng của đức A-DI-ÐÀ PHẬT (VÔ-LƯỢNG THỌ PHẬT).

 

Kinh "Quán Vô-lượng Thọ" dạy:

... "Phật VÔ-LƯỢNG THỌ ấy thân sắc vàng rực-rỡ như trăm, ngàn, muôn, ức sắc vàng Diêm-phù đàn (12) nơi cung trời Dạ-Ma.  Thân tướng của PHẬT cao 60 muôn, ức na do tha, hằng hà sa do-tuần (13).

           - Bạch-hào giữa hai (chân) mày, xong về bên hữu, uyển-chuyển như 5 tòa núi Tu-di.

           - Mắt của PHẬT ấy có hai màu xanh biếc và trắng phân-minh, rõ-ràng, lớn rộng như 4 đại-hải (biển lớn).

           - Các lỗ chân lông nơi thân PHẬT ấy phóng ra ánh-sáng như núi Tu-di.

           - Viên-quang (14) của PHẬT VÔ-LƯỢNG THỌ rộng lớn như trăm ức Ðại-thiên thế-giới.  Trong viên-quang ấy có trăm vạn ức na do tha hằng-hà sa "Hóa PHẬT" ấy lại cũng có đông, nhiều, vố-số "hóa Bồ-tát" làm thị-giả.

           - Thân PHẬT VÔ-LƯỢNG THỌ có 8 vạn bốn ngàn "tướng đẹp" chánh - Mỗi-mỗi tướng đẹp ấy đều riêng có tám vạn bốn ngàn nét đẹp tùy hình - Mỗi-mỗi "nét đẹp tùy hình" kia lại có 8 vạn bốn ngàn ánh quang-minh - Mỗi-mỗi quang-minh ấy chiếu khắp thập-phương thế-giới, nhiếp lấy chúng-sanh niệm PHẬT không bỏ sót.

           (Và cũng bởi do nơi "Ý" của đoạn kinh nầy, nên chư Tổ-sư có làm bài kệ tụng "Tán-thán" Phật VÔ-LƯỢNG THỌ (tức là đức A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI) như sau:

                        A-DI-ÐÀ PHẬT thân kim sắc,

                        Tướng hảo quang-minh vô đẳng luân.

                        Bạch-hào uyển-chuyển ngũ Tu-di,

                        Hám mục trừng thanh tứ đại hải.

                        Hóa Bồ-tát chúng diệt vô-biên.

                        Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh,

                        Cửu phẩm hàm-linh đăng bỉ-ngạn.

                        Nam-mô,

                        Tây-Phương Cực-lạc thế-giới,

                        Ðại-từ, Ðại-bi,

                        Tiếp-dẫn đạo-sư,

                        A-DI-ÐÀ PHẬT.

Tạm-dịch:

                        Thân PHẬT DI-ÐÀ vàng rực-rỡ,

                        Tuyệt-vời xinh-đẹp tướng trang-nghiêm.

                        Năm Tu-di uyển-chuyển bạch-hào,

                        Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc.

                        Vô-biên hóa PHẬT cùng Bồ-tát,

                        Hiện đầy trong ánh diệu quang-minh.

                        Nguyện lành bốn tám độ hàm-linh,

                        Chín phẩm sen vàng sanh Cực-lạc.

                        Nam-mô,

                        Tây-Phương Cực-lạc thế-giới,

                        Ðại-từ, Ðại-bi, Tiếp-dẫn đạo-sư,

                        A-DI-ÐÀ PHẬT.

 

           Ðây là bài kệ tán PHẬT A-DI-ÐÀ mà tất-cả các Phật-tử tu Tịnh-độ chúng-ta đều tán-tụng mỗi ngày trước khi niệm PHẬT - (chắc hẵn là quý liên-hữu không quên ?)

 

.... Quang-minh và tướng-hảo của PHẬT VÔ-LƯỢNG THỌ vô cùng, không sao tả xiết.

           Do vì như vậy cho nên Ðức PHẬT A-DI-ÐÀ ấy lại được có thêm (tất-cả là) 12 Phật-hiệu khác nữa như sau:

           1.  Vô-lượng Thọ Phật.

           2.  Vô-lượng Quang Phật.

           3.  Vô-biên Quang Phật.

           4.  Vô-ngại Quang Phật.

           5.  Vô-đối Quang Phật.

           6.  Viêm-vương Quang Phật.

           7.  Thanh-tịnh Quang Phật.

           8.  Hoan-hỷ Quang Phật.

           9.  Trí-huệ Quang Phật.

           10.  Nan-tư Quang Phật.

           11.  Vô-xưng Quang Phật.

           12.  Siêu nhựt-nguyệt Quang Phật.

 

           - Về "quang-minh" của PHẬT A-DI-ÐÀ, Như trong kinh "VÔ-LƯỢNG Thọ" dạy:

           - "Nầy A-NAN, đức Phật VÔ-LƯỢNG THỌ ấy, oai-thần quang-minh tối-tôn đệ nhất, quang-minh của chư Phật khác chẳng bằng ...  Chẳng riêng gì TA (Phật Thích-Ca) khen-ngợi quang-minh của NGÀI, mà tất-cả chư PHẬT, Bồ-tát, Duyên-giác, Thanh-văn, cũng đều ngợi khen như vậy ...

 

           - Về "Thọ-lượng" của Phật A-DI-ÐÀ, cũng ở nơi kinh "VÔ-LƯỢNG THỌ" dạy:

           - "Lại nữa, nầy A-Nan, đức PHẬT VÔ-LƯỢNG THỌ ấy thọ-mạng dài lâu chẳng nói, kể được.  Giải-sử như vô-lượng chúng-sanh ở trong tất-cả thế-giới khắp 10 phương đều thành được thân người rồi tu-chứng lên đến bậc Duyên-giác, Thanh-văn ... đồng hội-họp lại, nhập vào trong định, dùng hết sức trí-huệ của họ, trải qua trăm, ngàn, muôn kiếp, cùng nhau suy-tính số kiếp thọ-mạng dài lâu của đức PHẬT ấy, cũng chẳng thể nào biết cho cùng tận được.

 

           Không riêng gì đức PHẬT ấy, mà chúng Bồ-tát, Thanh-văn, Duyên-giác và các hàng Thiên, Nhơn nơi cõi CỰC-LẠC kia đồng có số-lượng thọ-mạng dài lâu cũng y như vậy, chẳng thể nào tính đếm hay dùng thí-dụ mà so-sánh được" ....

           .........................

           Vì thế nên trong kệ tụng có câu rằng:

           - QUANG, THỌ khó suy-lường ... là do ở nơi lời kinh trên đây vậy (đây là nói về SỰ).

 

D.  Pháp-thân mầu thanh-tịnh.

(Thanh-tịnh diệu phapù-thân)

 

           - Pháp-thân đây tức là thân "chơn-như pháp-giới tánh"  -  Gọi là THANH-TỊNH PHÁP-THÂN TỲ-LÔ GIÁ-NA (PHẬT).

 

           Quý đạo-hữu và chư liên-hữu, hãy nên dùng tâm thanh-tịnh của mình mà tưởng-nghĩ đến thân của Phật.

           Tưởng nghĩ thân PHẬT như thế nào ?

 

Phải tưởng-nghĩ rằng:

           - Thân PHẬT (lẽ đương-nhiên và chắc-chắn rằng) không phải là thân tứ-đại do ái-dục bất-tịnh (của cha, mẹ và thân trung-ấm - như đã có giảng ở trước) tạo thành.

           - Thân PHẬT cũng không phải giống như thân của chúng-sanh chúng-ta, Thân ấy quyết-định cũng chẳng phải do nơi 360 khối xương ráp lại - cũng chẳng phải do nơi thịt, da, tóc, lông, răng móng, gân cốt, ruột non, ruột già, vv... kết tạo thành.

           - Thân ấy chẳng phải là thân Thất-đại, ngũ-ấm, chẳng phải là thân sanh-diệt, vô-thường, chẳng phải là thân khổ đau, bịnh-hoạn, vv...

           Nếu là Phật-tử chơn-chánh và hiểu đạo pháp phải nên biết đúng như vậy.

 

           Kinh dạy:

           .... "Vì Thân của Như-lai là thân kim-cương chẳng phá-hoại được.  Thân của Như-lai không có sanh tạng(15) cũng không có thục-tạng(16), không có đại-tiện, tiểu-tiện bất-tịnh, cũng không có đàm dãi nhơ-uế.

           - Thân của Như-lai sắc vàng rực-rỡ như màu vàng Diêm-phù đàn (tử ma kim), không khiếp-nhược, chẳng kinh sợ.

           Có lúc thân của Như-lai hiển-hiện sự vi-diệu vô-thượng.  Chư thiên ngọc-nữ(17) cúi đầu đảnh-lễ nơi chân của PHẬT, lúc chạm chân PHẬT, các Ngọc-nữ ấy cảm thấy có sự tột mịn, tột mềm không gì ví-dụ được ... họ liền đều phát tâm vô-thượng Bồ-đề, xa-lìa trần-cấu.

           ..................

           Thân của Như-lai chẳng phải là thân tạp-thực (18): không có uống, ăn - mà chúng-sanh - vì do nơi chủng-tử tạp-thực - cho nên thấy Như-lai có uống, ăn.  Như có một vị Thiên-tử tên là "Tinh-lực" mới được thọ đạo.  Thiên-tử ấy lấy bát đựng cơm của PHẬT và đem cơm trong bát ấy cấp cho những người đói thiếu.

           Mọi người đều đến ra mắt đức Như-lai mà ăn, thấy đức Như-lai cầm cơm đưa vào trong miệng, cơm ấy tự-nhiên trở lại vào trong bát ...

           Vì thế nên biết rằng đức Như-lai chẳng ăn theo lối người thường mà đức Như-lai lấy PHÁP là món ăn vậy.

 

TÓM-LẠI:

           Thân của Như-lai là thân thanh-tịnh, là pháp thân - cho nên ƯNG-TRÌ Bồ-tát muốn đo-lường thân Phật mà không thấu (xem phần giảng trước, nơi câu "Sắc thân PHẬT vô-tận".)

           Pháp thân thanh-tịnh ấy cũng không phải là thân 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình - Vì pháp thân ấy đồng đẳng như hư không nên vô hình tướng, cũng như hư không vô hình-tướng vậy.

 

           Hỏi:  Vì sao trong kinh nói thân PHẬT có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp tùy hình - chính ở nơi phần giải-thích trong quyển sách đây cũng có nói qua về các vẻ đẹp ấy ?

 

           Ðáp:  Thân "Sắc-tướng" đầy đủ 32 tướng đại nhơn và 80 vẻ đẹp tùy hình được PHẬT hiện ra đó, là vì các "hữu-tình chúng-sanh" vốn ham-ưa xinh-đẹp, thích cầu nơi ngôi-vị tôn-quý, sang-cả ...  nên đức Như-lai phải thị hiện ra hình-tướng ấy để cho mắt họ được thấy.  Khi thấy được như thế rồi thì tánh cao-ngạo về dòng-dõi, về tuổi trẻ, về xinh-đẹp, về tôn-sang, về thế-lực vv...  của họ lập-tức liền bị tiêu-trừ.

           Do vì tiêu-trừ được các ngã chấp, ngã sở sai lầm về tôn-quý, xinh-đẹp vv... như thế nên họ (chúng-sanh) liền phát tâm "tàm-quý" (mắc-cỡ), kính mộ, xu-hướng nơi Phật mà cầu đạo vô-thượng Bồ-đề (để cũng sẽ được y như Phật vậy).

 

           Cho nên phải biết rằng cái thân "Sắc-tướng" có đầy-đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp tùy hình của Như-lai hiện ra đó là thân "THIỆN-XẢO PHƯƠNG-TIỆN" dùng để độ các hữu-tình chúng-sanh mà thôi.  Chớ kỳ-thật ra thì PHẬT "pháp-thân" vốn là VÔ-TƯỚNG.

           Do nơi ý nầy nên trong kinh "Kim-Cang" Phật dạy:

           - "Tu Bồ-Ðề, ư nhử ý vân hà ?  khả-dĩ thân-tướng kiến Như-lai phủ ?"

           (Tu Bồ-Ðề, ý ông nghĩ thế nào ?  có thể do nơi thân-tướng mà thấy được Như-lai không ?)

           Tu Bồ-đề bạch Phật ngôn:  (Tu Bồ-đề bạch Phật rằng):

           - Phất dã, Thế-tôn.  (Bạch Thế-Tôn, không).

           Bất khả-dĩ thân-tướng đắc kiến Như-lai.  Hà-dĩ cố ?  Như-lai sở-thuyết thân-tướng tức phi thân-tướng."

           (Không thể do nơi thân tướng mà thấy được Như-lai.  Vì sao ?  Bởi vì Như-lai nói thân-tướng tức chẳng phải thân-tướng)

 

           (Chú-giải:

           - Bởi vì cái thân-tướng PHẬT mà muốn nói ở đây chính là cái "thân-tướng PHÁP-THÂN" (vô-vi, vô hình, vô-tướng) chớ không phải là muốn nói về cái thân-tướng hữu-vi của phàm-phu chúng-sanh vốn có hình, có tướng.  (vì độ các bậc thánh-nhơn như ngài Tu Bồ-Ðề đây thì phải nói "thân Pháp-tướng" mới được)

           Mà hễ:  -Thân vô-vi, vô hình-tướng thì vô sanh-tử, vô khứ lai (giải-thoát).

           - Thân hữu-vi, có hình-tướng thì có sanh-tử, có khứ lai, (luân-hồi)  Mà chúng-ta tu-hành đây là vì muốn cho được vô sanh-tử, vô khứ-lai kìa, chớ còn muốn sanh-tử, khứ lai, thì tu làm chi ?.)

           Xin nêu ra một đoạn kinh khác để dẫn-chứng nữa, như sau:  (Cũng trong kinh Kim-Cang).

           "Phật cáo Tu Bồ-Ðề:  (Phật bảo ngài Tu Bồ-Ðề).

           - Tu Bồ-Ðề, ư như ý vân hà ?  khả-dĩ tam thập nhị tướng kiến Như-lai phủ ?  (Tu Bồ-Ðề, ý ông nghĩ thế nào ? có phải do nơi 32 tướng mà được thấy Như-lai chăng ?)

           Tu Bồ-Ðề bạch Phật ngôn (Tu Bồ-Ðề bạch Phật rằng):

           - Phất dã, Thế-Tôn.  Bất khả-dĩ Tam thập nhị tướng đắc kiến Như-lai.  Hà dĩ cố ?  Như-lai thuyết tam thập nhị tướng, tức thị phi tướng, thị danh tam thập nhị tướng".

           (Bạch Thế-Tôn, không vậy - không thể do nơi 32 tướng để thấy Như-lai.  Vì sao vậy ?  Như-lai nói ba mươi tướng, tức chẳng phải là tướng, chỉ gọi là 32 tướng).

 

           (Chú-giải:

           - Bởi vì cái thân có 32 tướng (tốt) đó là "thân chánh báo" của Phật do công-đức, phước lành trong vô-lượng kiếp tu-hành, tích-tập lại mà thành, có hình có tướng - Dùng để độ chúng-sanh (vốn dĩ) có hình, có tướng - Thân ấy cũng còn có cái "HỮU" chớ chưa phải là "VÔ", chẳng hạn như thân PHẬT THÍCH-CA lúc NGÀI còn tại thế cũng có đủ 32 tướng nữa!  (vô-thường).

           Còn nếu như cho rằng cái sắc-thân "32 tướng" ấy là PHẬT THÍCH-CA thì bây giờ đây cái "thân 32 tướng" ấy không còn nữa rồi!  Vậy thì NGÀI không còn là PHẬT nữa sao ?  Phải hiểu rằng:  - Vì chúng-sanh "có tướng", nên PHẬT mới nói thân có "32 tướng", chớ còn một bậc thánh-nhơn như ngài TU BỒ-ÐỀ là A-LA-HÁN, tu ròng phép "KHÔNG" thì làm sao chấp "32 tướng CÓ" kia được.  Nếu "ỔNG" mà chấp lấy 32 tướng kia là có thì "ỔNG" làm sao chứng-đạo, làm sao thành A La-Hán được!

 

           Vì thế cho nên ngài TU BỒ-ÐỀ nói thưa rằng:

           - Bạch Thế-Tôn, Thế-Tôn nói 32 tướng đó, bất quá nó chỉ có cái tên là 32 tướng (cho màu mè, cho vui-vẻ, trẻ-trung, để chúng-sanh ham-thích muốn có được 32 tướng như vậy mà tu theo thôi) chớ kỳ thật ra thì cái "Pháp thân thanh-tịnh" mà PHẬT và các vị Bồ-tát, Duyên-giác, Thanh-văn, chứng-đắc kia, nó đồng như hư không, trống-rỗng thì làm gì mà (tìm ra) 32 tướng ấy cho được chớ !

           Ngay sau khi ngài Tu Bồ-Ðề (và chắc có lẽ có cả quý-vị ở trong đó nữa) hiểu như thế rồi thì PHẬT liền dạy tiếp:

 

           "Phật cáo Tu Bồ-Ðề:  (Phật bảo ngài Tu Bồ-Ðề rằng):

           - Phàm sở hữu tướng, (phàm hễ vật gì có hình tướng).

           Giai thị hư-vọng.  (Ðều là hư giả)

           Nhược kiến CHƯ TƯỚNG PHI TƯỚNG, (Nếu thấy các tướng là không)

           Tức kiến NHƯ-LAI"  (Thì liền thấy PHẬT)

 

Nghĩa là:

           - Phàm hễ những (cái) pháp nào (những cái gì) mà nó có hình, có tướng (tức là hữu-vi) - Thì nó là giả-tạm, là vô-thường, là hư-dối, là không bền vững, phải bị hoại-diệt.

           - Nếu như ai mà tu đến cái mức thấy tất-cả các tướng hữu-vi ấy là không thật, rồi không chấp lấy có, khôn