Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


......... .

 

TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm
Soạn thuật
---o0o---

CHƯƠNG III

TIẾT I

 

MẬT-TỊNH PHÁP-NGHI

ÐÀN-PHÁP. 

GIẢI-THÍCH

 

ÐÔI LỜI ........ Bày Tỏ của  NGƯỜI GIẢI-THÍCH 

           Ngay từ thuở nhỏ,

           Lúc chưa xuất-gia, và khi mới bắt đầu học đạo, nghiên-cứu kinh điển .....

           Tôi có một vài điều khổ-tâm và phiền muộn là:

           - Ðọc, tụng kinh-điển thì thuộc làu (như con két biết nói), nhưng mà không hiểu một chúc xíu gì về nghĩa-lý ở trong đó hết!.

           - Rồi tôi lại giận-lẩy và phiền-trách đến các Hòa-Thượng, Thượng-Tọa ....... Ðại-đức tăng, ni và các bận thức-giả Phật học khác .... Là:

           - Tại sao quý Ngày không chịu chú-thích (các danh-từ Phật-học khó hiểu) và giải-thích các thâm nghĩa trong kinh-văn để cho tôi được hiểu chớ ?

           Các sự phiền-muộn và uất ức như thế mỗi ngày lại càng tăng thêm nhiều.

           Có đôi lúc tôi tự nghĩ rằng:

           - Sau nầy khi lớn lên, nếu như mình được xuất-gia thì mình sẽ phải cố-gắng học Phật-pháp cho đến nơi, đến chốn để:

           - Thông-hiểu kinh-điển,

           - Khỏi bị các tà-giáo, ngoại-đạo gạt-gẫm, dụ-dỗ hoặc giãng dạy Phật-pháp một cách sai-lầm, ác ý.

           - Hoằng-dương đạo-pháp,

           - Giảng-dạy kinh-sách,

           - Cố-gắng tìm cách làm thế nào để giúp cho các Phật-tử Sơ-học Phật-pháp tỏ-tường thêm được ít, nhiều thâm-nghĩa qua lời Phật dạy trong kinh, hầu khỏi bị lâm vào trong hoàn-cảnh phiền-muộn như mình thuở trước vv....... 

           Ðến nay,

           Duyên may được trở thành người tăng-sĩ, mang danh phận xuất-gia, hơn bao-giờ hết, tôi lại càng thêm nhớ đến hoài-bảo ngày xưa của mình và nguyện là sẽ cố-gắng thực-thi các niềm mong-ước đó, trước là để:

           - Báo đền ơn-đức Tam-Bảo, sư-môn.

           - Hoàn-mãn ước-nguyện của mình.

           Và kế nữa là để giúp cho chư-hiền học Phật sau nầy có thêm được chút cơ-duyên tỏ-ngộ cùng phấn-chấn hơn lên trên bước đường tu-học Phật-pháp, cầu giải-thoát về sau. 

           Vì thế nên nay, trước là nhận lời thưa-thỉnh của Ưu bà-di BẢO-ÐĂNG, Trưởng-ban hoằng pháp / nghi-lễ và giáo-lý của chùa Pháp-Hoa Tucson, Arizona, và sau nữa là nương nơi tâm-nguyện - Tôi cố-gắng với sự hiểu-biết thô-thiển của mình - chú giải một số danh-từ Phật-học khó hiểu và giải-thích lên đây một ít thâm nghĩa qua các lời tán-tụng mà chư Tổ-sư đã dạy - trong quyển "Tây-Phương Nhật-Khóa, Mật-Tịnh pháp-nghi" nầy, một nghi-thức "Mật Tịnh song tu" của ngài VÔ-NHẤT ÐẠI-SƯ THÍCH-THIỀN-TÂM đã từ-bi vì chư Phật-tử và các liên-hữu trên bước đường tu Tịnh-độ mà biên-soạn thành........ 

      Với việc làm nầy, tôi chỉ có một tâm-nguyện duy-nhất rằng:

           - Những mong sao cho quý bạn đồng-tu, chư Phật-tử, chư liên-hữu cùng các chư-hiền học Phật hiện tại và tương-lai....... khi đọc, tụng đến các lời văn, kệ, trong quyển pháp-nghi nầy, có thể thu-thập được thêm ít, nhiều kiến-giải, hầu giúp ích cho mình, cho người trên bước đường tu cầu về nơi giải-thoát - mà thôi.

           Ngoài ra, tuyệt-nhiên không còn có thêm vào bất-cứ một ý-niệm chi sai khác nữa. 

           Các phần giải-thích sau đây được biên-soạn ra theo phương-cách SỚ-SAO.

           - SỚ là chú sớ, là giải-nghĩa.....

           - SAO là sao y theo nguyên văn, nguyên bổn.  Nghĩa là:

           - Trích lấy một câu kinh, câu kệ từ trong chánh-bản rồi giải-thích các nghĩa-lý ẩn-tàng ở trong đó ra khiến cho mọi người được hiểu khi đọc, tụng và xem xét đến, hầu làm rộng thêm giáo-lý của Phật, Bồ-tát, Tổ-sư......

           Các lời giải-thích, chú-sớ trên đây, ắt hẳn còn có rất nhiều thiếu-sót, vả-lại, lời kinh của Phật dạy ẩn-tàng vô-lượng thâm-nghĩa sâu-xa, điệp-điệp, trùng-trùng....... Nên tôi không dám chắc là việc làm của mình được hoàn-bị.  Hơn, nữa, chúng-sanh căn-cơ và kiến-giải xưa nay cao thấp không đồng, vì thế cho nên tôi xin:

           - Thành-tâm đê-đầu đảnh-lễ lên chư tôn-đức và các bậc thức-giả Phật-học cao-minh, xin tùy thời phủ-chánh và tha-thứ cho, nếu như trong phần giải-thích đây còn có điều chi sơ-sót, sai lầm. 

           Tôi thật vô-vàn cảm-tạ.......

 

Pháp-Hoa Tự Tucson, Arizona

Thích Thiền-Tâm hậu duệ.

Niệm Phật tăng

Sa-môn THÍCH-HẢI-QUANG

 (Bái bạch).

 

 

PHẦN GIẢI-THÍCH

Giải-thích Ðoạn I:

Câu 1:

                                    Như-lai diệu sắc thân.

                                 (sắc thân PHẬT mầu đẹp)

 

A.  Trước hết giải-thích về hai chữ:

1.  "NHƯ-LAI".

           Như-lai là một trong 10 hiệu của đức PHẬT.

Mười hiệu ấy là:

           NHƯ-LAI, ỨNG-CÚNG, CHÁNH BIẾN-TRI, MINH HẠNH-TÚC, THIỆN-THỆ, THẾ-GIAN GIẢI, VÔ-THƯỢNG SĨ, ÐIỀU-NGỰ TRƯỢNG PHU, THIÊN-NHƠN SƯ, PHẬT THẾ-TÔN.

           Vì sao mà gọi là NHƯ-LAI ?

           -  Như là Chơn-như.

           - Lai là đi đến.

Hai chữ nầy hàm ý-nghĩa (sơ lược) như sau:

           - Bởi vì chư PHẬT đã chứng được bổn-thể chơn-như, thường-tịch rồi, đã đạt được Ðại Niết-bàn rồi, nên không còn bị lệ thuộc vào trong 3 cõi Tử, Sanh nữa, nhưng vì lòng đại từ-bi, thương-xót chúng-sanh mà thị-hiện ÐẾN cõi đời nầy.

Nói về ÐẾN  thì có 4 trường-hợp ÐẾN:

a.  Không ÐẾN mà ÐẾN.

           Ðây là dụ cho Phật và các vị Bồ-tát, vì Phật và Bồ-tát đã xa-lìa hết tất-cả hành-nghiệp của chúng-sanh, đã được vô-sanh rồi, nên không còn ÐẾN nơi 3 cõi (trời) và sáu đường (luân-hồi) nữa.

           Nhưng bởi vì từ-bi, muốn cứu-độ các chúng-sanh ra khỏi vòng sanh-tử cho nên phải thị-hiện đủ các loại thân hình để mà ÐẾN. (nơi các cõi).

b.  Không ÐẾN mà không ÐẾN.

           Ðây là dụ cho hàng "Nhất xiển đề" đã hoàn-toàn mất hết căn lành, không còn bao-giờ ÐẾN được trong Phật-pháp nữa cả.

c.  ÐẾN mà không ÐẾN.

           Ðây ý-chỉ cho Phật và các vị Bồ-tát, tức là:  Ứng, hóa-thân, của các ngài tuy có ÐẾN trong các cõi để độ chúng-sanh mà thật ra Pháp-thân của các ngài vẫn y-nhiên, bất-động ở nơi cõi Niết-Bàn thường-tịch.

d.  ÐẾN mà ÐẾN.

           Ðây là chỉ cho các chúng-sanh trong lục đạo luân-hồi.  Theo hoặc-nghiệp dẫn ÐẾN mà ÐẾN nơi 3 cõi (trời), và 6 đường (luân-hồi) để thọ khổ sanh-tử......

2.  Ứng-Cúng:  Ðây là hiệu thứ nhì trong 10 hiệu của Phật - Tức là đầy-đủ hai phần Phước-Ðức (lưỡng-túc) xứng-đáng và ưng nhận tứ-sự của Nhơn, Thiên cúng-dường, làm phước-điền cho tất-cả thế-gian và xuất thế-gian.

3.  Chánh biến-tri:  Ðây là hiệu thứ ba trong 10 hiệu của Phật.  Tức là có một sự hiểu biết chơn-chánh đối với tất-cả mọi Pháp.

4.  Minh Hạnh-túc:  Ðây là hiệu thứ tư trong 10 hiệu của Phật.

           - Minh đây là minh-giác tức là quả lành.  Quả lành của Phật gọi là Vô-thượng Bồ-đề.

           - Hạnh là Hành, tức là chân cẳng - chân cẳng đây là Giới-Huệ.  Tức ý là nương nơi chân cẳng Giới-Huệ mà được quả vô-thượng Bồ-đề. v.v.......

           - Túc tức là đầy-đủ.

5.  Thiện-Thệ:  Ðây là hiệu thứ 5 trong 10 hiệu của Phật.

           - Thiện là cao - Cao đây chính là tâm của Phật cao siêu hơn tâm của Bồ-tát, Duyên-giác, Thanh-Văn và tất cả chúng-sanh trong lục đạo.

           - Thệ là chẳng cao - mà chẳng cao là thấp, đây tức là nghĩa khiêm-hạ, nhún-nhường vì tâm Phật đã diệt trừ hết tất-cả 7 điều kiêu-mạn (ấy là:  Mạn, Quá mạn, Mạn-quá mạn, Ngã mạn, Tăng-thượng mạn, Ty-liệt mạn, Tà-mạn) - Vì thế nên gọi là chẳng (tự) cao.

           Hiệu nầy có ý-nghĩa như sau:  "Phật" cao mà chẳng cao, chẳng cao mà là cao".

           (Nghĩa là:

           a.  Phật là đáng cao (quý) mà chẳng cao (ngạo).

           b.  Nhờ chẳng cao (ngạo) như vậy nên thành ra được đấng cao (quý).

6.  Thế-gian giải:  Ðây là hiệu thứ 6 trong 10 hiệu của Phật.  Ý-nghĩa là có khả-năng giải biết, hiểu thấu hết tất-cả các pháp thế-gian và xuất thế-gian.  Ðó là các pháp:  Năm ấm (ngũ ấm), sáu nhập (lục nhập), sáu căn, sáu trần, 12 xứ, mười tám giới, 12 duyên (Thập nhị nhân-duyên), bốn đế (Tứ đế) cho đến vô-lượng pháp-môn Phật đều có thể giải-thích được một cách chính-xác, rõ-ràng, minh-bạch.

7.  Vô-thượng sĩ:  Ðây là hiệu thứ 7 trong 10 hiệu của Phật.  Là Ðại-sĩ trong các bậc Ðại-sĩ (Bồ-tát) không còn có ai hơn được nữa.  Vì thế nên gọi là vô-thượng.

8.  Ðiều-Ngự Trượng-phu:  Ðây là hiệu thứ 8 trong 10 hiệu của Phật.  Hiệu nầy có ý-nghĩa là :  Tự mình đã là Trượng-phu rồi lại còn điều-phục thêm tất-cả các Trượng-phu khác nữa.

           Trong Phật-giáo một bậc Trượng-phu nhất-định phải hội đủ 4 điều-kiện sau đây:

                   a. Gần-gũi thiện tri-thức.

                   b. Có thể nghe hiểu tất-cả đại, tiểu pháp-môn (pháp-môn lớn, nhỏ)

                   c. Có thể tư-duy (suy-nghĩ) chánh-pháp theo đúng nghĩa.

                   d. Y như các pháp ấy mà tu-hành.

(Phải đầy-đủ hết 4 điều nầy mới được gọi là bậc Trượng-phu trong Phật pháp).

9.  Thiên-nhơn sư:  Ðây là hiệu thứ 9 trong 10 hiệu của Phật.

           -  Thiên, Nhơn là Trời, Người.

           -  Sư là Thầy.

Sư có hai loại:

           a.  Sư dạy điều lành.  (Tối Thượng Sư)

           b.  Sư dạy điều ác.  (Tối Hạ Sư)

           Phật vì đem pháp lành tối-thượng dạy cho chúng-sanh, khiến chúng-sanh xa lìa tất-cả pháp ác, đắc được quả giải-thoát xưa chưa đặng mà nay được đặng, như là các quả:  Tu đà-hoàn, Tư đà-hàm, A-na hàm, A-la Hán, Duyên-giác, Bồ-tát.......

           Vì thế nên Phật được gọi là Thầy của Trời-Người.

10.  PHẬT, THẾ-TÔN:  Ðây là hiệu thứ 10 sau rốt của Phật.

           -  PHẬT: là đấng tự-giác, đã tự mình giác-ngộ lại hay có thể giác-ngộ cho người khác (Tự-giác - giác-tha).

           THẾ:  Thế có hai loại:

                     a. Thế-gian (Dục-giới, Sắc-giới, Vô-sắc-giới).

                     b. Xuất thế-gian:  Tức là ra ngoài khỏi 3 cõi (trời) và 6 đường (luân-hồi), gồm có các quả vị:  A-la Hán - Duyên-giác - Bồ-tát.

           -  TÔN:  Tức là Tôn-quý.

Bởi vì trong 2 cõi thế nầy thì PHẬT là đấng Tôn-trọng và tôn-quý hơn hết (không ai bằng).  Vì vậy cho nên gọi là THẾ-TÔN.

 

Chú-ý:  Trong tất-cả 10 hiệu trên từ "Như-lai" cho đến "Thế-Tôn", cứ mỗi một hiệu như vậy có khi phải tu-tập đến vô-lượng A-tăng kỳ-kiếp (mới hoàn-mãn được một hiệu).

           (A Tăng kỳ:  Là một số rất lớn:  Gồm có con số 1 đúng đầu và 29 con số không (0) theo sau nữa).

B.  Kế tiếp sau đây là giải-thích về 3 chữ:  Diệu sắc thân:

           - Diệu Sắc:  Tức là phi sắc, là không có sắc-tướng.  Tức là vô-tướng (Trái với chúng-sanh trong 3 cõi là Phi diệu-sắc, tức là hữu-tướng).

           - Thân:  đây là thân-tướng - tức là thân có hình, có tướng.

           Tất-cả chư Như-lai đều không có sắc thân - vì chư Phật trong vô-lượng kiếp đã lìa xa hẳn các loại sắc-tướng.

           Nhưng vì muốn độ chúng sanh nên dù không có sắc-thân mà phải (vì chúng sanh) thị hiện ra thân sắc-tướng cùng loại để làm phương-tiện gần-gũi hầu dễ-dàng hóa-độ họ.

           -  Ðây gọi là tùy-thuận chúng-sanh.

KINH NIẾT-BÀN dạy:

           - "Ðại-chúng cho rằng Như-lai là nhơn-loại (loài người) mà thiệt ra thời Như-lai không phải là Nhơn-loại - (Trong vô-lượng kiếp lâu xa về trước, Như-lai đã xa lìa tất-cả các hạnh của nhơn-loại rồi, nhưng vì tùy-thuận thế-gian chúng-sanh mà thị-hiện ra thân nhơn-loại).......

LẠI DẠY NỮA RẰNG:

           - Như-lai là Trời mà thiệt ra không phải là Trời vì trong vô-lượng kiếp Như-lai đã xa lìa tất-cả các hạnh của Trời - Vì muốn độ người nơi cõi Trời nên phải tùy-thuận thị-hiện ra làm thân Trời.......

           Cho đến:

           - Như-lai là Quỷ, là Ðịa-ngục, là Súc-sanh vv...... mà thiệt ra không phải là Quỷ, là Ðịa-ngục, là Súc-sanh, vì trong vô-lượng kiếp lâu xa về trước, Như-lai đã xa-lìa hết tất-cả các hạnh của Quỷ, của Ðịa-ngục, của Súc-sanh.  Nhưng bởi vì muốn độ các loài Quỷ, Ðịa-ngục, Súc-sanh nên phải tùy-thuận thị-hiện ra thân Quỷ, Ðịa-ngục, Súc-sanh đó mà thôi......

           (Ðây là một trong những thiện-xảo phương-tiện của Phật).

           Lại nữa:

          Sở-dĩ sắc-thân thị-hiện của Như-lai được gọi là DIỆU-SẮC bởi vì sắc thân ấy có đầy-đủ:

                   - 32 tướng tốt.

                   - 80 vẻ đẹp tùy-hình. 

           Nay xin giải-thích và lược sơ qua về 32 tướng tốt của Phật sau đây:

1.  Lòng bàn chân bằng-phẳng - Do hộ-trì tịnh-giới mà được.

2.  Lòng bàn chân có tướng thiên bức-luân (bánh xe có ngàn cây căm) - Do làm các nghiệp huệ-thí (bố-thí trí-huệ) mà được.

3.  Bắp chân, gót, mắt cá tròn đầy - Do chẳng khi dối chúng-sanh, mà được.

4.  Ngón tay thon dài - Do thủ-hộ chánh-pháp mà được.

5.  Giữa các ngón tay có màng lưới mỏng - Do chẳng phá chúng của người mà được.

6.  Tay chân dịu mền - Do dâng thí y-phục đẹp quí mà được.

7.  Bảy chỗ trên thân tròn đầy (2 tay, 2 chân, 2 vai, sau gáy) - Do dâng thí món ăn uống sạch ngon mà được.

8.  Bắp-vế suông đuột (vế lộc vương - nai chúa) - Do mừng nghe Phật-pháp mà được.

9.  Mã âm-tàng (Nam căn ẩn kín trong mình) - Do che dấu lỗi của người khác mà được.

10.  Ngực như ngực Sư-tử (vun cao) - Do tu pháp lành mà được.

11.  Các chỗ xương lõm đầy bằng - Do đêm pháp lành giáo-hóa chúng-sanh mà được.

12.  Cánh tay, bắp tay, cùi chỏ, suông tròn - Do cứu nạn cho những kẻ kinh-sợ mà được.

13.  Tay dài chạm gối - Do giúp đở công-việc cho người mà được.

14.  Thân thanh-tịnh - Do tu 10 nghiệp lành mà được.

15.  Các món vật thực đưa vào miệng đều trở thành nên vị cam-lồ - Do bố-thí thuốc tốt cho người bệnh mà được.

16.  Hai gò-má đầy như gò má Sư-tử - Do luôn phát-nguyện tu-hành thiện-pháp mà được.

17.  Ðầy-đủ 40 cái răng - Do dùng tâm bình-đẳng đối với chúng-sanh mà được.

18.  Răng khít kín - Do hòa-hiệp các việc tranh-tụng mà được.

19.  Các răng đều bằng (không cao không thấp) - Do bố-thí các vật trân-bửu mà được.

20.  Răng nanh trắng bóng - Do thân, khẩu, ý thanh-tịnh mà được.

21.  Lưỡi rộng dài che trùm cả mặt - Do giữ-gìn 4 lỗi ác nơi miệng mà được.

22.  Tướng tối thượng-vị (vị ngon nhứt trong tất-cả các thượng-vị) - Do thành-tựu vô-lượng công-đức mà được.

23.  Xuất-phát ra Phạm-âm thinh trong sáng - Do thường nói lời dịu-dàng mà được.

24.  Tròng mắt xanh biếc - Do tu-tập từ-tâm vô-lượng mà được.

25.  Lông nheo mắt như lông nheo ngưu-vương (trâu chúa) - Do chí-tâm cầu vô-thượng Bồ-đề mà được.

26.  Tướng bạc-hào (lông trắng giữa chặn mày) - Do tán-thán công-đức của người khác mà được.

27.  Tướng nhục-kế (giữa đỉnh-đầu thịt vun lên cao như búi tóc) - Do cung-kính cha-mẹ, sư-trưởng mà được.

28.  Toàn thân mềm-dịu - Do ưa-thích nói phpá thậm-thâm, khuyên chúng-sanh tu tam-muội và tạo-lập hình tượng Phật mà được.

29.  Thân phát ra kim-quang viên-mãn, sức-lực mạnh-mẽ như Nala diên:  Do dâng thí các thứ trải gường, ghế mà được.

30.  Mỗi lỗ chân lông đều có một lông mọc - Do xa lìa các hội-họp bàn chuyện thế-gian mà được.

31.  Lông trên thân đều hướng lên trên - Do ưa thích nhận lời giáo-hóa của sư-trưởng mà được.

32.  Tóc màu vàng ròng - Do chẳng vu báng xấu ác cho người mà được.

Trên đây là 32 tướng đại trượng-phu của Phật.

Ngoài 32 tướng đại trượng-phu nầy ra, thân Phật lại có thêm được 80 vẻ đẹp tùy-hình nữa.

Vì sao gọi là "vẻ đẹp tùy hình" ?

           Tức là bất-cứ cơ-quan, bộ-phận nào trong sắc-thân (thị-hiện) của PHẬT cũng đều có đầy-đủ nét đẹp, như tranh vẻ hết.

THÍ-DỤ:  Như mũi của Phật có các vẻ đẹp tùy hình như sau:

           -  Mũi đẹp như trái mật treo.

           -  Sóng mũi thẳng dọc dừa.

           -  Hai cánh mũi phòng ra vừa phải.

           -  Hai lỗ mũi kín đáo.

           -  Toàn diện của mũi vừa phải (không dài, không ngắn, không lớn, không nhỏ).

           -  Nhìn bất-cứ ở góc cạnh nào (như nhìn thẳng, nhìn nghiêng, nhìn từ trên xuống, từ dưới lên. vv.......) mũi cũng đều cả.

           Ðây chỉ là sơ-lược.........

           Ngoài ra còn những cơ-quan bộ-phận khác nữa như: Miệng, môi, mắt, trán, lỗ tai, chơn mày. vv.......

           Vẻ đẹp của bất-cứ cơ-quan nào nơi sắc-thân của Phật cũng đều xinh đẹp vô-song như tranh vẻ hết cả.

Sau đây là so vẻ đẹp tùy-hình của Phật:

           1.  Móng tay bầu tròn,

           2.  Móng tay như màu đồng đỏ,

           3.  Móng tay láng,

           4.  Ngón tay tròn-trịa,

           5.  Ngón tay đẹp,

           6.  Ngón tay nhọn đàng đầu (mũi viết),

           7.  Gân máu ẩn kín không lộ,

           8.  Mắt cá chân ẩn kín không lộ,

           9.  Các khớp xương đều chắc-chắn,

           10.  Hai bàn chân bừng nhau như khuôn đúc,

           11.  Gót chân tròn rộng-rãi,

           12.  Các chỉ tay láng,

           13.  Các đường chĩ trong lòng bàn tay bằng nhau,

           14.  Chĩ tay sâu và rõ-ràng,

           15.  Chĩ tay không cong quẹo,

           16.  Chĩ tay dài đậm.

           17.  Môi đỏ mộng như trái Tần-bà,

           18.  Tiếng nói không làm chát chúa tai người nghe,

           19.  Lưỡi mềm, mịn và đỏ,

           20.  Tiếng nói êm-dịu, ngọt-ngào khiến người nghe khoan-khoái,

           21.  Năm căn đầy-đủ,

           22.  Cánh tay dài,

           23.  Tay chân có ánh sáng chói ra trong suốt,

           24.  Tay chân mịn-màng,

           25.  Tay chân rộng-rãi,

           26.  Tay chân không có lệch, xệ,

           27.  Xương tay chân không lộ ra ngoài,

           28.  Tay chân đẹp và đầy-đủ sức mạnh,

           29.  Tay chân rất cân-phân đẹp-đẻ,

           30.  Xương đầu gối rộng, đầy, lớn,

           31.  Tay chân tròn-trịa,

           32.  Tay chân sáng-láng,

           33.  Tay chân đều-đặn,

           34.  Rún sâu,

           35.  Rún tròn đều,

           36.  Các hạnh của ngài đều thanh-tịnh,

           37.  Tánh dễ chịu, dễ thương mến,

           38.  Quanh mình phát ra hào-quang sáng phá trừ tối-tăm,

           39.  Tướng đi đằm-thắm, oai-nghiêm như voi chúa đi.

           40.  Tướng đi hùng vệ, oanh-liệt như Sư-tử chúa đi,

           41.  Tướng đi hiên-ngang như bò chúa,

           42.  Tướng đi chững-chạc như ngỗng chúa đi,

           43.  Luôn-luôn đi theo chiều thuận (kim đồng hồ),

           44.  Từ hông cho chí đến bàn-tọa thì tròn trịa,

           45.  Từ hông chí đến bàn-tọa sáng-láng,

           46.  Từ hông chi đến bàn-tọa không nghiêng-lệch,

           47.  Bụng hình như cánh cung,

           48.  Thân-thể luôn-luôn sáng, sạch và quang-minh, không bao giờ hoen-ố, lấm bụi,

           49.  Răng của bầu tròn,

           50.  Ðầu răng cửa bén, bằng,

           51.  Răng cửa đều nhau,

           52.  Mũi rộng và đẹp, thẳng, kín,

           53.  Ðôi mắt xanh, sáng,

           54.  Ðôi mắt trong-suốt,

           55.  Cặp mắt ánh ra niềm vui-vẻ, ấm-áp,

           56.  Cặp mắt dài như lá rau-răm,

           57.  Ðôi chân mày ngang bằng nhau,

           60.  Ðôi chân mày đẹp,

           61.  Ðôi chân mày khít nhau,

           62.  Ðôi chân mày cân-phân, đều-đặn,

           63.  Lông của đôi chân mày đen mịn,

           64.  Hai gò má đầy đặn như má Sư-tử chúa,

           65.  Hai gò má bằng nhau,

           66.  Hai gò má hoàn-toàn xinh đẹp,

           67.  Thấy tướng dạng ngài ai cũng đều kính-trọng, vui thích, hoan-hỷ,

           68.  Ngũ quan, tâm-ý của ngài đoan-chánh và thanh-tịnh,

           69.  Cơ-thể đầy-đủ, hoàn-toàn xinh-đẹp,

           70.  Mặt và trán đối nhau rất cân-phân,

           71.  Ðầu nở-nang, tròn-trịa,

           72.  Tóc đen mướt,

           73.  Tóc bằng ngọn với nhau.

           74.  Tóc có hàng ngũ vén khéo,

           75.  Tóc có mùi thơm,

           76.  Tóc mềm, mịn, trơn mướt,

           77.  Tóc không rối,

           78.  Tóc rất đều,

           79.  Tóc xoắn lại từng lọn nhỏ,

           80.  Tóc có hình thánh-tự (chữ thánh).

           Tóm lại, cái sắc-thân thị-hiện ra nơi cõi Ta-bà nầy của đức Bổn-sư Thích-CA Mâu-ni Thế-Tôn, vì có đầy-đủ 32 tướng đại trượng-phu và 80 vẻ đẹp tùy-hình (tùy hình hảo) như vậy cho nên được gọi là: Diệu sắc thân

Chính là như vậy.

GIẢI-THÍCH ÐOẠN I (tiếp)

Câu thứ hai:

                        Thế-gian vô dử-đẳng

                     (trong đời không ai bằng)

a.  Trước hết giải-thích sơ qua về 2 chữ:

                        Thế-gian

           - Thế  là thời - Ðây thuộc về thời-gian, có dời-đổi, không thường-trụ (sanh, diệt).

           - Gian là khoảng cách - Là giới (hạn), thuộc về xứ-sở, có phương-vị rõ-ràng.

"LĂNG-NGHIÊM KINH" dạy:

Thế có 3 loại:  Quá-khứ thế, hiện-tại thế, vị-lai thế (Tam-thế).

           -  Gian (giới):  Giới-hạn bằng 4 phương - chánh: Ðông, Tây, Nam, Bắc.

           - Bốn phương phụ:  Ðông-Nam, Tây-Nam, Ðông-Bắc, Tây-Bắc.

           Và 2 phương trên dưới nữa là:  Thượng-phương, Hạ-phương.

Còn nói về Thế-gian (tức là thế-giới) thì cộng lại có tất-cả là 10 phương thế-giới.

Có 2 loại thế-gian là:

           1.  Hữu-tình thế-gian:

                Tức là 12 loài chúng-sanh có tình-thức, biết phân-biệt, biết vui buồn vv......

           2.  Vô-tình thế-gian:  Còn gọi"khí thế-gian": 

                Nói chung là Ðất, nước, gió, lửa. (tứ đại).

                Nói riêng thì có vô-lượng món khác nhau.

 

           Vậy Thế-gian ở đây là gồm chung cho tất-cả mọi chúng-sanh và mọi vật nằm trong vòng sanh diệt của Tam-giới (Dục, Sắc - Vô-Sắc) hay nói cách khác nữa là:

           Tất-cả các sự-vật hữu-tình và vô-tình trong Ðại-thiên thế-giới của cõi Ta-bà nầy đều gọi chung bằng một tên là THẾ-GIAN cả.

                                  Vô dử-đẳng

                                (không ai bằng)

Như trước vừa giải-thích - Bởi vì Phật là đấng cứu-thế có đầy-đủ:

           -  10 hiệu (từ Như-lai...Phật, Thế-tôn)

           -  32 tướng tốt.

           -  80 vẻ đẹp tùy-hình.

           -  vv........

           Nên là đấng tôn quý hơn tất-cả.  Thiên (trời), Nhơn (Người) không ai bằng được - Chẳng những Trời, Người là các chúng-sanh còn trong vòng sanh-tử (thế-gian) không ai bằng, mà chính ngay cả các bậc xuất thế-gian như thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát cũng không ai bằng được cả.

GIẢI-THÍCH câu thứ 3:

                                  Vô tỉ bất tư nghì.

                               (khó sanh ví, nghĩ bàn)    

           a.  VÔ-TỈ:  Tức là không có gì, không còn gì để mà so-sanh hay dùng để tỉ-dụ cho các vẻ đẹp nơi sắc-thân của Phật được cả - Ðây là chỉ nói riêng về sắc-thân ứng-hiện của Phật thôi -  Chớ còn nói đến pháp thân thường-trú của Phật thì không thể nào diễn-tả (bất khả-thuyết) hoặc là suy-nghĩ được (bất tư-nghì) cả.

           Nay hãy tạm nghe vài hàng kệ xưng-tán (ứng thân) của Phật Thích-Ca sau đây:

                        Xưa con từng nghe đức Thế-tôn,

                        Cát-tường, sắc đẹp, danh-xưng lớn.

                        Nay thấy oai-quang hơn chỗ nghe,

                        Như tượng chơn-kim đủ mọi đức.

                        Thân sắc Như-lai như núi vàng,

                        Cao rộng nghiêm-tịnh nhìn không chán.

                        Ðảnh tướng(1) Như-lai không ai thấy,

                        Cao bày rực-rõ hơn Tu-di,

                        Búi tóc tròn đầy tuần-tự xoắn.

                        Ðảnh tướng, bằng, nghiêng như lọng Trời.

                        Tóc xanh, mềm, mướt xoay bên hữu,

                        Như ngọcthanh-bửu của Ðế-Thích.

                        Sạch chói hơn lông cổ chim công,

                        Nay con chiêm-ngưỡng không biết chán.

                        Diện-mạo đoan-nghiêm, trán bằng-phẳng,

                        Mày sáng sạch như vành cung Trời.

                        Lông trắng(2) chặng mày chói rực-rỡ,

                        Ánh sáng chiếu suốt như vầng trăng.

                        Mắt trong diệu-hiền rất đẹp lạ,

                        ...........................

                        Sống mũi cao bằng, dài và thẳng.

                        Lần rộng tròn-trịa như thỏi vàng,

                        Môi đỏ bóng sáng rất thanh-tịnh.

                        Như trái tần-bà, ngọc ma-ni,

                        Răng đẹp sạch, trắng thêm sáng bóng.

                        Ðồng màu sữa và ngó sen non,

                        Răng kín bằng-phẳng rất sạch-sáng.

                        Răng trong, răng ngoài chưu sâu chắc,

                        Trên dưới khít-khao đều tề-chỉnh.

                        Răng nanh sáng trắng hơn tất-cả,

                        Như nhạn-vương ở giữa đàn nhạn.

                        Tướng lưỡi của Phật rất rộng dài,

                        Che trùm mặt Phật như hoa sen.

                        Lưỡi màu đồng đỏ, châu ma-ni,

                        Lóng-lánh như gương, mặt trời mọc.

                        Vành tai của Phật rất đoan-nghiêm,

                        ............................

                        Vô-uý(3) dường như sư-tử chúa.

                        Con ngắm tướng yết-hầu của Phật.

                        Hay nhĩ chất cam-lộ thế-gian,

                        Trong-sạch, sáng-suốt không vết nhơ.

                        .............................

                        Trước cổ ngang, rộng, dài và thẳng,

                        Ở giữa đều không có lằn nhăn.

                        .............................

                        Ðầu vai tròn-trịa đều đầy bằng.

                        Ngực, hông hùng-mãnh oai-dung thạnh,

                        Tướng của Thế-tôn đời chưa nghe.

                        Như núi trên cao mặt trời sáng,

                        Tay chân, hai vai và sau gáy.

                        Bảy chỗ sáng sạch đều đầy bằng,

                        Cánh tay tròn dài như vòi voi.

                        Bàn tay thòng xuống rờ đụng gối,

                        Thân mình rộng, dầy như thú-vương.

                        ..............................

                        Lông trên thân Phật đều hướng lên,

                        Cứ mỗi lỗ lông mọc một lông.

                        Bụi khói chẳng đóng như hoa sen,

                        Xoắn về bên hữu mà mịn, nhuyễn.

                        ..............................

                        Âm-tàng sâu như chúa ngựa trời,

                        Vế đùi tròn-trịa lần-lần thon.

                        Tướng ấy dường như chúa nai trời,

                        Chưu dầy nỏi vun, gót tròn đầy.

                        Bàn tay màng mỏng như nhạn chúa,

                        Bằng đầy vót dài hai mươi(4) ngón.

                        Móng màu đồng đỏ như hoa sen,

                        Hai chưu tướng vành xe ngàn căm.

                        Sáng sạch vi-diệu đủ trang-nghiêm,

                        ...............................

                        Hai mắt cá chân chẳng chạm nhau.

                        Cách đất bốn ngón, đi trên không,

                        Những bông sen đỏ theo chân hiện.

                        Ðoái nhìn an-tường, bước tượng-vương. (5)

                        Tiến lên đoan-túc như Thiên-vương,

                        Ðại-thánh đoan-nghiêm vô-sở úy. (6)

                        ...............................

                        Oai-quang hơn trăm ngàn mặt trời,

                        Thiên-vương, Phạm-vương còn không bằng

                        Có ai hơn được đức Như-lai.

                        .............................

                        Thiên-tiên, long thần đều cung kính,

                        .............................

                                  Bất tư-nghì:

           Tức là không thể nghĩ, bàn được.

           Qua bài kệ tán-thán ứng-thân của đức bổn-sư ta kể trên, người Phật-tử (và không phải Phật-tử nữa) ai đọc lên xong rồi mà không phát sanh ra lòng cung-kính ư!

           Chính vì như vậy cho nên thân của Phật được gọi là không ai bằng, không thể nghĩ bàn được (vô tỷ, bất tư nghì) 

           Là như thế.

CÂU THỨ 4:

                                  Ngã kim quy-mạng lễ.

                                   (Nay con cúi đầu lạy)

           - Vì có các sự không ai bằng, như vậy ......

           - Vì có đầy-đủ 32 tướng hảo, 80 vẻ đẹp tùy-hình, như vậy ......

           - Vì có hào-quang sáng chói hơn trăm ngàn mặt trời, như vậy .......

           - Vì Phật như chúa chim công, như nhạn vương, như nai chúa, như sư-tử chúa, như tượng vương, như trăm ngàn mặt trời vv...... (và còn vô-lượng tỉ-dụ khác nữa ...) như vậy .....

           Nên nay riêng con (và tất-cả chúng-sanh trong 9 giới) (7) thảy đều cúi đầu cung kính lạy.

GIẢI-THÍCH ÐOẠN 2.

Câu thứ 1:

                                  Như-Lai sắc vô-tận

                               (Sắc thân Phật vô-tận)                           

a.  Như-Lai:  Ðã có giải-thích ở trước rồi, nên ở đây xin miễn nói thêm để tỉnh-giảm bút lực.

b.  Sắc:  Ðây là sắc thân của PHẬT cũng vừa giải ở trước xong nên không lược lại.

c.  Vô-tận:  vô-tận có nghĩa là không có cùng tận, vô-lượng, vô-biên, bất khả xưng kể, (8) vv....

Vì sao Phật được 9 giới tôn-kính, tán-thán với danh xưng VÔ-TẬN ?

           Bởi vì lúc còn hành-hạnh Bồ-tát, Phật đã thâm-chứng vào trong VÔ-TẬN pháp-môn, cho nên khi thành Phật rồi, tất-cả hành-môn và hành-nghiệp của Phật thảy đều đến mức vô-tận hết.

           Nay hãy giải-thích sơ qua về một vài sự VÔ-TẬN (trong vô-tận môn) của Phật (đối với chúng-sanh)

 1Phật đối với chúng-sanh có TÂM TỪ VÔ-TẬN.

           Vì sao ?

                   - Vì chúng-sanh vô-tận,

                   - Chúng-sanh nghiệp vô-tận,

                   - Chúng-sanh phiền-não vô-tận,

                      vv..........

Nên TÂM-TỪ (tâm ban vui) của PHẬT cũng phải vô-tận.  Bởi vì nếu có được "VÔ-TẬN TỪ" như thế thì mới có thể ban vui và độ khắp tất-cả chúng-sanh.

2.  Phật đối với chúng-sanh có TÂM BI VÔ-TẬN.

           Vì sao ?

                   -Vì chúng-sanh nghiệp báo VÔ-TẬN,

                   - Chúng-sanh thọ khổ VÔ-TẬN,

                   - Chúng-sanh nghiệp-lực VÔ-TẬN,

                     vv.........

Nên TÂM-BI (Tâm cứu khổ) của PHẬT cũng phải vô-tận.  Bởi vì nếu có được "VÔ-TẬN BI" như thế thì mới có thể cứu khổ và độ khắp tất-cả chúng-sanh.

3.  PHẬT đối với chúng-sanh có TÂM HỶ VÔ-TẬN.

           Vì sao ?

                   - Vì chúng-sanh tạo tội VÔ-TẬN,

                   - Vì chúng-sanh Tham-lam VÔ-TẬN,

                   - Vì chúng-sanh Sân-hận VÔ-TẬN,

                   - Vì chúng-sanh Si-mê VÔ-TẬN,

                      vv.........

Nên tâm HỶ (tâm VUI tha-thứ) của PHẬT cũng phải vô-tận.  Bởi vì nếu có được "HỶ VÔ-TẬN" như thế thì mới có thể tha-thứ và độ khắp cho tất-cả chúng-sanh.

4.  Phật đối với chúng-sanh có TÂM XẢ VÔ-TẬN.

           Vì sao ?

                   - Vì chúng-sanh Siểm-khúc (9) VÔ-TẬN,

                   - Vì chúng-sanh Gian-trá VÔ-TẬN,

                   - Vì chúng-sanh Tà-mạng VÔ-TẬN,.

                      vv...........

Nên tâm XẢ (tâm không chấp) của PHẬT cũng phải vô-tận.  Bởi vì nếu có được "XẢ VÔ-TẬN" như thế thì mới có thể tha-thứ, không chấp lấy và độ khắp cho tất-cả chúng-sanh.

           Trên đây chỉ là lược sơ qua về 4 đức TỪ-BI-HỶ-XẢ VÔ-TẬN của chư PHẬT rồi (Tức là TỨ VÔ-LƯỢNG TÂM) 

           Kế tiếp đây xin giải-thích sơ qua về:  THÂN, KHẨU, Ý VÔ-TẬN CỦA PHẬT.

A.  THÂN PHẬT VÔ-TẬN:

           Kinh dạy:

           -  "Thân PHẬT (lớn) không có ngằn mé, là vô-tận, vô-hạn, vô-ngại, không thể tưởng được, chẳng thể nghĩ bàn được, chẳng thể lường được, chẳng thể hạn-định được......  Ví như hư-không ..... không chỗ nào là chẳng khắp" ......

           Vì sao mà biết được như vậy ?

           Sau khi thành-đạo, Phật mới đi đến thành Ba-la-Nại để chuyển pháp-luân.

           Lúc đó về phương Ðông của cõi Ta-bà nầy, cách đây rất xa, có một Phật độ tên là HOÀI-ÐIỂU, Phật ở thế-giới ấy tên là TU-DI HOA, Chí chơn Ứng, Chánh-Ðẳng giác (đầy-đủ 10 hiệu) .....

           Trong thế-giới ấy có một vị Ðại Bồ-Tát tên là ỨNG-TRÌ đến cõi TA-BÀ nầy để lễ lạy, cúng-dường và cung-kính nghe pháp.  Khi đến nơi rồi thì Ưng-Trì Bồ-tát lễ chân đức PHẬT, đi nhiễu quanh Phật bảy vòng, (10) xong rồi ngài đứng lại ở trước Phật, một lòng chắp tay chiêm-ngưỡng ......

           Khi ấy Ưng-Trì Bồ-tát mới nghĩ rằng:

           -  Nay tôi muốn đo biết thân lượng của đức THÍCH-CA Như-Lai cao như thế nào ?

           Nghĩ vậy xong, Ưng-Trì bồ-tát liền dùng thần-thông tự biến thân mình cao 336 muôn dặm (11), nhìn lên thân đức PHẬT thấy cao 543 muôn, triệu, cai, hai muôn ức dặm (12)

           Ngài tự nghĩ:

           -  Tôi đã được sức thần-thông tự-tại (13), vậy nay tôi hãy dùng sức thần-thông ấy để đo-lường xem thân của PHẬT THÍCH-CA cao lớn như thế nào.

           Rồi nương nơi oai-đức của Phật và sức thần-thông của mình, Ưng-Trì Bồ-tát dùng "thần-túc thông" bay lên phương trên (phương Thượng) cách cõi Ta-Bà trăm ức hằng-sa sa quốc-độ, đến một thế-giới tên là LIÊN-HOA NGHIÊM, quốc-độ ấy có đức Phật tên là LIÊN-HOA THƯỢNG Như-Lai, Chí-chơn, Ứng, Chánh-đẳng giác, hiện đang thuyết-pháp.

           Ưng-Trì Bồ-tát bấy-giờ dừng chân lại ở nơi cõi ấy, dùng pháp-nhãn của mình nhìn ra xa mà cũng vẫn không thấy được đỉnh đầu của đức THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT, chẳng thể nào biết được thân Phật cao lớn, rộng xa bao nhiêu.

           Lúc ấy, Ưng-Trì Bồ-tát đến đảnh-lễ Phật LIÊN-HOA THƯỢNG, đi nhiễu quanh Phật ba vòng ,ở trứoc Phật chắp tay bạch rằng:

           -  Bạch đức Thế-tôn, tôi từ cõi Ta-bà đến đây, chẳng rõ khoảng đường gần xa là bao nhiêu ?

           Ðức Phật LIÊN-HOA THƯỢNG nói:

           -  Cõi Ta-bà cách đây trăm ức hằng-hà sa thế-giới.  Ông từ nơi cõi ấy mà đến đây.

           Ưng-Trì Bồ-tát thưa:

           -  Bạch đức Thế-Tôn, tôi bay lên trên đến ngần ấy số thế-giới, mà vẫn chẳng thấy được đỉnh-đầu của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni  -  Chẳng rõ thân của đức Phật ấy cao lớn bao nhiêu trăm, ngàn, ức hằng-hà sa thế-giới ?

           Ðức Phật LIÊN-HOA THƯỢNG nói:

           -  Nầy Thiện-nam tử, dù ông dùng sức thần-túc, từ đây lại bay lên trên trải qua hằng-hà sa kiếp nữa vẫn chẳng còn thấy được đỉnh đầu của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, cũng chẳng biết được ngằn mé của thân Phật ấy.

           Nầy Thiện-nam tử, phải biết thân Phật vô-hạn, vô-tận, vòi-vọi như vậy chẳng thể ví-dụ, chẳng thể ghi chép, chẳng thể nói được, vì như hư không không ngằn mé, thân Phật cũng như thế.

           Ưng-Trì Bồ-tát nghe lời phán dạy của đức LIÊN-HOA THƯỢNG Như-lai như vậy rồi, rất đổi vui mừng, được điều chưa từng có, liền lễ chân Phật, đi nhiễu bảy vòng, đoạn nương nơi oai đức của Phật và thần-lực của mình, trong khoảng một niệm biến mất nơi thế-giới Liên-Hoa Nghiêm kia mà hiện ra nơi cõi TA-BÀ nầy, qua đến chỗ đức THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT, đảnh-lễ chân Phật, đi nhiễu bảy vòng, rồi đứng trước Phật, chắp tay, cung-kính nói kệ ca-ngợi rằng:

                   ------------------------------

                   Muốn biết rõ thân Phật

                   Ngằn mé là đường bao,

                   ------------------------------

                   Muốn thấy đỉnh-đầu Phật,

                   Tôi bay lên phương trên.

                   Ðến thế-giới Liên-Hoa,

                   Vẫn chẳng thấy được đỉnh.

                   Thế-giới kia có Phật,

                   Hiệu là LIÊN-HOA THƯỢNG.

                   Biết ý muốn của tôi,

                   Nên vì tôi giảng nói:

                   ------------------------------

                   Muốn xem đỉnh-đầu Phật,

                   Ðồng như xem hư-không.

                   Như hư-không trùm khắp,

                   Thân Phật khắp cũng vậy.

                   ------------------------------

Do vì như thế cho nên trong bài kệ nói:

           - "Sắc thân PHẬT VÔ-TẬN" đồng như hư-không (vô-tận) vậy, Chính là như thế.

Trên đây đã nói về Thân Phật vô-tận rồi.  Kế đây lại n