Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo & Thời Đại


 

 

 

 

LÀM VIỆC MỘT NGUỒN VUI

Skilful Means

 Tác giả: Tarthang Tulku Rinpoche
Dịch giả: Thích Nữ Trí Hải

 

PHẦN BA: SAN SẺ

  

17

 

LÀM SAO VẬN DỤNG TÀI NGUYÊN CON NGƯỜI

 

Tất cả chúng ta có thể rút tỉa được nhiều từ công việc và từ cuộc đời hơn, nếu chúng ta sở hữu ít tài vật hơn. Điều này không có nghĩa ta nên bố thí hết tài sản và cố sống bần cùng, hoặc nên cảm thấy phạm tội khi hưởng thụ những gì mình có. Nó có nghĩa là, có vẻ đẹp trong lối sống và làm việc với sự phân minh, hữu hiệu, chỉ lấy vừa đủ những gì mình cần. Điều này đem lại quân bình cho nội tâm và ý thức hòa điệu với mọi sự vật quanh ta. Nhưng sự bắt liên lạc ngay với những giá trị, sự phân minh biết rõ nhu cầu thực sự của mình, những sự ấy có thể bị che khuất khi ta có quá nhiều sở hữu.

Mặc dù những sở hữu hiếm khi làm ta thỏa mãn lâu dài, ta vẫn có khuynh hướng rằng muốn thưởng thức cuộc đời là phải sở hữu thật nhiều đồ đạc. Cuộc đời ta cứ bị rối lên vì tài sản, và mặc dù thỉnh thoảng ta cũng có vứt bớt một số đồ vật ta không dùng đến, chẳng bao lâu ta lại bận rộn thay thế những vật khác vào những thứ ta đã vất đi.

 

·        Áp lực có thêm

Thái độ đối với tài sản sở hữu luôn luôn được tăng cường bởi nền văn hóa chúng ta (Mỹ - ND). Ta bị những áp lực vi tế từ bạn bè, gia đình, những người cộng sự, thúc ta phải theo kịp tiêu chuẩn đời sống vật chất. Vì quanh ta ai cũng dồi dào thịnh vượng, ta có thể được khuyến khích tạo ra một mẫu mực sống xa hoa quá mức. Mặc dù ta cũng lo nạn phá rừng, thiên nhiên bị tàn hại, ta quên rằng phần lớn sự phí phạm tài nguyên và năng lực đang được tiếp diễn để thỏa mãn những nhu cầu của chúng ta. Ngay cả những người đang tố giác những thói phí phạm trong nền văn hóa chúng ta cũng phải thành thực mà công nhận rằng họ có nhiều sở hữu hơn là họ cần đến.

Mặc dù những sở hữu có thể làm giàu thêm kinh nghiệm và có ích cho ta khi sống và làm việc trên đời, song khi ta bám lấy chúng, thì chúng thành ra quá quan trọng trong đời mình.

Ta khởi sự nghĩ rằng càng có thêm nhiều chừng nào ta càng được thỏa mãn chừng ấy. Chúng ta mất đi cái ý thức rằng điều thật sự đem lại thỏa mãn cho ta không phải là những sở hữu, mà là cái cách ta sử dụng chúng. Lòng ham muốn có thêm sở hữu đưa đến một thái độ ích kỷ, bám víu, khiến ta mất cái cảm thức về quân bình với thế giới và cô lập ta khỏi mọi sự đổi thay, tăng tiến.

Khi những ham muốn của ta đều xoay quanh bản thân mình, thì ta cứ bị vướng vào những nhu cầu và thiếu thốn. Và cùng với tâm lý tự phụng này luôn luôn có nỗi bất mãn. Khi không có được những gì ta muốn thì một cảm giác mất mát hiềm hận nỗi lên. Khi có được một điều mình muốn, ta còn phải che chở, bảo vệ nó. Trươờg hợp nào cũng đưa ta vào một con đường có giới hạn hẹp hòi khiến ta tách biệt khỏi những người khác.

Sự thường xuyên có quá nhiều tài nguyên và sử dụng sai có thể làm cho ta không còn phân biệt được giữa nhu cầu thực sự và nhu cầu không cần thiết. Chúng ta quen xem mọi vật chỉ có giá trị trong một giai đoạn ngắn, chỉ nghĩ đến hưởng thụ và tiện nghi, ta không còn có được một nhãn quan rộng rãi. Ta mất liên lạc với những giá trị căn bản của cuộc đời và cuối cùng ta quên đi nhiều người khác chẳng bao giờ có đủ xài.

Nếu chúng ta gần gũi để thấy được những nhu cầu kẻ khác, thì không người nào trong chúng ta sẽ làm ngơ mà không giúp đỡ. Nhưng khi chúng ta đã bị mờ ám, bị vây bủa bởi tiện nghi vật chất, thì thực khó mà thấy được, lại càng khó mà đáp ứng những nhu cầu và khó khăn của người khác.

Khi nhận ra những thói quen phí phạm mà ta làm đối với cuộc sống của mình, đối với công việc và tương giao, thì ta có thể biết rõ nhu cầu đích thực của mình là gì. Ta không còn sẵn sàng đáp ứng những ước muốn nông cạn của mình, và có thể tập trung năng lượng vào những việc thực sự có ý nghĩa, những việc làm cho đời ta đáng sống.

 

·        Bài tập: Xem xét lại những sở hữu của ta

Muốn liên lạc với những chân giá trị của mình, thỉnh thoảng ta nên nhìn kỹ cái cách ta sử dụng tài sản. Để vài phút để xem xét mọi thứ mà bạn sở hữu. Bao nhiêu bạn thực sự cần đến? Bao nhiêu bạn phung phí? Nếu bạn có nhiều hơn khả năng bạn dùng, bạn có san sẻ những gì bạn với người khác không?

Khi bạn dự tính tậu một vật gì mới, hãy nhớ những câu hỏi trên. Nó sẽ giúp bạn có lối nhìn có trách nhiệm đối với những gì bạn định mua sắm và cách bạn sẽ sử dụng nó.

 

·        Thêm sinh lực cho những giá trị cơ bản

Có lẽ trong nền văn hóa chúng ta (Mỹ - ND) đã bắt đầu có sự quay về những giá trị giản đơn cơ bản, có một nỗ lực áp dụng những đức hạnh và lý tưởng truyền thống vào đời sống tân tiến. Chúng ta cũng đã khởi sự lo bảo tồn những tài nguyên thiên nhiên cho những thế hệ tương lai sử dụng. Sự thay đổi này thật phấn khởi, vì một quốc gia dẫn đầu như Mỹ quốc sẽ làm gương cho thế giới. Khi chúng ta càng ngày càng tiến đến cách sử dụng khôn ngoan, tiết kiệm hơn đối với tài nguyên và năng lực thì những nước khác cũng được ảnh hưởng bởi những thay đổi tích cực này và cùng nhau tìm cách sử dụng tốt mọi tài nguyên của chúng ta.

Nhưng đấy chỉ mới là một khả năng trong tương lai. Trước tiên ta cần phải thực thi sự thay đổi ấy trong đời sống cá nhân, trong cách ta sống và làm việc. Ta cần ý thức cái cách mình sử dụng đồ đạc và tập sử dụng cho tốt. Tại sở làm khi biết rõ đúng những gì mình cần, không nhiều hơn hay ít hơn, ta sẽ tiến hành công việc một cách trôi chảy, từng bước được suy nghĩ kỹ. Chúng ta cẩn thận đối với vật liệu, thì giờ và năng lực; sự lập trình được song suốt, những vấn đề chưa được tiên liệu sẽ được đối phó một cách dễ dàng. Mỗi khoảng khắc đều đầy sinh động, lợi thú, ta cảm thấy liên hệ trực tiếp với bất cứ gì ta làm. Những người đồng sự cùng làm theo nhóm để san sẻ cùng nhau những rắc rối, những niềm vui. Ta ý thức rõ mục tiêu mình, và rút tỉa từ công việc một ý nghĩa và thỏa mãn thực sự.

Khi áp dụng sự tiết kiệm vào mọi lĩnh vực đời sống, thoát ra khỏi tình trạng phí phạm và thiếu hiệu năng, thì ta sẽ trở nên tự tin và ổn định, và sẽ nhìn cuộc đời mình một cách rõ nét hơn. Ta khởi sự biết thưởng thức tài nguyên nội tâm ta, những sức mạnh cũng như khuyết điểm của mình, và sự sáng suốt này đem lại cho ta thêm cơ hội để thay đổi những thái độ và thói quen tiêu cực của mình. Thay vì lo không có đủ, bị đe dọa bởi viễn ảnh về một tương lai trống rỗng vô nghĩa, ta lại thưởng thức được sự hứa hẹn của tăng tiến và hài lòng, thấy trước được sự viên mãn và chân giá trị của đời sống.

 

18

 

TỰ BIẾT MÌNH

 

Chúng ta biết được vẻ đẹp của nhân tính nhờ nhận ra chân lý và sư nguyên vẹn của bản thể mình. Sự thừa nhận này đem lại tính sáng sủa cho những nhận thức của ta, đem sức mạnh cho những quyết định và hành động ta, và một cảm thức sâu xa về sự an ninh của đời sống. Nhờ biết mình là ai, ta tuôn phát niềm vui, sự thật, và tình yêu đang tiềm ẩn trong mỗi chúng ta. Sự tự tri chân thực giúp ta hướng đời mình theo những hướng đi lành mạnh có ý nghĩa, khiến cho mọi kinh nghiệm của ta đều có năng lực của tỉnh thức.

Tự tri cải thiện phẩm chất cuộc đời, tuy thế nhiều người thấy thực khó nhận ra sự tự tri có khả năng giải thoát đó. Chúng ta thường trải qua một phần lớn thời gian của đời mình để tìm ra lai lịch đích thật của mình, thử nhiều nghề nghiệp năng khiếu, kết nhiều bạn mới, tìm nhiều hoạt động mới để thêm thú vị. Tuy vậy thông thường, càng đi tìm chính mình trong những việc ấy thì dường như ta càng thêm rối ren mờ mịt.

Cái gì ngăn ta khám phá ra chân diện mục của mình? Mỗi người chúng ta đều có một hình ảnh tự tạo về mình, căn cứ trên điều suy nghĩ mình là ai và mình nghĩ người khác nhìn mình như thế nào. Khi nhìn vào một tấm gương soi, ta biết ta chỉ thấy một cái bóng phản chiếu; nhưng mặc dù hình ảnh tự tạo của ta cũng đồng một phẩm chất hư huyễn như vậy, ta lại thường tin tưởng nó có thật. Niềm tin vào hình ảnh ấy kéo ta đi xa khỏi những phẩm chất thực thụ của bản tính ta.

 

·        Sợ và mong

Hình ảnh tự tạo về mình giống như một cái bánh vẽ, nó hứa hẹn cho ta chất liệu nuôi dưỡng, nhưng khi có vấn đề rắc rối cần đến sức mạnh của một tâm thức tự tin, thì hình ảnh tự tạo ấy không có gì để cống hiến, nó không giúp gì được ta khi ta cần sự nâng đỡ nhất. Vì hình ảnh ta tự tạo được căn cứ trên cái mà ta mong mình được là, trên cái mà ta sợ mình bị là, hoặc trên cái mà ta muốn người đời thấy mình là, nên nó ngăn ta tự thấy mình một cách sáng suốt. Ta không nhận ra được những sức mạnh chân thực của mình cũng như nhiều khuyết điểm của mình.

Hình ảnh tự tạo có một tính lừa dối đặc biệt vì nó có thể làm ta mù quáng trước nhược điểm, lỗi lầm của mình. Có nhận ra được những tính chất ấy thì ta mới có thể khởi sự thay đổi chúng, nhưng khi ta dựa vào hình ảnh tự tạo để khỏa lấp chúng, thì chính là ta đang cản trở sự tăng trưởng của mình. Ta dùng hình ảnh ta tự tạo về mình để tránh nhình vào chính mình một cách trung thực, tạo một bức tranh đầy kiêu hãnh về ta để cho phép ta tin rằng những lỗi lầm của ta không đáng kể, chỉ là vấn đề vụn vặt. Hoặc ta có thể chăm chú nhìn vào những phẩm tính tiêu cực của ta và do đó tự hạn cuộc mình bằng cách nấp đằng sau một hình ảnh tự hạ giá, tự bôi bác.

Khi hướng năng lượng mình vào sự bênh vực hình ảnh tự tạo, là ta cũng ngăn mình có tương quan cởi mở với kẻ khác. Ta đâm ra bị điếc trước sự hồi đáp không phù hợp với lối ta tự nhìn chính mình, hoặc không tin vào sự thật khi nó được nêu lên cho ta. Mặc dù chúng ta có thể thành công nhờ lèo lái người khác ủng hộ hình ảnh của ta, nhưng do bưng tai nhắm mắt trước sự chỉ trích trung thực mà ta mất liên lạc với những người thực sự quan tâm giúp đỡ ta. Ta lại còn cách xa thêm cái tri kiến nội tâm có thể giúp ta biết phân biệt sự thật trong những người khác nói. Vì không có gì để nương tựa, không đất đứng vững vàng, nên ta lại càng bám chặt hơn nữa vào những ý niệm ta có về chính ta.

 

·        Bài tập: Theo dấu hình ảnh tự tạo

Làm thế nào để vượt qua khỏi những giới hạn của hình ảnh tự tạo để tự biết mình một cách chân thực hơn? Ta có thể khởi sự bằng cách nhình kỹ con người ta nghĩ là ta. Bỏ ra một ít thì giờ để xem xét cẩn thận bạn là thế nào dưới mắt bạn? Bạn và hình ảnh tự tạo của bạn quan hệ với nhau như thế nào? Khi bạn tiếp tục nhìn những ý niệm của mình về chính mình, hãy xem chúng tương quan như thế nào với những người cộng sự của bạn, gia đình, bè bạn. Hãy quan sát xem bạn có vẻ như thế nào dưới mắt những người khác.

Mặc dầu theo dấu hình ảnh tự tạo không phải dễ, nhưng khi bắt đầu thấy rõ hơn những khái niệm bạn có về chính mình, thì bạn có thể làm nhẹ bớt ảnh hưởng của nó trên cuộc đời bạn. Bạn có thể tập nhìn mình một cách trung thực hơn, nhận ra và chấp nhận tất cả những phẩm chất của mình, tất cả những nét tích cực cũng như tất cả lỗi lầm của bạn.

Rồi bạn có thể tăng thêm sự tự giác và tự tin của mình bằng cách nhìn kỹ những mẫu mực của tăng tiến trong đời bạn. Nhìn lại tất cả những gì mà bạn đã thành tựu và những phẩm chất đã ảnh hưởng đến sự tăng tiến của bạn. Khi tự thấy mình đã khắc phục những vấn đề và sửa đổi lỗi lầm quá khứ thì bạn có thể hăng hái xem những vấn đề trong tương lai chỉ như những cơ hội để học hỏi.

Bạn có thể bồi đắp sự tự tri và tự tin của mình giống như một lực sĩ bồi đắp thể lực: mặc dù lúc đầu sự tự tri có vẻ khó, dần dà luyện thêm sức mạnh trở thành một lạc thú khi mà hình ảnh tự tạo nhường chỗ cho tự tri chân chính. Thấy rõ những sở trường sở đoản của mình sẽ đưa đến một niềm tin chân thực ở chính mình, sự tỉnh thức càng ngày càng tăng nơi bạn trở thành một nguồn năng lực trong công việc và đời sống của bạn, cho bạn một đất đứng.

 

·        San sẻ hiểu biết mới

Khi làm việc để tăng tỉnh giác, ta phải qua một tiến trình phát triển tinh vi cần được nuôi dưỡng cẩn thận. Trong khi nhìn vào chính mình, sẵn sàng xem xét cả sở trường lẫn sở đoản của mình, và khởi sự muốn thay đổi, chúng ta đôi khi không tự tin mình lắm. Nhưng ta cũng có thể muốn thử sự tăng tiến về tự tri của mình bằng cách nói chuyện về những kinh nghiệm mình đã có, hoặc cố làm tư vấn cho kẻ khác. Nói về tiến trình tăng trưởng nội tâm khi chưa thực sự được như thế, thì ta có thể mất mát những gì đã đạt được. Ta sẽ làm phân tán năng lực của sự tỉnh thức nơi mình, thay vì thực sự tăng tiến ta chỉ có nói về nó.

Một đứa trẻ mang một quả bong bóng chạy đến khoe mẹ, nhưng phải tiu nghỉu vì quả bóng đã nổ tung trước khi đến được bên bà. Cũng thế, khi ta cố san sẻ ý thức mới của mình quá sớm, ta cũng thường bị thất bại và vỡ mộng như thế. Chúng ta có thể thấy người khác hiểu lầm hoặc chẳng quan tâm những gì ta nói. Họ còn có thể nhạo báng ta, phủ nhận giá trị của quan điểm ta, làm cho ta đâm ra hoài nghi chính mình. Khi điều này xảy đến, ta có thể mất hết tự tin, mất cả khả năng đi sâu vào những ý tưởng cảm thức của mình.

Hơn nữa, cái năng lượng ta dùng để nói về mình là năng lượng quý báu có thể dùng để tăng tiến sự tỉnh giác của ta. Khi biết sử dụng năng lượng một cách khôn ngoan, thì ta có thể đi sâu vào nội tâm và làm những thay đổi cần thiết. Dần dà ta sẽ có ý thức hơn về những phẩm tính đưa đến tăng trưởng tâm hồn, và khi tiếp tục tăng trưởng, tự nhiên ta muốn bảo vệ sự phát triển của mình. Khi đã thuần thục trong sức mạnh nội tâm tỉnh thức ấy, thì ta mới nên san sẻ với người.

 

·        Tiếp xúc với thực tại

Sự khuyến khích của người thường rất có ích, nhưng quan trọng hơn là sự khích lệ mà ta tự đem lại cho mình. Khi ứng xử với con người thật của ta, ta có niềm tin, không ai có thể lay chuyển nổi nền tảng ấy. Khi đã tiếp xúc với thực tại thì ta không còn bị suy yếu bởi bất cứ gì trên đời. Nhờ sức mạnh nội tâm tăng trưởng, nhờ có niềm tin do thấu hiểu bản chất của mình, mà ta phát triển được sự sáng suốt trung thực cũng như sự tỉnh giác.

Khi thực sự giác tỉnh về bản thân ta sẽ biết được mình đứng ở đâu, mình là ai. Chúng ta sẳn sàng chấp nhận cả những thành tích lẫn lỗi lầm của mình, cùng những bài học mà chúng đem lại cho ta. Ta nhận ra mọi kinh nghiệm đều có tiềm năng làm cho đời ta thêm phong phú, ta tận dụng mọi sự xảy ra để tăng tiến, phát triển theo hướng lành mạnh.

Ta có được một lối nhìn quân bình về tương quan giữa ta và người khác. Khi ta biết hài lòng với con người thật của mình, thì ta cũng khởi sự thấy được những đức tính nơi người khác, và sẽ thấu hiểu bản chất con người một cách sâu sắc hơn. Khi ấy thì việc tự chấp nhận chính mình và chấp nhận người khác hóa ra dễ dàng. Khi đã tự tin ở chính mình, ta có thể mở lòng ra ôm trọn tất cả trong đời sống của ta.

Hoàn cảnh đời ta lúc ấy sẽ được tỏa sáng nhờ tình yêu thương lân mẫn tuôn phát từ sự chấp nhận tự nhiên ấy. Năng lượng và công việc ta làm được hướng dẫn bởi sự sáng sủa, bởi một ý thức minh bạch về ta là ai, và ta muốn thành tựu những gì. Kết quả công việc ta làm cùng với ý nghĩa cuộc đời ngày càng tăng trưởng, sẽ đưa ta đến một niềm hoan hỉ và sự vững bền ngày càng lớn trong mọi sự ta làm.

 

19

 

TRUYỀN THÔNG

 

Truyền thông là gạch nối cốt yếu giữa những tri kiến của chúng ta với sự nâng đỡ cần thiết để giúp cho chúng thành hình. Nó bảo trì những tuệ giác quý báu nhất của nhân loại, nó chuyên chở vừa cảm hứng tuôn ra tính sáng tạo, vừa sự thật biểu lộ cái toàn vẹn của bản chất con người. Nó cung cấp phương tiện để trao  truyền tri thức từ thế hệ này sang thế hệ sau. Như vậy truyền thông đóng vai trò quan trọng trong tiến trình liên tục để cải thiện phẩm chất đời sống.

Khi thực sự truyền thông với kẻ khác là ta mở những kênh dẫn tình yêu thương, sự quan tâm giúp đỡ, gợi lên sự cởi mở nơi ta lẫn người, khơi dậy năng khiếu thưởng thức niềm vui và ý nghĩa của sự sống. Dù ta cố truyền đạt bất cứ việc gì, sự quan tâm thương tưởng chân thực của ta luôn luôn là một phần của thông điệp, bởi vì sự truyền thông chân thực là yếu tố tạo nên sự đồng tâm đồng chí, kết hợp chúng ta bằng một sợi dây của sự thân ái và hiểu biết lẫn nhau. Tư tưởng và cảm thức được diễn đạt một cách trôi chảy rõ ràng; trí óc tâm hồn và năng lượng của ta đều tham dự, hòa thành một nhất thể lưu loát.

Những quan hệ tốt trong công việc đều lệ thuộc vào sự tương tác trôi chảy này. Có thực tình muốn cùng nhau làm việc chúng ta mới thấy tầm quan trọng của sự hiểu người và được người khác hiểu mình, của sự rõ ràng và chân thực trong những điều mình nói, và làm sao để nói. Chúng ta lắng nghe và nâng đỡ lẫn nhau, giải quyết mọi vấn đề trong công việc một cách êm thấm. Chúng ta giúp đỡ lẫn nhau tận tình, cùng nhau hoàn tất mục tiêu, san sẻ toàn năng lực của mình. Nhờ chúng ta bén nhạy nghe ngóng những thông điệp từ tư tưởng cảm thức trong chính ta, nên ta cũng cảm thông được với những người đồng sự. Khi có sự truyền thông tốt đẹp như vậy thì kết quả sẽ là hòa điệu và lòng thương tự nhiên sinh khởi.

 

·        Chịu cảm thông với kẻ khác

Rất nhiều người trong chúng ta đã mất liên lạc với tri kiến nội tâm nó vốn là cốt tủy của sự cảm thông. Thay vì cởi mở đối với chính mình và có thể san sẻ những tư tưởng, cảm giác của mình với người khác thì ta lại chỉ bận tâm bảo vệ cái hình ảnh tự tạo của mình. Mặc dù ta bảo ta muốn tương giao với người khác, song dáng điệu cử chỉ ta, vẻ mặt ta, giọng nói ta, và sự hùng hổ trong lời nói cũng để lộ ra rằng ta không thực tình muốn san sẻ. Nếu không tự biết rõ mình, hiểu rõ vừa động cơ, vừa thông điệp của mình muốn nói, thường ta chỉ có truyền thông cái sự hoang mang.

Khi ta không thực sự quan tâm đến san sẻ, thì không thể nào có sự trao đổi tư duy đầy ý nghĩa xảy ra. Chúng ta có thể chỉ nói lên một phần quan điểm mình và mong người kia hiểu rõ điều ta đã nói. Hoặc ta có thể bọc những ý niệm của mình trong một thứ ngôn ngữ ít ai thể hội được. Mặc dù người khác không hiểu, họ có thể chấp nhận lập trường và ý tưởng ta không cần chất vấn, chỉ vì muốn che giấu sự không hiểu của họ. Bằng cách ấy ta chỉ dùng sự truyền thông để mà lèo lái người khác hơn là làm phương tiện để mở lòng ra với họ. Thế là ta mất hết cơ hội để cho ý nghĩ được tuôn ra, được san sẻ, cơ hội đào sâu hiểu biết con người.

Nếu ta không cần cảm thông với kẻ khác thì tất cả gì ta có thể truyền đạt thực sự, đó là sự bất cần của ta. Khi xem xét cẩn thận những kiểu truyền thông của mình, để ý cái cách người khác phản ứng như thế nào trước những gì ta nói, ta sẽ thấy sự thiếu tình thương nơi ta đã cản trở nỗ lực của ta như thế nào trong việc truyền đạt một cách sáng sủa. Ta sẽ thấy ta có thực sự đang lắng nghe những gì người khác nói không, hay ta chỉ quan tâm đến việc làm cho kẻ khác biết quan điểm của ta. Sự để ý xem ta có ngắt lời người khác hay có sẵn sàng nhìn thẳng vào người khác không, có thể cho ta biết rất nhiều về động cơ đích thực của mình.

 

·        Sự truyền đạt cởi mở, chân thành

Nhờ quan sát những cách tương tác với người khác mà ta có thể hiểu những rắc rối mà ta tự tạo cho mình trong sự truyền thông. Nếu muốn thể hiện niềm vui san sẻ với người, thì ta phải phát triển cái thiện chí muốn tương giao với những người xung quanh một cách cởi mở. Muốn làm vậy ta phải làm một quyết định thay đổi bằng tất cả năng lực tâm trí mình. Khi đã thay đổi, ta có thể cả quyết rằng tình thương trong ta luôn luôn là phần minh bạch nhất trong thông điệp của ta.

Khi càng mở lòng ra với người khác thì ta càng thấy rằng lắng nghe có nghĩa là mở hết các giác quan của ta ra để nghe những gì người khác muốn nói, không những trong lời họ thốt ra mà còn trong tim họ. Bằng cách ấy ta sẽ thực sự hiểu được cảm nghĩ người khác và những gì họ cần nói. Tính dễ cảm ứng này cho phép ta càng cởi mở hơn, và sự truyền thông trở thành một nhịp cầu để cảm thông giữa con người. Khi ta khởi sự có tương giao chân thật, thì những ý tưởng và nhãn quan mình sẽ phát triển, thay đổi, tăng tiến, và chúng ta khám phá một niềm thỏa mãn sâu xa trong những tiếp xúc với người.

Sự tôn trọng và thừa nhận lẫn nhau phát sinh từ truyền thông chân thực thường bền bỉ tốt đẹp hơn vô vàn cái cách thán phục khen ngợi giả dối. Khi ta biết thư giãn, biết mở lòng ra với người khác, khi nào ta không còn cố bảo vệ tự ngã của mình và những ý kiến mình, thì lúc đó ta khởi sự làm những thay đổi tích cực trong đời mình. Nếu ta tương giao với thế giới xung quanh một cách trầm tư bình thản, ta sẽ thấy mình có thể truyền đạt một cách minh bạch những ý tưởng của mình, và những mục tiêu của ta tự nhiên xuất đầu lộ diện. Chúng ta và thế giới hòa nhịp lẫn nhau.

Sống trong tương quan hòa hợp với thế giới sẽ tăng thêm sự phát triển tri kiến và sáng tạo trong đời ta và những người quanh ta. Nhu cầu giữ lấy một hình ảnh tự tạo về mình bỗng biến mất, vì những người xung quanh yêu thương ta trong con người thật của ta, và ta cũng yêu thương họ như vậy. Tập cảm thông sẽ đem lại hòa bình sâu xa và niềm vui cho đời ta. Những quan hệ của ta với đồng sự, gia đình, bè bạn trở nên đầm ấm và lâu dài vì đặt trên căn bản thành thực và thương yêu.

 

20

 

HỢP TÁC

 

Khả năng hợp tác tốt đẹp với người phát xuất từ những phẩm tính góp phần làm nên cuộc sống lành mạnh, đó là tính ổn định, lòng trung thực, sáng sủa, niềm tự tin, và sự tỉnh giác khéo tập trung. Khi phát triển những phẩm chất này, chúng ta tập san sẻ tài khéo và kinh nghiệm mình với người khác, và đấy là khởi đầu của sự hợp tác. Khi biết yêu thương và giúp đỡ người với một tấm lòng cởi mở, chúng ta khám phá rằng họ cũng đối lại với ta như vậy.

Cùng làm việc với mọi người một cách tốt đẹp vừa cho ta một ý thức về giá trị độc đáo của mỗi cá nhân, đồng thời ta còn thấy được có sự tổng hợp nhịp nhàng khi nhiều cá nhân tham dự vào một công việc. Sự hợp tác mở ra một năng lực sáng tạo sinh động có thể mang lại những lợi ích vô vàn lớn hơn bất cứ một cá nhân đơn độc nào có thể mang lại. Sự tiến bộ lệ thuộc vào hợp tác cả ở bình diện cá nhân lẫn toàn cầu.

 

·        Những giới hạn của nỗ lực vị kỷ

Mặc dù mỗi người trong chúng ta đều có thể khen ngợi giá trị của hợp tác, ta thấy không dễ gì để cộng tác với người một cách tốt đẹp. Một trong những trở ngại thông thường cho sự hợp tác là cái khuynh hướng của chúng ta muốn nghĩ rằng cảm giác và thái độ của mình quan trọng hơn của người. Chúng ta có thể nghĩ tốt hơn ta nên tự làm lấy một mình, chỉ hướng những năng lượng của ta vào những mục đích riêng mình mà thôi. Chúng ta không thấy rằng cái quan điểm “tự kỷ trung tâm” ấy có thể ảnh hưởng đến ta lẫn người trên nhiều bình diện.

Lúc đầu có lẽ chúng ta làm rất tốt, song dần dần ta trở nên khép kín, cô lập. Ta không san sẻ những thông tin có lợi cho công việc người khác. Chúng ta nuôi dưỡng những ganh tị nhỏ nhen dẫn đến thù hiềm, từ đó những xung đột cá nhân bắt đầu cắm rễ và lớn dần. Những cuộc cãi vã nhỏ trở thành rắc rối to chuyện cho đến khi cuối cùng việc hợp tác tốt đẹp với người trở nên khó khăn, nếu không nói là bất khả. Nhưng nếu không có sự hợp tác để mang chúng ta lại gần nhau thì cả công việc làm lẫn những quan hệ giữa chúng ta đều bị thương tổn, và chúng ta không còn thấy đâu là niềm thích thú, và lợi lạc của sự làm việc bên cạnh nhau.

Tính “không thể nào hợp tác” thường là hậu quả của thói hành xử từ tấm bé, chuyên nổ lực để tránh những gì mình không muốn làm và chỉ làm theo ý mình. Những thói này thường được biểu lộ ra trong cái cách ta ứng xử với những vấn đề thông thường trong công việc hoặc trong những mối tương quan đang trở nên tồi tệ. Chúng ta đâm ra quá quan tâm đến những điều mình thích mà tảng lờ tầm quan trọng của sự tương giao với người khác. Bởi thế ta tự đóng cửa lòng mình khỏi những yếu tố cần thiết của hợp tác như nhìn ra ngoài, cởi mở, và nhất là yêu thương.

Trong gia đình, chúng ta cố cởi mở hơn đôi chút, nhưng đặc biệt tại sở làm thì ta đóng cửa lòng mình lại trước những người đồng sự, trước công việc, và cả với chính mình. Vì muốn thành đạt những mục tiêu, muốn bảo vệ hình ảnh tự tạo, mà ta có thể cố lèo lái những người xung quanh. Ta có thể bám lấy một lập trường, từ chối hợp tác vì sợ rằng nếu ta buông xả và cởi mở với người khác thì những yếu kém của ta sẽ bị phơi bày.

Nhưng chính sự bám víu vào quan điểm ích kỷ của mình đã ngăn cản ta nhận ra tiềm năng thương yêu và làm việc êm thấm với mọi người xung quanh. Chúng ta không thấy được rằng hợp tác là cùng quan trọng  hơn sự bảo vệ thành công một quan điểm.

 

·        Bài tập: Làm lắng dịu xung đột

Khi có thiện chí muôn hợp tác, ta sẽ thấy cuộc đời ta có đầy kinh nghiệm phong phú về hợp tác tốt đẹp với người. Lần sau nếu gặp xung đột với một người đồng sự, bạn hãy tìm một lối giải quyết tích cực cho vấn đề thay vì tập trung vào cảm giác giận dữ của mình hay vào cảm giác bị xúc phạm. Đấy là lúc để bạn buông xả những cảm xúc và cố làm việc với nhau, làm sao để bạn có thể duy trì một mối dây hợp tác dù cho có sự bất đồng ý kiến.

Muốn làm vậy, có lẽ bạn phải hy sinh cái cơ hội để cho những cảm xúc của bạn tự do nổi lên, để thắng thế trong tranh luận. Nếu biết buông lỏng và trở nên mềm dẻo hơn trong những tương tác với người, thì tính sáng tạo tự nhiên trong bạn sẽ được tự do hiển lộ. Điều này sẽ nâng cao phẩm chất của công việc bạn, đào sâu sự thân ái, và tăng thêm khả năng hiểu biết những người đồng sự.

Muốn hợp tác thật sự với những người xung quanh, ta còn phải cởi mở với chính bản thân mình – thân xác, tâm trí, giác quan và cảm xúc của ta. Khi tập nhận ra được những thông điệp từ các nguồn này, thì sự tự tin tạo nên một nhịp cầu nối ta với người khác. Ta có được một cái nhìn rộng rãi hơn, khiến ta dễ phát triển những mối tương quan tích cực và đầy nâng đỡ. Ta nhạy cảm trước những cảm giác và tâm trạng, ta biết được và quan tâm đến những cảm nghĩ của người khác. Ta để ý giọng nói của họ, tính năng nổ trong nghị lực họ, và biết nên đến gần họ một cách ý tứ lúc nào và như thế nào. Khi ta đã phát triển được những nhận thức sáng sủa và trở nên nhạy cảm hơn đối với người khác, thì sự truyền thông trở nên chân thành cởi mở.

 

·        Kết quả của hợp tác

Khi ta chịu khó bỏ thì giờ để san sẻ kinh nghiệm và hiểu biết với bạn bè, đồng sự của ta, thì họ đâm ra hăng hái làm việc và phát triển những tài năng họ. Công việc khi ấy sẽ trôi chảy hữu hiệu hơn, nếu ta truyền thông với một cách minh bạch và để cho họ hồi đáp một cách chân thực. Khi ta giúp nhau diễn đạt ý nghĩ của mình và làm những quyết định, chúng ta cảm thấy một sợi dây liên lạc giữa ta với những người cộng sự, những đặc tính độc đáo được đánh giá cao; những rắc rối được giải quyết êm đẹp, và năng lượng làm việc được quân bình. Nhờ vậy chúng ta đâm ra tin nhau và phát triển sự tận tình với những gì quan hệ đến công việc.

Khi môi trường làm việc trở nên sống động đầy năng suất, giúp cho sự tiến bộ, chân thật, sáng sủa, và hợp tác, thì những phẩm tính này được thể hiện trong mọi sự ta làm. Chúng ta đâm ra hăng hái muốn san sẻ trong khi làm việc, nương nhau, giúp nhau vượt khó để công việc được trôi chảy, mọi người vui vẻ. Chúng ta kết hợp năng lực và tư duy để tạo một sức mạnh năng động có thể hoàn thành những công việc khó khăn không thể một mình ta làm nổi. Sự hợp tác trong công việc trở thành một kinh nghiệm hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, một suối vô hạn của sự thỏa mãn và cảm hứng sáng tạo cho tất cả mọi người.

Phẩm chất mọi việc ta làm được nâng cao khi ta biểu lộ một tình yêu tự nhiên đối với người khác. Khi đã buông bỏ những quan điểm ngã chấp để làm việc với tinh thần cởi mở, hòa hợp với mọi người xung quanh, thì ta sẽ khởi sự cảm nghiệm một niềm vui và thỏa mãn sâu xa trong mọi sự tương tác. Sự tăng tiến sẽ được  thúc nhanh nhờ nhãn quang ta rộng rãi, và ta sẽ thấy bớt rắc rối xung đột không những trong đời sống chúng ta mà cả trong toàn thể nền văn hóa chúng ta. Như vậy, những lợi lạc của hợp tác đã làm sáng, làm giàu phẩm chất của cuộc sống toàn nhân loại.

Thương yêu và hợp tác gợi cho ta nhiều lạc thú trong công việc, và thời gian làm việc trở thành một nguồn vui và gây hứng cảm. Những thử thách được hoan nghênh, những tiềm năng sáng tạo càng tăng trưởng trong công việc cũng như nơi khác. Năng lượng đầy tính tích cực vui vẻ, tuôn tràn vào mọi lĩnh vực khác của cuộc sống. Sự phân biệt giữa làm và nghỉ giảm bớt vì công việc được hội nhập vào một lối sống hòa điệu. Khi ta biết hợp tác thực thụ, thì không có giới hạn nào cho những gì mình có thể thành tựu, cho niềm vui sâu xa mà ta có thể thưởng thức trên đời.

 

21

 

TRÁCH NHIỆM

 

Nhận ra được trách nhiệm riêng của mình là điều giản dị: tất cả chúng ta đều có một số phận phải hoàn tất, một vài nhiệm vụ phải làm xong. Điều ấy ai cũng thấy rõ. Nhưng trách nhiệm của ta không chỉ giới hạn vào những phận sự của riêng ta mà thôi, vì trong một ý nghĩa sâu xa hơn nhiều, chúng ta phải chịu trách nhiệm về toàn thể kinh nghiệm sống, về cái cách ta liên hệ đến thế giới nói chung.

Tinh thần trách nhiệm thực sự là yêu thương chân thực và tính nhạy bén để ứng phó với mọi sự xảy ra quanh mình, sẵn sàng làm bất cứ gì cần phải làm. Điều này có nghĩa chúng ta phải có trách nhiệm không những về một số phận sự bắt buộc nào, mà về mọi phương diện của đời sống, đáp ứng mỗi kinh nghiệm xảy ra bằng một thiện chí năng động, một thái độ tỉnh thức đối với cuộc đời tuôn phát từ sự yêu thương sâu xa.

Muốn phát triển tinh thần trách nhiệm thì ta cần có chánh niệm, nghĩa là biết rõ mọi sự thực tế là như thế nào. Điều này có nghĩa là phải tỉnh thức để rõ biết về những hành vi và ý tưởng của mình, và hậu quả của chúng đối với người khác, cả đến biết hậu quả chúng trên bình diện toàn cầu. Sự tỉnh giác này khiến ta luôn luôn đáp ứng một cách thích hợp, biết rõ những nhu cầu đích thực của những người quanh ta, và hành động một cách tự nhiên bằng những cách đem lại quân bình hòa hợp.

 

·        Đào luyện yêu thương

Ai trong chúng ta cũng có cái khả năng đáp ứng và tỉnh thức như vậy, nhưng phần đông chúng ta không được giáo dục để phát triển nó. Theo truyền thống giáo dục là quá trình học tập tri thức và tài khéo để đảm nhận một vị trí thật sự có trách nhiệm trong đời. Nhưng ngày nay, giáo dục thường chỉ cung cấp thông tin mà không thể dạy chúng ta làm sao để sử dụng nó trong đời sống chúng ta. Chúng ta không biết bản chất đích thực và giới hạn trách nhiệm của mình như thế nào với tư cách làm người.

Chúng ta cần phát triển một nền giáo dục “tăng thượng” có gốc rễ trong yêu thương và được xây dựng trên sự tôn trọng tri thức và kinh nghiệm. Mặc dù ngày nay không dễ gì tìm ra một nền giáo dục như thế, chúng ta vẫn có thể nhìn lại những giá trị truyền thống của quá khứ, vì chúng truyền đạt tri thức được tích lũy bởi tất cả những tiền bối của chúng ta. Đây là kho tàng ta được thừa kế, và nếu biết sử dụng, ta sẽ thu thập được từ đấy cái tri kiến làm thế nào để hành động  hữu hiệu trên đời.

Công việc đem lại cho chúng ta cơ hội để tự giáo dục chính mình, để đưa những giá trị cao thượng vào kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta. Nhờ yêu thích công việc, đáp ứng nó trọn vẹn, mà ta có thể khởi sự hiểu được bản chất của trách nhiệm mình kể như những con người. Vì chúng ta có một trách nhiệm phải làm việc, phải thi thố tài nghệ khả năng mình, phải đóng góp năng lượng của mình cho cuộc đời. Bản chất chúng ta là sáng tạo, và nhờ diễn đạt nó, ta luôn luôn phát sinh thêm nhiệt tình và sáng tạo, khởi động một tiến trình tiếp diễn thú vị trong đời sống quanh ta. Làm việc một cách tự nguyện với trọn vẹn năng lực và nhiệt tình đó là cách ta đóng góp cho đời.

Loại công việc nào cũng có thể là một niềm vui. Ngay cả những việc trong nhà cũng có thể là một cơ hội cho ta thực tập và chan hòa niềm yêu thương, tính cảm ứng và hiệu năng trong ta. Khi ta đáp ứng một cách đầy yêu thương và sáng suốt đối với mọi việc, tức là ta đã phát triển khả năng ứng xử trong đời. Mỗi hành động phát ra một năng lượng tích cực mà ta có thể san sẻ với người khác. Những phẩm chất này – quan tâm đáp ứng – là quà tặng quý nhất mà ta có thể dâng hiến.

 

·        Chống kháng trách nhiệm

Khi ta không đem hết năng lực để đáp ứng với công việc là ta đã hạn chế tiềm năng của mình và chối bỏ bản chất chân thực của ta. Thay vì đóng góp trọn vẹn cho đời sống, có trách nhiệm đối với bản chất sáng tạo của mình, ta lại đặt những giới hạn về những gì mình có thể làm. Khi công việc của ta không trôi chảy, ta lại rêu rao mình có quá nhiều trách nhiệm, hoặc ta đã bị gán cái trách nhiệm kia. Chúng ta cố quy sự thiếu hiệu quả là do ta thiếu kinh nghiệm. Hơn nữa, vì ta đã không cần quan tâm đặt hết năng lực vào công việc, nên không thật sự xem mình có trách nhiệm về hậu quả mình đem lại.

Khi ta không tham dự trọn vẹn vào công việc của mình là ta không biểu hiện trọn vẹn năng lực của mình đối với gia đình, xã hội và cuộc đời. Sự chống lại trách nhiệm làm người như thế có thể có nhiều hình thức – có thể ta nghĩ vì ta đã đủ tiền tự nuôi sống nên không cần làm việc – ta có thể đến với công việc như một bổn phận mà ta không muốn nhưng bị bắt buộc phải làm – ta có thể chỉ làm vì tiền. Dù trường hợp nào, chỉ xem công việc như một điều gì phải phản đối hơn là một dịp may đáng được tận dụng thì thật sự là ta đã lợi dụng tất cả những người khác trong vũ trụ; ta lợi dụng chính cuộc đời. Ta được tặng phẩm là sự sống nhưng nếu ta không sử dụng nó một cách trọn vẹn là ta tạo nên một thế mất quân bình trong vũ trụ, vì những người khác nuôi ta bằng năng lượng của họ.

Lịch sử đã chứng minh rõ ràng những hậu quả của hành động ích kỷ vô trách nhiệm, như không thi hành thỏa ước, xung đột xã hội, tai nạn sinh thái, tất cả đều chứng tỏ sự thiếu trách nhiệm thật sự, không đáp ứng trọn vẹn một cách có ý thức đối với những đòi hỏi của sự sống. Ta đã thấy những người đưa kẻ khác vướng vào những khó khăn nguy hiểm rồi không chịu nhận trách nhiệm về hành động của mình. Nhưng những người đi theo cũng chịu trách nhiệm, vì dù ta là người điều khiển hay bị sai khiến thì vẫn phải chịu trách nhiệm về những gì đã làm.

Nếu ta không bảo đảm được rằng những người dẫn đạo chúng ta phải chứng tỏ tinh thần trách nhiệm, tính liêm khiết của họ, tức là ta chuẩn bị để đón nhận sự hướng dẫn vô ý thức về sau. Khi nghe lời những người khéo dụ ngọt hơn là nghe theo những người có trí và có kinh nghiệm để dẫn dắt ta, là ta nuôi dưỡng một tính thiếu bén nhạy, thiếu quan tâm về mọi sự nói chung.

Muốn hành động với tinh thần trách nhiệm thì chúng ta cần phải tăng cường cảm thức yêu mến công việc. Khi ấy ta có thể cố nhìn tình huống công việc từ một viễn cảnh rộng hơn. Khi bén nhạy hơn để đáp ứng những người xung quanh, công việc và những người cộng sự, ta sẽ thấy rõ hơn những hậu quả có thể có về những hành động chúng ta. Sự tỉnh giác và khả năng ứng xử càng lan rộng thì ta càng dễ chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hạnh phúc tương lai của con cái ta, cộng đồng xã hội và thế giới mà ta sống.

 

·        Bài tập: Quan tâm trọn vẹn

Sự nhìn lại quá khứ của chính mình có thể giúp ta phát triển khả năng cảm thông.

Ai trong chúng ta cũng có thể nhớ lại một thời mà chúng ta đáp ứng lẫn nhau một cách cởi mở, trọn vẹn, xem nhu cầu của họ cũng như của mình. Hãy để thì giờ nhớ lại những chi tiềt về kỷ niệm ấy: cái gì đã xảy ra, bạn cảm thấy người kia như thế nào, bạn đã làm gì.

Rồi xoay sự chú ý của bạn về một thời mà bạn đã không hành động với yêu thương săn sóc, khi những lời nói và hành vi của bạn làm tổn thương một người khác. Hãy cẩn thận ôn lại tình huống ấy, xem xét những động lực và hành động của mình, cách ứng phó với người kia. Hãy nhớ xem bạn có nghĩ gì đến cảm nghĩ của người ấy trước khi hành động không; ghi nhận bạn quan tâm đến cái gì lúc đó. Khi bạn đã ôn lại tình huống ấy một cách toàn triệt, hãy tưởng tượng bạn đang ứng phó bằng tất cả năng lực của tình yêu thương chăm sóc, và để cho những cảm giác tích cực tăng cường trong tim bạn.

 

·        Đứng vững trên sự thật

Hành động có trách nhiệm gợi nên những thái độ tích cực và sự tăng tiến lành mạnh làm cho đời bạn có ý nghĩa. Chúng ta sẽ sống một cách tự nhiên, hòa theo nhịp bước của vũ trụ, có niềm quan tâm sâu xa đến bất cứ việc gì ta làm. Khi càng hiểu biết thêm bản chất của đời sống, ta sẽ thấycuối cùng chính ta phải chịu trách nhiệm về sự thật.

Mặc dù đứng vững trên sự thật có thể là một vị trí hết sức cô độc, song sự thật sẽ giải phóng chúng ta khỏi tính ích kỷ, hận thù, sợ hãi, lo âu. Khi ta nhận trách nhiệm sống để theo đuổi sự thật và luôn luôn gìn giữ nó, ta sẽ thấy cuộc đời ta thêm vững mạnh. Sự thật soi sáng nhãn quan ta và hướng dẫn ta trên con đường lành mạnh của trưởng thành, viên mãn. Một khi ta hành động có trách nhiệm, thời gian và tri kiến sẽ mở cho ta thấy vô hạn khả năng trong cuộc đời. Mặc dù ta có thể vấp ngã lúc đầu, song nếu tiếp tục cố gắng, ta sẽ đạt đến tự do chân thực.

Hành động có trách nhiệm trở thành việc tự nhiên một khi đã được phát triển. Khi ấy chúng ta không còn bị cảm giác nặng nề về bổn phận, công việc ta bị bắt buộc phải làm, mà chúng ta hành động có trách nhiệm chỉ vì đó là một lối sống tự nhiên và lành mạnh. Khi ấy ta sống phù hợp với sự tương quan với cuộc đời bằng một thái độ sẵn sàng đáp ứng với đầy yêu thương. Tính sẵn sàng đáp ứng này cũng trọn vẹn như đáp ứng giữa trời với đất, một thỏa ước không gián đoạn được hoàn tất không do dự.

 

22

 

KHIÊM CUNG

 

Ngày nay thực khó mà đạt đến tính khiêm cung thực sự. Ở phần lớn giai tầng sự sống, đều có sự bất lương tinh tế, sự cạnh tranh và thói ích kỷ nhan nhãn. Chúng ta đã mất liên lạc với giá trị của sự san sẻ với người. Chúng ta giữ lại, khóa kín tình yêu, sự quan tâm, và giữ những càm giác vui cho riêng mình vì sợ phải san sẻ. Niềm vui quá hiếm xảy đến trong đời sống chúng ta, mà nhu cầu người khác lại quá nhiều, đến nỗi ta nghĩ có gì chỉ nên giữ lấy riêng cho mình. Thế nên ta không nuôi dưỡng được những phẩm tính yêu thương, săn sóc để cải thiện những tương quan với ngưòi khác.

Khi ta khai thác những tài nguyên của nội tâm, tích cực san sẻ nhiệt tình và niềm vui thì người khác cũng làm như vậy, và ta khám phá được sự phong phú và giá trị mà ta có thể nhận được của nhau. Sự san sẻ cởi mở với người khác là một biểu lộ của tính khiêm cung đích thực.

Khiêm cung là một kinh nghiệm về tính giống nhau nơi mọi con người. Nó đưa đến quan điểm quân bình về bản chất người ta, xét đến mọi phương diện sở trường và sở đoản mà mỗi chúng ta ai cũng có. Muốn khiêm cung thực sự, ta cần phải nhìn vào bản thân một cách trung thực, thấy rõ những khả năng và những nhược điểm của mình. Khi tự lượng giá mình một cách thành thật, thì ta có thể tôn trọng con người thật của mình, và sự chấp nhận sâu xa này về bản chất mình sẽ dẫn đến sự thấu hiểu rộng hơn về mọi người, và tôn trọng họ hơn. Ta được thúc đẩy phải giúp đỡ kẻ khác khi họ gặp khó khăn và nâng đỡ họ trong việc đào luyện những khả năng họ. Chúng ta sẽ thấy rằng ai cũng có cũng những mục tiêu là hạnh phúc và sự viên mãn; ai cũng gặp những vấn đề và khó khăn tương tự.

 

·        Kiêu hãnh và tự ti

Khi không thành thật với mình, thì ta không thể tôn trọng bản chất nội tại của ta vốn có, phải dựa vào hình ảnh tự tạo về mình để tự thấy mình sáng giá. Chúng ta trở nên quan tâm quá mức đến việc tự bảo vệ mình đến độ chỉ còn thấy những mục tiêu ích kỷ của chúng ta, bất chấp hành động của ta có làm tổn thương người khác. Khi tầm nhìn bị thu hẹp lại như thế thì ta quên mất phẩm tính căn bản của mỗi con người. Ta không còn tôn trọng kẻ khác và khởi sự cho mình cao hơn ai hết.

Lòng kiêu hãnh ấy kỳ thực là một dấu hiệu chứng tỏ ta thiếu tự tin, tự trọng. Vì không thể chấp nhận những lỗi lầm của mình, chúng ta duy trì một cái nhìn sai lạc về bản thân; và tính kiêu hãnh sẽ khiến cho ta trở thành xa lạ với người, không kể gì đến họ. Ta cạnh tranh với những người xung quanh mình để làm cho họ phải giống như những gì ta tưởng về họ, chỉ rõ những lỗi lầm sơ suất mà làm ngơ những đức tính và khả năng của người ta. Nhưng thay vì chứng tỏ giá trị của mình, những lối so sánh và phán đoán của ta chỉ có phơi bày sự thiếu tự tri của ta và làm rộng sâu thêm vực thẳm ngăn cách ta với nhân tính của mình. Khi bản thân mình chưa hết lỗi thì ta không đủ tư cách để phê bình kẻ khác, vì ta vẫn tiếp tục làm những lỗi mà ta lên án nơi kẻ khác.

Ai cũng có những lỗi lầm, chướng ngại ngăn cản sự thành tựu tích cực. Khi có ý thức về điều này nơi chính mình, thì thật khó mà duy trì một thái độ “mục hạ vô nhân”. Càng thành thật sẳn sàng nhận lỗi mình thì ta càng thêm tự tri, tự trọng. Tính tự trọng này thắng lướt nỗi sợ hãi thua kém trong ta, nên ta không còn có nhu cầu phải làm ra vẻ mình cao hơn thiên hạ.

Ta lại còn có thể cho mình thất bại và nhờ vậy lấy cái cơ hội mà sự thất bại đem đến cho ta, để được học hỏi từ những sơ suất của mình. Khi sự tự tri càng tăng đưa đến sự hiểu biết rõ hơn về bản chất con người, ta sẽ đâm ra có quan tâm đến sự an lạc của người khác, và phẩm tính này tạo nên sự khiêm cung chính hiệu.

 

·        Bài tập: Chuyển hóa thói ích kỷ

Sự phát huy một thái độ khiêm cung có thể chuyển những khuynh hướng ích kỷ nơi ta thành tính rộng rãi, lúc ấy ta sẽ khám phá được vẻ đẹp của sự bố thí đích thực, đó là san sẻ với người khác. Càng để cho sự quan tâm chăm sóc mọi người thấm nhuần trong mọi hành vi của ta, thì ta sẽ nhận ra rằng tâm hồn khiêm cung là phẩm tính vĩ đại hơn tất cả. Thái độ ta tôn trọng người khác, quan tâm đến họ, sẽ đánh thức nơi họ sự yêu thương thừa nhận lẫn nhau, làm cho mọi tương tác tương giao được nâng cấp một cách đáng kể.

Bạn có thể phát huy sự tỉnh thức và cảm giác yêu thương nơi mình bằng cách nhìn lại bản thân và những quan hệ với người khác một cách trung thực. Cách tốt nhất để khởi đầu là xem xét thái độ của bạn đối với một người bạn vốn không ưa. Hãy nhìn thật kỹ từng phẩm chất nơi con người làm bạn bực bội. Có phải đấy là những thói tính mà bạn không thích nơi chính mình?

Lần sau nếu gặp người ấy, hãy tập trung vào những tính tốt của họ, để cho một thiện cảm đối với người ấy phát sinh trong tâm bạn. Từ đấy trở đi hãy nuôi dưỡng cảm giác ấy, đừng để cho một phán đoán tiêu cực nào lôi kéo khiến bạn mất thăng bằng. Sau vài tuần hoặc vài tháng hãy kiểm lại xem cảm giác của bạn về người ấy thay đổi như thế nào. Khi tiếp tục làm vậy đối với mọi người bạn ghét, bạn sẽ khám phá ra rằng trên đời không có một kẻ nào mà bạn không thể yêu mến sâu xa.

 

·        San sẻ tình yêu

Khi biết yêu thương săn sóc mọi người thì những cảm tình tốt đẹp trong ta tăng trưởng, và mọi người cũng đáp lại bằng tình yêu của họ, khiến cho phẩm chất cuộc đời được nâng cao. Niềm vui, sự yêu thương trong ta càng tăng, và ta càng có thêm khả năng để làm cho sự quan tâm của ta đến người khác thêm sâu rộng. Khi căn cứ đời sống của mình trên tình yêu, thì những mối tương quan của ta sẽ có năng lực để ứng xử một cách thiện xảo với mọi việc xảy ra.

Tính khiêm cung thuộc loại ấy là kho tàng lớn nhất của cuộc đời. Đối xử với người bằng tình yêu thương, sự quan tâm nâng đỡ thì không còn gì ngăn cách giữa chúng ta. Chúng ta không còn vướng vào những tranh chấp vì thấy rằng sự khác biệt giữa chúng ta biểu lộ những phẩm tính độc đáo của mỗi người, khiến ta thích thú sâu xa trước bản chất nhân loại.

Khi ta thấu rõ tất cả mọi con người đều có những điểm chung không khác gì nhau thì ta sẽ có thái độ trong sáng, cởi mở đối với cuộc đời. Ta thấy rằng tham dự với người khác để san sẻ kiến thức và kinh nghiệm sẽ phát sinh trí tuệ để thỏa mãn mọi nhu cầu, và để sống hòa hợp với tất cả chúng sinh. Sự khám phá này, sự biểu lộ của tính khiêm cung đích thực là một trong những tuệ giác quí báu nhất của chúng ta.

 

VỀ TÁC GIẢ

 

Tarthang Tulku Rinpoche là một bậc đạo sư xuất thân từ tu viện Tarthang ở miền đông Tibet. Thuở ấu thơ ngày đã hấp thụ một nền giáo dục về triết học và thực hành Phật giáo Tây Tạng với một số vị lãnh đạo tinh thần vĩ đại nhất của Đông phương. Năm 1958 ngài rời Tibet đi Ấn Độ, tại đây ngài dạy trong trường đại học Phạn ngữ ở Benares trong 7 năm. Chính trong thời gian này, ngài thành lập nhà in Dharmamudranalaya (kho tàng Pháp ấn) để bảo tồn văn học Tây Tạng.

Khi đến Mỹ năm 1968, ngài khởi sự công trình khó khăn là thiết lập chánh pháp tại Mỹ. Năm 1969, ngài khai sáng trung tâm thiền phái Nyingma, một tổ chức tiên phong làm nền tàng cho các trung tâm Nyingma về sau. Tại đây nhiều sinh viên đã đến học, làm việc và tu tập dưới sự hướng dẫn của ngài, đi vào một con đường tu tập xem mọi kinh nghiệm như một suối nguồn để tăng trưởng và tỉnh thức.

Nhà xuất bản Dharma Publishing và nhà in thành lập năm 1971 đã ấn hành trên 60 đầu sách về nghiên cứu Phật giáo. Ngài cũng đã viết những sách giới thiệu tuệ giác và thực hành Phật giáo gồm Thế Quân Bình (Gesture of Balance), Tâm Rộng Mở (Openness Mind), Phép Thư Giãn Kum Nye, và Phương Tiện Thiện Xảo (tức cuốn này) cùng nhiều tác phẩm triết lý khác chuyên chở một lối nhình chuyển hóa về kinh nghiệm con người (thời gian, không gian, và tri thức; tình yêu trí tuệ, tri thức về thời-không, và tri thức về tự do). Ngài đã phiên dịch nhiều bản kinh dịch truyền thống và ấn hành 7 quyển trong loạt sách Crystal Mirror (Gương Lưu Ly).

Tại viện Nyingma ở Berkeley thành lập năm 1973, ngài đã đóng vai trò quan trọng trong việc gặp gỡ Đông Tây. Những nhà tâm lý học, chuyên viên về sức khoẻ, nhà giáo dục, và học giả từ khắp thế giới đã đến đây để học hỏi và áp dụng giáo lý truyền thống Nyingma trong bối cảnh đời sống và nghề nghiệp họ. Năm 1973, ngài khai sáng Chương Trình Huấn Luyện Phát Triển Con Người, một tổng hợp năng động giữa lối sống lành mạnh của phương Đông với tâm lý học Tây phương. Ngài dạy nhiều môn về triết học và hành thiền cho nhiều ngàn sinh viên trải qua 6 năm. Dưới sự hướng dẫn của ngài học viên đã mở mang được thêm những chương trình phát triển con người như ngài đã khai sáng.

Năm 1975, ngài bắt đầu làm việc ở Odiyan, trung tâm nhập thất phái Nyingma tại Bắc California. Ngài đã theo sát mọi khía cạnh về kế hoạch, xây dựng và phát triển trong dự án khổng lồ này. Vẻ đẹp của nó phản ảnh sự sáng suốt và chiều sâu của tri kiến ngài. Khi hoàn tất, Odiyan sẽ là ngôi nhà trường cửu của pháp tại Mỹ quốc, đồng thời là một trung tâm bảo tồn nghệ thuật và kinh điển văn hóa Tibet. Người Mỹ sẽ có cơ hội thực chứng chân lý về pháp trong đời sống hàng ngày của họ. Trong tưong lai sự phiên dịch những sách Tây Tạng sẽ là một hoạt động quan trọng, và cơ hội học và hành những giáo lý truyền thống Nyingma sẽ mở ra cho tất cả mọi người quan tâm đến.

Ngoài ra ngài còn thành lập nhiều tổ chức khác nữa, như trung tâm cứu trợ người Tây Tạng định cư tại Ấn, Nepal, Bhutan từ năm 1971. Viện Nyingma ở Boulder, Colorado giảng dạy giáo lý truyền thống Nyingma cho một số học viên Mỹ ngày càng tăng.

Lama Govinda một trong những tác giả nổi tiếng về Phật giáo Tây Tạng đã có lần nói về những hoạt động của Tartang Tulku như sau: “Thật là gần như một phép mầu khi ông đến xứ này, từ một kiều dân tay trắng đã có thể xây dựng trong 7 năm những gì mà tất cả những Phật tử Tây phương đã không làm được trong 70 năm, đấy là sáng lập một cộng đồng Phật giáo tự túc đầy đủ tiện nghi để tu tập pháp về mọi mặt …”.

Điều đáng ngạc nhiên là một người đến từ xứ sở xa xôi như Tây Tạng lại có được những tuệ giác phù hợp với nền văn hóa phương Tây hiện nay như thế. Giáo lý cổ truyền về pháp không dễ gì đến được với Tây phương vì nó được diễn đạt bằng một ngôn ngữ và bối cảnh không quen thuộc với người phương Tây. Trải qua 20 năm làm việc với ngưòi Mỹ, đại sư đã khai thác được nhiều cách để diễn đạt những chân lý trong truyền thống của ngài bằng một hình thức thực tiễn phù hợp với văn hóa phương Tây. Trong những tác phẩm của ngài, những chân lý sâu sắc này trực tiếp động đến tâm và trí của phương Tây. Những hậu quả của công việc và kinh nghiệm của ngài đã xác minh giá trị sâu sắc của tác phẩm này đối với độc giả. 

 

---o0o---

Mục Lục > Phần 1 > Phần 2 > Phần 3

---o0o---

Vi tính: Minh Minh Nguyên Ngọc
Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật:  01-07-2007


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang PG và Thời Đại

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544