PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ MỚI
PHẬT LỊCH 2540 –
GIAO ĐIỂM
Tuyển tập 1
Nhiều tác giả
---o0o---
PHẦN BỐN
DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO
TA VỚI TA
CAO HUY
THUẦN
Thuở 1948-50, lúc tôi bắt đầu “quay một vòng hát mà
chơi” trong gia đình Phật tử, anh Võ đình Cường đã cho xuất bản quyển
Ánh Đạo Vàng mà thiếu niên chúng tôi hồi đó đều say mê. Từ đó đến
nay, dù chẳng khi nào ở gần anh, tôi lúc nào cũng có cảm tưởng như anh em
cùng sống với nhau dưới cùng một mái nhà- một mái chùa. Vì vậy, lúc thầy
Thiện Châu đề nghị tôi làm chủ tọa để tiếp anh Cường trong buổi hội ngộ
hôm nay, tôi vừa hân hạnh lại vừa bỡ ngỡ? Tại sao tôi lại phải “tiếp” anh
Cường? Tôi là chủ, anh Cường là khách? Tôi là “chủ tọa”, anh Cường là
“khách tọa”? Rốt cuộc, cả anh và tôi đều là chủ tọa, và điều đó gợi đề tài
cho bài mở đầu của tôi. Tôi sẽ nói lăng nhăng về hai chữ khách, chủ.
Tự xét mình, tôi chưa bao giờ là chủ của một cái gì, kể cả
cuộc đời của tôi, kể cả thân xác của tôi.Tôi muốn tóc cứ xanh, nó cứ bạc.
Tôi muốn ngủ, mắt không muốn nhắm. Tôi đâu nghĩ có ngày phải sống xa nước,
vậy mà rồi cũng bèo dạt mây trôi. Luật Việt Nam ngày xưa bảo tôi là chủ
gia đình. Có ai trên đời này dám vỗ ngực xưng mình là chủ của bà vợ? Vay
nợ để mua nhà, tôi là chủ của cái nhà, hay cái nhà là chủ của tôi? Buồn,
vui, thương, yêu, giận ghét, cứ đến cứ đi, có thể xin phép gì tôi đâu?
Tổng Đốc Hoàng Diệu thắt cổ tự tử khi Hà Nội thất thủ, ông là chủ của cái
cổ hay quan niệm về danh dự là chủ của chiếc dây? Ý nghĩ mà tôi đang nói
ra đây, tôi đang làm chủ nó hay nó đã bắt đầu đưa đẩy tôi đi đến chỗ nào
tôi chưa biết? Không ai là chủ của một cái gì cả, vì lẽ giản dị không có
cái gì là khách.
Anh Cường là khách của tôi? Còn lâu! Khi anh bước chân vào
chùa này, khi anh nhìn thấy Phật, tôi cam đoan anh không nghĩ anh là
khách. Làm sao anh là khách của Phật! Rất nhiều người trong chúng ta, nếu
không muốn nói là tất cả, khi đặt chân lên đất nước của chính mình, bỗng
thấy mình là khách. Từ cái hộ chiếu phải cầm, cho đến cách đối xử trong
việc ăn ở, đi lại, giao tế, tất cả đều dồn chúng ta đến cái cảm giác lạ
lùng rằng mình là khách. Nhưng sức mấy mà tôi là khách đối với đất nước
tôi! Khi tôi mở cửa sổ và bất chợt thấy “nắng hàng cau nắng mới lên”,
có cắt lưỡi, tôi cũng phải nói rằng tôi không là khách của ông Hàn Mạc Tử.
Tôi không là khách của con trăng treo lơ lửng trên đầu ngọn tre; tôi đang
thầm thì nói với nó, cũng như tôi đang thầm thì nói với tiếng giọt mưa rơi
trên tàu lá chuối: “em đã là tôi tự thuở nào”.
Mà tôi cũng không phải là khách của nước Pháp, của nước
Mỹ. Thời 1973-74, lần đầu tiên tôi đến nước Mỹ, giữa lúc chiến tranh quyết
liệt, sắp đến hồi kết thúc. Tôi đến thăm một trường đại học để hô hào
chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, và tôi thấy gì? Một cái chuồng cọp, y
hệt cái chuồng cọp ở Côn Đảo, với các cậu sinh viên thay phiên nhau ngồi
chồm hổm trong đó. Tôi là khách sao được của những tình cảm thắm thiết
kia? Không người trí thức nào thuộc thế hệ anh Cường nói mình là khách của
vường Luxembourg khi lần đầu tiên nhìn lá vàng rơi trên những pho tượng
trắng. Không có chủ, không có khách, bởi vì chủ hay khách là tự trong
lòng, chỉ một khoé môi là chủ thoắt biến thành khách, chỉ một ánh mắt là
khách vụt trở thành chủ. Cũng anh Thúc Sinh đó thôi, nhưng khi “trăm
nghìn đổ một trận cười như chơi” thì là quen, mà khi đờ mặt ra nghe
Kiều đàn với bà Hoạn Thư thì người đâu mà lạ thế!
Ngày trước, tôi thường hay bâng khuâng với hai chữ “nhị
hỷ” trong truyền thống cưới hỏi của chúng ta. Đưa dâu là ngày hôm trước,
đưa vợ mới cưới về thăm nhà cha mẹ là nhị hỷ hôm sau. Nhị hỷ là nỗi vui
thứ hai; thế thì nỗi vui thứ nhất hẳn là ngày cưới. Thế mà có người con
gái nào không khóc sướt mướt khi lên xe hoa! “Khấp như thiếu nữ vu quy
nhật”, đố ai biết nước mắt đó buồn hay vui. Có người bị ép uổng, khóc
đã đành. Các cô gái trong Nguyễn Bính đâu có lên xe hoa, chỉ qua đò, sang
ngang. Cách một con sông, trời ơi, chỉ còn có cái cửa sau để ngóng về quê
mẹ. Nhưng có người vui cũng khóc. Khóc vì tình cảm khách chủ ngổn ngang.
Ra đi, bỗng nhiên là khách, khách của tất cả những gì đã tạo ra mình, từ
cái mái nhà, mái hiên, đứa em út đang ngẩn ngơ nhìn chị cho đến con chó
đang ngoe nguẩy đuôi. Có phải nhị hỷ là để khách ngày hôm qua trở lại là
chủ của ngày hôm sau? Đố ai nói được! Khi cô dâu hôm trước bước vào nhà,
đứa em gái đã thay chiếc khăn nơi giường của chị. Nó đã xoay lại chiếc bàn
học, cắm một đóa hoa, làm dỏm một bức rèm. Cha mẹ cô mừng rỡ, nhưng trong
dáng tiếp con không phải như mừng con đi học về ngày hôm qua. Có một cái
gì lạ trong tất cả những cái đều quen. Ấy, đứa em gái vừa rót mời chị một
ly nước. Sao bây giờ nó bỗng rót nước mời chị! Đưa dâu, chưa hẳn là ra đi
vì trong lòng người con gái chưa rời được nhà cũ. Nhị hỷ, lúc trở
về, đó mới là lúc người con gái thấy mình đã cất bước, con chim đã rời
tổ.
Những chuyện lăng nhăng, vớ vẩn như vậy trong đời đã đưa
tôi vào đạo Phật lúc nào không hay. Người con gái trở về nhị hỷ là khách
thật chăng? Không hẳn. Là chủ chăng? Cũng không. Anh Cường không phải là
khách, không phải là chủ. Tôi đối với tấm thân này của tôi, đối với cuộc
đời của tôi cũng thế. Không có cái gì là một, không có cái gì là hai. Nhìn
một sẽ không thấy hai. Nhìn hai sẽ không thấy một. Phật dạy cho tôi sự
biết rốt ráo, vượt lên trên một, vượt lên trên hai. Có lẽ chỉ có con cú,
con chuột chù mới chỉ thấy đêm, không thấy ngày. Có lẽ chỉ có anh triết
gia gàn ngày xưa mới thắp đuốc đi chơi đêm để nuôi ảo tưởng chỉ có ngày,
không có đêm. Thói thường, ai cũng biết rằng mọi sự vật ở trong đời đều có
đôi, có cặp: ngày đêm, tả hữu, cao thấp, trên dưới, lạnh nóng, xa gần,
tĩnh động… Từ đó, trong ý niệm cũng nảy sinh ra từng cặp, từng đôi: vui
buồn, thương ghét, âm dương, thiên đường địa ngục, tâm vật, và rắc rối hơn
nữa duy vật duy tâm. Nhưng có ai là khách của ai đâu? Không có thấp, làm
gì có ý niệm về cao; không có xa, biết thế nào là gần? Bao nhiêu triết gia
đã thử định nghĩa thế nào là vui, nhưng đố ai biết vui là gì nếu không có
buồn, đố ai biết thiện là gì nếu không có ác? Ông Mạnh Tử bảo: tính người
là thiện: thế thì thiện là gì chứ? Ông Tuân Tử bảo: tính người là ác; thế
thì thiện là khách?
Mỗi lần ăn một bát phở ngon, tôi thấy Phật. Thấy thực sự,
rành rành trước mắt, chứ không phải chỉ thấy qua triết lý, tôn giáo. Tôi
thấy Phật từ từ đi ra bờ sông, tôi thấy Phật nhúng mình trong nước, tôi
thấy Phât đi lên bờ, ngồi dưới gốc cây. Và đẹp quá, tôi thấy cô thiếu nữ
mặc áo xanh thắm kính cẩn dâng lên Phật một bát cháo náo với sữa và mật
của hoa rừng. Chưa bao giờ Phật nếm một thức ăn ngon như vậy sau sáu năm
tu khổ hạnh trong rừng già. Bát cháo làm Phật hồi sinh. Phật ngồi nghỉ,
rồi Phật đứng dậy, đi qua bờ bên kia sông, ngồi dưới gốc cây bồ đề. Tất cả
triết lý của Ấn Độ thời ấy nhắm vào việc chế ngự thân xác để làm sáng ra
sức mạnh siêu nhiên của tâm linh. Thân này là khách, tâm linh kia mới là
chủ. Đuổi khách đi thì người chủ mới làm chủ trọng ngôi nhà. Bát cháo của
cô thiếu nữ đã làm tan biến ý niệm khách chủ giữa thân xác với tâm linh.
Cũng vậy, tôi ăn bát phở và tôi thấy khoan khoái cả trong dạ dày lẫn trong
tư tưởng. Cũng như khi tôi nhìn thấy đóa hoa hồng trong vườn: không phải
chỉ mắt mũi tôi ngây ngất với sắc hương, cả tâm linh của tôi phơi phới.
Kinh và chuyện thiền đã mang lại cho tôi cả một kho tàng
hình ảnh, ẩn dụ để khước ý niệm khách chủ, một hai. Trên đầu ngọn núi cao
ngất kia, mây trắng kết thành một vòng. Cái hình ảnh đẹp trước mắt là đỉnh
núi với vòng mây. Trong cái trực nhận đầu tiên về cái đẹp, trong một
thoáng rất nhanh mà cảm quan bắt chợt được cái đẹp như là cái đẹp, đâu có
sự phân biệt đây là núi, đó là mây. Hai bàn tay vỗ vào nhau đánh bộp. Bàn
tay trái bảo: tiếng bộp đó là tao. Đâu phải! Bàn tay mặt bảo: là tao,
không phải mày. Đâu phải! Là hai bàn tay chăng? Sai nốt ! Bằng chứng là
nếu tôi đặt lòng bàn tay này lên lòng bàn tay kia mà không vỗ thì chẳng
nghe tiếng bộp nào. Thế thì tiếng bộp đó là do sự vỗ chăng? Có tất cả
trong tiếng bộp, nghĩa là có một, có hai, có nhiều, có vô vàn yếu tố. Bồ
Đề Đạt Ma đã nói một câu tuyệt vời: “muốn thấy cá phải nhìn nước”. Chỉ cần
chiêm nghiệm một câu đó thôi, là thấy cả chân lý và phong thái sống trong
đời. Thấy cá là thấy một, thấy nước là thấy một. Thấy hai cũng trật, mà
thấy một cũng sai. Cho nên tất cả lý thuyết nào nói rằng do một mà sinh ra
tất cả, tôi cười. Không có một ông thượng đế nào sinh ra vạn vật. Tôi sống
trong cuộc đời không đóng đinh chữ một vào óc. Tôi không quỳ lạy
trước Một, cho nên tôi tan hòa trong Tất Cả. Mà làm sao tôi
thấy Một được khi ngây ngất với đóa hoa hồng của tôi? Màu hồng thắm
nơi cánh hoa do đâu mà có? Nếu cánh hoa khoe rằng nó là chủ của sắc màu
thì mặt trời sẽ giận: không có ánh nắng, hoa lấy sắc thắm ở đâu? Nếu mặt
trời đắc thắng vỗ ngực bảo nó là chủ của màu hồng, thì hạt mua sẽ không
bằng lòng: không có mưa làm gì có hoa? Nhưng ai dám bảo mưa là chủ: không
có mây làm gì có mưa? Tất cả vạn vật sẽ đi kiện nhau, nếu ai cũng cho mình
là chủ: sông nước kiện mây, bởi vì không có hơi nước thì làm gì có mây:
không khí chuyển động kiện hơi nước, bởi vì hơi nước làm sao bốc lên trời
được nếu không có chuyển động không khí?
Trong chuỗi kiện cáo liên miên bất tận không đầu không
đuôi đó, nếu có một ông thượng đế tự đứng ra làm quan tòa tối cao
để phân xử và cười khà phán rằng ta đây mới thật là chủ, thì vụ kiện vẫn
chưa yên đâu, bởi vì có kẻ sẽ đứng ra kiện ông thượng đế: kẻ đó là tôi.
Tôi kiện, vì nếu không có tôi thì làm gì có ông? Không có tôi run sợ, khép
nép, làm gì có ông là giải pháp tối cao? Tôi là chủ, ông là khách. Lịch sử
ở phương Tây này có gì khác nhau đâu là lịch sử kiện cáo giữa con người
với ông. Có nhiều lúc con người ngạo nghễ: “thượng đế chết rồi!” Có lúc
ông hát khải hoàn ca: “Thượng đế phục thù!” Thế thì ông là chủ, người là
khách? Tôi thấy quan hệ đấu tranh giữa con người với ông ở phương Tây này
mệt quá, trong đóa hoa hồng trong vườn tôi bình yên nở cánh. Mời ông xem,
nơi nó có tất cả vạn vật, và tất cả vạn vật tụ lại trên nó. Nó không là
chủ của ai, không ai là chủ của nó, mà cũng không ai là chủ của ai.
Vứt hết ý niệm một, vứt hết ý niệm hai, vứt luôn cả ý niệm
vừa một vừa hai, vứt hết, rồi hãy tưởng tượng mà xem: không có sự giao tế
nào đẹp hơn giữa người với người, bởi vì ai cũng là chủ và không ai là
khách. Đó là sự giao tế giữa trăng với nước.Trăng lên, và nước không mời,
trăng cũng đến chơi, trăng là nhà của nước, nước là nhà của trăng, nước
xao thì trăng vỡ, nước lặng trăng tròn. Ném hòn sỏi xuống nước, một tia
nước rơi vào lá cỏ: trong hạt nước đọng trên lá vẫn có nước. Trăng nhởn
nhơ trong nước, nhưng trăng không ướt; về khuya, nước cũng không làm trăng
lạnh.
Anh Cường đến chơi với chúng ta, áo anh khô và người anh
ấm. Tiếp anh, tôi xin đọc một bài thơ mà chúng ta đã học từ thuở
lớp nhì, lớp nhất. Thuở ấy, thầy giáo cắt nghĩa cho tôi khác, bây giờ tôi
hiểu với một tinh thần khác. Tôi lăng nhăng nói trăng nói cuội nãy giờ
cũng chỉ để đọc bài thơ kia với tinh thần này mà thôi. Bài thơ của Nguyễn
Khuyến mà ai cũng thuộc:
Đã bấy lâu nay bác đến nhà
Trẻ thời đi vắng chợ thời xa
Ao sâu lưới cạn khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà
Cải chửa ra hoa cà chửa nụ
Bầu vừa rụng rốn mướp đang hoa
Đầu trò tiếp khách trầu không có
Bác đến chơi đây ta với ta.
Nguyễn Khuyến là nhà nho, chưa chắc ông đã thông Hoa
Nghiêm với Bát Nhã. Nhưng bài thơ là một chữ Không láu lỉnh trong
một chứ Có tài tình. Là chủ, ông vứt hết tất cả những gì khiến ông
là chủ, khiến bạn là khách, vứt hết ý niệm tiếp đãi, lễ tân, khiến đó là
đó, đây là đây. Trẻ con, chợ búa, cá mú, gà lợn, cải cà, bầu bí, cau trầu,
càng lo lắng chu toàn những phiền hà đó bao nhiêu thì khoảng cách khách
chủ càng xa bấy nhiêu. Tiếp bạn đâu không thấy, chỉ thấy xa bạn, bạn chưa
đến mà đã ra đi rồi. Vức khoảng cách đi thì chẳng còn ai tiếp ai nữa, chỉ
thấy phơi phới ta với ta, chẳng biết ta nào là ta nào, hai ta đấy chăng
hay chỉ một ta hóa hai, hai ta nhập một. Tinh túy của Lão Trang bắt chợt
gặp tinh túy của Thiền: vứt đi hết để đến cái rỗng không thì thấy
được cái tự nhiên trong đó con người ung dung, thảnh thơi, tiêu dao, phóng
khoáng, rong chơi như gió thổi qua nhà trống.
Tôi xin chắp tay nhờ các bậc cao minh chỉ giáo cho tôi
hướng đi của Phật Giáo vào thế kỷ mới. Riêng tôi, tôi không mơ tưởng
chuyện lớn; tôi ước ao sống với Phật trong từng chuyện vặt. Chuyện anh
Cường đến chơi. Chuyện bài thơ Nguyễn Khuyến. Tôi thấy chuyện vặt nhiều
khi làm tôi gần Phật hơn là đại ngôn. Từ ba chữ ta với ta của ông
Nguyễn Khuyến chẳng hạn, tôi suy ra được khối chuyện. Ví dụ: hãy “ta
với ta” trước hết với ta. Trong cuộc sống cam go giữa xã hội phiền
toái này, tôi không phải chỉ một tôi mà trăm ngàn tôi, nghĩa là trăm ngàn
cái lưng, trăm ngàn cái lưỡi, trăm ngàn nụ cười ruồi. Cười trung cười nịnh
một hồi, riết rồi tôi biến thành tôi của người, không thấy đâu nữa tôi của
tôi. Đối với chính tôi, tôi đã là khách rồi, làm sao tôi khỏi là khách đối
với anh Cường ? Anh Cường cũng vậy, anh đã là khách của anh, làm sao anh
khỏi là khách đối với tôi? Và cứ như vậy, chúng ta chỉ là khách của mình
và khách của nhau; ngồi ở đây chỉ toàn là khách với khách. Khách với khách
bàn chuyện “phát triển Phật Giáo”, hoá chẳng phải là bàn về chuyện của một
khách khác hay sao? Tôi đề nghị thế này: cứ mỗi lần chúng ta uốn lưng, uốn
lưỡi, uốn nụ cười ruồi, hãy tưởng tượng ra rằng Phật đang dùng tuệ nhãn
nhìn chúng ta và cười khì. Không chừng nghe Phật cười khì mà mình chợt
tỉnh ra và bắt đầu tống khứ người khách ra khỏi lòng để trở lại làm ta của
ta. Ai cũng biết chuyện con khỉ Tôn Hành Giả: nó nhổ một sợi lông,
thổi một cái, biến thoắt ra trăm ngàn con khỉ đánh nhau với yêu quái. Cái
hay của con khỉ họ Tôn là từ một sợi lông, nó biến ra trăm ngàn con khỉ
rồi lại trở về với một con khỉ, là chính nó. Nó là trăm ngàn bởi vì nó là
nó. Ta nhổ hết lông cũng chẳng hạ được con yêu nào, bởi vì ta chẳng là ta.
Hiện tại, sao mà ai nấy lăng xăng làm đủ mọi chuyện, trừ có mỗi một chuyện
thôi là chuyện tu. Nói phát triển làm gì cho mệt, khi từ cái bước đầu ta
đã tự mình xa mình nghìn trùng!
“Ta với ta”, thứ hai, là với gia đình. Đó là chuyện tôi cố
gắng làm hằng ngày với vợ con, và thú thực không phải lúc nào cũng thành
công. Nhưng làm hoài, ngã rồi đứng dậy, làm nữa.
Thứ
ba, tôi đang “ta với ta” với anh Cường và với tất cả các bạn ở đây. Và
thưa anh, giá như các Giáo Hội của chúng ta cũng “ta với ta” với
nhau thì vui biết mấy!
Cứ thế, trong tinh thần đó, hãy “ta với ta” với những vấn
đề cao siêu nhất của thời đại. Lý thuyết về nhân quyền chẳng hạn. Quan
niệm cá nhân như một chủ thể tối thượng là quan niệm của Tây phương. Người
chủ thể tối thượng là một người đơn độc, bởi vì đứng cao nhất thì đương
nhiên là đứng một mình. Tôi không muốn đứng trên, tôi muốn đứng
với. Không có ai nhào nặn ra tôi rồi chỉ vào tôi tuyên bố: nó là tối
thượng. Từ bản thân, tôi đã là một mớ tương quan chằng chịt, làm sao tôi
quan niệm được tôi ngoài những tương quan, nghĩa là ngoài chữ với?
Không có triết lý nào dạy tôi hiểu ý niệm bình đẳng hơn là đạo Phật. Phật
không dạy tôi chữ trên, Phật dạy tôi chữ trong: chân lý là ở
trong tôi, chỗ đứng xã hội của tôi là ở trong mọi người. Tôi
không ở trên, cho nên tôi không đi ra; tôi ở trong cho nên tôi đi vào. Vào
trong tôi và vào với mọi người. Đi ra thì mất, thì là khách. Đi vào là
được, thì là chủ. Tất cả đều đi vào với nhau, ở trong nhau, và không ai ở
trên ai. Đó là mối tương quan giữa con người và quyền lực.
Tôi nghĩ đó không phải là nói suông cho vui miệng. Lý
tưởng của mọi người cầm quyền há chẳng phải đừng là khách mà cũng đừng là
chủ của nhân dân đó sao?
Và nếu bây giờ anh Cường hỏi tôi: vậy thì tương quan giữa
Phật giáo và lãnh đạo chính trị hiện tại nên như thế nào? Tôi sẽ nói với
anh: thì ta với ta!
GS-TS Cao Huy Thuần
PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC
TRẦN CHUNG NGỌC
Trong
bài thuyết trình về đề tài “Sứ Mệnh của Người Phật Tử Đối với dân tộc”
tại Tổng Vụ Thanh Niên, Saigon, 1968, Hòa Thượng Thích Đức Nhuận có nói: “Nói
riêng về dân tộc Việt Nam thì đạo Phật đã thể nhập vào dòng sống của dân
tộc này không thể tách rời ra được nữa… Việt Nam còn, Phật Giáo còn. Phật
Giáo còn, dân tộc còn… Phật Giáo đối với dân tộc Việt Nam được coi như một
thứ vũ khí tinh thần hiệu nghiệm nhất để vừa đối kháng với nền văn hóa vĩ
đại Trung Hoa, vừa thâu thái những tinh hoa của nền văn hóa đó, rồi dung
hòa cả hai nền văn hóa Ấn Độ - Trung Hoa với tinh thần phải chăng của dân
tộc, làm thành một nền văn hóa VIệt Nam sống động trong tâm tư mỗi người
và trong cuộc sống dân tộc” . Trong bài “Vài Nét về Phật Giáo Dân Gian
Việt Nam”, Bông Sen số 19, tháng 9, 1994, Giáo Sư Trần Quốc Vượng viết: “Đạo
Phật đã ngấm vào lòng người dân như nước ngấm vào lòng đất”. Cùng một
nhận định, trong bài “Về sự hội nhập của Phật Giáo vào nền văn hóa Việt
Nam”, Giao Điểm số 21, tháng 12 1995, Giáo sư Minh Chi viết “… Phật
giáo từ Ấn Độ hay từ Trung Hoa du nhập vào Việt Nam đã có đầy đủ điều kiện
để thành tựu một sự hội nhập thật sự vào nền văn hóa Việt Nam, vào cuộc
sống của dân tộc Việt Nam.” Hội nhập, theo giáo sư Minh Chí đến mức
như “Nước hòa với sữa, đến nỗi không thể phân biệt được đâu là nước đâu
là sữa”.
Nhận
định của một bậc xuất gia đạo cao đức trọng như Hòa Thượng Thích Đức Nhuận
và của hai vị giáo sư có tên tuổi như Trần Quốc Vượng và Minh Chi cho
chúng ta thấy, cái nền văn hóa Việt Nam dính liền với lịch sử oai hùng của
dân tộc Việt Nam mà con dân Việt Nam ai cũng lấy làm hãnh diện, đã dung
hợp rất nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo. Cho nên, Phật Giáo ắt đóng một vai
trò quan trọng nhiệm vụ gìn giữ và phát huy nền văn hóa dân tộc, một
nhiệm vụ chung của mọi người dân Việt. Gìn giữ và phát huy như thế nào?
Theo thiển ý, nhiệm vụ này gồm có hai phần:
1.
Ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa của những ý thức hệ không tương hợp
với nền văn hóa Việt Nam. Điều này không có nghĩa là bài ngoại một cách mù
quáng, không tiếp nhận những cái hay cái đẹp trong các nền văn hóa khác.
Vấn đề là chúng ta phải ngăn chặn sự xâm nhập của những ý thức hệ không
hợp với dân tộc tính và đã chứng tỏ trong lịch sử nhân loại là không có
căn bản đạo đức, tự do, dân chủ, cũng như tinh thần từ bi, khoan dung của
Phật Giáo, những đức tính đã thấm nhuần trong lòng dân tộc Việt Nam từ bao
nhiêu thế kỷ.
2.
Gìn giữ, phát huy nền văn hóa dân tộc bằng cách luôn luôn cải tiến
cho ngày càng tốt đẹp và hợp với thời đại mới, thời đại của khoa học và kỹ
thuật, nhưng không xa lìa dân tộc tính, đạo đức và tinh thần từ bi hỉ xả
của Phật Giáo; lọc lựa để tiếp nhận những cái hay cái đẹp trên thế giới để
cho nền văn hóa dân tộc ngày càng phong phú hơn, củng cố tinh thần yêu
nước, giữ nước và xây dựng nước, truyền thống của dân tộc Việt Nam. Điều
này chỉ có thể thực hiện được qua chính sách mở mang dân trí để cho người
dân biết tới những sự thực lịch sử, lấy đó làm kinh nghiệm, và cập nhật
hóa kiến thức về những tiến bộ trên thế giới.
Trước
ngưỡng cửa Thế Kỷ 21, khi mà các cuộc xâm lăng quân sự chuyển sang xâm
lăng văn hóa, người dân Việt Nam phải ý thức được tầm quan trọng của vấn
đề gìn giữ nền văn hóa dân tộc, nếu chúng ta không muốn một ngày nào đó
trong tương lai, con cháu chúng ta không dám ngẩng mặt lên vì đã mất đi
niềm hãnh diện của dân tộc, hay nói khác đi, đã bị nô lệ hóa, một hình
thức nô lệ tệ hại và mất phẩm cách con người nhất.
Thật
vậy, lời khuyên nhủ sau đây của Giáo Hoàng Gia Tô La Mã John Paul II sẽ
cho chúng ta thấy rõ vấn đề: Trong một bài diễn văn tại Maribor, Slovenia,
ngày 19 tháng 5 năm 1996, Giáo Hoàng Giatô La Mã John Paul II than phiền
về sự suy thoái của niềm tin tôn giáo và kêu gọi các quốc gia phải bảo tồn
nền văn hóa dân tộc, nguyên văn như sau: “Sự suy thoái của các lý tưởng
đã phá ngầm nhân văn thế tục và mang tới lòng hoài nghi. Niềm tin tôn giáo
phải lấp khoảng trống này và tạo ra một kết nối với khoa học. Các
quốc gia PHẢI GÌN GIỮ NỀN VĂN HÓA CỦA HỌ như là MỘT BIỂU THỊ CỦA PHẨM CÁCH
QUỐC GIA”. (The warning of ideologies, he (the Pope) said, has
undermined secular humanism and brought on skepticism. Religious belief
must fill the void and create a bond with science. Countries must preserve
their culture as an expression of national dignity. (“Wisconsin State
Journal”, May 20, 1996, Daniel J. Wakin, Associated Press). Trong cái thế
giới đa dạng, đa tôn giáo này, John Paul II đã ngộ được một điều: phẩm
cách quốc gia chính là nền văn hóa dân tộc. Trước câu nói này, cả thế giới
hân hoan và tin tưởng rằng, trong tương lai gần, John Paul II sẽ ra lệnh
cho tín đồ của Ngài chấm dứt những hành động xâm lăng văn hóa vào các quốc
gia ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh v.v…, nơi đây những nền văn hóa
địa phương có bản chất rất xa lạ nếu không muốn nói là đối ngược với nền
văn hóa Gia Tô Tây Phương.
Riêng
đối với Việt Nam, một người uyên bác như Ngài chắc cũng biết rằng, nền văn
hóa dân tộc của Việt Nam tuyệt đối không tương hợp (incompatible) với nền
văn hóa Gia Tô của Tây Phương, và dân tộc Việt Nam cũng đã ý thức được thế
nào là phẩm cách quốc gia từ ngàn đời nay rồi. Cho nên, trong suốt mấy
trăm năm truyền đạo với sự hỗ trợ của chính quyền đô hộ Pháp, cộng với 9
năm cầm quyền ở miền Nam của ông Tổng Thống GiaTô Ngô Đình Nhiệm, dù các
giáo sĩ và chức sắc GiaTô đã làm đủ mọi cách, từ dùng bả vật chất cho tới
cưỡng bách vào đạo, mà số người theo GiaTô Giáo chưa bao giờ lên quá 7%
của tổng số dân số. Cho tới bây giờ, một số giáo dân Việt Nam vẫn sống
trong những làng mạc riêng biệt, với nếp sống riêng, xa lạ với phong tục
tập quán của người Việt, như người ngoại quốc sống giữa chính đồng bào
của mình” (Nguyễn Văn Trung: “Nhận Định 1, Nam Sơn, Saigon”, Thích
Nhất Hạnh trích dẫn trong “Lotus in a Sea of Fire”, trg. 24). Những sự
kiện này cho thấy dân tộc Việt Nam trên thực tế đã từ chối, không chấp
nhận một nền văn hóa GiaTô mà từ cấu trúc, tư tưởng, tín điều, nghi lễ
v.v… đều không hợp với nền văn hóa Việt Nam.
Nhưng
những kinh nghiệm trong quá khứ đã cho chúng ta thấy rõ, “lời nói đi đôi
với việc làm” là chuyện hiếm hoi trong lịch sử GiaTô Giáo trên toàn cầu.
Qua những lời phát biểu của John Paul II ở những nơi khác, người ta thấy
rõ là trong thâm tâm Ngài vẫn ấp ủ một niềm tin của thời Trung Cổ: chân lý
GiaTô là chân lý chân thật duy nhất, và một nền văn minh xứng đáng với con
người phải là nền văn minh KiTô. Ở đây giáo hoàng đã lấy cái nền văn minh
Tây Phương vào làm nền văn minh KiTô trong khi thực ra thì lịch sử đã
chứng minh rằng bản chất của KiTô giáo là phản văn minh, phản tiến bộ (tôi
sẽ trở lại vấn đề này trong một đoạn sau). Niềm tin này đã đầu độc những
tín đồ kém hiểu biết từ khi họ còn nhỏ, nhất là ở trong các nước chậm
tiến, dân trí còn thấp kém.
Bởi vậy,
trong khi Tây phương đã thấy rõ bản chất của GiaTô La Mã giáo và dần dần
từ bỏ tôn giáo này, hay ít ra cũng không còn tin vào những tín lý huyền
hoặc hay những huyền thoại trong Thánh Kinh nữa, thì ở Mỹ, ông Nguyễn
Văn Chức, niềm hãnh diện của giới trí thức GiaTô, Tổng Thư Ký Liên
Đoàn GiaTô Hải Ngoại, vẫn sống trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là “bóng
tối dày đặc của ý thức hệ La Mã” (The thick darkness of Romanism) và
phát biểu trong bài thuyết trình ở Denver, Colorado ngày 13/08/1993, một
câu có tính cách mạ lỵ cả một dân tộc như sau: “Quyển Thánh Kinh sẽ là
cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và đạo lý tại Việt Nam”.
(“Tạp chí ngày nay, số 144, trang 17, tháng 9/1993, Kansas”; Chu Văn
Trình: “Văn Sử Địa 1994, tập I”; và Đỗ Mậu: “Tâm Thư”). Thật vậy, ông Chức
đã đồng hóa một số người mà có thể ông đã thù hận trên căn bản đối nghịch
ý thức hệ với cả một dân tộc trong câu nói trên, chưa kể đến chuyện quyển
Thánh Kinh sẽ phục hưng con người và đạo lý tại Việt Nam như thế nào, điều
mà chúng ta phải nghiên cứu, phân tích cẩn trọng.
Vì sự
thực thi điều này có thể ảnh hưởng tới tương lai dân tộc, tới nền văn hóa
cổ truyền của Việt Nam, phản ánh một ý đồ xâm lăng văn hóa theo sách lược
của các cha cố và thực dân Pháp ngày xưa, ngược hẳn với tư tưởng cấp tiến
của John Paul II đã nêu ở trên, cho nên đứng trên cương vị của một người
dân Việt Nam, đặt quyền lợi tổ quốc trên hết, đặt việc công trên tình quen
biết riêng tư (tôi và ông Nguyễn Văn Chức vốn là bạn cùng khóa, nằm cùng
phòng với nhau suốt 10 tháng trời trong trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định),
tôi không thể không thắp lên một ngọn đèn nho nhỏ để soi sáng sự thật:
Đức
Khổng Tử đã chẳng nói: “Thay vì ngồi nguyền rủa bóng tối, tốt hơn là
thắp lên một ngọn đèn nhỏ” hay sao? Cái hạnh nguyện của người cư sĩ
Phật Giáo là với tinh thần vô úy, với từ bi tâm, phải dấn thân vào làm
những việc không thể không làm, nói những điều không thể không nói, làm và
nói trong tinh thần không chấp trước, tôn trọng sự thực, không gian dối,
không bịa đặt, không xuyên tạc, hy vọng mang lại phần nào ích lợi cho quốc
gia đồng bào, dù biết rằng những việc làm hay lời nói của mình có thể đưa
tới những thiệt thòi cho chính bản thân.
Sự dấn
thân này tuyệt đối không bắt nguồn từ lòng thù hận mà từ lòng mong muốn
một sự cải tiến để tốt đẹp hơn qua chánh kiến và chánh tư duy, kết quả của
nghiên cứu và suy luận. Có nhiều người cho rằng: “Chúng ta không bao giờ
nên phê phán, chỉ trích tôn giáo của người khác,” dù nhiều khi những cái
gọi là “phê phán” hay “chỉ trích” chỉ là những sự kiện lịch sử không ai có
thể phụ nhận. Tôi tôn trọng những tình cảm cao quý trên của họ. Nhưng sống
trong một xã hội mà mọi sự đều liên hệ tới nhau, thái độ này có hại nhiều
hơn là có lợi. Thật vậy, trong cuốn “Nền Tự Do của Mỹ và Quyền Lực Gia
Tô” (“American Freedom and Catholic Power”, The Beacon Press, New
York, 1950, trg. 4-5) Paul Blanshard viết như sau:
“Anh
không bao giờ nên chỉ trích tôn giáo của người khác,” cái giáo lý vô hại
đó, sinh ra từ những tình cảm cao quý, thật là nguy hại cho lối sống dân
chủ. Nó không biết đến bổn phận phải bênh vực sự thực trong mọi ngành tư
duy của mọi công dân tốt. Nó không xét đến sự kiện là phần lớn cái mà con
người gọi là tôn giáo cũng là chính trị, lành mạnh xã hội và kinh tế. Giữ
yên lặng về “tôn giáo của người khác” có thể đưa đến nền y tế hạng hai,
nền giáo dục thấp kém, và chính quyền phản dân chủ.
Tôi
tin rằng mọi công dân Mỹ - Gia Tô và phi GiaTô - đều có bổn phận phải nói
lên vấn nạn Gia Tô, vì những vấn đề liên hệ tới Gia Tô đi vào trọng tâm
của nền văn hóa và quốc tịch của chúng ta. Nói thẳng về nền văn hóa và
quốc tịch của chúng ta. Nói thẳng về vấn nạn này có thể bị nhiều nguy hiểm
cay đắng, hiểu lầm và ngay cả sự cuồng tín, nhưng những nguy hiểm của sự
yên lặng lại còn lớn hơn. Bất cứ người nào phê phán về những chính sách
của hệ thống quyền lực Gia Tô đều phải gồng mình lên đội cái mũ “chống Gia
Tô”, vì đó là một phần trong sách lược chống đỡ của hệ thống Gia Tô: chụp
cái nhãn hiệu này lên những người đối lập; và họ cũng phải cam chịu mang
danh hiệu là kẻ thù của dân GiaTô, vì hệ thống GiaTô luôn luôn đồng hóa
những tham vọng của giới giáo sĩ với những cái mà họ cho là ước muốn của
tín đồ.” (“You should never criticese another man’s religion”, that
innocent-sounding doctrine, born of the noblest sentiments, is full of
danger to the democratic way of life. It ignores the duty of every good
citizen to stand for the truth in every field of thought. It fails to take
account of the fact that a large part of what men call religion is also
politics, social hygience and economics. Silence about “another man’s
religion” many mean acquiescence in second-rate medicine, inferior
education and anti democratic government.
I
believe that every American – Catholic and non-Catholic – has a duty to
speak on the Catholic question, because the issues involved go to the
heart of our culture and our citizenship. Plain speaking on this question
involves many risks of bitterness, misunderstanding and even fanaticism,
but the risks of silence are even greater. Any critic of the policies of
the Catholic hierarchy must steel himself to be called “anti-Catholic”,
because it is part of the hierarchy’s strategy of defense to place that
brand upon all its opponents; and any critic must also reconcile himself
to being called an enemy of the Catholic people, because the hierarchy
constantly identifies its clerical ambitions with the supposed wishes of
its people).
Ý thức
được những điều trên và chấp nhận những nhãn hiểu có thể chụp lên đầu và
cả những lời trách cứ của những người không muốn dính vào “tôn giáo của
người khác”, sau đây tôi sẽ cố gắng phân tích vấn đề GiaTô, dựa theo những
tài liệu khả tín hiện hữu, và dựa theo hiểu biết hạn hẹp cá nhân.
Vấn đề
đầu tiên được đặt ra là chúng ta phải nghiên cứu kỹ càng nội dung ý kiến
của ông Nguyễn Văn Chức: dùng Thánh Kinh GiaTô làm “cẩm nang mang sứ mạng
phục hưng con người và đạo lý ở Việt Nam” đề từ đó dựa vào đâu mà chấp
nhận hay loại bỏ? Thiết tưởng không còn cách nào hơn là mang vấn đề này ra
mổ xẻ và phổ biến trong quảng đại quần chúng vì nó liên hệ đến tương lai
của cả một dân tộc. Bài khảo luận nho nhỏ này, dựa trên sự kiện chứ không
dựa trên cảm tính, viết ra không ngoài mục đích trên, và với hy vọng sẽ
cho chúng ta một giải đáp hợp lý.
Vì đây
là một chủ đề liên hệ đến Thánh Kinh Gia Tô, mà Thánh Kinh lại là căn bản
ý thức hệ GiaTô, cho nên tôi không thể tránh được việc bàn luận đến cuốn
sách này cũng như đến GiaTô Giáo. Chúng ta biết rằng, trong những xã hội
dân chủ tự do như ở Mỹ, cuốn Thánh Kinh được bày bán khắp nơi, và được
những người truyền đạo hăng say đứng ở đầu đường phát không cho những
người đi qua đi lại ở nhiều trường đại học, do đó không phải là một vật
thiêng liêng bất khả xâm phạm của một tôn giáo, và nếu tôi có luận trên
cuốn sách này thì cũng chỉ là đi theo gót hàng trăm học giả, giới chức tôn
giáo đã xuất bản những công cuộc nghiên cứu, phân tích của họ về cuốn
Thánh Kinh. Thời buổi này, trong những xứ văn minh tiến bộ Âu Mỹ, không có
ai còn sử dụng cái quyền “Cha Nhà Thờ, tha hồ nói, và người ngoại đạo chỉ
có quyền tha hồ nghe” (mượn ý của Giới Tử) để lên án những chuyên gia, học
giả nghiên cứu về Gia Tô Giáo cũng như về Thánh Kinh là “chống phá tôn
giáo”, “chia rẽ tôn giáo”, “đụng chạm đến quyền tự do tín ngưỡng riêng
tư”, hay ngớ ngẩn hơn nữa là “thiên CS”, “làm tay sai cho CS”, “theo sách
lược chống phá tôn giáo của CS” v.v… Những luận cứ như vậy nghe có vẻ khôi
hài, phản trí thức, và phản tiến bộ một cách đáng thương, phản ánh những
đầu óc cuồng tín và không đủ kiến thức, khả năng để thảo luận nghiêm chỉnh
một vấn đề, cho nên chỉ còn biết lên án vu vơ bất cứ ai viết đụng đến
GiaTô Giáo hay Thánh Kinh, dù rằng họ chỉ viết ra những sự thực bất khả
phản bác.
Trước
hết, nhận xét đầu tiên của tôi là câu của ông Nguyễn Văn Chức phản ánh một
niềm tin tôn giáo, một niềm tin đặc thù GiaTô mà chúng ta thường thấy còn
sót lại ở một phần các xứ Nam Mỹ, Phi Châu, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân, và
buồn thay, ở một thiểu số trên đất nước Việt Nam, chứ không phải là một sự
hiểu biết về Thánh Kinh, hay lịch sử của Gia Tô La Mã giáo. Bởi vì bất cứ
người nào, với một sự lương thiện trí thức tối thiểu, khi đã đọc kỹ cuốn
Thánh Kinh và biết về lịch sử Gia Tô Giáo trên toàn cầu, thì không thể nào
thốt ra một câu như vậy mà không cảm thấy ngường ngượng với chính lương
tâm của mình. Tôi sẽ chứng minh điều này bằng một số tài liệu, tuy ít ỏi
nhưng cũng có thể gọi là tạm đủ, để quý vị đọc giả có thể biết được những
điều cần thiết về lịch sử Gia Tô Giáo trên hoàn cầu và nội dung cuốn Thánh
Kinh. Tôi hy vọng với sự hiểu biết này, quý độc giả sẽ có một nhận định
nghiêm chỉnh về cái gọi là “phục hưng con người và đạo lý ở Việt Nam” bằng
quyển Thánh Kinh.
Thứ đến,
nhiệm vụ gìn giữ và phát huy nền Văn Hóa Việt Nam là nhiệm vụ gìn giữ và
phát huy tinh thần dân tộc. Do đó, Phật Giáo, một tôn giáo của đa số người
dân Việt Nam, ắt phải góp một phần quan trọng trong nhiệm vụ này.
Với nội
dung như trên, bài khảo luận này gồm có ba phần: 1. Lịch sử Gia Tô La Mã
Giáo; 2. Nội Dung Thánh Kinh và 3. Phật giáo với Nhiệm vụ giữ gìn và phát
huy nền văn hóa dân tộc.
I.
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ GIA TÔ LA MÃ GIÁO
Khảo sát
về lịch sử Gia Tô La Mã giáo, một số học giả đã đồng ý ở một điểm: đó là
một lịch sử đẫm máu của gần 2000 năm đầy tội ác, phi luân lý, phi đạo đức;
một lịch sử đã mang quá nhiều bất hạnh to lớn tới nhân loại so với những
việc từ thiện bác ái nhỏ nhoi, thường là thực hiện với chủ đích dùng bả
vật chất để thu nhặt tín đồ, mà Giáo Hội Gia Tô thường vẫn thổi phồng để
cho thế giới quên đi, không nghĩ đến cái lịch sử đen tối của Giáo hội. Tôi
sẽ trở lại thực chất của những hoạt động từ thiện của Gia Tô giáo trong
một đoạn sau. Ở đây, tôi chỉ xin trích dẫn một nhận định tổng quát của
B.S. Rajneesh trong cuốn “Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của
Linh Hồn” (Priests & Politicians: The Mafia of the Soul”, The Rebel
Publishing House GmbH, Cologne, West Germany, 1987, trg. 25): “Nếu con
người nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào KiTô giáo, đặc biệt là Gia Tô
giáo. Những trường học, nhà thương và viện mồ côi của họ chẳng qua chỉ là
những xưởng để dụ người ta trở thành tín đồ Gia Tô” (If people are
poor and hungry, they can be easily converted to Christianity,
particularly into the Catholic Church. Their schools, their hospitals,
their orphanages are nothing but factories for converting people into
Catholics).
Hiện nay
số tài liệu khảo cứu về Gia Tô La Mã Giáo rất là phong phú. Đã có những
công cuộc nghiên cứu và viết thành sách với đầy đủ tài liệu xác tín về mọi
khía cạnh của tôn giáo này: từ tổ chức quyền hành toàn trị cho tới phương
pháp truyền đạo; từ các triều đại dâm loại của các Giáo Hoàng cho tới các
cuộc Thánh Chiến để tiêu diệt những người ngoại đạo; từ những hành động
đàn áp, giết chóc khoa học gia, ngăn chặn sự tiến bộ của khoa học để bảo
vệ những điều sai lầm trong Thánh Kinh cho tới những toan tính diễn giải
lại Thánh Kinh để cho phù hợp với những sự kiện khoa học; từ mưu toan
thống trị hoàn cầu cho tới những sự dẫn đường hay liên kết với các chế độ
thực dân; từ những cuộc săn lùng “phù thủy” cho tới những tòa hình án tra
tấn dã man những người bị kết án là “dị giáo” (những người không có
cùng quan niệm và lòng tin tôn giáo như các tín đồ Gia Tô); từ sách lược
tiêu diệt dân Do Thái cho đến mưu toan tiêu diệt tất cả các nền văn hóa
không phải là Gia Tô; từ sự sa đọa tinh thần của một số không nhỏ lãnh đạo
tinh thần Gia Tô, rượu chè trai gái cho tới cưỡng bách tình dục trẻ em và
nữ tín đồ; từ những phương cách vơ vét của cải tài nguyên của các giáo hội
địa phương cho tới những kế hoạch kinh tài phi luân; từ những liên kết
chính trị với Phát xít Đức, Ý cho tới những hoạt động che dấu tội phạm
chiến tranh trong các tu viện và qua các cơ quan từ thiện; từ những hành
động ve vuốt ngoài mặt cho tới những âm mưu lũng đoạn cơ cấu chính trị và
kinh tế của các nước thuộc Xã Hội Chủ Nghĩa; từ những ngụy tạo phép lạ cho
tới việc buôn bán các Thánh tích giả mạo hay phong Thánh từng loạt để mê
hoặc, chiêu dụ đám tín đồ kém hiểu biết v.v….; thật quả là không thiếu
một phương diện nào.
Lẽ dĩ
nhiên, đa số tín đồ Gia Tô không hề biết tới những sự kiện lịch sử kể
trên, và dù có biết cũng không tin, vì họ được nhồi vào đầu óc từ nhỏ là:
nghi ngờ sự cao quý và chân thực của đạo Chúa là có tội, phải đày đọa
xuống hỏa ngục; và mọi phê phán về Giáo Hội GiaTô là do lòng ghen ghét cái
tôn giáo cao quý và đầy tình thương của Chúa. Họ không hề để tâm suy nghĩ
và dùng đầu óc suy luận để thấy rằng: Xưa nay con người thường ngưỡng mộ
và kính phục những gì cao quý, nhân ái và đạo đức chứ có ai lại đi ghen
ghét những cái gì cao quý và đầy tình thương? Họ không hề biết là đa số
các công cuộc khảo cứu về Gia Tô Giáo lại do chính những người trong Giáo
hội viết ra, những người đã biết rõ những sự thực của Giáo hội mà những
tín đồ hay người ngoại đạo không bao giờ có thể biết đến, những tác giả
nghiên cứu này gồm các Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục, nhà Thần
Học, và học giả Gia Tô, chưa kể đến các giáo sư đại học chuyên về tôn
giáo.
Hiển
nhiên, trong khuôn khổ một bài khảo luận, tôi không có cách nào trình bày
đầy đủ về các chi tiết trên, do đó, trong phần khảo sát về lịch sử này tôi
xin tự giới hạn trong vài điểm chính: “Giáo Hội Gia Tô La Mã phát triển ra
sao, đã có những ảnh hưởng gì trong sự phát triển con người, và đã mang
lại bao nhiêu phúc lợi cũng như bất hạnh cho nhân loại?”.
Đại
cương thì, đọc lịch sử Gia Tô La Mã Giáo, chúng ta thấy rằng trong suốt
gần 2000 năm nay, tôn giáo này chưa bao giờ hòa hợp với bất cứ một tôn
giáo nào khác, kể cả những tôn giáo cũng thờ một Chúa KiTô. Khi ở vị thế
có thể nắm quyền thế gian thì tôn giáo này đã làm đủ mọi cách, dùng mọi
quyền lực và thủ đoạn, thường là bất nhân tàn ác, để bành trướng bằng sắt
máu, tiêu diệt các tôn giáo khác. Đi tới địa phương nào, tôn giáo này cũng
tự cho là cao quý khai phóng nhất, phỉ báng các tôn giáo và truyền thống
dân tộc địa phương và tìm cách tiêu diệt nền văn hóa địa phương để thay
vào đó bằng một nền văn hóa hẹp hòi, tàn độc của Gia Tô giáo Tây phương.
Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy, giáo sĩ Alexandre de Rhodes, khi tới Việt
Nam truyền đạo, đã xuyên tạc, mạ lỵ cả ba tôn giáo lớn ở Việt Nam là Phật
Giáo, Khổng Giáo, và Lão Giáo, gọi đức Phật, Khổng Tử bằng những danh từ
thiếu văn hóa (Xin đọc “Phép Giảng 8 Ngày” của Alexandre de
Rhodes).
Chính
sách truyền bá đạo bằng bạo lực và sách lược tiêu diệt các nền văn hóa
khác đã được chứng minh bởi những lời xin lỗi của John Paul II với các
nước trong Thế Giới thứ Ba (nhưng quên mất Việt Nam) trong nhiều cuộc công
du gần đây, và lời kêu gọi giáo dân phải sám hối về những tội ác là bất
hạnh mà giáo hội Gia Tô đã gây ra cho nhân loại. Giáo Hoàng hi vọng thế
giới sẽ quên đi những trang sử đen tối của Giáo hội GiaTô với các khẩu
hiệu (motto) như sau:
“Xin lỗi nhé! Nhân danh Chúa của chúng tôi, chúng tôi đã
nô lệ hóa các người. Xin lỗi nhé! Chúng tôi đã giết các người. Xin lỗi
nhé! Chúng tôi đã chia rẽ, xâu xé, tàn phá quốc gia của các người. Bây giờ
các người có thể tin tưởng ở chúng tôi được rồi.”
(Sorry! In the name of our God, we enslaved you. Sorry! We killed
you. Sorry! We screwed up your country. You can trust us now. (A
Freethinker on Vietnet).
Nhưng
thế giới nói chung có lẽ không bao giờ có thể quên được những bất hạnh mà
Gia Tô Giáo đã mang tới cho nhân loại, vì càng ngày ta càng thấy nhiều
sách báo viết về cái lịch sử tàn bạo này, và Việt Nam nói riêng, có lẽ
không bao giờ có thể quên được cái giai đoạn lịch sử cay đắng gần 100 năm
nô lệ và 30 năm chiến tranh huynh đệ tương tàn của dân tộc mà Gia Tô La Mã
giáo đã dự phần không nhỏ gây nên với sự phụ giúp của một số không nhỏ tín
đồ bản xứ nhưng vong bản.
Sau đây
chỉ là sơ lược những điểm chính trong lịch sử hình thành và phát triển của
tôn giáo này, dựa trên những công cuộc khảo cứu nghiêm túc của một số chức
sắc Gia Tô và học giả Âu Mỹ. Trước hết, về lịch sử Gia Tô La Mã Giáo chúng
ta cần biết rõ một sự kiện: lịch sử Ki Tô Giáo (Christianity), cho tới Thế
Kỷ 16, cũng là lịch sử GiaTô La Mã giáo (Roman Catholicism), như Joseph L.
Daleiden đã viết: “Khi chúng ta ôn lại lịch sử của KiTô Giáo chúng ta
cần phải nhớ rằng, trước công cuộc cải cách (Thế Kỷ 16; TCN), KiTô Giáo
như là một tổ chức đồng nghĩa với Giáo Hội Gia Tô và Giáo Hoàng là người
cai quản giáo hội đó, cho nên mọi việc xấu ác của KiTô giáo từ lúc đầu cho
tới công cuộc cải cách là trách nhiệm, trực tiếp hay gián tiếp, của Giáo
Hoàng triều”. (As we review the history of Christianity, bear in mind
that prior to the Reformation, Christianity as an institution was
synonymous with the Catholic Church, and the pope was in charge of that
church. Therefore, all the evils of Christianity from its inception to the
reformation were directly or indirectly the responsibility of the Papacy -
“The Final Superstition”, Prometheus Books, New York, 1994, trg. 52).
Nghiên
cứu về lịch sử KiTô Giáo chúng ta thấy rằng, trong ba thế kỷ đầu, KiTô
giáo tương đối hiền hòa và bản chất cũng siêu thoát, trong đó có một phái
theo chủ thuyết tự chứng, đạt giải thoát qua kiến thức và sự hiểu biết sâu
xa về thực tại, cùng kinh nghiệm tu chứng bản thân. Đó là Phái Ngộ Thuyết
KiTô (Gnostic Christianity). Tên này lấy từ gốc Hi Lạp, Gnosis, có nghĩa
là kiến thức. Những người trong môn phái này đã chê trách “những người
tự xưng là Giám Mục và Trợ Tế, làm như họ đã được Thượng Đế ban quyền cho
và gọi những người tự xưng một cách trơ tráo này là “những con kênh không
có nước”. (The Christian sect known as the Gnostics childed those who
“call themselves bishops and also deacons, as if they had received their
authority from God…” and called those who made such audacious claims
“waterless canals”, (Joseph L. Daleiden, Sđd, trg. 52). Nhưng môn phái này
bị giáo hội tự phong là chính thống KiTô (nghĩa là Gia Tô La Mã Giáo cho
tới thế kỷ 16), kết án là dị giáo và khi giáo hội Gia Tô liên kết và nắm
được quyền lực thế gian, thì tìm cách tiêu diệt môn phái này và tất cả
những tín ngưỡng không thuận theo ý hệ GiaTô. Khi đại đế Constantine theo
KiTô Giáo và lập KiTô Giáo làm quốc giáo thì tôn giáo này nắm được địa vị
và quyền hành tuyệt đối trên thế gian.
Và từ đó
đạo Gia Tô đã phát triển lên đến “đỉnh cao trí tuệ của loài người”, kết
quả là đưa Âu Châu vào 1000 năm đen tối, từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15, được
gọi là thời đại đen tối (Dark Ages), vì đó là “thời đại của sự man rợ
và đen tối trí thức” (The ages of barbarism and intellectual darkness,
Grolier Electronic Publishing 1995), thời đại mà giáo hội Gia Tô đã đốt
tất cả sách vở, sử liệu thuộc mọi tín ngưỡng khác, thay thế vào đó bằng ý
hệ đen tối trí thức của GiaTô Giáo bằng những tư liệu ngụy tạo; cấm mọi
thảo luận triết lý trong dân gian, chủ xướng những cuộc Thánh Chiến tàn
bạo nhất; lập ra những tòa hình án xử dị giáo với những hình cụ tra tấn ác
độc dã man nhất trong lịch sử nhân loại, gây khủng bố chết chóc cho nhiều
triệu người ở khắp Âu Châu, kéo dài qua thời đại đen tới cho tới giữa thế
kỷ 19; làm tiền phong hay theo gót những đoàn quân thực dân để truyền đạo
trên khắp năm châu v.v…. Chúng ta hãy sơ lược duyệt qua cái lịch sử hình
thành và phát triển của Gia Tô giáo kể trên qua một số tài liệu điển hình
sau đây.
Chủ
trương tiêu diệt tất cả những tín ngưỡng khác của GiaTô giáo bắt đầu bằng
một chính sách man rợ và phản tiến hóa nhất của nhân loại là đốt tất cả
mọi sách vở, tài liệu, chứng tích lịch sử liên hệ đến các tín ngưỡng khác
và liên hệ đến những sự thật về KiTô giáo và nhân vật Giê-Su… Về sự kiện
này, trong cuốn “Những dối trá và huyền thoại của Thánh Kinh”
(Deceptions and Myths of the Bible, The Citadel Press Book, Carol
Publishing Group, New York, 1995, trg. 444, Lloyd M. Graham đã viết như
sau:
“Sự
hủy diệt mọi chứng tích về phái Ngộ Thuyết KiTô và những nguồn tài liệu về
đa thần là “tác phẩm đầu tiên” của KiTô giáo. Chính các nhà truyền giáo đã
khởi sự, ở Antioch, như được nói đến trong sách “Công Vụ các Sứ Đồ”
(Acts)… Do lệnh của giáo hội, tất cả kinh sách của những người ủng hộ phái
Ngộ Thuyết đều bị đốt, cũng như 36 cuốn của Porphyry (Porphyry là một
triết gia (232-305) A.D.; Lloyd M. Graham giảng A.D. là A(fter)
D(elusion), chủ trương triết lý là phương tiện giải thoát và nhấn mạnh đến
lối tu khổ hạnh để tinh khiết hóa con ngườI- TCN).
Giáo
hoàng Gregory VII đốt thư viện Apollo chứa đầy kiến thức cổ xưa. Hoàng đế
Theodosius đốt sạch 27,000 tài liệu về học phái huyền bí vì những tài liệu
này chứa những căn bản giáo lý của ngũ Kinh. Bằng cách ban trọng thưởng,
Ptolemy Philadelphus gom góp 270,000 tài liệu cổ và đốt sạch chúng vì cùng
lý do như trên. Sự hủy diệt văn hóa này vẫn tiếp tục sau khi những
nhà lập giáo đã qua đời; những tín đồ cuồng tín mà họ đào tạo ra tiếp tục
công việc này: đoàn Thập tự quân đốt tất cả sách vở mà họ có thể kiếm ra
được, kể cả những cuộn nguyên bản Thánh thư Do Thái. Năm 1233 những tác
phẩm của Maimonides (một triết gia Do Thái xuất sắc, 1135-1204; TCN)
bị đốt đi cùng với 12,000 cuốn của Kinh Talmud. Năm 1244, 18.000 cuốn
sách đủ mọi loại bị hủy. Theo Draper, Hồng Y Ximenes đã đốt 80,000 bản văn
của Ả Rập ở công trường Granada. Ở Tân Thế Giới (châu Mỹ), toàn bộ kiến
thức cổ xưa bị những người KiTô Tây Ban Nha phá hủy cùng với đền đài chứa
đựng những kiến thức này.
Sau
khi đã phá hủy mọi chứng tích, những nhà lập giáo KiTô đầu tiên đã có thể
thay thế những kiến thức cổ xưa này bằng những điều vô nghĩa của họ. Và để
chứng minh những điều vô nghĩa này, họ đã thay đổi lời lẽ và gài vào đó
những câu không có trong những nguyên bản… Về cùng một chủ đề này, Massey
viết như sau: “Trong bốn thế kỷ đầu, họ đã hủy bỏ những tài liệu quan
trọng nhất về mọi sự hiểu biết trung thực về nguồn gốc thực của sự mê tín
trong KiTô giáo. Những huyền thoại được viết và in ra như là lịch sử nhân
loại, mọi tư tưởng khác đều bị dẹp bỏ hay cưỡng bách phải chấp nhận sự
gian dối”…
Theo
giáo lý của họ thì “máu của Chúa KiTô đã rửa sạch tội lỗi của thế giới”,
vẫn còn với chúng ta ngày nay. Cái mà thực sự bị rửa sạch là sự lành mạnh
của thế giới. Với thời gian, giáo lý của họ đã làm tâm thức Tây phương mê
mẩn đến nỗi Agibard ở Lyon phải viết như sau: “Cái thế giới bất hạnh
này nằm dưới sự chuyên chế điên rồ, những điều mà người KiTô tin, nó vô
nghĩa đến độ từ xưa tới nay không ai có thể làm cho người ngoại đạo tin
được”. Nếu độc giả không tin và muốn có một thí dụ thì chúng tôi xin
cống hiến một chuyện trong KiTô giáo về Thánh John trong phúc âm. Theo
lịch sử các Thánh thì John, khi đã rất già, làm cho hoàng đế Domitian
giận. Để trừng phạt John, Domitian sai người ném John vào một cái vạc chứa
dầu và nhựa thông. Và khi người ta châm lửa, dầu bắt đầu sôi thì đám đông
ở ngoài nghe một tiếng hát trong ngọn lửa. Khi vạc dầu sôi cạn hết thì
John vẫn còn sống và không hề hấn gì. Jerome, Eusebius, Tertullan, tất cả
đều kể lại cái phép lạ này và những điều hoang đường trong đó. Và nay, nếu
những tín đồ KiTô xuất sắc có thể tin được sự vô lý này thì họ có thể tin
bất cứ cái gì, ngay cả Thánh Kinh”.
(The
destruction of all evidence of Chirstianity’s Gnostic and pagan source was
“the first work”. It was the evangelists themselves who started it, in
Antioch, as stated in Acts… By order of the Church the books of the
Gnostic Basilides were burned, likewise Porphyry’s thirty-six volumes.
Pope Gregory VII burned the Apollo library filled with ancient lore.
Emperor Theodosius had 27,000 schools of the Mysteries paprus rolls burned
because they contained the doctrinal basis of the Gospels. By offering
rich rewards Ptolemy Philadelphus gathered 270,000 ancient documents;
these too were burned for the same reason. As someone has said, the early
Christians heated their baths with the Ancients Wisdom. And what knowledge
they may have contained. Nor did the destruction end with the Founders;
the fanatics they made carried on the work: the Crusaders burned all the
books they could find, including original Hebrew scrolls. In 1233 the
works of Maimonides were burned along with twelve thousand volumes of the
Talmud. In 1244 eighteen thousand books of various kind were destroyed.
According to Draper, Cardinal Ximenes “delivered to the flames in the
square of Granada eighty thousand Arabic manuscripts”. On finding similar
lore in the New World, the Spanish Christians destroyed it and the temples
that contained it.
All
evidence of source destroyed, the Christian Fathers could now substitute
their own absurdities. And to substantiate them they altered words and
inserted verses that did not exist in the original texts… On this same
subject Massey wrote thus: “They had almost reduced the first four
centuries to silence on all matters of the most vital importance for any
proper understanding of the true origins of the Christian superstition.
The mythos having been at last published as a human history, everything
else was suppressed or forced to support the fraud.”
According to their teaching “the blood of Chirst washed away the sins of
the world” still with us. What is actually washed away was the sanity of
the world. In due time its doctrines so bedeviled the Western mind that
Agobard of Lyon wrote thus “The wretched world lies now under the tyranny
of foolishness; things are believed by Christians of such absurdity as no
on ever could aforetime induce the heathen to believe”. Should the
skeptical reader wish a samples, we offer another tale of Christian
martyrdom, this time about the precursor of the curse, John of the
Gospels. According to the saints, John, when very old, incurred the anger
of the Emperor Domitian. To punish him, the latter had this holy man
thrown into a caldron of oil and resin. A fire was lit, and when the
liquid began to boil the jeering crowd heard a voice singing in the flames
– the Christian Shadrach, etc. When the caldron boiled dry, there was John
still alive and quite unharmed. Jerome, Eusebius, Tertullian all relate
this miracle and partically all hagiographies contain it. And now if these
eminent Christians could believe this absurdity, they could believe
anything even the Gospels).
Cũng như
Tần Thủy Hoàng ở bên Trung Quốc, không thể nào đốt hết được sách vở của
thiên hạ, Giáo hội GiaTô, dù đã dùng mọi nỗ lực để hủy diệt những chứng
tích lịch sử của các tong phái Kitô khác cũng không có cách nào thành công
hoàn toàn. Do đó, vẫn còn những tài liệu còn sót lại, và ngày nay người ta
đã tìm thấy nhiều tài liệu cổ xưa về sự thực của KiTô giáo và con người
thực của GiêSu. Những tài liệu mới tìm thấy của phái Ngộ Thuyết về GiêSu
cho ta một cái nhìn khác hẳn về con người của GiêSu, không có những đức
tính thần thánh hóa như những nhà lập giáo GiaTô đã quảng bá. Nhưng vấn đề
này không thuộc nội dung của bài viết này nên tôi xin được miễn đi vào chi
tiết.
Sau đây
là một tài liệu khác về một số những hành động của giáo hội GiaTô khi giáo
hội nắm được quyền lực thế gian (Joseph D. Daleiden, Sđd, trg. 60):
“Không có một trích dẫn thống kê đơn thuần nào có thể nói lên hết những sự
xấu ác mà giáo hội GiaTô La Mã đã làm nhân danh ngài (Thần GiaTô; TCN). Từ
khi mà giáo hoàng triều cấu kết quyền lực với chính quyền trong thế kỷ 5
cho tới công cuộc Phục Hưng, cái áo vô minh và mê tín đã phủ lên Âu Châu.
Ánh sáng tự do đã tắt ngấm, dân La Mã cổ xưa đã có những thư viện chứa
500,000 cuốn sách, trong thời từ năm 500 tới năm 1000 của Âu Châu KiTô
không có một thư viện nào có được hơn 600 cuốn sách. Sự tiến bộ khoa học,
đặc biệt là về y học, hoàn toàn ngưng trệ. Văn hóa con người thoái hóa đến
mức tàn bạo.
Thật
là mỉa mai, chính những cuộc Thánh Chiến chống dân Hồi giáo đã rọi một tia
sáng trí thức qua cái mờ tối của vô minh và mê tín. Không như những dân
KiTô tìm cách tiêu diệt mọi kiến thức không hợp với thần thuyết của họ,
những người theo Hồi giáo đã gìn giữ trí tuệ của dân Hy Lạp cổ xưa. Hơn
nữa, họ đã có nhiều tiến bộ đáng kể về toán học, triết học, và khoa học.
Khi những thập tự quân trở về từ miền Đông, họ đã mang về cùng với những
chiến lợi phẩm những hạt giống kiến thức mà sau này đưa đến công cuộc Phục
Hưng. Song song với hàng đống những đồ cướp đoạt được và những thành tích
giả mạo, những thập tự quân cũng mang về theo nghệ thuật và văn học của cổ
Hi Lạp. Những tác phẩm của các triết gia Hi Lạp mà giáo hội đã dẹp đi từ
nhiều thế kỷ trước, nay lại xuất hiện. Một vài triết gia như Plato và
Aristotle được đưa vào trong giáo thuyết của giáo hội. Thật vậy, những tác
phẩm của Thomas Aquinas, đặc biệt là những chứng minh về sự hiện hữu của
thần GiaTô, căn bản là của Aristotle được sửa lại thành mới. Nhưng quan
trọng hơn là, về sau này, triết lý nhân bản của Hi Lạp đã nảy nở trong đầu
óc của những người đau lòng mà nhận ra sự vô ích của những suy đoán thần
học cùng sự xấu ác của những tín điều của giáo hoàng đưa ra. Kết quả là
chính cái nền tảng trí thức và độc tài về đạo đức của Giáo hội bắt đầu
lung lay.
Với
sự gia tăng kiến thức và suy tư phân tích, lòng khao khát tự do là điều
không thể tránh được. Giáo hoàng triều và thể chế quân chủ ở Âu Châu, cả
hai đều nhận ra sự đe dọa nghiêm trọng này. Cho nên, ta không lấy làm lạ
khi một cuộc chiến toàn diện được phát động để chống những người muốn giải
phóng nhân loại khỏi cặp cùm của vua chúa và giáo hoàng. Đó là mục đích
thực sự của tòa án xử dị giáo”.
(No mere
recitation of statistics can convey the immeasurable evel that the Roman
Catholic Church dispensed in Your name. From the time that the papacy
cemented its power with the state in the fifth century until the
Renaissance, the cloak of ignorance and superstition was draped over
Europe. The light of freedom was extinguished. It is no longer fashionable
to call them the Dark Ages, but indeed they were. The ancient Romans had
libraries of 500,000 volumes, there was not a library of over 600 volumes
in Christian Europe the period of 500 to 1000. Scientific advance,
especially in medicine, came to a screeching halt. Human culture regressed
to a more brutal level.
Ironically, it was the initiation of the Crusades against the Muslims that
shed a ray of intellectual light through the gloom of ignorance and
primitive superstitions. Unlike the Christians who sought to destroy all
knowledge that contracdicted their theology, the Muslims had preserved the
wisdom of the ancient Greeks. Moreoeer, they had made significant advances
in Mathematics, philosophy, and science. When the Crusaders returned from
the East they brought with their spoils of war the seeds of knowledge
which, eventually, gave birth to the Renaissance. Along with the pile of
plundered Eastern artifacts and phony relics, the Crusaders also brought
back the art and literature of ancient Greece. The writings of the Greek
philosophers, which the Church had suppressed centuries before,
reappeared. Some of the philosophers such as Plato and Aristotle were
accommodated in Church doctrine. Indeed, the writings of Thomas Aquinas,
especially his demonstrations for the existence of God, were basically a
rehash of Aristotle. But more importantly in the long run, Greek
humanistic philosophy found fertile ground in the minds of those who were
painfully aware of the futility of theological speculation and the evil of
papal dogmatism. As a result, the very foundation of the Church’s
intellectual and moral despotism would begin to shake.
With the
growth in knowledge and critical thinking, inevitably came the desire for
more freedom. Both the papacy and the monarchies of Europe recognized this
grave threat. It is no wonder, then, that an all-out war was declared on
those who sought to free humankind from the twin shackles of king and
pope. This was the true purpose of the Inquisition).
Như đã
nêu ở trên, sau khi liên kết và nắm được quyền lực thế gian thì GiaTô giáo
đã nhận chìm Âu Châu vào trong một thời đại 1000 năm đen tối (The Dark
Ages), từ thế kỷ 5 tới thế kỷ 15, trong đó có những cuộc Thánh Chiến và
những tòa hình án xử “dị giáo” tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại. Riêng
những tòa hình án xử dị giáo còn kéo dài tới giữa thế kỷ 19 mới được bãi
bỏ, nhưng cái bản chất đàn áp mọi sự bất đồng với giáo hội vẫn còn tiếp
tục cho tới ngày nay, dưới một hình thức khác.
Thánh
chiến và các toàn án xử dị giáo là hai “vết son đậm” (“son” ở đây nên hiểu
là màu đỏ của máu) trong lịch sử GiaTô La Mã giáo ngoài vô lượng số vết
son khác. Viết về lịch sử GiaTô La Mã mà không nhắc đến hai vết son chính
này có nghĩa là không viết gì cả. Cho nên, sau đây tôi xin lược qua lịch
sử các cuộc Thánh chiến, Thánh chiến thứ thiệt chứ không phải thuộc loại
“cưỡng từ” của Lữ Giang áp đặt trên các cuộc tranh đấu một cách hòa bình
của Phật Giáo, và các toà hình án xử dị giáo.
Trong
lịch sử GiaTô La Mã giáo lớn, nhỏ có tất cả 8 (hoặc 9, tùy theo quan niệm)
cuộc Thánh chiến (nhà trí thức GiaTô Võ Đức Hạnh đã gọi cuộc xâm lược Việt
Nam của các giáo sĩ thừa sai Gia Tô, sát cánh với thực dân Pháp, là “cuộc
Thánh Chiến thứ 9”). Đại cương thì phần lớn các cuộc Thánh chiến là do các
giáo hoàng phát động hoặc khuyến khích, và kết quả là những cuộc tàn sát
tập thể người Do Thái và Hồi Giáo để giành lại vùng đất hứa, Jerusalem, mà
người GiaTô tin là thuộc về họ theo lời hứa của Chúa, hoặc tàn sát tập thể
những người KiTô giáo không đồng thuận và không chấp nhận quyền lực của
giáo hoàng. Trong những cuộc Thánh chiến này chúng ta không thể bỏ qua hai
cuộc Thánh chiến quan trọng nhất vì chúng phản ánh trung thực nhất ảnh
hưởng của GiaTô giáo lên đầu óc con người, từ già tới trẻ. Đó là cuộc
Thánh chiến Albigense (The Albigensian crusade) và cuộc “Thánh chiến” của
các trẻ em vị thành niên (The children’s crusade).
Sau đây
là sơ lược diễn tiến của cuộc Thánh chiến Albigense (“Holy Blood, Holy
Grail”, Michael Baigent, Richard Leigh, and Henry Lincoln, A Dell Book,
1983, trg. 49-50):
“Năm
1209, một đoàn quân khoảng 30 ngàn người, gồm các kỵ sĩ và bộ binh, như
một cơn gió lốc từ miền Bắc Âu Châu tràn xuống Languedoc – vùng chân núi
phía Đông Bắc của dãy núi Pyrenees, ngày nay là miền Nam nước Pháp. Trong
cuộc chiến tranh này, toàn vùng bị tàn phá, mùa màng phá hoại, các thành
phố và thị trấn thành bình địa, cả một dân tộc bị chém. giết. Cuộc tiêu
diệt này rộng lớn và khủng khiếp đến độ ta có thể coi đó như là trường hợp
đầu tiên của chính sách “diệt chủng” trong lịch sử Âu Châu hiện đại. Thí
dụ, chỉ nguyên trong thành phố Béziers, ít nhất là có 15 ngàn người: đàn
ông, đàn bà, trẻ con bị tàn sát, nhiều người bị giết ngay chính trong cung
Thánh đường của họ. Khi một sĩ quan hỏi vị đại diện của Giáo Hoàng: ‘làm
sao phân biệt được ai là tín đồ và ai là tà đạo?’ thì câu trả lời là :
“Giết hết đi. Chúa trời (God) sẽ nhận biết ai là tín đồ của Người.” Sau
đó, chính vị đại diện trên hãnh diện báo cáo với Giáo hoàng Innocent III ở
La Mã là: “Không một ai, bất kể thân phận, tuổi tác, hay trai gái, được
sống sót”.
Sau
Béziers, đoàn quân xâm lăng tràn qua toàn vùng Languedoc. Các vùng như
Perpignan, Narbonne, Carcassonne, Toulouse lần lượt rơi vào tay đoàn quân
này. Và bất cứ nơi nào đoàn quân đi qua cũng để lại dấu vết của cảnh tàn
sát, máu đổ, chết chóc. Cuộc chiến này, kéo dài trong 40 năm, ngày nay
được biết dưới tên “Cuộc Thánh Chiến Albigense”. Đây là cuộc Thánh chiến
theo đúng nghĩa của nó. Chính Giáo hoàng đã huy động cuộc Thánh Chiến này.
Đoàn Thánh Chiến-binh (Thập ác quân) mang dấu thập ác trên quân phục, như
những Thánh-Chiến-Binh ở Palestine. Phần thưởng cho họ cũng giống như phần
thưởng cho những Thánh-Chiến-Binh trong vùng đất Thánh - được tha mọi tội
lỗi, được giải tội, được bảo đảm một chỗ trên Thiên Đàng, và được làm chủ
tất cả những tài vật có thể chiếm đoạt được.
(In 1209
an army of some thirty thousand knights and foot soldiers from northern
Europe descended like a whirlwind on the Languedoc – the mountainous
northe eastern foothills of the Pyrenees in what is now southern France.
In the ensuing war the whole territory was ravaged, crops were destroyed,
towns and cities were razed, a whole population was put to the sword. This
extermination occurred on so vast, so terrible scale that it may well
constitute the first case of “genocide” in modern Europe history. In the
town of Béziers alone, for example, at least fifteen thousand men, women,
and children were slaughtered wholesale- many of them in the sanctuary of
the church itself. When an officer inquired the Pope’s representative how
he might distinguish heretics from true believers, the reply was, “Kill
them all. God will recognize His own”… The same papal representative,
writing to Innocent III in Rome, announced with proud that “neither age
nor sex nor status was spared.”
After
Béziers the invading army swept through the whole of Languedoc. Perpignan
fell, Narbonne fell, Carcassonne fell, Toulouse fell. And wherever the
victors passed, they left a trail of blood, death, and carnage in their
wake. This war, which lasted for forty years, is now known as the
“Albigensian Crusade”. It was a crusade in the true sense of the word. It
had been called by the Pope himself. Its participants wore a cross on
their tunics, like crusaders in Palestine. And the rewards were the same
as they were for crusaders in the Holy Land – remission of sins, an
expiation of penances, and assured place in Heaven, and all the booty one
could plunder).
Đó là
những sắc thái và đặc tính của một cuộc Thánh Chiến, và Thánh Chiến là sản
phẩm đặc thù của GiaTô Giáo ở Âu Châu, khi các giáo hoàng ở vị thế nắm
quyền thế gian, dùng quyền hành và lòng mê tín dị đoan của các tín đồ, gây
ra những cuộc tàn sát khủng khiếp xương chất thành núi, máu chảy thành
sông, để truyền bá cái đạo “Tình Thương” của Chúa.
Chúng ta
hãy đọc tiếp lời tường thuật sau đây về cuộc Thánh Chiến của các trẻ em vị
thành niên trong cuốn “Các Cuộc Thánh Chiến” (“The Crusades”, Henry
Treece, A Mentor Book, New York, 1964, trg. 182-185). Thực ra đây là không
phải là một cuộc Thánh Chiến theo đúng nghĩa của nó mà chỉ là một thảm
trạng bắt nguồn từ một niềm tin tôn giáo sai lầm, mang tinh thần Thánh
chiến, của những trẻ vị thành niên bị đầu độc tư tưởng bởi những huyền
thoại trong Thánh Kinh.
“Năm
1212 một sự việc vô tiền khoáng hậu trong lịch sử thế giới đã xảy ra: trẻ
em Pháp và Đức đã tổ chức một cuộc Thánh chiến, không được sửa soạn kỹ
càng, không có vũ khí và không có gì giúp chúng ngoài sự ngay thẳng ngây
thơ của chúng.
Vua
Pháp Philip, đang ở St. Denis, thì một em bé trai chăn cừu 12 tuổi,
Stephen ở vùng Cloyes, gần Orleans, đến yết kiến ngài với một lá thư mà em
nói rằng do chính Chúa Kitô gửi cho em, bảo em tổ chức một cuộc Thánh
chiến tiến vào Jerusalem. Vua Pháp ra lệnh cho em nhỏ trở về nhà cha em,
nhưng Stephen đang ở trong sự say mê điên cuồng tôn giáo. Hắn dám bất tuân
ngay cả lệnh vua, tuyên bố rằng, trong một kiến giác (vision) (ngày nay
chúng ta gọi là ảo giác (delusion), Chúa Kitô đã hứa là biển sẽ khô cạn để
cho Stephen và tất cả những ai theo hắn có thể an toàn đi trên biển như đi
trên bộ tới Jerusalem, giống như ngày xưa Hồng Hải đã mở ra cho cái người
chăn cừu kia, Moses.
Một
vài giáo sĩ thất kinh về cái sự phỉ báng của đứa trẻ - nhưng, kỳ thay,
Giáo hoàng Innocent III tuyên cáo là “chính những đứa trẻ đặc chúng ta vào
sự ô nhục” (một lời khuyến khích có ý là lòng tin của những đứa trẻ
mãnh liệt hơn của chúng ta), và, chắc hẳn Stephen có một khả năng
thuyết phục làm cho người ta ngỡ ngàng trước một người còn quá trẻ và vô
học như Stephen. Trẻ em từ nhiều vùng trong nước Pháp tụm lại quanh
Stephen, mang theo cờ xí trên có dấu cờ hiệu của Vua. Đến tháng 6, 1212, ở
nơi họp, Vendôme, có tới 30,000 đứa trẻ tập họp lại để bắt đầu cuộc tiến
quân lâm ly tới vùng đất Thánh, không có bản đồ và không có ngay cả lương
thực. Họ sắp sửa dự phần trong cái mà ta chỉ có thể gọi là một niềm tin
thống thiết.
Chúng
ta không thể biết được có bao nhiêu em lẩn tránh được sự ngăn cấm của bố
mẹ: có thể các bậc cha mẹ, nghe lời tán thán của Giáo hoàng, sợ không dám
tranh đua với sự chấp thuận của Giáo hoàng, có thể họ không có mấy quyền
trong những địa hạt mà chính họ đã đi theo Boniface và Dandolo (hai tư
lệnh trong cuộc Thánh chiến thứ 4; TCN); và có thể vì cái khả năng
quyến rũ của Stephen đã khiến cho đám trẻ trai gái này trở thành điếc
trước mọi lời khiển trách. Dù sao thì, đám trẻ này đã lên đường mùa hè năm
đó, có nhiều người lớn thuộc loại ăn bám nhập bọn, kể cả những linh mục bị
lôi cuốn bởi cái sự ngây ngất truyền nhiễm này, và đi qua những vùng
Tours, Lyons xuống tới Marseilles, dọc đường kiếm ăn ở nơi nào có thể kiếm
được.
Nhưng
mùa hè năm 1212 nóng một cách bất thường, mùa màng chưa gặt, thực phẩm và
nước uống hiếm hoi vì hạn hán. Nhiều em chết ở dọc đường trong khi một số
khác tìm đường quay trở về quê. Sau cùng, khi số còn lại tới được
Marseilles thì chúng bị thất vọng lớn vì thấy biển không khô cạn như đứa
trẻ chăn cừu Stephen đã hứa để chúng đi tới vùng đất Thánh. Sau vài ngày
sống cực khổ ở hải cảng này, chúng được hai người lái buôn vô lương tâm
đến tiếp xúc. Hai người này, tên là Hugh the Iron và William the Pig đề
nghị chở đoàn trẻ này tới Palestine bằng bảy chiếc tàu, hoàn toàn miễn
phí. Stephen vui vẻ nhận lời, coi đó như là cách tay của Chúa cứu
vớt chúng một cách huyền bí. Những tàu này ra khơi nhưng đi xướng phía Nam
chứ không đi tới vùng đất Thánh. Nơi tới là hải cảng Bougie của An-giê-ri,
nơi đây tất cả các đứa trẻ Pháp này đều bị bán đi làm nô lệ. Người ta cho
rằng trong số 30.000 trẻ em phát xuất từ Vendôme, chỉ có một người duy
nhất, một linh mục trẻ, trở về được nước Pháp, sau 18 năm bị làm nô lệ.”
Cái
cơn sốt Thánh Chiến này lan tới các trẻ em Đức. Chúng bị kích động bởi lời
thuyết giảng của một em trai tên là Nicholas. Nicholas cũng nói với
chúng về biển cả sẽ mở ra để chúng có thể an toàn bước qua tới Jerusalem.
“Quân đội” của Nicholas ước lượng khoảng 20,000 đứa trẻ và những kẻ ăn
bám, tốt và xấu. Cái đoàn trẻ tả tơi này vất vả đi qua dãy núi Alps và,
hao hụt một cách đáng buồn bởi chết chóc và đào ngũ, sau cùng cũng tới
được Genoa. Ở đây chúng bị một ông thống đốc, vì không muốn dung dưỡng một
đám trẻ lộn xộn đói khát và bệnh tật, đuổi đi không cho vào thành. Thế
rồi, như những sinh vật trong giấc mộng chết chóc, chúng lê lết xuống phía
Nam, những viễn tượng về sự giải thoát Thánh địa đã bị quên đi trong đói
khát và hấp hối.
Giáo
hoàng Innocent III đã nói: “Chính những đứa trẻ đã đặc chúng ta vào vòng ô
nhục”. Ngài đã nói đúng như thực, dù có thể trong một nghĩa khác với ý
định của ngài. Sự ô nhục thuộc chính Giáo hoàng vì đã không ngăn cấm sự
phí phạm độc ác nào; thuộc các bậc cha mẹ vì đã để cho con cái ra đi; và
thuộc các nông dân vì đã từ chối không cho bọn trẻ ăn, ở, hoặc thuộc các
những người chấp chứa chúng chỉ để kiếm lời trên sức lao động nô lệ của
chúng. Người ta ước tính trong số 20,000 trẻ em dự cuộc hành trình để cứu
những nước KiTô, không quá 2000 trở về được nhà. Kể ra chúng còn tốt số
hơn là những đứa trẻ Pháp.”
(In 1212
an event took place which has no resemblance to any other in world
history: the children of France and Germany went on a crusade,
ill-prepared, unarmed and with nothing but their innocent integrity to aid
them.
King
Philip of France was at St. Denis when a twelve-year-old sheperd boy,
Stephen of Cloyes, near Orleans, came to him with a letter which the
peasant lad said had come from Chirst himself, bidding him organize a
crusade to march on Jerusalem… The French king ordered the boy to return
to his father’s house; but Stephen was under the spell of religious mania.
He even dared to disobey his king, announcing that, in a vision, Chirst
had promised that the sea would dry up and allow Stephen, and whoever
followed him, to walk dry-shod to Jerusalem, just as the Red Sea had
opened for that other shepherd, Moses.
Certain
clerics were appalled by the simple lad’s blasphemy – but Innocent III,
curiously, announced that “the very children put us to shame” and,
undoubtedly, Stephen had amost bewildering power of persuation for one so
young and unlettered. Children from many parts of France flocked round
him, carrying banners bearing the sign of Oriflamme. By June, 1212, at the
meeting place, Vendôme, it is estimated that 30,000 young people had
assembled for this pathetic march to the Holy Land, without maps and even
without food supplies. They were about to participate in what can only be
called a pathetic fact of faith.
How so
many children avaded the prohibition of their parents cannot be known:
perhaps the parents, hearing of the Pope’s admiration, where afraid to
contest papal approval; perhaps there was little parental authority
exertable in those areas where the fathers themselves were away with
Boniface and Dandolo; and perhaps the hypnotic power of Stephen’s words
had transported these boys and girls in such a way that they were
invincibly deaf to any remonstrance. At any rate, they set off that
summer, joined by many adultes hangers-on, including priests who found
themselves caught up by this infectious ecstasy, and marched through Tours
and Lyons down to Marseilles, finding food and shelter where they could.
But the
summer of 1212 had been unusually hot, graincrops had not thrived, and
food and water were scarce because of the drought. Many of the children
died by the wayside, while others turned back and tried to find their way
home once more. When the remainder at last reached Marseilles they found
to their great disappointment that the sea did not dry up as the
shepherd-lad Stephen had promised, to let them walk to the Holy Land.
After a few days of misery in the port, they were approached by two
unscrupulous merchants, later to be hanged by two unscrupulous merchants,
later to be hanged for attempting the kidnap of the Emperor Frederick on
behalf of the Saracents. These men, called Hugh the Iron and William the
Pig, offered to transport the horde of children to Palestine in seven
ships, free of all charge.
Stephen
of Cloyes saw in this offer the hand of God, who works in a mysterious
way, and accepted gladly… The ships sailed on, but now southwards and not
towards the Holy Land. Their destination was the Saracen port of Bougie,
in Algeria, where all the French children where sold into slavery. It is
alleged that of the 30,000 children who set forth from Vendome but one, a
young priest, ever returned to France – and that only after 18 years of
slavery.
This
crusading fever spread among the German children, who were excited by the
preaching of a boy named Nicholas. Nicholas told the same story of the sea
opening to let the faithful walk dry-shod to Jerusalem. His estimated
“army” was of 20,000 children and hangers-on, good and bad. This ragged
horder struggled over the Alps and, sadly depleted by death and
desertions, at last got as far as Genoa. Here they were turned away from
the city walls by a governor who would not tolerate such a hundry and
sickly rabble. Then, like creatures, in a dream of death, the shuffled on
southwards, their visions of relieving the Holy City forgotten in their
hunger and agony.
“The
very children put us to shame” had said Pope Innocent III. He spoke truly,
through perhaps in a different sense from his intention. The shame was on
the Pope himself for not forbidding this cruel wastage; on the parents for
letting their children go; and on the peasants whoe denied them food and
shelter all along the route, or who took them in only to profit by their
slave labour. It is estimated that of the 20,000 German children who set
out to save Christendom not more that 2,000 ever reached their home again.
In this they were more fortunate that their French counterpart).
Có lẽ
tôi cũng nên ghi thêm ở đây là, Joseph L. Daleiden (Sđd, tr. 55) đã có một
nhận định như sau về những cuộc Thánh chiến: “Càng suy nghĩ về vấn đề
này tôi càng thấy cả 9 cuộc Thánh chiến đều là những cuộc Thánh chiến của
trẻ con. Tất cả những người lính nông dân chất phác đó đều ngu tối như đám
trẻ, mù quáng tuân theo sự cổ võ của các giáo hoàng để đi giết dân Ả Rập,
những người đang bảo vệ đất đai của họ” (The more I reflect on the
matter, all nine crusades were Children’s Crusades. All those simple
peasant soldiers was as ignorant as children, blindly following the
exhortations of the popes to kill those Arabs who were defending their
land).
Đó là
đại cương vết son đậm thứ nhất của GiaTô giáo. Vết son đậm thứ hai là
những Tòa Án Dị Giáo, được sơ lược trình bày qua tài liệu sau đây trong
cuốn “Đại Diện của Kitô” (“Vicars of Christ”, Crown Publisher Inc.,
New York, 1988, trg. 162-166), tác giả là Tổng Giám Mục GiaTô Peter
de Rosa:
“Khủng bố thực sự bắt đầu với Gregory IX, lên ngôi Giáo hoàng năm 1227.
Hai năm sau, tại Cộng Đồng Toulouse ở Languedoc, Gregory ra sắc lệnh giải
giao những người “dị giáo” cho chính quyền dân sự trừng phạt. Ông nói:
“Bổn phận của mọi tín đồ GiaTô là phải truy tố những kẻ dị giáo”.
Năm
1232 Giáo hoàng đã đi một bước quyết định. Ông ra chiếu chỉ thành lập Toà
Án Dị Giáo. Những Giám mục thì quá lơi là, thực ra là, họ không có thì giờ
và tài năng để hoàn thành công việc một cách chu đáo. Những người dị giáo,
nghĩa là những người chống bất cứ lời tuyên bố nào của giáo hoàng, đều
phải giải giao cho chính quyền dân sự thiêu sống (sau khi bị Tòa Hình
Án tra tấn, thẩm vấn và kết tội; TCN). Nếu họ sám hối họ sẽ bị tù chung
thân. Chưa có giáo hoàng nào thích thú hơn trong việc giương lên ngọn đuốc
khủng bố.
Tháng
4, 1233, giáo hoàng chỉ chọn những quan tòa hình án trong dòng tu Dominic
và chẳng bao lâu các linh mục dòng Dominic được cái vinh dự chọn lựa đó
cho chính họ. Ngày 17 tháng 7 năm 1233 là ngày lễ của giáo hoàng: hai quan
toà hình án toàn thời gian đầu tiên được bổ nhiệm – Peter Seila và William
Arnald. Họ là hai người đầu tiên của một đoàn dài những công tố viên của
nhân loại, thanh thản và tâm hồn yên ổn. Khi bức màn hình án được kéo lên,
năm 1239, hai năm trước khi Gregory chết, linh mục dòng Dominic Robert le
Bourge đi tới Champagne để điều tra một giám mục tên là Moranis. Ông giám
mục này bị kết tội là để cho những người dị giáo sống và lan ra trong giáo
phận của mình. Ngày 29 tháng 5, le Bourge đưa 180 người, kể cả ông giám
mục, lên giàn hỏa thiêu sống. Đây là sự trở lại thời man rợ.
Lịch
sử không ủng hộ quan điểm là giáo hội GiaTô luôn luôn giật giải quán quân
về vấn đề nhân quyền. Trong thế kỷ 13, giáo hội vẫn đưa ra giáo điều như
thuở ban sơ: dị giáo không có một nhân quyền nào. Họ có thể bị tra tấn
không chút đắn đo, ngại ngùng, Giống như những kẻ phản bội quốc gia, họ tự
đặt mình ra ngoài sự thương xót của luật pháp. Họ phải chết. Trải qua 3
thế kỷ không có một giáo hoàng nào chống đối cái giáo điều trên do đó cái
giáo điều này đã trở thành một phần thường trụ trong giáo lý GiaTô. Dựa
vào đó, quyền năn của tòa hình án đã lên tới mức chưa từng thấy. Kết quả
là sự đàn áp toàn diện những người không hề có một sự bảo vệ nào trước
những sự buộc tội hoặc chỉ bị nghi ngờ là dị giáo.
Tòa
hình án có thể làm bất cứ gì. Những quan tòa hình án dòng Dominic, được
giáo hoàng bổ nhiệm, không ở dưới quyền bất cứ ai ngoài Thượng Đế và Giáo
hoàng. Họ đứng ngoài vòng xét xử của các giám mục và luật dân sự. Trong
những quốc gia thuộc quyền giáo hoàng họ chính là luật lệ, vừa đóng vai
công tố viên vừa đóng vai quan tòa xử án. Nguyên lý chỉ đạo của họ là:
“Thà giết oan 100 người vô tội còn hơn là để cho một kẻ dị giáo được tự
do”. Họ hoạt động một cách độc đoán và trong vòng bí mật. Bất cứ người nào
hiện diện trong cuộc tra hỏi - nạn nhân, thư ký, người tra tấn – mà tiết
lộ thì sẽ bị khiển trách mà chỉ có Giáo hoàng mới có thể tha cho. Những
quan tòa hình án, giống như giáo hoàng, không thể phạm một lỗi lầm nào và
không thể làm sai…
Tra
tấn được dùng thả dàn. Mới một trăm năm trước đây, người ta trưng bày
trong cái nhà ở góc đường của giáo hoàng cuốn Sổ Đen dùng làm chỉ đạo cho
những quan tòa hình án. Cuốn sổ có đánh số trang này thuộc trách nhiệm của
Quan Trưởng Tòa hình án. Cái tên phổ thông của nó là Cuốn Sổ của Thần
Chết. Sau đây là một phần trong đó:
“Hoặc bị cáo thú tội và như vậy là có tội theo sự thú tội
của chính hắn, hoặc hắn không thú tội nhưng vẫn là có tội dựa theo chứng
cớ của các nhân chứng. Nếu một người nhận tất cả các tội đã gán cho hắn,
đương nhiên hắn hoàn toàn có tội; nhưng nếu hắn chỉ thú có một phần các
tội trạng, hắn vẫn phải bị coi như là phạm tất cả các tội, vì phần mà hắn
đã thú tội chứng tỏ rằng hắn có khả năng phạm tất cả các điểm khác trong
bản cáo trạng..
Sự tra tấn thân xác đã chứng tỏ đó là phương cách có ích
và hửu hiệu đưa tới sự sám hối tinh thần. Cho nên, sự chọn lựa một hình cụ
tra tấn thích hợp nhất là trách nhiệm của quan tòa hình án, ông ta sẽ
quyết định dựa trên tuổi tác, phái nam hay nữ, và sự cường tráng thân thể
của tội nhân. Nếu, trong trường hợp đã dùng đủ mọi cách mà cái người xấu
số kia vẫn không chịu nhận tội, phải coi hắn như là một nạn nhân của quỷ;
và, như vậy, không được hưởng sự thương xót nào của các đầy tớ của Thượng
Đế (các tín đồ), hoặc sự thương hại hay khoan hồng nào của giáo hội Mẹ
Thánh Thiện. Hắn là đứa con của sự đày đọa. Hãy để cho hắn chết rục cùng
với những kẻ đã bị đày đọa vĩnh viễn xuống hỏa ngục”.
Thật khó mà có thể kiếm được văn kiện nào mà trái với
những nguyên tắc công lý thiên nhiên như vậy. Theo cuốn Sổ Đen, một đứa
con phải phản bội cha mẹ, một bà mẹ phản bội đứa con. Không làm như vậy là
một “tội lỗi đối với Tòa Án Thánh” và đáng bị tuyệt thông. Nghĩa là, không
được hưởng các bí tích và, nếu không có tu chính án, không được lên thiên
đàng.
Những ông Tòa hình án chưa bao giờ thua một vụ nào. Không
có sử liệu nào về một phán quyết vô tội. Khi phán quyết của tòa hình án là
Không Đủ Chứng Cớ, trường hợp này rất hiếm, không ai được công nhận là vô
tội. Nếu bị cáo không có tội là dị giáo thì cũng vậy. Các ông tòa hình án
tin rằng trong trăm ngàn người rút cục cũng chỉ có một linh hồn là thoát
được sự đọa đày xuống hỏa ngục”.
“The
terror began in earnest with Gregory IX, who ascended the papal throne in
the year 1227. Two years later, at the Council of Toulouse in Languedoc,
Gregory decreed that heretics had to be handed over to the secular arm for
punishment. “It is the duty of every Catholic” he said, “to persecute
heretics”.
In the
year 1232 he made his decisive move. He published a Bull establishing the
Inquisition. Bishops were too lax and, in any case, they lacked the time
and talent to do a thorough ob. Heretics, that is, all opposed to any
papal pronouncement, were to be handed over to the civil authorities for
burning. If the repented, they were to be imprisoned for life. No pope
ever took up the torch of terror with more enthusiasm.
In
April 1233 he restricted inquisitors to members of the mendicant orders;
soon, the Dominicans had the honor to themselves. The 27th day
of July 1233 was a red-letter day for the pontiff: the first two full-time
inquisitors were appointed – Peter Seila and William Arnald. They were the
first in a long line of serene untroubled persecutors of the human race.
As a curtain-raise, in 1239, two years before Gregory died, the Dominican
Robert le Bourge went to Champagne to investigate a bishop named Moranis.
He was accused of allowing heretics to live and spread in his diocese. On
29 May he sent 180 people, including the bishop, to the stake. This was a
return to barbarism.
History
does not support the view that the Catholic church has always championed
the rights of man. In the 13th century, it went so far as to
teach what the early church condemned: heretics have no rights. They can
be tortured without scruple. Like traitors to the state, heretics have put
themselves outside the mercy of the law. They must be put to death. No one
pope for over three centuries opposed this teaching which should therefore
by rights be a permanent part of Catholic doctrine. By means of it, their
Inquisition achieved unprecedented power. The result was wholesale
intimidation of those who had no protection against the charge of even
slightest suspicion of heresy.
To the
medieval Inquisition, everything was permitted. The Dominican Inquisitors,
being the pope’s appointees, were subject to no one but God and his
Holiness. They were outside the jurisdiction of bishops and of civil law.
In the Papal States they were a law unto themselves, acting as
prosecutors, and judges. Their guiding principle was: “Better for a
hundred innocent people to die than for one heretic to go free”. They
operated arbitrarily and in secrecy. Anyone present at the interrogation –
victim, scribe, executioner – who broke his silence incurred a censure
that only the pope could lift. The inquisitors, like the pope, could make
no mistake and do no wrong…
Torture
was freely used. Only a hundred years ago, there was on display in the
pope’s House on the Corner the Black Book, or Libro Nero, for the guidance
of inquisitors. This manuscript in folio form was the charge of the Grand
Inquisitor. Its popular name was the Book of the Death. This is part of
what it said: Either the person confesses and he is proved guilty from his
own confession, or he does not confess and is equally guilty on the
evidence of witnesses. If a person confesses the whole of what he is
accused of, he is unquestionably guilty of the whole; but if he confesses
only a part, he ought still to be regarded as guilty of the whole, since
what he has confessed proves him to be capable of guilt as to the other
points of the accusation…
Bodily
torture has ever been found the most salutary and efficient means of
leading to spiritual repentance. Therefore, the choice of the most
befitting mode of torture is left to the Judge of the Inquisition, who
determines according to the age, the sex, and the constitution of the
party... If, notwithstanding all the means employed, the unfortunate
wretch still denies his guilt, he is to be considered as a victim of the
devil: and, as such, deserves no compassion from the servants of God, nor
the pity and indulgence of Holy Mother Church: he is a son of perdition.
Let him perish among the dammed.
It would
be hard to find any document so contrary to the principle of natural
justice. According to the Black Book, a child must betray his parents, a
mother betray her child. Not to do so is a “sin against the Holy Office”
and merits excommunication, that is, exclusion from the sacraments and, if
there is no amendment, exclusion from heaven…
The
inquisitors never lost a single case. There is no record of an acquittal.
When, rarely, the verdict was Not Proven, no one was declared innocent. If
the accused was not actually guilty of heresy, no matter. Inquisitors
believe that only one in every hundred thousand souls would escape
damnation anyway).
Đó là sơ
lược, hết sức sơ lược, về những tòa hình án của GiaTô Giáo, cơ quan thực
thi “công lý GiaTô” trong lịch sử loài người. Tôi không muốn đi vào chi
tiết mô tả những hình cụ tra tấn và cách thức tra tấn của những người tự
nhận là con Chúa. Độc giả nào tò mò muốn thấy tận mắt một số những hình cụ
này thì tôi xin mời họ hãy đến thăm một bảo tàng viện có tên là “Medieval
Dungeon” ở trên đường Jefferson, khu Fisherman Warf, thành phố San
Francisco, Cali. Trong bảo tang viện này có trưng bày hơn 40 hình cụ mà
các tòa hình án dùng để tra tấn những người bị tố cáo là dị giáo. Ở ngoài
cửa bảo tàng viện có đề:
“Trưng
bày hơn 40 hình cụ man rợ để tra tấn và hủy diệt con người trong thời đại
Trung Cổ ở Âu Châu. Đằng sau những cánh cửa này là sự khủng khiếp thực sự
của thời đại Trung Cổ ở Âu Châu. Những ngày đen tối nhất của cái quá khứ
nhơ nhớp của họ” (More thatn 40 barbaric exhibitions of torture and
annhiliation from European Medieval days. Beyond these doors lies the true
horror of the European Medieval days. The darkest days of its sordid
past).
(Trong
một vài bài tôi đã đọc qua trước đây tôi thấy có người viết rằng những
hình cụ tra tấn này được trưng bày trong bảo tàng viện “Believe it or
not”. Hiện nay thì bảo tàng viện “Believe it or not”, cũng ở trên đường
Jefferson, cách “Medieval Dungean” mấy nhà, không phải là bảo tàng viện
trưng bày các hình cụ tra tấn của tòa hình án mà là bảo tàng viện”Medieval
Dungeon”. TCN)
Ngoài
ra, trong một số sách đã xuất bản, chúng ta cũng có thể thấy những hình
ảnh của những hình c