Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo và Thời Đại


......... .

 

Phật Giáo và tri thức hiện đại

(Luận văn tốt nghiệp)

 

GS hướng dẫn: Minh Chi

Tăng sinh: Thích Quang Phúc

---o0o---

MỤC LỤC

Dẫn nhập

Mở đề

I. Trong thế giới vi sinh

1) Phật quán nhất bát thủy

2) Giới cấm ép mè

3) Người tiên phong

 

II. Trong thế giớí vật  chất cực vi

1) Tích trần thành thế giới, chẻ giới hóa vi trần

2) Thuyết nguyên tử và hạt cơ bản

 

III. Vũ trụ-thế giới -chúng sanh - những sự vận động không ngừng nghỉ

1) Sự vô thường của chúng sanh và thế giới

2) Bốn giai đoạn thành trụ hoại không của một thế giới

3) Vật chất biến hóa

4) Hỏi trăng bao tuổi trăng già

5) Hạt và phản hạt - vật chất và phản vật chất

 

IV. Câu chuyện về thời gian

1) Nguồn gốc của thời gian

2) Giá trị của thời gian

3) Con ve mùa hạ và con linh qui

4) Sự lệch  pha của thời gian

5) Tự tại với thời gian

 

V. Biên độ của không gian

1) Tận hư không biến pháp giới

2) Những cảnh giới do nghiệp cảm

3) Vô tận những cõi giới và hư không

4) Những đại đơn vị trong vũ trụ

a) Biển Hương thủy

b) Thế giới chủng, hay là phù tràng Phật sát

c) Thế giới hải

d) An lập hải

5) Du hành trong vũ trụ

a) Mục Kiền Liên du hành cõi Phật

b) Ðức Phật Thích Ca lên cung Trời Ðao Lợi

c) Diệu Âm Bồ Tát đến cõi Ta Bà

d) Phổ Hiền Bồ Tát từ cõi nước của Phật Bảo Oai Ðức Thượng Vương

6) Về sự tương đối không - thời gian

 

VI. Những chuyển biến về bức tranh vũ trụ

1) Những ý niệm sơ khai về vũ trụ

2) Học thuyết Nhật tâm 

3) Trong vườn thiên văn muôn hoa đua nở

4) Qua ống kính thiên văn

5) Tìm kiếm những nền văn minh khác

a) Du hành giữa các hệ sao

b) Lắng nghe...từ vũ trụ

Kết luận

Thư mục tham khảo

 

DN NHP 

Tinh thần đạo Phật phóng khoáng. Giáo lý đạo Phật nhằm giác ngộ khai phóng và giãi thoát cho con người. Hành trang của đạo Phật là từ bi hỷ xã, bình đẳng vị tha. Do vậy mà hơn 2500 năm truyền giáo, đạo Phật chẳng những không làm tổn hại đến tự do dân chủ mà còn khai mở chân lý cho lẽ sống hài hòa. Tương trợ nhịp nhàng cho đà phát minh tiến bộ. Hướng dẫn con người phát triển một cách hài hòa trên cả hai mặt tiện nghi vật chất và văn hóa tinh thần. Tiện nghi vật chất bao hàm ý nghĩa một cuộc sống đầy đủ hạnh phúc bình an. Văn hóa tinh thần bao hàm trong ý nghĩa một cuộc sống tâm linh phát triển phong phú hướng đến cội nguồn chân thiện mỹ.

Thế giới bao la chúng sanh vô tận. Phật pháp cũng không có đủ thuyền từ để vớt kẻ trầm luân. Chúng sanh vẫn lặn hụp nổi chìm trong luân hồi vô tận. Do vô minh chi phối, tham ái buộc ràng, khát vọng của con người thật bao la phiền phức...

Tham ái đưa chúng sanh đến mù quáng, đến sân hận. Và từ đó đến mọi hình thức khổ đau. Bởi tham ái mà chúng sanh ôm vào mình lắm nổi bất hạnh. Một khi bị ngăn trở, tham ái biến thành phẩn nộ và con người lại rơi vào chính cái lưới do mình đã giăng ra.

Trong thế giới ngày nay, hình như tâm trí của người ta ngày càng thiên về đời sống vật chất. Hệ thống tuyên truyền và những nguồn thông tin đa dạng đã uốn nắn cân não con ngươi về hướng tiêu cực. Ðời sống trở thành máy móc. Con người trở thành bù nhìn, bị giật dây điều khiển bởi nhiều nguồn năng lực. Khả năng chủ động bị tước đoạt dần dần. Hơn thế nữa, nhân loại hiện nay, lắm kẻ đang qúa tự hào về những thành qủa đã đạt được trên lãnh vực tiến bộ vật chất. Chúng ta không thể quên đi công lao của bao thế hệ con người lao tâm lao lực miệt mài để có được những thành tựu trên mọi mặt đời sống hiện nay. Nhưng chúng ta phải tỉnh táo cẩn thận với những thành tựu này. Nếu không biết hoạch định giới hạn xử dụng, những thứ kỹ thuật này cũng có thể trở nên nguy hiểmbội phần cho nền an ninh của thế giới...

Phật giáo đã không ngừng kêu gọi rằng: phải có một sự tiến bộ hài hòa trên hai mặt vật chất lẫn tinh thần. Có nghĩa rằng phải làm thế nào giáo dục mọi người-nhất là những thế hệ trẻ hôm nay-hướng đến những giá trị nhân bản. Ðể con người ngày càng trở nên Người hơn; Có tinh thần trách nhiệm, có lương tâm, có trí tuệ hơn.

Cái sự nghiệp to tát đó, không thể trong một sớm một chiều có thể làm nên. Cũng không thể do một cá nhân, một tổ chức hay một tôn giáo nào có thể đứng ra kham nhận. Cái sự nghiệp đó trông chờ vào sự nhận thức của tất cả chúng ta về một viễn tượng tương lai của toàn nhân loại. Mỗi người góp lại mỗi tấm lòng, mỗi thiện chí...thì nhân loại lo gì không có một tương lai sáng đẹp. Tránh được bao nhiêu nổi lo âu về thảm trạng diệt vong.

Thế giới hiện nay phải đương đầu với bao nguồn đe dọa: nguyên tử, vi trùng, ô nhiễm môi trường, gia tăng dân số, can thiệp sinh học (tác động lên nhiễm sắc thể), nạn khủng bố hoành hành...

Sự tiến bộ khủng khiếp của khoa học, làm tăng tính hiểm nguy cho sự an toàn của nhân loại. Ðặt cả sinh mạng loài người treo dưới một sợi chỉ mỏng manh.

Ngày nay, hơn bao giờ hết, con người cần phải đạt đến một sự hiểu biết chơn chánh, tâm hồn định tĩnh, tấm lòng bi mẫn...để hướng dẫn nhân loại vượt qua cơn khủng hoảng này.

Phật giáo luôn luôn muốn là những đám mây, che bớt cái nắng chói chang trên cuộc đời nhân thế, hay tưới mát cỏ cây đem sự sống cho đời. Như ánh thái dương chiếu soi vạn vật không phân biệt. Những suối nguồn từ bi của Phật mãi chảy tuôn thầm lặng khắp nẻo nhân sinh.

Giáo lý nhà Phật không phải không hoàn thiện. nhưng phạm vi ứng dụng thực tế chưa được phổ cập. Có rất nhiều lý do về mặt chủ động cũng như bị động:

 Về mặt chủ động:

_ Những tổ chức Giáo Hội Phật Giáo không được chặt chẽ, không mang tính giáo quyền.

_ Sự truyền bá giáo lý rất tự phát, chủ yếu dựa trên ting thần tự nguyện.

_ Các phương tiện truyền thông rất hạn chế, chủ yếu là lưu hành trong nội bộ.

_ Không dự trù, hoạch định phương án lâu dài, chỉ rộ lên theo phong trào đột phát.v.v...

Về mặt bị động:

_ Tâm lý con người thường hay lười biếng không chịu nghiên cứu sâu xa cái kho tàng giáo lý đồ sộ của Phật giáo.

_ Hoặc có nghiên cứu ít nhiều, mà không đưa ra ứng dụng trong thực tế, nên không thấy được những sự lợi lạc an vui.

_ Hoặc do bận “trăm công ngàn việc” đâu rảnh để quan tâm.

_ Hoặc không đến gần Phật giáo được do một vài hiểu lầm hoặc thành kiến...

Ðức Phật thường dạy: “ Sanh được làm người là khó, gặp Phật ra đời là khó, Ðược nghe Diệu Pháp là khó...”

Ðời sống qủa thật bấp bênh vô định. Cái chết ập đến bất kỳ _ Chúng ta hãy trân trọng khỏang thời gian ngắn ngủi của kiếp sống này. Hãy cố gắng trở thành nguồn hạnh phúc cho chính mình, cho mọi người.

Tập luận văn nhỏ bé này cố gắng nêu lên vài điểm tương quan giữa Phật giáo và tri thức nhân loại trong thời hiện đại. Qua đó chứng minh rằng những lời Ðức Phật đã giảng thuyết là phù hợp với chân lý thực tại của muôn đời. Những minh chứng một cách giản lược sau đây chỉ nói lên được sự tương quan giữa Phật Giáo và Khoa Học trên lãnh vực hiện tượng của thế gian và vũ trụ. Còn trên lãnh vực bản thể của những hiện tượng đó_ví dụ để trả lời cho câu hỏi: Thế nào là khởi nguyên của vũ trụ và chúng sanh?_ thì Khoa Học chưa có lời đáp được. Duy có Phật Pháp là có giáo lý dạy về lãnh vực này. Ðó chính là cơ sở cho sự cải tạo tự tâm và cải tạo thế giới.

Chứng minh được mối tương quan trên mặt hiện tượng là để đi đến chứng minh cho sự đúng đắn, chân thực của Phật Giáo trên mặt bản thể. Từ đó cũng cố niềm tin cho mọi người về Phật Pháp. Kinh Hoa Nghiêm nói: “ Lòng tin là mẹ đẻ các công đức”. Kinh Niết Bàn nói: “ Lòng tin làm nhơn cho nghe Pháp, nghe Pháp làm nhơn cho lòng tin”. Lòng tin chỉ là nhơn duyên gặp Ðạo, nghe Pháp thấu hiểu ý nghĩa chân thực, lại cũng cố thêm niềm tin để đi sâu vào Ðạo. Ðức Phật không tán đồng những niềm tin mù quáng. Thay vì khuyến khích hàng thiện tín nhắm mắt tin càn. Ðức Phật thường khuyên dạy, hãy chín chắn xem xét những lời dạy dù xuất phát từ đâu.Chỉ nên tin và chấp nhận những điều hợp với lý trí, được các bậc hiền nhân đồng ý, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa đến những kết qủa tốt đẹp cho đời sống...Như vậy Ðạo Phật mời bạn đến để mà thấy, đến để mà hiểu, đến để mà chia xẻ những mối cảm thông.

Ðức Phật thường dạy: “ Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”. Trong cội nguồn thâm sâu của tự tâm chúng ta đều có tính Phật. Chúng ta hãy làm thế nào cho mạch suối tươi mát đó lưu lộ khắp nơi nơi.

“Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu,

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

Nhơn nhơn hữu cá Linh Sơn tháp,

Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu.

(khuyết danh)  

Tạm dịch

Phật tại Linh Sơn chớ vọng cầu,

Linh Sơn chính ở tại lòng người.

Người người đều có Linh Sơn tháp,

Mau hướng Linh Sơn tháp tịnh tu.

 

THÀNH KÍNH TRI ÂN:

Chúng con xin thành kính tri ân Hòa Thượng Thích Minh Châu Hiệu Trưởng Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Giám Hiệu, Qúi Giáo Sư, Giảng Sư. Ðặc biệt là Giáo Sư Minh Chi, vị Thầy đã tận tình chỉ giáo cho chúng con trong việc hoàn thành tập luận văn này. Chúng con thành kính tri ân Thầy Bổn Sư chúng con là Thượng Tọa Thích Từ Hương, Thầy Trú Trì chùa Hải Quang Thích Ðạt Ðức, Qúi Thượng Tọa, Ðại Ðức, Quí vị Thiện tri thức, Qúi vị Phật tử gần xa đã hết lòng chỉ dẫn và trợ duyên cho chúng con.

Chúng con cũng xin thâm tạ công ơn của các vị tác giả, dịch giả, soạn giả... của những Kinh luận, sách vở, tài liệu... mà chúng con nhờ đó đã tham khảo về những vấn đề liên quan đến nội dung tập luận văn này.

Chắc chắn rằng, với kiến thức còn hạn chế, với thời gian hạn hẹp, tập luận văn này vẫn còn nhiều chỗ thiếu sót hoặc sai lầm. Chúng con rất trân trọng thu nhận những ý kiến chỉ giáo để cho chúng con có thêm cơ hội học tập. Nguyện xin hồi hướng công đức đến khắp chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

                                                   Thành kính.

***

 

 Một hôm đức Phật từ trong rừng đi ra, trên tay cầm một nắm lá. Ðức Phật hỏi các vị Tỳ Kheo rằng: “Lá trên tay của Như Lai nhiều hay lá trong rừng nhiều ?” Các vị Tỳ Kheo đáp lại đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn, lá trên tay của Ngài thật là qúa ít ỏi so với lá trong rừng, lá trong rừng thật là qúa nhiều so với lá trên tay”.

Ðức Phật nói: “ Cũng vậy này các Tỳ Kheo ! Những gì mà Như Lai dạy cho các ông thật là ít ỏi, chỉ như lá trên tay của ta, so với những điều mà ta biết thật là qúa nhiều, ví như lá trong rừng. Vì sao vậy ? Ðức Như Lai chỉ dạy cho các ông những điều cần thiết để trừ diệt tham, sân, si...giãi thoát sanh, gìa, bệnh, chết...hướng đến Niết Bàn. Như Lai không dạy những điều vô bổ không hướng đến mục tiêu phạm hạnh, không hướng đến giãi thoát”. 1

Ví như một người bị mũi tên độc bắn trúng, lại không muốn nhổ mũi tên ra để trị liệu, lại nói rằng: “ Hãy khoan nhổ mũi tên ra, hãy cho tôi biết người bắn tôi là ai ?...v.v... Hãy cho tôi biết cây cung làm bằng gỗ gì ? Dây cung làm bằng gì ?...Mũi tên thuộc loại gì?...v.v...Người ấy sẽ chết trước khi biết được điều muốn biết. Trong Kinh Tiễn Dụ đức Phật đã khuyến cáo Man Ðồng Tử chớ sa vào những luận thuyết siêu hình, vô bổ, làm mất thời gian. Mà việc cần thiết là nhổ ngay mũi tên độc tham sân si ra để chữa trị...1

Những lời dạy của đức Phật gồm vô lượng pháp môn, chứa đầy trong ba tạng Kinh điển chỉ là những pháp môn đối trị tùy theo những căn cơ sai biệt nhau, như tùy theo bệnh cho thuốc. Mà mục đích duy nhất chỉ là hướng dẫn chúng sanh lần lượt giãi trừ tham sân si phiền não...tiến đến đắc đạo qủa tối hậu như Phật.(Kinh Pháp Hoa: Khai thị chúng sanh, ngộ nhập tri kiến Phật).

Trí tuệ của Phật là trí tuệ tuyệt đối, thể nhập chân tánh của vạn hữu. Sự hiểu biết thật tướng các Pháp được nêu trong Thập như thị: “Như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhơn, như thị duyên, như thị qủa, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh”.(Kinh Pháp Hoa _ Phẩm Phương Tiện thứ 2). Trí tuệ ấy gọi là Tri kiến Ba La Mật: là tri kiến tuyệt đối trên mọi sự vật. Tuy Như Lai không nói về những điều huyền đàm, hý luận vô bổ, không ích lợi cho mục tiêu giãi thoát của chúng đệ tử, nhưng suốt 49 năm giáo hóa, qua những lời giáo huấn, Ngài đã hé mở cho chúng ta nhiều chân lý hiển nhiên về sự vật. Mà cho đến những thế kỷ gần đây chúng ta mới nghiệm thấy những lời của Ðức Phật là chân thực ngữ, thông qua những tiến bộ vượt bậc của con người trên phương diện khám phá vũ trụ vật chất tồn tại chung quanh ta. Chúng ta hãy suy gẫm về những lời Phật nói cách đây hơn 2500 năm và so sánh với những sự thật hiển nhiên của khoa học thực nghiệm đã khám phá được. Chúng ta không nói Khoa Học là vô song, nhưng những khám phá của Khoa Học tuy chậm chạp nhưng được đặt trên những cơ sở vững chắc. Ít nhất cũng trên mặt hiện tượng thế gian, dựa trên cơ sở tri thức của con người. Mà tri thức ấy ở trong một chừng mực nào đó cũng có thể khả tín...

Ngày nay, dưới ánh sáng phát minh của Khoa Học Kỹ Thuật, những Học Thuyết, những Tôn Giáo mà những hoạt động truyền bá của họ, chủ yếu chỉ dựa vào: niềm tin của dân chúng, vào sự hứa hẹn một cõi Thiên Ðàng sau khi chết, vào sự cứu rỗi cho Linh hồn, hay vào sự đe dọa của một cõi Hỏa Ngục đời đời...v.v...Những Nguyên Lý, Học Thuyết của họ dần dần bị phá sản và rơi rụng như lá mùa thu... Bởi vì _ Từ xa xưa, con người dường như cần phải tin vào một cái gì đó, để sống một cách vững tâm hơn. Các Tín Ngưỡng đều dựa vào nhu cầu ấy để nảy sinh và phát triển. Cuộc sống ngày càng tiến bộ. Sự hiểu biết về tác động của môi trường ngày càng tăng, con người ngày nay đã chinh phục nhiều nổi sợ hãi trước những sức mạnh của thiên nhiên. Như vậy trãi qua hàng nghìn năm phát triển, con người đã biết tin vào chính trí tuệ của mình. Mặc dầu cái “ trí tuệ” ấy còn rất nhiều sự hạn chế bởi không gian và thời gian của kiếp con người.

Trí huệ của Ðức Phật đại khái có 2 loại là Xuất Thế Trí (Chánh Biến Tri) và Thế Gian Trí (Thế Gian Giãi). Mục tiêu đạt đến của văn minh Khoa Học Kỹ Thuật chỉ bao hàm trong Thế Gian Trí. Còn lãnh vực Xuất Thế Trí chỉ có Ðức Phật là rốt ráo, chư Bồ Tát Thánh Chúng đạt đến theo mức độ tu chứng. Nay đây, chỉ đem một số ví dụ để minh họa rằng: Trong lãnh vực Thế Gian Trí cách đây hơn 2500 năm (vào cái thời kỳ mà các máy móc công cụ, phương tiện quan sát thực nghiệm của Khoa Học chưa phát minh) Ðức Phật đã thấy được những gì mà ngày nay chúng ta thấy được qua trung gian các phương tiện quan sát hay trắc nghiệm...

I / TRONG THẾ GIỚI VI SINH:

 1)Phật quán nhất bát thủy:

Trong Luật Phật dạy các Thầy Tỳ Kheo cũng như Sa Di mỗi khi uống nước phải thầm niệm kệ và chú rằng:

“ Phật quán nhất bát thủy,

 

Nghĩa là:

Bát vạn tứ thiên trùng.

 Phật xem trong bát nước,

Nhược bất trì thử chú

Tám vạn bốn ngàn trùng.

Như thực chúng sanh nhục.”

 Nếu chẳng trì chú này,

Án, phạ tất ba ra ma ni tóa ha.(3 lần)

 Như ăn thịt chúng sanh.

 2)Giới cấm ép mè:

Trong Kinh Ưu Bà Tắc Giới, Ðức Phật khuyên các vị cư sĩ không được làm những nghề thương tổn hại mạng chúng sanh. Trong đó có giới không được ép dầu mè. Nhiều người thắc mắc không biết vì sao, mè cũng là một giống thảo mộc mà Phật lại cấm. Thì ra ngày xưa, ngươì làm nghề ép mè, sau khi hấp mè chín rồi, lấy ra đem ủ một thời gian rồi mới ép, cho được nhiều dầu. Trong thời gian ủ mè, vô số loại trùng vi tế sanh ra, mà với con mắt thường thì không thể nào thấy được. Họ chỉ làm theo những kinh nghiệm có lợi. Vào thời đó người ta chưa biết có sự hiện diện của những sinh vật vi tế như virus, vi trùng, vi khuẩn, men giấm, men rượu, v.v... Mãi đến giữa thế kỷ 19, qua những công trình nghiên cứu của nhà bác học Pasteur, người ta mới biết đến sự hiện diện và những hoạt động vô cùng phong phú và đa dạng trong thế giới vi sinh.

3) Ngừơi tiên phong:

Vào khoảng 1854 người ta nói đến những lớp trùng cỏ, những loại nấm men, những động vật, những sinh vật vô cùng nhỏ bé, những khuyển phẩy, những tiểu cầu... Người ta ghi nhận sự hiện hữu của chúng trong các sự lên men, song không biết gì mấy về vai trò chính xác của chúng. Người ta không biết từ đâu chúng sinh ra và cũng không ngờ đến nguồn năng lượng khổng lồ do chúng tạo ra.

Qua một loạt công trình nghiên cứu kéo dài 15 năm, Louis Pasteur (1822_1895) đã đưa các vi sinh vật ấy ra ánh sáng, làm rõ tầm hoạt động quan trọng của chúng. Và cho thấy chúng đã giữ vị trí quan trọng nào trong cơ cấu của đời sống.

Các khám phá trên cũng tạo ra những nền tảng cho một môn Khoa Học mới: Môn Vi Sinh Vật Học: chuyên nghiên cứu về đời sống các vi sinh vật.

Các kiến thức về vi trùng và vi sinh học làm đảo lộn hoàn toàn các tập quán của một số ngành Kỹ Nghệ [1] nhất là trong Y học đặc biệt là khoa Phẫu thuật.

Bệnh dại từng gây kinh hoàng trong thế kỷ 19. Virus bệnh dại đã bị nhận dạng. Và kể từ năm 1963 nhờ kính hiển vi điện tử chúng ta đã biết rõ hơn về cấu trúc của nó.

Sau bệnh dại, người ta tấn công vi trùng các bệnh bạch hầu, sốt vàng da, dịch hạch, dịch tả, v.v...  

II / TRONG THẾ GIỚI VẬT CHẤT CỰC VI:

 1)Tích trần thành thế giới, chẻ giới hóa vi trần: 

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật dạy: “....Xét tánh địa đại, to là đất liền, nhỏ là vi trần. Cực vi là sắc tướng nhỏ tột. Nếu đem chẻ cực vi ra làm 7 phần thì sẽ có lân hư trần. Nếu chẻ lân hư trần ra nữa thì chỉ còn hư không. A Nan ! Nếu cái lân hư trần đó chẻ ra thành được hư không, thì biết hư không cũng sinh ra được sắc tướng”.

Trong Câu Xá Luận quyển 12

 (Theo Phật Quang Từ Ðiển tr. 5445, 5479) chép:

Hợp 7 cực vi thành vi trần.

Hợp 7 vi trần thành 1 kim trần.

Hợp 7 kim trần thành 1 thủy trần.

Hợp 7 thủy trần thành 1 thố mao trần.

Hợp 7 thố mao trần thành 1 dương mao trần.

Hợp 7 dương mao trần thành 1 ngưu mao trần. [2]

Ngay cả kim trần và thủy trần cũng có thể đi xuyên qua kim loại.(Tương đương với các tia vũ trụ...)

Bồ Tát Trì Ðịa trong hội Lăng nghiêm nói: ”... Ðức Tỳ Xá Như Lai xoa đỉnh đầu tôi mà bảo rằng: “ Nên bình tâm địa, thì tất cả đất đai trên thế giới đều bình”. Tôi liền khai ngộ. Thấy vi trần nơi thân thể cùng với tất cả vi trần tạo thành thế giới đều bình đẳng không sai khác. Tự tánh của vi trần không chạm xát nhau, cho đến các thứ đao binh cũng không đụng chạm gì. Tôi do nơi Pháp tính ngộ được vô sinh nhẫn, thành qủa A La Hán....” 

2) Thuyết nguyên tử và hạt cơ bản:

Thí nghiệm của Rutherford (1911) đã chứng tỏ rằng nguyên tử tuy rất nhỏ, nhưng có cấu trúc rất phức tạp. Bao gồm 1 hạt ở giữa gọi là hạt nhân, xung quanh có các electron (điện tử). Ðiện tử có đường kính hạt nhân [3] nhỏ hơn hàng chục vạn lần so với đường kính của nguyên tử. Hạt nhân lại cũng có cấu tạo riêng.Các hiện tượng phóng xạ và các phản ứng hạt nhân đã chứng tỏ rằng hạt nhân được cấu tạo từ những hạt nhỏ hơn gọi là nucleon. Có 2 loại nucleon là proton mang điện dương e+ và notron không mang điện. Các proton trong hạt nhân mang điện dương nên đẩy nhau, nhưng hạt nhân vẫn bền vững, vì các proton và notron liên kết  với nhau rất mạnh bởi các lực hút gọi là lực hạt nhân. Lực hạt nhân là loại lực mạnh nhất trong các lực đã biết, nhưng chỉ tác dụng khi khoảng cách giữa các nucleon bằng hoặc nhỏ hơn kích thước của hạt nhân.

Trong một nguyên tử, dựa vào các đặc trưng của hạt, nhất là vào khối lượng, có thể chia các hạt chất làm 2 loại là hadron và lepton:

 a) Hadron: tức là hạt lớn, gồm có các barion (hạt nặng) và các mezon (hạt trung bình). Barion có các nucleon (proton và notron) và các hyperon (hạt rất nặng).

 b) Lepton: tức là hạt nhẹ, gồm có electron và nơtrino.

Nếu kể cả các phản hạt, thì số hạt sơ cấp đã biết lên tới gần 400. Ðến nay hầu hết các nhà vật lý học đã thừa nhận giả thuyết hạt quark (1961). Các hạt này cấu tạo nên các hadron. Nếu vậy, có thể nói rằng các hạt thực sự là hạt sơ cấp chỉ gồm có: 6 loại hạt quark, leptôn (electron và nơtrinô) và các hạt trừơng...[4]

Con đường tìm kiếm còn vô tận...

 

III/ VŨ TRỤ -THẾ GIỚI -CHÚNG SANH: NHỮNG SỰ VẬN ÐỘNG KHÔNG  NGỪNG NGHỈ 

 1) Sự vô thường của chúng sanh và thế giới:

Vô thường là lãnh vực Phật Giáo nói đến nhiều nhất. Kinh Bát Ðại Nhân Giác nói: “Thứ nhất giác ngộ thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã...” Vũ trụ, thế giới không ngừng chu biến trong không gian,thời gian. Ở thế gian, những cảnh vật to lớn đối với con người cũng phải chịu chung qui luật của sự đổi dời. “Thương hải biến vi tang điền”: Biển xanh mấy độ nay thành ruộng dâu...Hay: “ Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Nước còn cau mặt với tang thương”.(C.o.n.k.)

Cái gọi là con người là sự nhóm họp của 5 uẩn, gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Sắc gồm có 4 yếu tố: đất, nước, gío, lửa và các sắc do 4 yếu tố ấy làm nên. Sắc này do thức ăn nuôi dưỡng. Khi thức ăn tập khởi thì sắc tập khởi; Khi thức ăn đoạn diệt thì sắc đoạn diệt.

Thọ uẩn gồm có thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc, tỹ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc sanh. Do xúc sanh khởi nên thọ sanh khởi; do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt.

Tưởng uẩn có sắc tưởng, thanh tưởng, hương, vị, xúc, pháp tưởng. Tập khởi và đoạn diệt cũng do xúc.

Hành uẩn có 6 tư (hay hành): sắc tư, thanh tư, hương, vị, xúc, pháp tư. Ðây gọi là hành uẩn. Do xúc khởi nên tư khởi; do xúc diệt nên tư diệt.

Về thức uẩn, gồm có nhãn thức, nhĩ thức, tỹ, thiệt, thân, ý thức. Do danh sắc (hoặc hành) tập khởi nên thức tập khởi; do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt.

Như vậy thân này rất mong manh, do 5 yếu tố trên phối hợp lại mà thành. Xét riêng từng phần chẳng có gì là chắc thật:

Thân này như bọt, chẳng đặng còn lâu; thân này như huyễn do điên đảo khởi; thân này như mộng từ vọng thấy sanh; thân này như bóng bởi nghiệp duyên hiện”. (Kinh Duy Ma)

Lại nói: “ Vua chết nuốt chúng sanh, suy gìa uống tuổi trẻ, bệnh đến mạnh khỏe tiêu, người thế gian không biết”. (Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ)

Kinh Phân Biệt Sáu Giới (Trung Bộ Kinh III, số 140) Kinh Lục Giới Phân Biệt (Trung A Hàm, số 42) và nhiều Kinh khác của A Hàm, Nikàya cắt nghĩa: Ðịa đại gồm có nội địa đại (thân người của mình) và ngoại địa đại (tha nhân và thế giới). Thủy, hỏa, phong đại cũng chia ra có nội, có ngoại như thế.

Sắc uẩn cũng gồm nội sắc (thân mình) và ngoại sắc (tha nhân và thế giới vật lý)

Thọ uẩn gồm có nội thọ (cảm nhận về thiền lạc) và ngoại thọ (gồm có các cảm thọ về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).

Tưởng uẩn bao gồm những cảm nhận về hỷ, lạc, xã, ưu, khổ thuộc thọ uẩn, những khả năng kinh nghiệm về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp và những khả năng hồi tưởng và ký ức.

Hành uẩn bao gồm những khả năng tư duy,lo lường, suy nghĩ thiện, ác...

Thức uẩn bao gồm khả năng ghi nhận sự có mặt của các pháp qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh III, Ðức Phật dạy: “ Không liễu tri 5 uẩn thì không thể đoạn tận khổ đau. Do vậy cần phải liễu tri 5 uẩn “. Và khuyên các vị Tỳ Kheo cần tu tập Thiền Ðịnh để hiểu biết một cách như thật: Sắc tập khởi và sắc đoạn diệt; thọ tập khởi và thọ đoạn diệt;..........; thức tập khởi và thức đoạn diệt.

Trong một lần đề cập đến ngũ uẩn, Thế Tôn đã nói lên lời cảm hứng này:

Năm uẩn là gánh nặng,

Kẻ gánh nặng là người.

Cầm lấy gánh nặng lên,

Chính là khổ ở đời.

Còn đặt gánh nặng xuống,

Tức là lạc ở đời.

Ðặt gánh nặng xuống rồi,

Không mang thêm gánh khác.

Nếu nhổ khát ái lên,

Tận cùng đến gốc rễ,

Không còn đói và khát,

Ðã giãi thoát tịnh lạc.

 (sách đã dẫn tr. 26)

Như Thế Tôn đã giãi thích: Khổ đau không phải do chính 5 uẩn, cũng không do vì 5 uẩn vô thường, mà là do chính lòng khát ái 5 uẩn.

Phật giáo quan niệm Chánh báo là cảnh giới gồm xã hội và môi trường nơi con người sinh sống, và Y báo là chính bản thân con người - tổ hợp bởi 5 uẩn. Cả 2 yếu tố đó biến đổi không ngừng, có ảnh hưởng tương tác lẫn nhau, cộng thông cả biệt nghiệp lẫn cộng nghiệp. Như Xã hội học hiện nay quan niệm Xã hội hóa cá nhân, và cá nhân tác động đến Xã hội. Nhưng các cá nhân không chịu ảnh hưởng Xã hội một cách giống nhau. Các cá nhân tác động lên Xã hội cũng không cùng một cách như nhau. Quan niệm về một Xã hội động là một Xã hội luôn luôn biến chuyển.

 2 /Bốn giai đoạn thành trụ hoại không của thế giới:

Các Thế giới đều phải chuyển biến. Một chu kỳ của sự biến chuyển đó kéo dài trong một Ðại Kiếp.Bao gồm 4 giai đoạn là Kiếp Thành, Kiếp Trụ, Kiếp Hoại, Kiếp Không. Mỗi giai đoạn có thời gian kéo dài là một Trung kiếp (hay là 20 Tiểu Kiếp) Như vậy một Ðại Kiếp có 4 Trung Kiếp, hay 80 Tiểu Kiếp. Một Trung Kiếp có 20 Tiểu Kiếp. Một Tiểu Kiếp có 16.678.000 năm (tính theo năm nhân loại).

 a) Kiếp Thành: Khi thế giới đã tiêu hoại, chỉ còn một khoảng hư không trống rỗng, trãi qua một thời gian rất lâu xa. Do nghiệp lực của chúng sanh, bấy gìơ từ nơi không gian hiện ra đám mây to rộng che khắp một vùng rộng lớn bằng khoảng Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới [5]. Ðám mây này chuyển biến qua các giai đoạn đông tụ lại tạo thành thế giới. Tóm lại, Kiếp Thành là giai đoạn thế giới đang thành lập, thời gian này kéo dài 20 Tiểu Kiếp.

 b) Kiếp Trụ: là chỉ khoảng thời gian thế giới đã thành, có thể khiến cho chúng sanh được an trụ và thọ dụng. Kinh Hoa Nghiêm nói: “ Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới đã thành lập, khiến cho vô lượng chúng sanh được nhiều sự nhiêu ích: Những loài Thủy tộc được sự nhiêu ích của nước. Những loài ở lục địa được sự nhiêu ích của đất. Những loài ở cung điện được sự nhiêu ích của cung điện [6]. Những loài ở hư không được sự nhiêu ích của hư không [7]”. Tóm lại, thời gian của Kiếp Trụ cũng gồm 20 Tiểu Kiếp. Mỗi Tiểu Kiếp khi tăng thạnh đều có 4 bậc Luân Vương ra đời [8], lúc giảm cực đều có tiểu tam tai. [9]

 c) Kiếp Hoại: Khi Kiếp Trụ đã mãn, thế giới bắt đầu hư hoại, đây gọi là Kiếp Hoại. Sự hư hoại xảy ra trên 2 phương diện: Thú hoại và Giới hoại:

_ Thú hoại là chỉ cho sự tiêu hoại của chúng sanh trong thất thú [10] tức là hữu tình giới. Lúc đó những chúng sanh nào có phước nghiệp liền được sanh về các tầng Trời không tiêu hoại, hoặc sanh về các thế giới khác tương xứng với nghiệp của mình. Những chúng sanh nghiệp nặng, sau khi thân xác tiêu hoại liền được chuyển sanh về các cõi ác đạo ở phương khác.

_ Giới hoại là sự tiêu hoại của non sông vạn vật, tức là thế giới. Trong Kiếp Hoại có đại tam tai [11] khởi lên tiêu huỷ vạn vật. Sự hoại diệt thế giới kéo dài trong 20 Tiểu Kiếp.

 d) Kiếp Không: Sau khi đã trãi qua Kiếp Hoại, vạn vật đều tiêu tan, chỉ còn một khoảng không gian vô hình. Trạng thái này kéo dài trong 20 Tiểu Kiếp mới qua giai đoạn thành lập của thế giới tương lai. Thời kỳ này gọi là Không Kiếp. Không Kiếp không có ngày đêm, thời tiết, làm sao để biết được là trãi qua 20 Tiểu Kiếp. Ðây là do trí tuệ vô ngại của Phật thấy suốt 10 phương, so sánh với các cõi Trời không hư hoại và Kiếp Trụ ở thế giới phương khác nên biết rõ thời gian ấy trãi qua 20 Tiểu Kiếp.

 Trong một Ðại Kiếp, ba Trung Kiếp Thành, Hoại, Không đều không có chúng sanh ở. Cảnh giới và hữu tình giới chỉ thể hiện đầy đủ trong Kiếp Trụ. Như một năm có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông một Ðại Kiếp phải trãi qua 4 kiếp tướng là Thành, Trụ, Hoại, Không. Những thế giới phải biến đổi vần xoay không dứt. Kinh Hoa Nghiêm nói: “ Ví như lá trong rừng có non, già, khô, rụng, thế giới trong các sát chủng cũng có thành, trụ, hoại, không “. 

 3)Vật chất biến hóa:

Hạt nhân nguyên tử không phải là bất biến mà nó có thể biến đổi thành hạt nhân khác một cách tự nhiên do sự phóng xạ, hoặc trong các phản ứng hạt nhân do con người gây ra [12].

Phóng xạ là hiện tượng một hạt nhân tự động phóng ra những bức xạ gọi là tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân khác. Tia phóng xạ không nhìn thấy được, nhưng có những tác dụng lý hóa: như làm iôn hóa môi trường, làm đen kính ảnh, gây ra các phản ứng hóa học v.v... Có 3 loại tia phóng xạ được đặt tên là tia Alpha, tia Bêta và tia Gamma.

Mỗi chất phóng xạ được đặc trưng bởi thời gian T gọi là chu kỳ bán rã. Cứ sau mỗi chu kỳ bán rã này thì 1/2 số nguyên tử của chất ấy đã biến đổi thành chất khác. Chu kỳ bán rã đối với mỗi chất phóng xạ mỗi khác nhau. Thí dụ: Uranium có T = 4,5.109 (4 tỷ rưỡi năm), Carbon 14 có T = 5.600 năm, Radium có T = 10-6 (bằng 1 phần triệu giây, nghĩa là vừa sinh ra thì biến đổi ngay thành chấøt khác).

Phản ứng hạt nhân nhân tạo đầu tiên do Rutheford thực hiện năm 1919. Oâng dùng chất phóng xạ Polonium 210 phát ra các hạt Alpha để bắn phá Nitơ. Kết qủa là Nitơ biến thành Oxy và Proton.

Năm 1934 hai ông bà Joliot và Curi dùng hạt Alpha bắn phá một lá nhôm và thu được Phôtpho (Lân) và Nơtron.

 4) Hỏi trăng bao tuổi trăng gìa ?

Lâu nay chúng ta thường nghe nói về số tuổi của một mẫu vật trong trầm tích, hay số tuổi của một loài khủng long cổ xưa mới tìm được. Chúng ta thường hồ nghi về những con số được tính toán đó. Bởi chúng ta chưa hiểu rõ về cơ sở của phương pháp tính tuổi đó. Nghành khảo cổ có một phương pháp rất chính xác để định tuổi của các di vật gốc sinh vật, đó là phương pháp dùng Carbon 14. Carbon có 4 đồng vị: C12 phổ biến nhất, C13 thì bền, C14 là chất phóng xạ Bêta trừ b- và C11 là chất phóng xạ Bêta cộng b+.

C14 được tạo ra trong khí quyển và thâm nhập vào mọi vật trên trái đất. Nó có chu kỳ bán rã là 5600 năm. Sự phân rã này cân bằng với sự tạo ra, nên từ hàng vạn năm nay mật độ của C14 trong khí quyển không đổi: Cứ trong 1012 (một ngàn tỷ) nguyên tử Carbon thì có 1 nguyên tử C14. Một thực vật còn sống, còn qúa trình diệp lục hóa, thì còn giữ tỷ lệ trên trong các thành phần chứa Carbon của nó. Nhưng nếu thực vật chết, thì nó không trao đổi gì với không khí nữa. C14 vẫn phân rã mà không được bù lại, nên tỷ lệ của nó sẽ giảm: sau 5600 năm chỉ còn một nửa. Ðộ phóng xạ H của nó cũng giảm tương ứng. Ðo độ phóng xạ này thì tính được thời gian đã trôi qua từ khi cây chết. Ðộng vật ăn thực vật nên tỷ lệ C14/C trong cơ thể cũng giảm như trên sau khi chết. Vì vậy có thể định tuổi các mẫu xương động vật tìm được trong các di chỉ bằng phương pháp này [13] 

Hiện nay khoa học vẫn chưa tìm ra phương pháp chính xác để tính tuổi Trái đất, mặt trăng,...v.v.... Các phương pháp trước kia đưa ra những con số sai biệt qúa lớn. Ví dụ người ta thấy tuổi trái đất biến thiên từ 20 triệu năm tới 5000 triệu năm. Gần đây người ta dùng nhiều phương pháp đo phóng xạ trong các lớp đá và khóang vật của nhiều thời kỳ địa chất rồi cộng lại, kết qủa thành ra 520 triệu năm, nhưng chưa biết được thời gian kéo dài của hai đại Nguyên Sinh và Thái Cổ. Tất nhiên những con số này chưa thể là chính xác, có sai lầm hoặc sai số rất lớn. [14]

 5) Hạt và phản hạt, vật chất và phản vật chất:

Mỗi hạt đều có phản hạt. Hạt và phản hạt có cùng khối lượng. Phản hạt của electron e- là pôzitrôn (electron e+). Nơtrôn và phản nơtrôn đều không có điện tích, nhưng có momen từ ngược chiều nhau.

Hạt và phản hạt gặp nhau thì hủy thành prôtôn, đó là hiện tượng hủy cặp:

 e- + e+ ® y

Trong những điều kiện nhất định, có thể có sự biến đổi của prôtôn thành hạt và phản hạt, đó là sự sinh cặp: y ® e- + e+

Phản hạt có thể tạo thành phản vật chất. Ví dụ nguyên tử phản hydrô gồm một pôzitrôn (electron dương e+) quay quanh một phản prôtôn.

Thiên hà của chúng ta chủ yếu cấu tạo từ vật chất, nên các phản hạt rất hiếm. Nhưng có thể trong vũ trụ có phản thiên hà, cấu tạo từ phản vật chất. Người ta đã phát hiện ra trong vũ trụ có những “điểm” gọi là quaza ở rất xa, phát ra năng lượng hàng chục lần lớn hơn các thiên hà mạnh nhất. Có giả thuyết cho rằng quaza là sự hủy cặp của một thiên hà - phản thiên hà. 

IV / CÂU CHUYỆN VỀ THỜI GIAN:

 1) Nguồn gốc của thời gian:

“ Không ai có thể tắm hai lần trong cùng một dòng nước “ [15]. Qủa vậy, trong dòng thời gian trôi chảy, trong khoảng không gian đổi dời, không có gì dừng trụ. Nếu không có không gian thì chẳng có thời gian. Nếu không có thời gian cũng không có không gian. Không gian - thời gian - sinh vật là 3 yếu tố tương quan của ý thức tồn tại. Nhưng 3 yếu tố ấy có nguồn gốc như thế nào ? Trong Kinh Na Tiên Tỳ Kheo có một đoạn làm chúng ta chú ý:

 “ Vua hỏi: [16]

_ Bạch Ðại đức, Ðại đức vừa nói thời gian dài vô cùng vô tận, vậy thời gian là

gì ?

_ Qúa khứ, hiện tại, vị lai. Qúa khứ dài vô cùng vô tận. Vị lai cũng dài vô cùng vô tận. Chỉ hiện tại là không dài.

_ Xét cho cùng lý, có thời gian hay không ?

_ Có khi có, có khi không.

_ Khi nào thì có, và khi nào thì không ?

_ Với những vị tu hành đắc đạo vào Niết bàn thì không có thời gian. Với những kẻ chưa đắc đạo, còn vào ra trong sanh tử, thì còn thời gian. Khi thời gian còn có, thì nếu đời này thích làm việc bố thí và ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, đời sau hẳn phải được phước báo.

_ Nguồn gốc của thời gian qúa khứ, hiện tại và vị lai là cái gì ?

_ Ấy là ngu si mê muội. Vì ngu si mê muội sanh ra nên liền sanh ra thần. Thần sanh thân.Thân sanh danh. Danh sanh sắc. Sắc sanh lục tri, tức sáu cái biết: Một là biết của mắt, hai là biết của tai, ba là biết của mũi, bốn là biết của lưỡi, năm là biết của thân, sáu là biết của tâm. Cả sáu cái biết này đều hướng ngoại. Mắt hướng sắc, tai hướng thanh, mũi hướng hương, lưỡi hướng vị, thân hướng trơn nhám, tâm hướng tham dục. Liền hướng đến là liền hiệp lại, mà biết khổ biết vui. Do biết khổ biết vui mới sanh ân ái. Do ái ân sanh tham dục. Do tham dục mới hình thành cái nguyên nhân tái sanh (hữu). Do tái sanh nên có già, chết, khóc lóc, lo rầu,.. khiến nội tâm bi thống. Tất cả những cần khổ bi thống ấy hiệp lại mà thành ra con người. Vì vậy mà con người chết đi sanh lại hết đời này sang đời khác, không bao giờ chấm dứt. Trong cái thời gian dài vô tận và không thể phanh ra đầu mối ấy, tìm trở lại cái bản thân trước kia của con người, qủa thật là một việc bất khả đắc...” [17]

Như vậy do vô minh mà sanh ra căn thân (là chúng sinh) và cảnh giới (là không gian, nơi chúng sinh sinh sống). Dòng sinh mạng tương tục của chúng sanh và sự chuyển biến không ngừng của không gian sinh tồn phát sinh ý niệm về thời gian. 

 2) Giá trị của thời gian:

Giá trị của thời gian là tương đối chỉ dựa trên tâm sinh lý của chúng sanh và sự vận động của cảnh giới. Trong Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thọ Lượng thứ 31, có nói về thời lượng tương đương của các cõi giới:

“ Bấy giờ Tâm Vương Ðại Bồ Tát ở trong chúng hội bảo chư Bồ Tát rằng: “ Chư Phật Tử, ở Ta Bà Thế Giới cõi của Thích Ca Mâu Ni Phật đây một kiếp, nơi Cực Lạc Thế Giới cõi của A Di Ðà Phật là một ngày một đêm. Một kiếp ở Cực Lạc Thế Giới là một ngày một đêm nơi Ca Sa Tràng Thế Giới cõi của Kim Cang Kiên Phật. Một kiếp ở Ca Sa Tràng Thế Giới là 1 ngày/ đêm nơi Bất Thối Chuyển Âm Thanh Luân Thế Giới cõi của Thiện Thắng Quang Minh Liên Hoa Khai Khu Phật....v.v...”

Nói về cõi Ta Bà Thế Giới, cảnh giới của con người và các sinh vật khác thì ở trên mặt đất. Còn các tầng Trời y cứ nơi núi Tu Di [18]gọi là Ðịa cư Thiên. Vượt khỏi đảnh Tu Di trở lên thuộc về Không cư Thiên.

Bốn phiá sát đỉnh núi Tu Di là cõi Trời Tứ Thiên Vương. Trên đảnh núi Tu Di là xứ sở của cõi Trời Ðao Lợi. Từ cõi Trời Ðao Lợi lên trên 160.000 do tuần [19] có một Thiên giới lơ lững như mây, do thất bảo nhu nhuyễn tạo thành, đầy đủ cung điện lâu các, vườn cây ao hoa trang nghiêm tráng lệ. Ðây là cõi Trời Dạ Ma. Từ cõi Trời Dạ Ma lên cao 320.000 do tuần nữa là Trời Ðâu Suất. Từ Ðâu Suất lên 640.000 do tuần nữa là Trời Hóa Lạc. Từ cõi Trời Hóa Lạc lên 1.280.000 do tuần là cõi Tha Hóa Tự Tại, là tầng Trời cao nhất của Dục giới. Từ cõi Trời này trở lên lại có 4 tầng Thiền thiên của Sắc giới. Mỗi tầng có bề rộng và cách nhau gấp bội. Duy các cõi Thiền thiên của Vô sắc giới là không có phương xứ. [20] 

Nói về tuổi thọ của các chúng sanh các cõi Trời, thì cõi trên gấp đôi cõi dưới kế đó. Và thời gian tương đương là:

Một ngày đêm ở Tứ Thiên Vương bằng 50 năm cõi người.

Một ngày đêm ở  Trời Ðao Lợi bằng 100 năm cõi người.

Một ngày đêm ở  Trời  Dạ Ma bằng 200 năm cõi người.

Một ngày đêm ở Trời Ðâu Suất bằng 400  năm cõi người.

Một ngày đêm ở  Trời Hóa Lạc bằng 800 năm cõi người.

Một ngày đêm ở  Trời Tha Hóa Tự Tại bằng 1.600 năm cõi người.

Như vậy chúng ta dễ hình dung ra một sự trùng hợp lạ lùng với thuyết Tương đối của nhà bác học Einstein. Khi bán kính các cõi Trời càng tăng, thì vận tốc càng tăng. Khi vận tốc càng tăng thì thời gian đi chậm lại theo tỷ lệ tương ứng. [21]

 3) Con ve sầu và con linh quy:

Có một loại sinh vật gọi là con phù du, sớm sanh tối chết. Chắc hẳn nó chưa biết tới cái gọi là 1 tuần. Có một loài gọi là con ve sầu, từ lúc biến thành ve, cất tiếng kêu sầu hạ, đến giữa thu đã bặt tiếng im hơi. Chắc hẳn nó không biết đến cái gọi là1 năm. Ðến như con người mấy ai sống qúa 100 năm, ắt khó mà biết đến cõi trường thọ của loài rùa, loài hạc. Huống chi, trong thời Thượng cổ có một loài cây Xuân, (?) 8000 năm đối với nó chỉ là 1 mùa xuân, 8000 năm đối với nó chỉ là 1 mùa thu mà thôi !... [22]

Con người là “một cây sậy biết suy nghĩ”. Tuy từng trãi ở cõi đời chẳng được bao năm, nhưng nhờ có trí khôn biết kế thừa tri thức, nên phải nói con người là sinh vật độc nhất trên Thế gian lãm thông kim cổ. Nhưng dù thế nào, con người cũng khó bác lãm được một thời khoảng qúa lâu xa. Bởi vì cả Nhân loại cũng bị chi phối bởi “ sức tàn phá của thời gian” ! Trong Kinh Phật có nói đến danh từ Tiểu Kiếp, là thời gian kéo dài 16 triệu 678 ngàn năm. Cái thời gian Phật gọi là “tiểu” mà con người cũng khó mà hình dung ra được. Huống chi nói đến Trung Kiếp là thời gian kéo dài 20 Tiểu Kiếp. Trung Kiếp là thời hạn tối đa mà 1 thế giới có những điều kiện, môi trường thích hợp để cho sinh vật có thể tồn tại, sinh sống trên đó. Một Ðại Kiếp gồm 4 Trung Kiếp là Thành, Trụ, Hoại, Không, duy chỉ có Trung Kiếp Trụ là thích hợp với sinh vật. Qủa là những thời gian nằm ngoài cái tri thức kinh nghiệm của con người. Ngoài ra còn có những danh từ Bàn thạch Kiếp, Giới tử Kiếp, Hằng sa Kiếp, Vi trần Kiếp, Hải Kiếp....[23] là những bội bội...số của Ðại Kiếp kể trên. Nếu không có một trí tuệ vượt ra khỏi sanh tử, vượt ra khỏi thời gian thì làm sao có thể biết đến.

 4) Sự lệch pha của thời gian:

Chúng ta đã quen với không gian ba chiều, nhưng Einstein lại xem thời gian là chiều thứ tư trong hệ không gian, thời gian của thuyết tuơng đối. Khái niệm về hiện tại, qúa khứ, tương lai tùy thuộc vào chuyển động trong không gian.

Chúng ta có thể tưởng tuợng không gian như chiếc cầu bắc ngang sông và thời gian như dòng nước chảy không ngừng. Nếu chúng ta tìm được cách để đi vào chiều thứ tư, như con thuyền trên dòng nước thời gian, thì liệu chúng ta có thể đi ngược vào qúa khứ, tiến trước vào tương lai hay ở mãi hiện tại cho thời gian ngừng trôi không ? Ðó là một giả tưởng Khoa học về cuộc du hành vào lịch sử. Trong thuyết Tương đối, Einstein đã tìm ra những liên hệ về không gian, thời gian và chuyển động.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng vận tốc ánh sáng.

Nếu một người đứng giữa một toa tàu dài chuyển động nhanh và chúng ta ở trên một sân ga. Ðúng lúc người đó đến ngay trước mắt chúng ta, một ánh chớp được phát ra ở giữa toa tàu. Ðối với người trên tàu thì tia sáng đến hai đầu toa cùng một lúc. Trong khoảng thời gian ánh sáng chuyển động đó, đầu trước toa tàu chạy xa chúng ta thêmvà đầu sau toa tàu đến gần chúng ta hơn. Vì vận tốc ánh sáng không thay đổi theo chuyển động, nó hoàn toàn như nhau, nên đối với chúng ta thì ánh sáng đến đầu sau toa tàu trước. Ðối với người trên tàu, khi ánh sáng đến hai đầu toa tàu là một hiện tượng xảy ra hiện tại, còn đối với chúng ta trên sân ga hiện tượng đó ở phía đầu sau toa tàu đã là qúa khứ và ở phiá đầu trước toa tàu hãy còn trong tương lai.

Như thế các khái niệm về thời gian rõ ràng tùy thuộc vào chuyển động.

Einstein xác định rằng: Một vật chuyển động càng nhanh, thời gian trôi qua trên vật đó càng chậm lại.

Khi đứng yên trên Trái đất, một ngày đối với phi thuyền cũng là một ngày đối với Trái đất. Khi chuyển động với vận tốc v, giả sử bằng 99,8 % vận tốc C của ánh sáng thì một ngày trên phi thuyền tương ứng với 1 / 1-V2/ C2 tức gần 16 ngày trên Trái đất. Một nhà du hành vũ trụ thấy mình ở trên phi thuyền ấy hai năm thôi thì ở Trái đất thời gian đã trôi qua 32 năm rồi. Lúc trở về Trái đất người đó tưởng như mình trẻ hơn những người bạn cũ đến 30 tuổi và anh ta thấy y như mình vượt thời gian đến sống với thế giới tương lai 30 năm sau.

Khi chuyển động nhanh như thế thì đối với Trái đất, chiều dài phi thuyền theo phương chuyển động bị co rút lại. Nếu chiều dài phi thuyền lúc đứng yên là 16m, thì khi chuyển động với vận tốc 99,8% vận tốc ánh sáng, chúng ta thấy nó co rút lại còn 1m và nhà du hành vũ trụ cũng bị co rút theo tỷ lệ đó. Tuy nhiên trên phương thẳng góc với chuyển động thì chúng ta đo thấy kích thước vẫn giữ nguyên và nhà du hành vũ trụ bị biến dạng rất kỳ lạ. Khi nằm dọc theo phương chuyển động, anh lùn xuống còn khoảng 10cm mà bề rộng, bề ngang vẫn bình thường. Khi đứng nhìn theo phương chuyển động, người anh ta mỏng dính lại còn khoảng 1cm.

Ðối với nhà du hành vũ trụ thì không gian anh ta vẫn bình thường, chỉ có người, vật và Trái đất mới bị biến dạng theo cách trên.

Khi chuyển động như thế, nhà du hành vũ trụ trở nên “nặng” thêm. Nếu ở Trái đất anh ta nặng 60 kg thì trên phi thuyền đó, khối lượng anh ta tăng thành 960kg. Tuy nhiên anh ta lại thấy chính mình vẫn bình thường mà người và vật trên Trái đất mới tăng khối lượng lên.

Như thế, khối lượng, không gian, thời gian đều là tương đối và vận tốc cũng tương đối.

Einstein khẳng định, vận tốc ánh sáng trong chân không là vận tốc giới hạn, mà vận tốc tương đối giữa các vật thể không thể nào vượt qua được.

Giả sử có một phi thuyền đạt vận tốc ánh sáng, thì từ Trái đất chúng ta thấy thời gian trên đó như ngừng trôi và không gian co rút đến mức không còn hiện hữu nữa. Ðối với nhà du hành vũ trụ, thì chính Trái đất đang chuyển động với vận tốc ánh sáng, thời gian trên Trái đất ngừng trôi và chính Trái đất mới mỏng dính đến mức không còn hiện hữu nữa. Nếu trở về lại Trái đất, căn cứ theo thời gian của mình, nhà du hành vũ trụ sẽ thấy Trái đất y như lúc anh ta mới ra đi. Nhưng căn cứ vào thời gian của chúng ta, khi nhà du hành trở về sau mấy khoảnh khắc anh ta ở phi thuyền đó, thì Trái đất đã trãi qua hàng nghìn năm rồi !... [24]

Theo thuyết Tương đối rộng của Einstein: Trường hấp dẫn của một thiên thể có khối lượng làm cong không gian và thời gian, làm chệch những tia sáng của một ngôi sao chiếu từ đằng sau thiên thể. Nếu thiên thể có mật độ rất lớn (như lỗ đen hay sao lùn nâu...) nó có thể khuyếch đại bức xạ của sao, như một thấu kính hội tụ. [25]

 5) Tự tại với thời gian:

Chúng sanh còn thất tình, lục dục nên còn bị chi phối bởi thời gian. Chư Phật đã thoát ly sanh tử, đạt trí huệ tối thượng, nên chi phối được thời gian.

Ngày xưa Từ Thức lạc vào động Tiên 2 năm khi trở về lại cố hương thì thời gian đã trãi qua hơn 100 năm, cũng như vượt thời gian đến sống ở thế giới tương lai 100 năm sau nhưng đây là sự vượt thời gian một cách bị động. Không còn ai quen biết, cũng là kẻ chẳng cùng thời đại...Tiến thối lưỡng nan...Qúa buồn bả, Từ Thức lại mặc áo cừu đi sâu vào núi...

Tâm lý của chúng sanh là tham sống sợ chết, ưa vui, ghét khổ... nên đối với hoàn cảnh vui thích, khoái lạc thì ham ưa, luyến tiếc: “ Ngày vui ngắn chẳng tầy gang “, còn đối với hoàn cảnh đau thương, khổ cực... thì chán chê, xa tránh: “ Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại “...

Kinh Pháp Cú có dạy:

Như bọt nước trôi sông,

Như lầu sò chợ bể.

 Nếu xem đời như thế,

Thần chết có hề chi ”. 

Nếu chúng ta luôn luôn quán chiếu thấy sự vô thường vô ngã của vạn vật thì việc sanh tử chỉ là sự thường nhiên:

“Trường không túng sử song phi cốc, Cự hải hà phòng nhất điểm âu”.

 Tuệ Trung Thượng Sĩ.

(Hư không dẫu có đôi vành chuyển,  Biển cả ngại gì bọt nước xao). 

Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm thứ nhất có nói: “ Trí Phật chứng nhập 3 đời đều bình đẳng... Thân Phật khắp mười phương mà không có tướng qua lại. Trí Phật vào tất cả tướng mà rõ thấu các pháp đều không tịch. Tất cả thần biến của chư Phật ba đời đều thấy rõ trong quang minh...”

Như ở đoạn trên Ngài Na Tiên Tỳ Kheo đã nói,những vị tu hành đắc đạo đã vượt ra ngoài những sự chi phối của không gian và thời gian. Những ý tưởng này được tìm thấy trong nhiều Kinh điển. Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16, nói về thọ mạng của Ðức Phật:

“Từ ta thành Phật lại

Trãi qua các kiếp số,

Vô lượng trăm nghìn muôn

A tăng kỳ ức năm,

Thường nói pháp giáo hóa

Vô số ức chúng sanh,

Khiến vào nơi Phật đạo

 Ðến nay vô lượng kiếp,

Vì độ chúng sanh vậy

 Phương tiện hiện Niết bàn,

Mà thiệt chẳng diệt độ

 Thường trụ đây nói pháp.

....................................

....................................

“Như lương y chước khéo

 Vì để trị cuồng tử,

Thiệt còn mà nói chết

 Không thể nói hư dối.

Ta là cha trong đời

 Cứu các người đau khổ.

Vì phàm phu điên đảo

 Thiệt còn mà nói diệt.

Vì cớ thường thấy ta

 Mà sanh lòng kiêu tứ,

Buông lung ham ngũ dục

 Sa vào trong đường dữ...”

 

Trong phẩm Hiện Bửu Tháp thứ 11, có nói về tháp báu của đức Phật Ða Bảo thời qúa khứ, hiện lên trước pháp hội đạo tràng nói Kinh Pháp Hoa của Ðức Phật Thích Ca nơi núi Kỳ Xà Quật ở cõi Ta Bà Thế giới.Trong tháp báu vang ra tiếng lớn khen rằng:
“ Hay thay ! Hay thay ! Ðức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ! Có thể dùng huệ lớn bình đẳng vì đại chúng nói Kinh Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm Diệu Pháp Liên Hoa.Ðúng thế ! Ðúng thế ! Ðức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ! Như lời Phật nói đó, đều chơn thật”.

Ðức Phật đó có bổn nguyện rằng, nơi chỗ nào trong mười phương cõi nước nếu có nói Kinh Pháp Hoa thời tháp báu đó đều hiện ra trước, toàn thân Phật ở trong tháp nói lời khen ngợi và chứng minh.

Như vậy trí của Phật khắp chiếu cả mười phương không gian, bao trùm mọi quốc độ, đồng thời cũng chiếu suốt cả thời gian qúa khứ, hiện tại đến vị lai vô tận.

Thêm một ví dụ nữa ở trong Kinh Tam Thiên Phật Danh. Trong Kinh này Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói lên danh hiệu của 3000 Ðức Phật. Trong số đó theo cách nói của chúng ta, thì có 1003 Ðức Phật trong qúa khứ, Ðức Phật Thích Ca đang hiện tại và còn 1996 Ðức Phật sẽ xuất hiện ở tương lai. Ba ngàn Ðức Phật ấy theo cách chia của Ðức Phật:Gồm 1000 vị thuộc Qúa Khứ Trang Nghiêm Kiếp, tức là 1000 vị Phật ra đời trong Trung Kiếp Trụ của Ðại Kiếp vừa qua, vị đầu tiên là Hoa Quang Phật vị cuối cùng là Tỳ Xá Phù Phật. 1000 vị Phật thuộc Hiện Tại Hiền Kiếp,tức là 1000 vị Phật ra đời trong Trung Kiếp Trụ của Ðại Kiếp hiện tại, vị đầu tiên là Câu Lưu Tôn Phật vị cuối cùng là Lâu Chí Phật. 1000 vị thuộc Vi Lai Tinh Tú Kiếp, tức 1000 vị Phật ra đời trong Trung Kiếp Trụ của Ðại Kiếp sắp đến, vị đầu tiên là Nhật Quang Phật vị cuối cùng là Tu Di Tướng Phật. Trong Hiện Tại Hiền Kiếp chỉ mới có 4 vị Phật đã ra đời, đó là Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật và vị thứ tư là Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện cách nay 2540 năm. Vị Phật xuất hiện kế tiếp Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni là Phật Di Lặc sẽ ra đời sau Ðức Thích Ca 1 Tiểu Kiếp. Và vị này chính là Bồ Tát A Dật Ða đã được Phật Thích Ca thọ ký thành Phật. Trong Kinh Di Lặc Hạ Sanh và Trường A Hàm, Ðức Phật đã mô tả Ðức Phật Di Lặc sẽ thành Phật dưới cội Long Hoa, thuyết pháp độ vô số chúng sanh, cõi nước lúc đó rất bằng phẳng tươi đẹp, nhân dân thọ mạng rất dài lâu...

Trong Kinh Sơ Ðại Bổn Duyên - Trường A Hàm I nói: Ðức Phật Thích Ca dùng trí Túc Mệnh để biết và kể lại nhân duyên của 6 Ðức Phật trong qúa khứ là Phật Tỳ Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tỳ Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp.Ðức Phậ đã kể cặn kẻ về quốc độ,thọ mạng, thành đạo, pháp hội, chúng đệ tử, v.v... và các thường pháp của Ðức Phật.

 

V. BIÊN ÐỘ CỦA KHÔNG GIAN:

 1) Tận hư không biến pháp giới:

Khi thời gian đã được xác lập thì đồng thời không gian cũng được xác lập. Thời gian trong tam giới [26] là vô tận, thì không gian của tam giới cũng vô biên, không có ngằn mé.

Trên một chiếc vòng tròn khép kín, chúng ta không tìm thấy chỗ bắt đầu và chỗ kết thúc. Trên chiếc vòng thời gian vô tận, không tìm thấy điểm khởi thủy, không tìm thấy điểm kết chung. Và chỗ nào có thời gian thì chỗ ấy có không gian, không ai có thể rờ thấy đường biên của vũ trụ.

Trong Kinh Phật thường dùng những khái niệm chỉ đến sự tuyệt đối của không gian, thời gian như: “ Nam mô tận hư không biến pháp giới, qúa hiện vị lai thập phương nhất thiết chư Phật”. Nghĩa là: Nhất tâm kính lễ tất cả chư Phật suốt mười phương hư không, khắp hết vũ trụ, trong cả 3 thời qúa khứ, hiện tại, vị lai. Và như vậy cái đối tượng của câu này là tất cả chư Phật được bao hàm đến chỗ tuyệt đối của không gian và thời gian.

 2) Những cảnh giới do nghiệp cảm:

Theo Kinh Phật, chúng sanh tùy theo nghiệp lực mà chiêu cảm ra chánh báo phù hợp với y báo. Nghĩa là được sanh vào thế giới hay cảnh giới nào phù hợp với nghiệp qủa đã tạo. Hơn nữa, ngay trong cùng một cảnh giới, cùng một loài, do biệt nghiệp khác nhau mà có sự nhận thức và cảm thọ về thế giới một cách khác nhau. Nếu khác loài thì sự nhận thức và cảm thọ còn sai biệt gấp bội. Ví dụ những thứ mà ta gọi là cái bàn, cái ghế, cột, kèo, đòn tay, rui mè, v.v... Những con vật khác đâu có nghĩ như vậy...Thậm chí loài mọt lại cho đó là thức ăn của chúng... Trong Kinh Phật còn nói rằng: Cái thứ mà con người gọi là nước, thì ngạ qủi xem là “lửa”, và chư Thiên thấy đó là “ ngọc lưu ly”...

Có những cảnh giới mà chúng ta chỉ nghe nói chứ chưa bao giờ thấy,cũng không biết chúng có thật hay không, ở nơi chốn nào... Như là cõi Ðịa ngục, ai cũng đã từng nghe thấy, ai cũng tưởng tượng ra đó là một nơi hành tội đầy khủng khiếp với vô số phương cách đầy đọa tội nhân. Rồi ta tự hỏi, không biết Ðịa ngục có thật hay không ? Hay chỉ là sự bịa đặt để hù dọa ? Ai đã thấy được cảnh giới này ?...

Trong Kinh Ðịa Tạng có mô tả những cảnh giới và tội báo trong Ðịa ngục. [27]

Trong phẩm thứ nhất có đoạn:

“ Thánh nữ hỏi rằng: _ Nay tôi làm sao để được đến chốn Ðịa ngục đó ?

Vô Ðộc [28] đáp rằng: _ Nếu không phải sức oai thần cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều này ra ắt không bao giờ đến được”...

Như vậy đối với những cõi Trời ở Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới ắt phải cần sức oai thần, hay do phước nghiệp, hay sức tu thiền định mới xâm nhập được.

Những khoảng không gian đó không hẳn phải là những không gian “cụ thể” mà con người nắm bắt hay đo đạc được. Chúng có thể đang tồn tại dưới một dạng thức nào đó của hiện hữu. Ðối với âm thanh và ánh sáng cũng vậy: Tai người chỉ nghe được trong một khoảng tần số sóng rung động từ 16 Hz đến 16 Khz; tai người không nghe được sóng vùng hạ âm (từ 1 Hz đến 16 Hz), vùng siêu âm (từ 16 Khz đến 10 Mhz) và vùng cực siêu âm (tần số trên 10 Mhz). Mắt người cũng chỉ thấy được một khoảng trong dãy phổ ánh sáng có bước sóng từ 0,400 mm đến 0,760 mm, là các màu sắc trong phổ ánh sáng từ màu tím đến màu đỏ. Chúng ta không thấy được các tia Gamma, tia X, tia Tử ngoại, là những tia có bước sóng ngắn hơn sóng ánh sáng thấy được. Chúng ta cũng không thất được các tia sóng Hồng ngoại, sóng Vô tuyến điện, là những tia có bước sóng dài hơn sóng ánh sáng thấy được. Nhưng chúng ta không thể nói rằng những âm ta không nghe, những tia ta không thấy là không tồn tại. Con chó có thể nghe được dãi tần âm thanh rộng hơn tai người. Con rắn có thể “thấy” được tia Hồng ngoại [29]. Rất nhiều loài vật có những giác quan nhạy bén hơn loài người. Chúng ta biết được những âm này,những tia này nhờ vào những phương pháp và khí cụ đo đạc. Ðức Phật biết đến các cõi giới khác do tâm.

 3) Vô tận những cõi giới và hư không:

Trong Kinh Phật thường dùng những khái niệm về không gian rất rộng lớn. Như Phật nói về một đơn vị của vũ trụ là Tam Thiên Ðại Thiên Thế giới. Theo các Kinh sách định nghĩa thì một Tiểu Thế giới có 1 Lục Dục Thiên, 1 nhật nguyệt, 1 núi Tu di và 1 Tứ đại châu.

1000 Tiểu Thế giới hợp thành  1 Tiểu Thiên Thế giới.

1000 Tiểu Thiên Thế giới hợp thành1 Trung Thiên Thế giới.

1000 Trung Thiên Thế giới hợp thành 1 Ðại Thiên Thế giới.

Ðại