VĂN MINH TIỂU PHẨM
Tuệ Sỹ
---o0o---
Đã
có người hỏi tôi câu hỏi này mà tôi không trả lời được: «Nói dân tộc Viêt
nam có bốn nghìn năm văn hiến. Nhưng có thấy cái gì đâu!»
Không
phải vì tôi hoàn toàn không có gì mang ra làm bằng chứng để trả lời. Nhưng
tôi biểt rõ những cái tôi mang ra, người hỏi ấy chẳng đọc được, và do vậy,
cũng chẳng hiểu được. Một thế hệ mất gốc. Đoạn tuyệt vơi quá khứ của cha
ông.
Không
phải chỉ một thế hệ, mà nhiều thế hệ.
Trước
thời còn TổngThống Ngô Đình Diệm, một giáo sư trường Đại học Văn khoa
Saigon khi giảng bài cho sinh viên về văn học Việt nam, ông nói: Việt nam
chỉ thực sự có văn học từ khi có chữ quốc ngữ. Nghĩa là từ khi tiếng nói
dân tộc được ký hiệu bằng mẫu tự Latinh. Văn chương chữ Hán, không phải là
văn học Việt nam. Những sáng tác bằng chữ Hán không được kể vào văn học
Việt nam. Các bản văn nổi tiếng, một thời đã từng làm nức lòng dân Việt,
quyết đem xương máu giữ gìn non sông; những bản văn ấy không được kể vào
văn học Việt nam: bài thơ Nam quốc của Lý Thường Kiệt, hịch Tướng sĩ của
Trần Hưng đạo, Binh Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Chúng không thuộc văn học
Việt nam. Tất nhiên cũng không thuộc văn học Trung quốc.
Phê bình
của vị Giáo sư này có cơ sở lý luận của nó, nên rất dễ dàng được các sinh
viên lúc bấy giờ chấp nhận. Nhưng vì sau đó không có bao nhiêu người phụ
họa quan điểm văn học này nên chúng ta cũng không cần phải phân tích. Điều
thú vị đáng nói ở đây là, sau ngày Tổng Thống Diệm sụp đỗ, ông Giáo sư đến
thăm HT Trí Quang. Lúc bấy giờ tôi đang là thị giả của HT tại chùa Ấn
quang. Tôi ngạc nhiên vì sự viếng thăm này, nên tò mò hỏi HT. Tôi cũng
bạch HT biết rằng đó là vị Giáo sư rất tích cực trong trường Đại học Văn
khoa Saigon, chủ trương bác bỏ sự tồn tại của nền văn học mệnh danh là
Phật giáo Việt nam. HT cho tôi biết, ông Giáo sư đến thăm, và thừa nhận đã
sai lầm khi không công nhận Phật giáo có vị trí trong lịch sử văn học Việt
nam, chỉ bởi lý do các Thiền sư toàn làm thơ bằng chữ Hán. Với tôi, đây
là sự đính chính mang ý nghĩa chính trị, chứ không thuần tuý văn học.
Ông Giáo
sư văn chương Việt nam này có bằng cấp Tiến sĩ văn chương của nước Đại
Pháp; hoàn hoàn toàn không biết chữ Hán. Chữ Nôm do đó cũng không biết.
Quan điểm của ông một phần do hạn chế của ngôn ngữ, một phần nữa do tác
động chính trị bên ngoài. Chính hai yếu tố tác động này đã khiến cho nhiều
tri thức Việt nam bị bứt khỏi gốc rễ truyền thống. Nhiều người trong số họ
không hiểu gì về tâm tình yêu nước Nguyễn Trãi; Nguyễn Bĩnh Khiêm, hay
Nguyễn Du; những ưu tư của kẻ sĩ mà chữ Hán nói «ưu thời mẫn thế.» (Lại
cũng thành ngữ Hán!) Họ cũng không đủ tầm nhìn để đánh giá sự nghiệp của
Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú; cũng không thể hiểu được một phần nhỏ Ngô Thời
Nhậm đã mơ ước những gì cho đất nước, cho dân tộc, khi quyết định đi theo
phò tá Nguyễn Huệ để bị Nho sĩ Bắc Hà bấy giờ chê trách là «lừa Thầy phản
bạn.» Đơn giản, vì họ không có khả năng đi thẳng vào thơ văn của tiền nhân
mà không cần thông qua một trung gian nào. Những hiểu biết thông qua các
bản dịch có những giới hạn của nó. Như một dịch giả Phạn-Hán nổi tiếng ở
Trung hoa nhận xét: «Đọc tác phẩm qua bản dịch, chẳng khác nào ăn cơm do
kẻ khác nhai hộ rồi nhả ra. Chẳng những vô vị, mà đôi khi còn kinh tởm.»
Nếu gạt
bỏ một mảng lớn hay toàn bộ thơ văn các các tiền nhân ra ngoài lịch sử văn
học Việt nam, mà đại bộ phận được sáng tác bằng Hán văn, quả thật dân tọc
Việt nam chỉ mới trưởng thành đây thôi, khi mà văn minh phương Tây được
truyền sang thông qua ký tự La-tinh được gọi là chữ quốc ngữ, theo ý đố
xâm thực bằng văn hoá - tôn giáo - chính trị.
Cái gọi
là chữ quốc ngữ, rất tiện lợi cho việc phổ cập đại chúng những tin tức cần
biêt tức thời. Chỉ trong giới hạn này mà thôi. Văn chương, triết hoc, và
cả đến khoa học, ký tự La-tinh không nhất thiết là hữu hiệu hơn các loại
ký tự khác. Nhất là về phương diện văn chương, nó là những ký hiệu hay
những biểu tượng vô tri, chia cách con người ra khỏi thế giới tự nhiên mà
nó đang sống; tạo thành những hố cách rất khó vượt qua giữa các thế hệ. Có
rất nhiều người thuộc lòng truyện Kiều. Nhưng rất ít người có thể biết
được xúc cảm khác nhau khi đọc truyện Kiều qua ký tự La-tinh và qua bản
chữ Nôm. Hai loại biểu tượng của ngôn ngữ dẫn đến hai trạng thái và hai
trình độ xúc cảm khác nhau. Tất nhiên, nó cũng cho những tâm thức văn học
và ý thức mỹ cảm khác nhau. Đây là kinh nghiệm chủ quan của những người
thưởng thức. Nó không phải là nhận thức khách quan để có thể dễ dàng chia
xẻ với những người không cùng chung bình diện ngôn ngữ.
Về
phương diện truyền đạt kiến thức khoa học, ký tự La-tinh có nhiều ưu điểm
của nó. Điều này thì không ai chối cãi. Các ký hiệu Hy-lạp, La-tinh, đã
được chuẩn hóa trên tầm mức quốc tế; do đó những nước chọn ký tự La-tinh
để chuyển tải ngôn ngữ dân tộc cảm thấy có nhiều lợi thế khi tiếp cận khoa
học. Song, đây không không phải là loại hình ký tự duy nhất để tiếp cận
khoa học. Rất nhiều khái niệm cũng như nhiều định lý toán học được khám
phá không phải do các tư duy và các thuật toán được thực hiện thông qua ký
tự La-tinh. Vả lại, với sự phát triển của vi tính hiện đại, ký tự La-tinh
không phải là duy nhất không thể thay thế để tiếp cận khoa học. Nước Việt
nam chấp nhận ký tự La-tinh như là công cụ chính thức để chuyển tải tưởng
và kiên thức, và cũng thường rất tự hào về loại hình ký tự phổ thông và
hữu hiệu này giúp người Việt nhanh chóng hội nhập nền văn minh khoa học kỹ
thuật phương Tây, song lịch sử gần đây thôi đã chứng tỏ không phải vì vậy
mà Việt nam tiến bộ hơn Nhật bản, Đài loan, Hàn quốc hay Thái lan. Thế
thì, sự tiện lợi hay không tiện lợi của loại hình ký tự không phải là yêu
tố quyết định trong chức năng truyền đạt, và lại càng không phải là yếu tố
quyết định cho tiến bộ văn minh. Ý nghĩa quyết định nằm trong tính thể của
biểu tượng truyền đạt của ngôn ngữ.
Chữ
viết, mà chức năng là ký hiệu truyền đạt, và là biểu tượng của tư duy, tự
bản chất, phản ánh phong thái sinh tồn của một dân tộc trong ý thức cá
biệt của nó, đồng thời cũng phản ánh mối quan hệ và ảnh hưởng hỗ tương
giữa các dân tộc. Không thể nói loại hình nào ưu việt hay tiện lợi hơn
loại hình nào. Người học chữ Hán cho đến một trình độ nào đó sẽ thấy rằng
chữ «uất» gồm 29 nét không phải là khó nhớ hơn chữ «nhất» một nét. Nói
rằng chữ Nôm phức tạp cho nên không tiện lợi để phổ biến cho bằng chữ La
tinh, điều này chỉ đúng cho những người mà não trạng đã quen với tập tính
lười biếng. Có điều, hình như đại bộ phận trí thức của ta, từ mặc cảm tự
ti, bị trị, của một dân tộc nhược tiểu, muốn nhanh chóng rút ngắn con
đường giải phóng và cách mạng, để bắt kịp nền văn minh vật chất hào nhóang
từ phương Tây rọi sang. Từ đó phát sinh ngày càng lộ liễu tập tính lười
biéng, chỉ cần bắt chước những gì được coi là chuẩn mực của văn minh,
không cần đến tư duy sáng tạo, điều mà tiền nhân của chúng ta đã không
ngừng trong suốt chiều dài lịch sử để tự tồn, bên cạnh một thiên triều
luôn nghĩ cách thôn tính và đồng hoá. Do đó, người ta không nhìn thấy tính
sáng tạo của dân tộc trong quá trình hình thành chữ Nôm, trong cách cấu
tạo tự hình trong đó hàm tàng những cái nhìn về nhân sinh và thế giới. Chữ
Nôm bị kết tội là làm chậm bước phát triển của dân tộc, cho nên cần phải
thay thế bằng chữ viết khác.
Liên hệ
mật thiết với quá trình hình thành chữ Nôm, là lịch sử phát triên của Phật
giáo Viêt nam. Phật giáo ở đây cũng bị kết án tương tự như chữ Nôm. Dầu
sao, chữ Nôm cũng chỉ là ký hiệu chuyển tải, truyền đạt, nên sự thay thế
không gây thành công án gì đáng nói. Phật giáo là tín ngưỡng của đại bộ
phận nhân dân, là tầng đáy cho mọi sinh hoạt mang ý nghĩa thiết cốt tồn
vong của cả dân tộc. Cho nên, nếu cần loại bỏ Phật giáo như loại bỏ một
thứ chướng ngại cho sự nghiệp cách mạng và giải phóng dân tộc theo chuẩn
mực chính trị - xã hội – tôn giáo phương Tây, Mác-xít hay phi-Mác-xít,
không thể không gây chấn động xã hội mà ở đây người ta có thể gọi là «liệu
pháp sốc.» Cái «liệu pháp sốc» này đã gây những thương tổn đáng kể cho
Phật giáo Việt nam. Mười năm dưới chế độ Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình
Diệm ở miền Nam, hai mươi năm dưới chế độ chuyên chính vô sản ở miền Bắc,
rồi trên hai mươi lăm năm dưới chế độ toàn trị trên một đất nước thống
nhất, văn hoá Phật giáo Việt nam chỉ đang tồn tại như một bóng mờ thấp
thoáng bên dòng sông không định hướng của lịch sử Việt nam.
Phải thú
nhận rằng, cho đến bây giờ mà nghĩ lại tôi vẫn tự thấy xấu hỗ, một thòi
tuy đã học hết Trung học mà vẫn không biết Ngô Thời Nhiệm là ai trong dòng
lịch sử tư tưởng của dân tộc, ngoại trừ chỉ biết rằng ông là nhà Nho thức
thời, bỏ Lê chạy theo Nguyễn Huệ, để rồi bị Đặng Trần Thường đánh chết
trước Văn miếu. Lý do có thể đơn giản, vì con đường mang tên Ngô Thời
Nhiệm không lịch sự và trang trọng như con đường mang tên Alexandre de
Rhodes. Còn nhiều thứ phải xấu hỗ như thế nữa cho một học sinh thuộc thế
hệ của tôi.
Phật
giáo ở miền Nam, tuy bị khống chế và nhiều khi còn bị khinh miệt dưới
triều Tổng thống Ngô Đình Diệm, dù sao cũng còn may mắn – cũng nên gọi là
may mắn, có được mười năm để tự chấn hưng và phát triển sau khi chế độ Duy
linh nhân vị của Tổng thông Diệm sụp đổ. Mười năm đó chỉ vừa mới đủ để
Phật giáo Việt nam tự xác định tầm vóc và vị trí của mình trong lịch sử
văn hoá – chính trị - xã hội của dân tộc. Nó chưa đủ thời gian để cống
hiến cho dân tộc những bông hoa rực rỡ như trong quá khứ. Trong khi đó,
Phật giáo Việt nam tại miền Bắc chỉ tồn tại trên hình thức như một tổ chức
chính trị. Nói một cách tượng hình, nó chỉ hiện diện như một cái cúc áo
cài trên bộ đại cán mỗi khi các lãnh tụ xuất hiện trước cộng đồng thế giới
mà không bị «hở lưng.» Để xác nhận cho miền Nam biết Phật giáo không còn
tồn tại như một thực tại quần chúng, ngài Chủ tịch Hội Phật giáo Việt nam
xuất hiện trên lễ đài chiến thắng sau ngày 30 tháng tư với chiếc áo sơ-mi
cụt tay của một cán bộ Mặt trận, chứ không xuất hiện như một vị chân tu
khả kính mà Phật tử Việt nam trong cả hai mỉền Nam Bắc từ lâu đã ngưỡng
mộ. Với trí thức miền Nam, người ta biết rằng chiến lược văn hoá xã hội
chủ nghĩa thay thế văn hoá dân tộc được đề xướng bởi Trường Chinh đã thành
công, ít nhất về mặt hình thức.
Năm
1945, khi vừa tiếp thu Hà nội, Trường Chinh, lúc bấy giờ là Bí thư thứ
nhất của đảng Lao đông Việt nam mà chủ tịch là Hồ Chí Minh, dã công bố cho
giới trí thức Hà nội một bản đề cương văn hoá, trong đó ông Bí thư nói rõ:
phong trào chấn hưng Phật giáo Việt nam hiện tại chỉ là sách lược ru ngủ
nhân dân của thực dân Pháp. Bằng tuyên bố này, số phận của Phật giáo Việt
nam đã được đưa ra trước toà sơ thẩm của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Nhưng khi được đưa ra chung thẩm trước toà án nhân dân và lịch sử, tình
tiết trở nên phức tạp.
Phức tạp
trước hết là từ quan điểm của Các Mác về đồng minh giữa giai cấp vô sản và
nông dân. Sau khi phân tích những nguyên nhân khiến công xã Paris thất
bại, Mác cảnh báo về những kẻ thù của giai cấp vô sản. Mác vạch rõ, trong
đấu tranh vũ trang để dành chính quyên từ tay tư sản, nông dân là đồng
minh thiết yếu của giai cấp vô sản. Nhưng khi đã dành được chính quyền,
người vô sản vẫn phải giữ vững tay súng để tiến hành cách mạng. Vì kẻ thù
của vô sản bấy gờ chính là nông dân.
Khi cách mạng vô sản
Nga thành công, vì lực lương vô sản ở đây chưa đủ đẻ tiến hành cách mạng
theo con đường Mác đã vạch, Lê-nin đề ra chính sách liên minh công nông,
với ngọn cờ Búa Liềm như là biểu tượng trong giai đoạn quá độ. Qua các tác
phẩm văn học trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Nga, trong qua trình
tập thể hoá nông nghiệp, các nhà văn Xô-viết đã cho thấy cái não trạng,
tập tính phản động của tuyệt đại đa số nông dân.
Kinh
nghiệm xây dựng chính quyền vô sản từ Liên xô đã cho Việt nam những bài
học thiết thực. Muốn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, trước hết phải
có con người xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở. Điều
này có nghĩa là phải thay đổi não trạng của nông dân Viêt nam, đang là chủ
lực không chỉ trên mặt trận vũ trang để giữ vững chính quyền vô sản non
yếu và tiến hành chiến tranh giải phóng miền Nam; mà nông dân còn là lực
lượng lao động chính để xây dựng hạ tầng cơ sở của chủ nghĩa xã hội.
Cần phải
thay đổi não trạng của nông dân mới mong lấy đó làm chõ dựa cho cách mạng
vô sản. Trong khi đó, đại bộ nông dân Việt nam đều mang tín ngưỡng Phật
giáo. Tuy tín ngưỡng đó không sâu sắc, nhưng nó đã trở thành tập tính dân
tộc không thể gột rữa dễ dàng bằng vài ba lý luận mập mờ của chủ nghĩa duy
vật chống tôn giáo. Do đó Phật giáo là một trở lực đáng kể. Nói cách khác,
muốn thay đổi não trạng của đông đảo nông dân, để nhanh chóng thành công
trong bước đi lên của giai đoạn quá độ xã hội chủ nghĩa, trước hết phải
triệt tiêu Phật giáo. Lịch sử cần phải viết lại dưới ánh sáng duy vật sử
quan. Lập trường phê phán của các sử gia bấy giờ là vẽ lên bức tranh ảm
đạm của quá khứ trong đó bọn tăng lữ cấu kết vơi bọn quý tộc để bóc lột
nhân dân.
Sau
những năm tám mươi, sau khi hằng loạt biện pháp khống chế và triệt tiêu,
với một cơ sở có tính chất gần như pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ
«Nhất tăng nhất tự» để cưỡng bức tăng ni trẻ hoàn tục, đã vấp phải phản
ứng quyết liệt mà có khi lên đến cao điểm bằng những vụ tự thiêu, tự tử,
và những bản án tử hình, đảng CS đã xét lại chinh sách tôn giáo. Tổng Bí
thư bấy giờ là Nguyễn Văn Linh tuyên bố: «Phật giáo là chỗ dựa cho người
cộng sản Việt nam làm cách mạng.» Đây không phải là sách lược mới mẻ. Nó
chỉ áp dụng thủ đoạn mà Lê-nin đã vạch ra cho chính sách tôn giáo của Liên
xô. Lê-nin nói: «Đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp quần chúng.»
Sự xuất
hiện sau năm 1982 của một tổ chức được mệnh danh là Giáo hội, mà thực chất
là một tổ chức chính trị nằm trong Mặt trận Tổ quốc Việt nam do cán bộ CS
lãnh đạo, cho thấy trước sau như một đảng CS Việt nam đã vận dụng các biện
pháp kinh điển xã hội chủ nghĩa được thi hành tại Liên-xô cũng như tại
Trung quốc và trong tất cả các nước xã hội chủ nghĩa khác. Không có cái gì
xứng đáng để nói là các chính sách kinh điển ấy được áp dụng một cách sáng
tạo tuỳ theo bối cảnh lịch sử của xã hội Việt nam.
Sự sao
chép một cách mù quáng các sách lược xã hội chủ nghĩa kinh điển không chỉ
gây chấn thương trầm trọng cho Phật giáo Việt nam, mà trên đại thể nó còn
gây rất nhiều tổn hại khó khôi phục cho kho tàng truyền thống văn học và
tư tưởng Việt nam.
Cho
đến hiện tại, gần ba mươi năm hoà bình, Phật giáo Việt nam không có những
sinh hoạt văn hoá giáo dục nào đáng kể. Những gì mà Phật giáo Việt nam
tại miền Nam đã làm được trong suốt thời kỳ chiến tranh và chia cẳt, nay
chỉ còn là những hoài niệm trong trí nhớ với nhiều tiếc nuối của thế hệ
lớn tuổi. Tầng lớp trẻ hầu như không biết gì nhiều về quá khứ đó. Chỉ mới
trong khoảng chưa đầy ba mươi năm thôi, mà một quá khứ đáng tự hào của
Phật giáo Việt nam trong lòng dân tộc đang bị quên lãng, và đang có nguy
cơ biến mất. Với ý nghĩa biến mất, chúng ta muốn nói đến sự biến chất. Bởi
vì, dưới phương châm «đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội,» Phật giáo
Việt nam sẽ không tồn tại và trưởng thành như đã từng trong quá khứ. Ý
thức hệ của chủ nghĩa xã hội là vô thần. Phật giáo Việt nam muốn tồn tại
phải biến chất để thích ứng; phải tiến lên thành một tôn giáo vô thần theo
định nghĩa của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Một thứ Phật giáo theo định
hướng xã hội chủ nghĩa còn quái dị hơn một nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhiều phê bình gia kinh tế nhận xét.
Đây
không phải là điều nói suông trên lý thuyết. Nhiều cuộc hội thảo với các
chuyên đề Thiền Trúc lâm với tư tương Hồ Chí Minh, hay Thiền Trúc lâm với
chính sách đổi mới của đảng CSVN, được tổ chức bới các Viện nghiên cứu
lịch sử, văn học, tư tưởng do các đảng viên công tác văn hoá chủ trì.
Trong các hội nghị đó, mặc dù chuyên đề Phật giáo, nhưng không có tăng sĩ
Phật giáo tham dự, hoặc chỉ tham dự như khách mời. Điều này có thể có hai
lý do. Một, học thức của tăng sỹ Phật giáo Việt nam hiện tại quá kém,
không đủ trình độ tham dự. Hoặc, đây là hội nghị của cán bộ đảng làm công
tác văn hoá, không liên quan gì đến Phật giáo. Ý đồ của đảng là sau khi
cải tạo thành công Phật giáo Việt nam; nó sẽ là một nhân tố trong các nhân
tố mang tính dân tộc hình thành tư tương Hồ Chí Minh. Chừng đó, Việt nam
sẽ là mô hình xã hội chủ nghĩa thích hợp cho các nước nhược tiểu và chậm
tiến. Không phải không có cơ sở khi người Anh Cả Trung cộng chỉ trích Việt
nam xã hội chủ nghĩa có tham vọng tiểu bá. Mặc dù tham vọng đó thực chất
chỉ nằm trong lý thuyết; là chuyên đề cho các cán bộ văn hoá nghiên cứu để
có việc làm.
Một
thời, khi hai tập sách «Thơ văn Lý Trần» có tầm cỡ được công bố như là
công trình nghiên cứu có thành tích đáng tuyên dương, chủ nghĩa xã hội và
Phật giáo Việt nam hình như đang có cơ sở để nhích lại gần nhau và hợp
nhất trong lòng dân tộc, và dưới đài quang vinh của tư tương Hồ Chí Minh.
Mặc dù cả hai ý thức hệ được xem là đang tiếp cận nhau, nhưng trong đối
thoại giả thi thiết này, người nói và người nghe đều là mác-xít cả.
Sự
gán ghép đạo pháp vào chủ nghĩa xã hội chẳng khác nào buộc con chó nhà và
chó sói vào một sợi dây, để khi có sự biến, một con tìm cách chui xuống
gầm giường, một con cố gắng phóng mình trở lại rừng. Hai con thú dằng co
nhau bởi một sợi dây oan nghiệt.
Chỉ
trong vòng chưa đầy nữa thế kỷ mà những thành tựu quá khứ của một nền văn
hoá dân tộc hầu như không được thế hệ thừa kế biết đến và trân trọng, thế
thì chúng ta tìm dấu vết của hai nghìn năm lịch sử về trước bằng cách nào?
Cho nên, khi nghe một tăng sỹ trẻ, hình như đã tốt nghiệp Đại học, hỏi
tôi một cách chân tình: «Thưa Thầy, Phật giáo Việt nam là gì?» tôi cảm
giác đã có sự cách biệt giữa hai thế hệ, phân ly bằng một bức tường ý thức
hệ.
Phải chăng, quả thật rằng, qua suốt trên dưới hai nghìn năm hiện diện,
Phật giáo Việt nam không có thành tựu gì đáng được nhắc đến?
Có
đấy, vả lại, có rất nhiều nữa chứ không phải chỉ dăm ba trang sảch nhặt
lượm đâu đó.
Ở
đây, một câu hỏi khác cũng cần được nêu lên: «Tại sao, một đất nước như
Campuchea, so với Việt nam thì quả là nhỏ bé, lại có thể sở hữu một công
trình vĩ đại như Angkor Wat; trong khi đó Việt nam xem ra không có gì
tương tự để so sánh và thẩm định? Chùa Một Cột được làm biểu tương cho
tinh thần Phật giáo Việt nam, lại được nhiều người cho rằng nó chỉ lớn hơn
chuồng chim bồ câu một chút.
Chúng ta đang nói đến sự cần thiết của một phương pháp luận chuyên biệt
của sử học để thẩm định giá trị của những gì tiền nhân đã tựu thành; những
thẩm định không mô phỏng một cách hời hợi theo bậc thang giá trị biểu kiến
của nền văn minh vật chất, và khoa học kỹ thuật, của phương Tây hiện đại.
Phương pháp luận được nhiều nhà viết sử Phật giáo Việt nam ở đây sử dụng
đại để mang tính chủ quan. Sử gia không có nhiều dữ kiện lịch sử trong
tay, nên phải dựa trên trí thông minh của mình để suy luận. Dữ kiện đã ít,
lại mối quan hệ giữa chúng cũng rất khó xác lập. Chẳng hạn, khi một sử gia
muốn vẽ lại sinh hoát Thiền môn thời Trần; ông hầu như hoàn toàn không có
dữ kiện, hoặc có mà rất ít, và cũng không tìm ra đầu mối quan hệ để nối
kết chúng lại với nhau. Cho nên, ông căn cứ vào sự quan sát sinh hoạt
thường nhật của một ngôi chùa cổ nào đó ở Huế, rồi thay đổi niên đại và
hoàn cảnh, tự nhiên ta có toàn cảnh sinh hoạt Thiền môn cách đây gần một
nghìn năm. Trong trường hợp này, sử gia không chỉ cần bác lãm thư tịch, mà
còn phải có thêm óc tưởng tượng của một nhà văn, một người viết tiểu
thuyết.
Thế
nhưng, cũng có trường hợp sử gia khi phát hiện cấu trúc bất thường của một
vài từ ngữ từ một bản Hán dịch, đã có thể viết lại chi tiết đáng khâm phục
về một giai đoạn lịch sử Phật giáo Việt nam, tưởng chừng như vĩnh viễn là
khu vực bỏ trống. Đó là giai đoạn trước và sau kỷ nguyên Cơ đốc. Không chỉ
là một giai đoạn của Phật giáo Việt nam, mà từ đó còn có thể phác thảo ra
những quan hệ, những trao đổi văn hoá, tư tưởng, tôn giáo, cũng như các
hoạt đông chính trị và kinh tế giữa các dân tộc trong một khu vực rộng lớn
hơn.
Phương pháp sử học như vậy chỉ có thể thành công, trong một mức độ nào đó,
bởi những sử gia có trí năng sắc bén, kho kiến thức thông bác, và cũng cần
một tính năng nhạy cảm để dễ dàng xúc cảm với những thăng trầm của đất
nước và dân tộc. Phương pháp sử học như vậy hoàn toàn mang tính chủ quan,
mặc dù chưa có một sử gia Đông Tây kim cổ nào đáng được đánh giá là hoàn
toàn khách quan.
Thực sự, qua danh sach các sáng tác của Phật giáo việt nam mà Lê Mạnh Thát
đã sưu tập được trong khoảng mấy chục năm qua chúng ta thấy số lượng không
phải ít. Từ những cái đang có, suy diễn về những cái đã mất, văn hiến Phật
giáo Việt nam không phải nghèo nàn như nhiều trí thức vong bản nhận xét.
Cũng bằng một phương pháp luận như vừa nêu, người ta tất phải thấy rõ ý đồ
của Cao Biền, trong chính sách lâu dài tiêu diệt và đồng hoá được liên
tiếp thi hành qua nhiều triều đại của Nhà nước Trung hoa phong kiến. Rồi
đối chiếu những gì Cao Biền đã làm như được ghi chép trong chính sử Việt
nam và Trung quốc, với phản ứng của các Thiền sư cố khôi phục lại những
mất mát cho dân tộc và đất nước mà Cao Biền đã thực hiện, như được ghi
chép trong Thiền uyển tập anh; qua đối chiếu này, chúng ta có thể thấy mức
độ tàn phá các di sản tinh thần cũng như vật chất trong những cuộc chiến
tranh xâm lược từ phương Bắc.
Còn
một câu hỏi khác mà chúng ta chưa thể trả lời: trong lịch sử quá khứ,
trình độ phát triển của Cao-miên, và của Nam dương, không cao hơn Việt
nam, nhưng Angkor Wat và Baraboudur là những công trình quy mô, mà khi đối
chiếu khiến cho Việt nam trở thành nhược tiểu so với Trung quốc, và tụt
hậu so với các nước láng giềng. Thực tế, phải trên một cơ sở nhân bản mới
có thể thẩm định giá trị trình độ phát triển của Việt nam hay các trường
hợp tương tự. Không thể hoàn toàn chỉ dựa vào các tiêu chuẩn thành tựu vật
chất.
Chúng ta nói giá trị nhân bản, là muốn nói đến mối quan hệ xã hội của con
người. Trong đó, nhân phẩm của người khác được tôn trọng, và hạnh phúc hay
an nguy của người khác được bảo đảm. Tất cả mối quan hệ này được nâng lên
hàng văn hiến, nghĩa là được tất cả thành viên của cộng đồng thừa nhận như
là khế ước xã hội mà mỗi thành viên có nghĩa vụ phải chấp hành. Đó là sự
phát triên của khung hình lý tính phổ quát, luôn luôn yêu cầu sự tương
thích với tình cảm cá biệt đặc thù.
Thành ngữ Việt nam có câu, «phép vua thua lệ làng,» nó không có nghĩa mỗi
làng xã là một lãnh địa tự quản của dân xã. Ý nghĩa của nó là nêu lên sự
điều hoà mâu thuẫn giữa lý tính phổ quát và tình cảm đặc thù, không vì
quyền lợi của cộng đồng mà nhân phẩm của cá nhân bị tước đoạt; cũng không
vì quyền lợi của cá nhân mà sự an nguy của cộng đồng bị đe dọa. Do đó,
không phải ỷ mình là vua, là chủ nhân của đất nước, mà quân chủ có quyền
sống xa hoa vượt trên khả năng mà thần dân có thể cống hiến.
Người Trung hoa có thể tự hào bởi Vạn lý Trường thành đồ sộ, bởi những
cung điện lộng lẫy của các triều đại xa hoa. Nhưng sử gia cũng biết rõ bao
nhiêu xương máu của nhân dân đã đổ vào đó. Sự tồn tại của chúng là chứng
tích cho sự tàn ác của con người. Vẻ huy hoàng của thành tựu vật chất,
trong ý nghĩa đó, có tỷ lệ nghịch với các giá trị nhân bản.
Tuy
nhiên, cho đến lịch sử hiện đại, các giá trị nhân bản chưa được nâng lên
hàng phổ quát tính. Mỗi nền văn minh, mang bản chất thế tục hay tôn giáo,
đều có nhận thức riêng về phẩm tính của con người. Chính từ những nhận
thức cá biệt này khiến cho, khi thế giới được mở rộng, biên giới vật lý
giữa các quốc gia càng lúc càng mờ nhạt, các dân tộc và chủng tộc khác
nhau có nhiều cơ hội để giao tiếp hơn, thì những xung đột đẩm máu càng lúc
càng khốc liệt, vẽ nên những thảm cảnh cực kỳ tàn bạo.
Chỉ
khi nào lịch sử nhân loại được viết lại, trên cơ sở nhận thức về những giá
trị nhân bản phổ quát, chừng ấy chúng ta mới hy vọng có trả lời xác đáng
cho câu hỏi: rốt lại, cái gọi là «bốn nghìn năm văn hiến của Việt nam, là
những gì?»
Đồng thời, câu trả lời đó cũng xác định luôn cả vị trí của đạo Phật trong
lịch sử văn hiến của Việt nam.
---o0o---
Trình bày: Linh Thoại
Cập
nhật : 1-2-2003