Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo và Thời Đại


...... ... .

 

Văn Minh Phương Ðông Và Phương Tây

ÐỐI THOẠI GIỮA

TRIẾT HỌC & PHẬT GIÁO

Jean Francois Revel – Matthieu Ricard

BS Hồ Hữu Hưng  biên dịch
 

NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

--2002--

---oOo---

Chương XI  

 

ÐẠO PHẬT: ÐỨC TIN, NGHI THỨC
 MÊ TÍN DỊ ÐOAN

 

Jean Francois : Sự sùng đạo mà có kẻ chi là mà các hình thức như nước thánh, chuỗi hạt,  cành lá, sự tin tưởng vào mọi thứ vớ vẩn, sự linh ứng của các thánh lễ hay các lời cầu nguyện, sự đốt nến, những biểu hiện này có mặt trong rất nhiều tôn giáo trái ngược hẳn với khía cạnh trong sáng mà người ta dành cho Phật giáo.  Ðó cũng hẳn là một trong nhiều lý do mà thành phần trí thức bị quyến rủ bởi sự minh triết Phật giáo trong khi họ lại quá chán bnanr với những tôn giáo khác vì những biểu hiện quá phường tuồng, quá hình thức và không hợp lý. Nhưng theo Ba đó là một hình tượng có lẻ lý tưởng về Phật giáo khi được nhìn từ xa, khi người ta hiểu giáo lý mà không được chứng kiến sự hành trình thường nhật. Nhưng khi ta du hành qua các nước Phật giáo, hay đi thăm các tu viện ta sẽ rất đổi ngạc nhiên với các hình thức cúng dường, nào là diễu hành, xướng ca, lễ lạy mà đối với một kẻ vô thần như Ba, thf không khác chi các laoij mê tín dị đoan, hay các nghi thức thờ cúng của Chính thống giáo, Công giáo, Hồi giáo hay Do thái giáo. Ba còn có thể nói một vài nghi thức khi diễn  ra trước mắt ta ngay trong thế kỷ 20 này có vẻ gần với Công giáo thời Trung cổ hơn là với Công giáo bây giờ. Có phải chăng đó là mặt bất hợp lý, là bề ngoài những hình thức cúng tế Phật giáo đã gán vào sự minh triết của đức Phật theo dòng thời gian hơn hai thiên nên kỷ?

Matthieu : Trước tiên trong Phật giáo cũng như trong hầu hết các tôn giáo hay truyền thống tâm linh khác, cần phải phân biệt giữa mê tín và nghi thức. Ðức tin trở thành mê tín, khi nó trái với lý trí, và tách rời khỏi ý nghĩa thâm sâu của nghi thức. Nghi thức thuần tuý đòi hỏi sự trầm tư, sự quán tưởng, cầu nguyện và thiền định. Ý nghĩa của những lời trong các bài hát là kêu gọi sự quán tưởng, Ðiều này rất đúng với Phật giáo Tây Tạng. Khi người  ta xem xét nội dung của các nghi thức trên những bài tụng được đọc lên, người ta nhân ra như một bản hướng dẫn về các yếu tố thiền định Phật giáo như là tánh không, tình yêu và lòng bác ái. Một nghi thức là một hành trì tâm linh được tổ chức trong khung cảnh tôn nghiêm của một tôi viện, giữa một bầu không  khí thanh tịnh được tôn tạo bởi một thứ âm nhạc thiêng liêng không phải để kích thích tình  cảm mà để làm diệu tâm hồn và khiến khích sự trầm tư mặt tưởng. Loại âm này được xem như sự cúng dường chứ không phải là một biểu hiện nghệ thuật. Vài loại nghi thức được kéo dài liên tục ngày và đêm trong suốt một tuần lễ. Mục đích cuộc lễ là đưa những tín đồ cùng nhau tinh tấn tu tập. Trong việc tán tưởng một mạn đà la, người ta nhấn mạnh đến một vài kỷ thuật thiền định dựa trên những hình vẽ phong phú.

Jean Francois : Về Mạn đà la (Mantra)Ba chỉ hiểu mơ hồ. Con có thể giải thích chính xác hơn không?

Matthieu : mạn đà la là một biểu trưng về vũ trụ và chúng sinh, dưới hình thức một  nơi chốn hoàn mỹ nơi ấy các thần linh chiếm ngụ. Những vị thần linh này không phải là những vị trời mà như con thường nói, Phật giáo không phải nhất thần giáo hay đa phần giáo. Ðó chính là những phạm trù, những khía cạnh của Phật tính. Sự quán tưởng về Mạn đà la là để đi đến nhận thức về Phật tính vốn sẵn có ở mọi chúng sinh. Những kỷ thuật thiền định đó giúp ta cho ta thấy đổi nhận thức thông thuờng của ta về thế gian vốn dĩ là một sự pha trộn giưax tịnh và bất tịnh, thiện và ác, trở thành một nhận thức hoàn hảo về thế giới hiện tượng. Khi ta quán tưởng về chính bản thân ta cũng như các chúng sinh quanh ta như những khuôn mẫu cảu các vị thần linh trong các đền thánh Tây Tạng, ta sẽ quen dần với ý tưởng Phật tính ở khắp mọi nơi. Và ta sẽ không còn phân biệt những hình thức bên ngoài như đẹp và xấu thù hay bạn. Nói tòm lại, những phép quan về mạn đà la ấy là những phương tiện khôn khéo để giúp chúng ta tìm lại Phật tính ở tất cả mọi chúng sinh. Sau cùng phải hiểu rằng dưới mắt của các bậc thầy Tây Tạng, những nghi thức chỉ có mọt giá trị tương đối, và những vị ẩn sỉ đã dấn thân vào thiền định thì hoàn toàn buông bỏ mọi nghi thức. Vài vị như đạo sư Milarepa còn đi đến chổ công khai lăng mạ những lễ lạt và nghi thức. Vậy là các dạng nghi thức tâm linh cũng tùy theo các dạng tín đồ khác nhau và cũng tùy mức độ hành trì nữa.

Jean Francois : Phải, nhưng ngày nọ ở Katmandou, chúng ta đã có dịp chứng kiến đám đông Phật tử đi diễu quanh một ngôi đền lớn mà người ta gọi là...

Matthieu : Ngôi tháp chùa (stoupa)

Jean Francois : Vậu là những Phật tử ấy diễu hành hàng giờ chung quanh ngọn tháp, theo chiều kim đồng hồ, vì như Ba đã biết qua một cuộc du hành ở Bhoitan là khi người ta muốn đi quanh một ngọn tháp, người ta phải đi theo chiều kim đồng hồ vì một lý do bí mật nào đó mà không ai nói cho Ba biết. Phải chăng đó chỉ là mê tín dị đoan?

Matthieu : Ðây là một điểm quan trong. Ða số các hành động mà ta cho là thuộc về đời thường, có phải chăng chúng chỉ thuần tuý có lợi ích mà không có một ý nghĩa thâm sâu nào khác? Ði cũng chỉ là di chuyển nhanh đến một điểm nào đó, ăn chỉ là làm cho đầy bụng, làm việc chỉ là để sản xuất cho thật nhiều. Trong khi đó nếu đời sống tâm linh ngự trị toàn bộ cuộc sống, những hành động bình thường đều có một ý nghĩa. Nói một cách lý tưởng thì không có gì là tầm thường. Khi đi, ta có thể nghĩ là ta đi đến sự tỉnh thức, khi đốt lửa ta có thể tâm niệm “Mong sao cho những tình cảm tiêu cực của mọi cũng đều bị cháy rụi”, khi ăn ta có thể nghĩ: “Cầu mong cho mỗi người đều nếm mùi vị của thiền định”, khi mở cửa: “Xin cho cánh cửa: “Xin cho cánh cửa giải thoát mở ra cho mọi người” v.vv... Trong trường hợp ngọn tháp chua, người Tây Tạng nghĩ rằng sẽ ích lợi khi diễu quanh tháp một giờ, hay là chạy bộ chậm thể dục. Một ngôi tháp tượng trưng cho tinh thần Ðức Phật (những nét chữ viết tượng trưng cho lời nói của ngài, và những hình tượng là thân của ngài). Bên phải được xem như là chỗ danh dự để tỏ lòng tôn kính Ðức phật va giáo thuyết của ngài, cho nên Phật tử đi vòng quanh tháp theo chiều kim đồng hồ. Làm như vậy tinht hần họ sẽ hướng về đức Phật và về lời dạy của ngài.

Jean Francois : Tại sao lại có những hình vẽ những nhân vật dường như là siêu nhân? Ba tưởng phật giáo không có thần linh.

Matthieu : Một lần nữa, đây không phải là thần linh vốn tự sẵn có một cuộc sống riêng. Ðó chỉ là biểu trưng. Khuôn mawtj của vị thần tượng trưng cho nhất thể. Hai cánh tay là tánh không nhập vào lòng  bác ái. Một vài vị thần có đến sáu tay tượng trưng cho sáu sự hoàn mỹ: kỹ luật, độ lượng, kiên nhẫn, siêng năng, tập trung và minh triết. Thay vì ngắm nhìn những bức tranh tầm thường, có lẽ ích lợi hơn là đưa vào trong tâm những hình ảnh biểu tượng cho các yếu tố của đời sống tâm linh. Những khuôn mặt biểu trưng đó giúp cho trí tưởng tượng của chúng ta tiến bộ về âm linh, thay vì bị lôi cuốn vào những ý tưởng vẩn vơ. Một trong những trở ngại của việc thiền định là sự bấn loạn của tư tưởng. Những kỷ thuật về quán tưởng là những phương tiện khéo léo để giúp những ai luôn luôn giao động, có thể tập trung vào một hình tượng để quán tưởng ngõ hầu tìm lại được sự yên tĩnh tâm hồn. Một sự quán tưởng đúng đắn đòi hỏi ba đức tính: giữ cho hình tượng trong tâm luôn luôn trong sáng, nghĩa là luôn tập trung chú ý vào hình tượng, ý thức được ý nghĩa của hình tượng mà ta đang quán tưởng và sau rốt luôn luôn ý thức được Phật tính trong chính bản thân mình.

Jean Francois : Nhưng BA luôn luôn nhìn thấy trong các đền chùa Phật tử quỳ lạy trước tượng phật. Ðó là thái đọ thường có trước một vị thần, một vị trời, một thần tượng chớ không phải trước một  hiền nhân!

Matthieu : Sự quỳ lạy trước Ðức Phật là để tỏ lòng tôn kính, không phải đoói với một vị trời, mà đối với một người tiêu biểu cho sự minh triết tối hậu. Sự minh triết cũng như những lời dạy của ngài có một ý nghĩa sâu đậm đối với kẻ quỳ lạy ngài. Biểu hiện lòng tôn kính với ngài cũng là một cử chỉ khiêm tốn đối trị với tính kiêu ngạo luôn là trở ngại cho mọi chuyển biến tâm hồn. Tính tự cao ngăn cản mọi hình thức minh triết cũng như lòng từ bi. Một tục ngữ có nói: “Nước không thể tích tụ trên đỉnh núi và giá trị thật sự của một con người cũng không thể tích tụ trên đỉnh của sự tự cao được”. Hơn nữa, sự quỳ lạy cũng không phải là một cử chỉ máy móc. Khi ta dặt hai bàn tay, hai đầu gối và trán trên mặt đất- 5điểm- ta tâm niệm thanh lọc năm độc chất là lòng căm ghét, ham muốn, vô minh, tự cao và ghen tị và biến chúng thành năm sự khôn ngoan. Khi đôi bàn tay trượt lên mặt đất lúc ta đứng dậy, ta nghĩ: “Xin cho ta gánh chịu mọi đau khổ của chúng sinh để loại trừ chúng”. Như thế mọi hành động thường nhật thay vì tầm thường nhạt nhẽo sẽ trở nên một sự hành trình trên phương diện tâm linh.

Jean Francois : Tuy nhiên, trong đời sống của một tu viện Công giáo, thực tại duy nhất là Thượng đế. Thế giới mà ta đang sống, “thế kỷ” nhưn  những người Công giáo thế kỷ thứ 17 gọi nó chỉ là một sự làm lệch sự chú tâm đối với điều căn bản nhất: Thượng đế. Như thế, đời sống tu hành nói chung là đời sống của kẻ đã lìa bỏ thế gian để đến ở Port Royal như Pascal hoặc đén một tu viện như những người Chartreux, là dẹp bỏ những hình thức vui chơi giải trí tức là những thứ làm mất cảnh giác với tính phù du của lợi lộc, những thành công giả tạo, những sự thoả mãn kịp thời về tiền bạc hay danh vọng v.v... Người ta cố gắng gạt ra những dây phút phù phiếm đó, để tập trung vào điều quan trọng duy nhất là sự tiếp cạn với Thượng đế. Những tu sĩ ở Grande Chartreuse rời thế gian để hoàn toàn chú tâm vào thượng đế không ngừng nghỉ và cũng không xao lãng. Vậy thì theo Phật giáo, không chấp nhận Thượng đế thì đời sống tu hành lìa bỏ thế gian để làm gì? Và nếu Phật giáo không phải là một tôn giáo, tại sao nó lại giống tôn giáo đến như vậy?

Matthieu : Con tưởng chúng ta đã nói qua về vấn đề này. Dù cho gọi nó là tông giáo hay siêu hình học cũng không có gì quan trọng. Ðiều duy nhất mà Phật giáo hướng tới là sự giác ngộ mà Ðức Phật đã thành tựu được. Ðiều này đòi hỏi một sự chuyển hóa tâm linh sâu rộng thế thì ta có thể hiểu được những người có quyết tâm đi trên con đường này sẽ dành hết thời gian cho việc tu tập. Ta cũng có thể hiểu được những điều kiện bên ngoài có thể khuyến khích hay cản trở việc tu hành. Riêng chỉ có kẻ đã giác ngộ thì hoàn toàn không bị ngoại cảnh chi phối, vì lẽ thế giới hiện tượng dưới mắt anh ta là một quyển sách mà mỗi trang đều khẳng định chân lý mà anh ta đã khám mphas ra. Một kẻ đã giác ngộ không hề giao động trước sự ồn ào của một thành phố lớn, cũng như ở trong am cốc nơi sơn dã. Nhưng đối với kẻ sơ cơ, phải có điều kiện thuận tiện để phát huy sự tập trugn và chuyển hoá tư tưởng. Trong sự nhộn nhịp của đời sống thường nhật, sự chuyển hóa đó đòi hỏi rất nhiều thời gian và dễ bị gián đoạn trước khi đạt đến sự thành tựu. Vì vậy những Phật tử Tây Tạng phải trải qua nhiều năm trong các am cố xa xôi. Mục đích của họ là hướng về tâm linh và mục tiêu cau cùng là sự giác ngộ để sau đó có thể giúp đỡ tha nhân.

Jean Francois : Con định nghĩa giác ngộ như thế nào?

Matthieu : Hiển nhiên là từ đức tin có ý nghĩa rất hàm súc ở Tây phương. người ta có thể phân biệt bốn khía cạnh của đức tin. Ðầu tiên là đức tin trong sáng hay cảm ứng là loại đức tin được khơi dậy khi người ta nghe một lời dạy hay một chuyện kể về cuộc đời Ðức Phật hay của một vị thánh. Kế đó là một sự ngưỡng vọng, một ý muốn được biết nhiều hơn vf hành trì theo giáo lý noi theo gương của một vị thánh và cố gắng đạt tới sự hoàn mỹ mà ông ấy biểu hiện. Thứ ba là một sự tự khẳng đinh khi chính bản thân kinh nghiệm thành quả của con đường tâm linh đã đem đến cho mình một sự al lạc càng ngày càng tăng trưởng giống như ta đi đến một xứ sở nhiều cảnh đẹp.

Sau cùng khi sự xác tín ấy không bao giờ mâu thuẩn dù trong bất cứ hoàn cảnh nào người ta sẽ vững vàng trong việc hành trì dù trong tình huống thuận lợi hay bất lợi để ngày càng tiến bộ. Sự xác tín ấy trở thành một bản thể thứ hai. Ðó là lòng tin bất thối chuyển.

Tóm lại đó là bốn giai đoạn trong đức tin Phật giáo. Ðức tin đó không thể bổng nhiên mà có được, mà là một sự khám phá tiệm tiến, một nhận thức về thành quả của một sự hành trì miên mật.

 

---o0o---

Chương 10 | Mục Lục | Chương 12

---o0o---

Vi tính: Nguyên Trang

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-2 -2003


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang Phật Giáo và Thời Đại

Đầu trang

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com