Văn
Minh
Phương
Ðông
Và
Phương
Tây
ÐỐI THOẠI GIỮA
TRIẾT
HỌC
&
PHẬT
GIÁO
Jean
Francois
Revel
–
Matthieu
Ricard
BS
Hồ
Hữu
Hưng
biên
dịch
NHÀ
XUẤT
BẢN
THÀNH
PHỐ
HỒ
CHÍ
MINH
--2002--
---oOo---
Chương
I
TỪ
VIỆC
NGHIÊN
CỨU
KHOA
HỌC
ÐẾN
VIỆC
NGHIÊN
CỨU
TÂM
LINH
Jean
Francois:
Trứơc
hết
Ba
và
con
phải
nhấn
mạnh
rằng
cả
hai
chúng
ta
đều
không
có
ý
định
làm
quyển
sách
này.
Chính
các
nhà
xuất
bản
đã
gợi
ý,
đã
nghĩ
đến
vấn
đề
vì
họ
biết
liên
hệ
cha
con
của
hai
chúng
ta
và
họ
nghĩ
sẽ
thú
vị
nếu
đem
đối
chiếu
quan
điểm
của
chúng
ta.
Vậy
Ba
bắt
đầu
từ
việc
con
đã
xuất
sắc
hoàn
tất
đại
học
về
sinh
vật
học.
Con
đã
làmôt
học
trò
của
thầy
Francois
Jacob,
và
là
một
ngiên
cứu
sinh
ở
viện
Pasteur.
Tại
đại
học
khoa
học
Paris,
trước
một
hội
đồng
giám
khảo
gồm
Francois
Jacob
và
nhiều
khoa
học
gia
tầm
cỡ,
con
đã
thành
công
trong
việc
bảo
vệ
luận
án
tiến
sĩ
quốc
gia.
Ðiều
quan
trọng
trong
các
cuộc
trò
chuyện
hôm
nay
giữa
hai
chúng
ta
là
ở
chỗ
con
đã
có
một
nền
học
vấn
khoa
học
Tây
Âu
ở
mức
độ
cao,
đột
nhiên
lại
quay
sang
cái
triết
lý,
cái
đạo
Ðông
Phương
là
Phật
Giáo.
Con
đã
quay
sang
Phật
Giáo,
nói
rõ
hơn,
không
phải
là
để
bổ
sung
cho
cuộc
sống
hay
là
để
tìm
thêm
một
chút
gia
vị
tinh
thần
cho
một
sự
nghiệp
mà
lẽ
ra
phải
tiếp
diễn
bình
thường
theo
các
tiêu
chuẩn
Tây
phương,
nhưng
con
đã
chấm
dứt
sự
nghiệp
khoa
học
để
hoàn
toàn
chú
tâm
vào
việc
hành
trì
Phật
giáo.
Vậy
câu
hỏi
đầu
tiên
của
Ba
là
"Khi
nào
và
tại
sao
cái
quyết
định
đó
lại
nảy
mầm
trong
con?”
Mathieu:
Sự
nghiệp
khoa
học
mà
con
theo
đuổi
là
kết
quả
của
một
sự
say
mê
khám
phá.
Tất
cả
những
gì
con
làm
sau
đó
không
phải
là
một
sự
chối
bỏ,
nghiên
cứu
khoa
học
thật
ra
rất
quyến
rũ,
mà
vì
nhận
thấy
là
khoa
học
không
thể
giải
đáp
được
các
vấn
đề
của
cuộc
sống.
Nói
tóm
lại,
khoa
học
mặc
dù
rất
hấp
dẫn,
vẫn
không
thể
cho
con
một
ý
nghĩa
cho
cuộc
sống.
Con
đã
đến
mức
xem
việc
nghiên
cứu
như
một
cuộc
tản
mác
vào
các
chi
tiết
bất
tận
mà
con
không
thể
tiếp
tục
cho
đến
hết
cuộc
đời
được.
Ðồng
thời
cuộc
chuyển
biến
đó
cũng
bắt
nguồn
bằng
một
sự
thích
thú
càng
ngày
càng
gia
tăng
với
đời
sống
nội
tâm.
Ban
đầu
sự
thích
thú
đó
hình
thành
không
rõ
ràng
trong
tâm
trí
con
vì
lẽ
con
đã
được
giáo
dục
hoàn
toàn
theo
cách
thế
tục
và
con
cũng
không
theo
Thiên
Chúa
giáo.
dù
sao
thì
bề
ngoài
con
cũng
hơi
e
dè
khi
đặt
chân
vào
nhà
thờ,
hay
khi
gặp
một
tu
sĩ
vì
con
hoàn
toàn
mù
tịt
về
đạo.
Rồi
trong
thời
niên
thiếu
con
có
đọc
một
số
tác
phẩm
về
nhiều
truyền
thống
tâm
linh
khác
nhau,
về
Ky
tô
giáo,
Ấn
độ
giáo,
Hồi
giáo
thần
bí,
nhưng
rất
ít
về
Phật
giáo,
vì
thuở
ấy
trong
những
năm
60,
rất
ít
các
bản
dịch
chính
xác
về
Phật
giáo,
vài
cuốn
khảo
luận
và
dịch
thuật
đã
truyền
lại
một
cách
sai
lạc
các
cách
nhìn
của
phương
Tây
về
Phật
giáo
trong
thế
kỷ
trước.
Một
triết
thuyết
thiên
về
hư
vô
lạnh
nhạt
với
cuộc
đời,
nhờ
cậu
con,
nhà
hàng
hải
J.Y.Le
Toumelin,
con
đã
khám
phá
ra
những
bản
viết
của
nhà
siêu
hình
học
René
Quenon.
Tất
cả
các
thứ
ấy
đã
gợi
lên
và
nuôi
dưỡng
một
sự
tò
mò
về
khía
cạnh
tâm
linh
dù
rằng
sự
tò
mò
ấy
cũng
chưa
đưa
đến
điều
gì
cụ
thể.
Jean
Francois:
Ba
cắt
ngang
để
con
nói
rõ
hơn
về
những
tác
phẩm
của
René
Quenon.
Ðó
có
phải
là
một
tác
giả
người
Pháp
chuyên
viết
về
các
triết
lý
Ðông
Phương?
Một
thời
nào
đó
Ba
có
đọc
nhưng
không
còn
nhớ
rõ
ràng
nữa
Mathieu:
Ông
ta
đã
viết
khoảng
20
tác
phẩm
về
các
truyền
thống
tâm
linh
Ðông
và
Tây
phương
và
về
tính
hợp
nhất
căn
bản
của
các
truyền
thống
siêu
hình,
nhất
là
ông
đã
viết
quyển
"Ðông
phương
và
Tây
phương
–
cuộc
khủng
hoảng
của
thế
giới
hiện
đại
với
con
người
và
sự
chuyển
biến
của
nó
theo
kinh
Vệ
Ðà",
trong
đó
ông
ta
giải
thích
về
sự
tiến
hóa
của
con
người
cho
đến
việc
thành
tựu
tuyệt
đối
hay
chân
như.
Nhưng
tất
cả
những
điều
đó
hãy
còn
là
tri
kiến
đối
với
con.
Jean
Francois:
Tri
kiến
theo
chiều
hướng
nào?
Mathieu:Ngoài
sự
thích
thú
do
được
ở
mang
tâm
trí
nhờ
đọc
những
tác
phẩm
ấy,
chúng
không
đem
lại
một
sự
chuyển
hóa
nội
tại
nào
cho
con.
Jean
Francois:
Con
đọc
những
tác
phẩm
đó
khi
bao
nhiêu
tuổi?
Mathieu:
Ồ,
khoảng
15
tuổi.
Con
cũng
còn
đọc
những
sưu
tập
nói
về
Ramana
Maharshi,
một
hiền
triết
Ấn
độ
mà
người
ta
bảo
rằng
ông
đã
nhân
chân
được
bản
ngã,
trạng
thái
bất
nhị.
Nhưng
điều
khơi
dậy
sự
chú
ý
của
con
đến
Phật
giáo
là
vào
năm
1966
Jean
Francois:
Khi
đó
con
đã
20
tuổi!
Mathieu:
Con
còn
đang
học
tại
Ðại
Học
Khoa
Học,
trước
khi
vào
viện
Pasteur,
khi
ấy
con
được
xem
một
cuốn
phim
lúc
còn
đang
trong
giai
đoạn
thực
hiện,
bởi
một
người
bạn
Arnaud
Des
Jardins,
bộ
phim
nói
về
những
đạo
sư
lỗi
lạc
Tây
Tạng.
Arnaul
đã
mất
nhiều
tháng
ròng
với
một
cố
vấn
giỏi
vừa
là
thông
dịch,
để
quay
những
đạo
sư
ấy
trong
chỗ
riêng
tư
của
họ.
Những
bộ
phim
ấy
gây
ấn
tượng
mạnh.
Cũng
trong
thời
gian
này,
một
người
bạn
khác
Bác
sĩ
Leboyer
đã
trở
về
từ
Darjerrling
nơi
ông
ta
đã
gặp
những
vị
hiền
triết
đó.
Phần
con
vừa
mới
xong
một
chứng
chỉ
lục
cá
nguyệt
và
được
rãnh
rỗi
sáu
tháng
trước
khi
tiếp
tục
nghiên
cứu,
con
đã
nghĩ
đến
việc
làm
một
chuyến
du
hành
lớn.
Ðó
là
thời
kỳ
của
những
chàng
"Hippie"
đã
đi
Ấn
Ðộ
bằng
xe
2CV
citroen
hoặc
đi
nhờ
xe
xuyên
qua
Thổ
Nhĩ
Kỳ,
Iran,
Afganistan
và
Pakistan.
Con
cũng
ngưỡng
mộ
về
nghệ
thuật
chiến
tranh
và
dự
trù
đi
Nhật.
Nhưng
rồi
những
hình
ảnh
mang
về
bởi
Arnaud
và
Federick
Leboyer
cộng
thêm
những
câu
chuyện
của
họ
về
Hy
Mã
Lạp
Sơn
đã
kích
động
con
nên
đi
đến
đó
hơn
là
đến
những
nơi
khác
Jean
Francois:
Vậy
hóa
ra
là
vì
cuốn
phim
của
Arnaud
Des
Jardins?
Mathieu:
Có
nhiều
bộ
phim
khác
như
là
thông
điệp
của
người
Tây
Tạng,
Himalaya-
vùng
đất
bình
an
(bao
gồm
những
đứa
con
của
sự
Minh
triết,
và
Hồ
nước
của
các
đạo
sĩ
Yoga)
dài
4
tiếng
đồng
hồ.
Người
ta
được
nhìn
thấy
rất
lâu
những
bậc
lãnh
đạo
tinh
thần
vừa
đến
từ
Tây
Tạng,
dáng
vóc
của
họ,
phong
cách
của
họ
khi
thuyết
giảng.
Ðó
là
một
chứng
cớ
rất
sống
động
và
rất
gợi
cảm.
Jean
Francois:
Các
phim
đó
được
phát
trên
VTTH
không?
Mathieu:
Nhiều
lần
từ
năm
1966
và
gần
đây
được
tái
bản
dưới
dạng
video.
Ðó
là
những
tài
liệu
phi
thường.
Dân
tộc
Tây
Tạng
có
đến
20%
dân
số
qui
y
Phật
giáo,
gồm
cả
tu
sĩ
nam,
nữ
ẩn
sĩ
sống
trong
hang
động,
các
học
giả
giảng
dạy
trong
các
ngôi
chùa.
Và
thật
sự,
tu
hành
ở
đất
nước
này
là
mục
đích
chính
của
cuộc
sống.
Có
những
người
thế
tục
cũng
xem
các
hoạt
động
hàng
ngày
của
mình
như
thứ
yếu
so
với
đời
sống
tâm
linh.
Và
cả
nền
văn
hóa
đều
tập
trung
vào
đời
sống
tâm
linh.
Jean
Francois:
Con
đã
nói
rằng
những
phim
của
Arnaud
Des
Jardins
đã
gây
ấn
tượng
mạnh
cho
con.
Con
có
thể
phân
tích
và
đánh
giá
cái
ấn
tượng
ấy
không?
Mathieu:
Con
có
cảm
tưởng
là
những
nhân
vật
trong
phim
đúng
là
hình
ảnh
của
những
gì
do
chính
họ
thuyết
giảng.
Họ
đáng
được
tôn
kính.
Con
không
thể
nào
diễn
tả
cho
rõ
ràng
tại
sao,
nhưng
điều
đáng
kinh
ngạc
là
họ
có
dáng
dấp
những
vị
thánh,
những
con
người
hoàn
mỹ,
những
bậc
hiền
minh,
một
loại
người
mà
chúng
ta
không
còn
gặp
ở
phương
Tây
nữa.
Ðó
là
hình
ảnh
mà
con
hình
dung
ra
của
thánh
Francois
D’Assies,
một
vị
đại
hiền
thời
cổ
đại.
Một
hình
ảnh
mà
con
không
thể
nào
tiếp
cận
được
vì
lẽ
con
đã
không
gặp
Socrates,
nghe
Platon,
diễn
thuyết
hoặc
ngồi
dưới
chân
thánh
Francois
D’Assies.
Trong
khi
đột
nhiên
xuất
hiện
những
nhân
vật
có
dáng
dấp
sống
động
của
sự
minh
triết
và
con
tự
nói:
“Nếu
có
thể
đạt
tới
sự
hoàn
thiện
trên
bình
diện
con
người,
thì
rõ
ràng
điều
đó
đang
hiện
diện
ở
tại
đây”
Jean
Francois:
Về
định
nghĩa
của
con,
Ba
cũng
sắp
nói
rằng
gần
như
một
ý
thông
thường
nếu
nói
về
đặc
trưng
của
nền
triết
lý
cổ
đại,
triết
lý
không
chỉ
là
món
ăn
tinh
thần,
một
lý
thuyết,
một
sự
giải
thích
về
thế
giới
và
đời
sống.
Ðúng
hơn
là
một
sự
thể
hiện.
Triết
gia
và
môn
đồ
luôn
luôn
thể
hiện
trong
đời
sống
những
gì
họ
dạy
về
triết
thuyết
của
họ.
Cái
mà
đã
làm
con
ngạc
nhiên
ở
những
đạo
sư
Tây
Tạng
họ
gần
giống
như
những
triết
gia
thời
nguyên
thủy
của
triết
lý
Tây
phương.
Ðó
là
lý
do
vì
sao
các
triết
gia
thời
đó
giữ
vai
trò
là
người
tâm
phúc,
người
thầy
tinh
thần,
người
hướng
dẫn
và
an
ủi
tinh
thần,
người
bạn
tốt
của
bao
nhiêu
nhân
vật
quan
trọng
cho
đến
cuối
đời
Ð?
chế
La
mã
nhất
là
vào
thời
kỳ
của
Marc
Aurele
mà
Renan
gọi
là
triều
đại
của
các
triết
gia.
Vậy
là
các
phong
thái
đó
đã
có
ở
Tây
phương,
không
phải
chỉ
dạy
suông
mà
còn
thể
hiện
những
điều
mình
dạy
trong
cuộc
sống.
Nhưng
sự
thể
hiện
đó
có
hoàn
hảo
trong
thực
tế
không
là
một
chuyện
khác.
Cái
quan
niệm
triết
lý
đó
trong
nhiều
trường
hợp
có
tương
quan
đến
hiều
khía
cạnh
tôn
giáo.
Nền
triết
lý
cổ
đại
thường
khi
có
tầm
vóc
và
cũng
nhằm
vào
việc
giải
phóng
con
người.
Người
ta
tìm
thấy
điều
đó
ở
những
người
theo
chủ
nghĩa
khoái
lạc
(dù
rằng
chữ
khoái
lạc
ngày
nay
gợi
ý
một
sự
lãnh
đạm
với
lĩnh
vực
tinh
thần).
Vậy
có
nghĩa
là
có
các
nhu
cầu
song
hành
vừa
xây
dựng
một
học
thuyết
đồng
thời
từ
mình
thể
hiện
học
thuyết
đó.
Và
không
có
sự
khác
biệt
căn
bản
nào
giữa
Ðông
và
Tây
vào
thời
cổ
đại.
Mathieu:
Ðúng
thế,
trừ
việc
các
đạo
sư
Tây
Tạng
không
hề
xây
dựng
một
học
thuyết
mà
chỉ
là
những
người
thừa
kế
trung
thành
và
đúng
đắn
của
một
truyền
thống
có
từ
ngàn
năm
nay.
Dù
sao
con
cũng
thấy
nhẹ
người
khi
biết
rằng
đã
có
một
truyền
thống
sống
động,
dễ
hiểu
với
bao
điều
tốt
đẹp.
Sau
khi
làm
một
cuộc
du
hành
trong
sách
vở,
bây
giờ
con
mới
có
thể
làm
một
cuộc
du
hành
thực
sự.
Jean
Francois:
Xin
lỗi
phải
ngắt
lời
con,
con
đã
nói
đến
những
điều
tốt
đẹp
nào?
Con
đã
hiểu
thế
nào
về
học
thuyết
đó?
Hóa
thân
vào
một
học
thuyết
chưa
đủ,
ít
ra
là
nó
phải
có
một
giá
trị
gì?
Mathieu:
Con
chưa
có
một
ý
niệm
về
Phật
giáo
nhưng
chỉ
nhìn
những
vị
hiền
triết
đó
dù
chỉ
là
trong
phim
ảnh
cũng
làm
cho
con
linh
cảm
được
một
sự
hoàn
thiện
siêu
thoát.
Thật
trái
ngược
khi
nghĩ
đó
lại
là
một
nguồn
hy
vọng.
Trong
môi
trường
sống
con
nhờ
Ba
mà
con
đã
gặp
được
những
triết
gia,
những
nhà
tư
tưởng,
những
kịch
sĩ;
nhờ
mẹ
con
Yahne
Le
Toumelin
một
họa
sĩ,
con
đã
gặp
nhiều
nghệ
sĩ
và
thi
sĩ;
nhờ
cậu
con
Jacques
Yves
Le
Toumelin
con
đã
gặp
những
nhà
thám
hiểm
nổi
tiếng
và
nhờ
thầy
con
Francois
Jacob
con
cũng
đã
gặp
những
nhà
bác
học
tầm
cỡ
đến
diễn
giảng
ở
viện
Pasteur.
Như
vậy
là
con
đã
có
cơ
hội
tiếp
cận
được
những
nhân
vật
quan
trọng
và
hấp
dẫn
về
nhiều
phương
diện.
Nhưng
đồng
thời
con
cũng
nhận
thấy
bên
cạnh
cái
tài
của
họ
không
có
dấu
chứng
về
một
sự
hoàn
thiện
của
con
người.
Tài
năng,
năng
lực
tinh
thần
của
họ,
không
làm
cho
họ
trở
thành
con
người
tốt.
Một
thi
sĩ
lớn
cũng
có
thể
là
một
kẻ
cắp,
một
nhà
bác
học
cũng
có
thể
luôn
bị
đau
khổ
dày
vò,
một
nghệ
sĩ
cũng
có
thể
đầy
ngạo
mạn.
Mọi
sự
phối
hợp,
tốt
cũng
như
xấu
đều
có
thể
có
được.
Jean
Francois:
Ba
nhớ
thời
ấy
con
cũng
rất
thích
âm
nhạc,
thiên
văn,
nhiếp
ảnh
và
cả
Ðiểu
loại
học.
Hồi
22
tuổi
con
có
viết
một
quyển
sách
về
những
cuộc
di
cư
thú
vật
và
có
một
thời
gian
dài
con
hoàn
toàn
chú
tâm
đến
âm
nhạc
.
Mathieu:
Vâng,
con
đã
gặp
Igor
Stravinsky
và
nhiều
nhạc
sĩ
lớn
khác.
Vậy
là
con
đã
tiếp
cận
những
con
người
được
ngưỡng
mộ
ở
Tây
Phương
và
điều
này
đã
làm
con
tự
hỏi:
"Vậy
đó
có
phải
là
điều
ta
muốn
đạt
đến
hay
không?
Ta
có
muốn
trở
thành
như
họ
không?"
Con
có
cảm
tưởng
vẫn
còn
khao
khát
một
điều
gì
đó,
mặc
dù
có
sự
ngưỡng
mộ
những
nhân
vật
đó,
con
cũng
nhận
thấy
là
ngoài
tài
năng
mà
họ
cho
thấy
trong
một
lĩnh
vực
nào
đó
họ
cũng
không
thành
tựu
được
những
sự
sửa
đổi
đơn
giản
nhất,
như
là
hướng
đến
lòng
vị
tha,
lòng
nhân
ái
và
sự
thành
thật.
Trái
lại
khi
xem
các
phim
ảnh
trên,
con
đã
khám
phá
ra
được
điều
đã
hấp
dẫn
con
đến
với
các
đạo
sĩ
Tây
Tạng.
Ðó
là
cách
sống
của
họ
phản
ánh
được
cái
gì
họ
thuyết
giảng
do
đó
con
quyết
định
phải
tìm
hiểu.
Và
sự
đánh
động
này
cũng
diễn
ra
ở
một
người
bạn
khác
Christran
Bruyat
đang
sửa
soạn
thi
vào
trường
Sư
phạm
khi
anh
ta
nghe
những
lời
cuối
của
buổi
phát
thanh
trong
đó
Arnaud
đã
nói
đại
khái:
“Tôi
nghĩ
rằng
những
vị
đại
hiền
sau
cùng,
biểu
hiện
sống
động
của
đời
sống
tâm
linh,
là
những
vị
đạo
sư
Tây
Tạng
đang
sống
ẩn
dật
trong
dãy
Hy
mã
Lạp
Sơn
Ấn
Ðộ".
Và
cũng
vào
thời
điểm
đó
anh
ta
quyết
định
du
hành
một
chuyến.
Như
vậy
là
con
đi
Ấn
Ðộ
trên
một
chuyến
bay
rẻ
tiền,
con
không
nói
được
tiếng
Anh
vì
Ba
đã
nghĩ
rằng
con
nên
học
tiếng
Ðức,
tiếng
Hy
Lạp,
tiếng
La
Mã
những
ngôn
ngữ
khó
hơn
là
tiếng
Anh.
Ðiều
đó
cũng
đúng
nhưng
con
cũng
đã
quên
luôn
tiếng
Ðức
và
các
tiếng
khác.
Con
đã
đến
Delhi
với
một
quyển
tự
điển
nhỏ,
một
quyển
Assimil
và
con
đã
gặp
rất
nhiều
khó
khăn
trong
việc
hỏi
thăm
đường,
hỏi
mua
vé
xe
lửa
đi
Darjeeling
và
đến
được
những
đỉnh
núi
tuyết
của
rặng
Hy
Mã
Lạp
Sơn.
Con
có
địa
chỉ
một
giáo
sĩ
Gia
tô,
ông
này
được
bác
sĩ
Leboyer
giao
cho
một
số
tiền
để
chi
dụng
cho
một
vị
Lạt
ma
lỗi
lạc
Tây
Tạng
là
Kangyour
Rinpotché
đã
từng
đến
Ấn
Ð?
nhiều
năm
trước.
Ông
ta
sống
thật
khốn
khổ
cùng
với
gia
đình
trong
một
căn
nhà
gỗ
nhỏ
với
số
sách
mà
ông
còn
giữ
được
của
Tây
Tạng.
Ðúng
vào
hôm
con
đến,
con
ông
ta
đã
đến
hội
truyền
giáo
để
lãnh
số
tiền
trợ
cấp
đó.
Vậy
chính
là
con
của
đạo
sư
Kangyour
Rinpotché
đã
dẫn
con
đến
gặp
cha
của
anh
ta.
Ðon
giản
là
con
chỉ
sống
cạnh
cha
ông
ta
trong
ba
tuần
lễ.
Thật
rất
ấn
tượng.
Ðấy
là
một
người
khoảng
70
tuổi
vẻ
mặt
sáng
ngời
nhân
ái,
ngồi
dựa
lưng
vào
một
cánh
cửa
sổ,
đàng
sau
đó
là
một
đại
dương
mây
trời
bị
cắt
ngang
bởi
ngọn
núi
Kanchenjungua
cao
sừng
sững
8000
thước.
Con
ngồi
suốt
ngày
trước
mặt
ông
và
con
có
cảm
giác
như
mọi
người
thường
nói
là
đang
tham
thiền,
nghĩa
là
đang
suy
tư
trước
sự
hiện
diện
của
ông.
Con
đã
nhận
được
vài
lời
giáo
huấn,
gần
như
không
có
gì.
Con
ông
ta
nói
được
tiếng
anh
còn
con
thì
không.
Chính
con
người
ông
đã
làm
con
xúc
động.
Chiều
sâu,
sức
mạnh,
sự
thanh
thản,
tình
yêu
toát
ra
từ
nơi
ông
đã
mở
trí
cho
con.
Sau
đó
con
tiếp
tục
cuộc
hà
nh
trình
đến
Cachemire,
ngã
bệnh
ở
Ấn
độ,
bị
thương
hàn
và
sau
đó
lại
quay
về
Pháp.
Tại
trạm
dừng
ở
Damas,
con
tự
nói
quả
là
ngu
xuẩn
nếu
không
đi
thăm
tất
cả
các
nước
Trung
Ðông
này
và
con
tiếp
tục
bằng
đường
bộ
và
đường
sắt.
Con
đã
đi
thăm
mộ
của
vị
thánh
Hồi
giáo
Ibn
Arabi,
các
thánh
đường
Hồi
giáo
ở
Istanbul.
Con
kết
thúc
cuộc
hành
trình
ở
tu
viện
Tournus
nơi
tại
hành
lang
mát
mẻ
con
đứng
suy
tư
trong
sự
im
lặng
tĩnh
mịch,
trong
khi
bên
ngoài
sự
trở
về
của
dân
chúng
từ
các
cuộc
nghỉ
hè
làm
tắc
nghẽn
lưu
thông.
Và
từ
đấy,
mệt
mỏi,
con
đáp
xe
lửa
về
Paris.
Vậy
là
một
sự
biến
động
lớn
về
hình
thể
bên
ngoài
cùng
lúc
là
một
sự
khám
phá
nội
tâm.
Chỉ
khi
từ
Ấn
Ðộ
trở
về,
trong
khi
còn
đang
học
năm
thứ
nhất
ở
viện
Pasteur
con
mới
thấy
hết
sự
quan
trọng
của
lần
gặp
mặt
với
thầy
con.
Phẩm
chất
của
ông
luôn
trở
lại
trong
tâm
trí
của
con
và
con
nhận
thấy
ở
đó
một
sự
thật
gợi
cảm
hứng
cho
cuộc
đời
con,
và
cho
nó
một
ý
nghĩa
dù
rằng
con
chưa
biết
nó
như
thế
nào.
Jean
Francois:
Vậy
người
ta
có
thể
nói
sự
thay
đổi
quan
trọng
đó,
nếu
không
phải
là
một
sự
cải
hoán
hoàn
toàn,
và
không
phải
được
tạo
nên
bởi
một
sự
thẩm
nhập
tinh
thần
vào
lý
thuyết
hay
giáo
lý
Phật
giáo
qua
những
sách
viết
về
Phật
giáo,
mà
chủ
yếu
là
do
những
sự
tiếp
xúc
cá
nhân.
Mathieu:
Ðúng
vậy.
Sự
nghiên
cứu
chỉ
đến
với
con
sau
này
thôi.
Jean
Francois:
Vào
thời
điểm
đó
có
khối
người
trẻ
Tây
phương
và
Hoa
Kỳ
đi
khắp
Ấn
Ð?.
Mathieu:
Ðó
là
một
năm
trước
tháng
5
năm
1968.
Những
người
trẻ
ấy
đi
tìm
một
thứ
khác,
họ
hút
cần
sa
chẳng
hạn.
Vài
người
đi
tìm
hiểu
đời
sống
tâm
linh,
viếng
những
đền
thờ
Ấn
giáo
hoặc
đi
thám
hiểm
Hy
mã
lạp
sơn.
Mọi
người
tìm
Ðông,
tìm
Tây.
Thường
khi
họ
trao
đổi
ý
kiến,
thông
tin
với
nhau.
Họ
nói,
tôi
đã
gặp
một
vị
rất
đặc
biệt
ở
nơi
này,
nơi
nọ,
đã
nhìn
thấy
một
phong
cảnh
huyền
ảo
ở
Sikkim,
đã
gặp
một
nhạc
sư
ở
Benarès,
một
đạo
sĩ
yoga
ở
miền
Nam
Ấn
độ
v.v....Ðó
là
thời
kỳ
mà
người
ta
đặt
lại
vấn
đề,
người
ta
khám
phá
không
những
trong
sách
vở
mà
cả
trong
thực
tế
nữa.
Jean
Francois:
Và
trong
số
những
người
trẻ
Tây
phương
đi
tìm
nguồn
sống
tâm
linh
đó,
có
một
nhóm
quan
trọng
nào
đi
Darjeeling
không?
Mathieu:
Vào
thời
ấy,
rất
ít.
Vài
chục
người
trong
thập
niên
60-70.
Rồi
theo
dòng
thời
gian,
sự
chú
ý
đến
các
Ðạo
sư
và
những
lời
truyền
dạy
của
họ
tăng
dần.
Năm
1971,
một
số
đạo
sư
Tây
Tạng
đi
Tây
phương,
Pháp
hay
Hoa
Kỳ.
Dần
dần
hàng
trăm
hàng
ngàn
người
Tây
phương
đã
đến
học
hỏi
với
họ.
Cũng
rất
đông
trong
số
họ
đã
trải
qua
trong
nhiều
năm
dài
trong
rặng
Hy
Mã
Lạp
Sơn
gần
gũi
các
vị
đạo
sư
hay
thường
xuyên
đi
tìm
họ.
Trở
lại
vấn
đề
mà
Ba
đã
nêu
ra
trước
đây,
thiện
cảm
của
con
không
phải
dựa
trên
việc
nghiên
cứu
Phật
giáo.
Cũng
không
phải
vậy
trong
chuyến
đi
đầu
tiên
hoặc
hai
chuyến
đi
sau
đó.
Ðon
giản
là
con
muốn
gặp
lại
vị
thầy
mới
của
con.
Thật
vậy,
từ
vị
thầy
này
con
đã
nhận
được
những
sự
chỉ
dẫn
tâm
linh
căn
bản,
chứ
không
phải
một
sự
thuyết
giảng
ròng
rã
về
Phật
giáo.
Ông
nói
với
con:
"Có
rất
nhiều
điều
thích
thú
trong
Phật
giáo,
nhưng
không
nên
hoàn
toàn
để
tâm
vào
việc
học
lý
thuyết
hay
trong
sách
vở,
vì
nếu
làm
như
vậy,
người
ta
sẽ
quên
đi
sự
thực
hành
tâm
linh.
Ðó
mới
chính
là
trái
tim
của
Phật
giáo,
là
sự
chuyển
hóa
nội
tâm
của
con
người.
Tuy
nhiên
với
sự
có
mặt
của
ông,
con
đã
trực
nhiên
cảm
nhận
được
những
điều
căn
bản
trong
liên
hệ
giữa
thầy
và
trò.
Ðó
là
sự
hòa
hợp
tâm
linh
giữa
hai
người
với
nhau.
Người
ta
gọi
đó
là
"truyền
tâm
ấn".
Tâm
của
người
thầy
là
trí
huệ
và
của
người
trò
là
sự
bấn
loạn.
Vậy
là
nhờ
vào
sự
hòa
hợp
tâm
linh
mà
người
học
trò
có
thể
từ
sự
bấn
loạn
đến
được
trí
huệ.
Cái
thể
cách
quán
sát
nội
tâm
đó
là
điểm
then
chốt
trong
việc
hành
trì
Phật
giáp
Tây
Tạng.
Jean
Francois:
Cái
điều
mà
con
gọi
là
trí
huệ
đó,
có
phải
là
một
sự
thụ
pháp
tôn
giáo
không?
Mathieu:
Không,
đó
là
kết
quả
của
một
sự
chuyển
biến
nội
tâm.
Cái
mà
người
ta
gọi
là
trí
huệ
theo
Phật
giáo
là
một
sự
bừng
sáng
về
thế
giới
hiện
tượng
cũng
như
tinh
thần.
Chúng
ta
là
ai?
Thế
giới
là
gì?
Rốt
ráo
nhất
là
sự
đạt
tới
chân
lý
tuyệt
đối
ngoài
ý
niệm.
Ðó
là
sự
hiểu
biết
theo
khía
cạnh
cơ
bản
nhất.
Jean
Francois:
Vậy
trên
hết
đó
là
một
vấn
đề
triết
lý.
Mathieu:
Ðúng
vậy.
Jean
Francois:
Cho
đến
thời
phát
sinh
khoa
học
vật
lý
vào
thế
kỷ
17,
nền
triết
học
cổ
đại
cho
rằng
hiểu
tất
cả
mọi
vấn
đề,
bao
gồm
sự
hiểu
biết
về
thế
giới
động
vật,
vật
chất,
luân
lý,
về
con
người,
về
cõi
bên
kia,
về
thần
linh
dù
là
dưới
hình
thức
cá
nhân
như
ở
Aristote,
hay
là
thần
linh
trong
thiên
nhiên
như
theo
chủ
nghĩa
khắc
kỷ,
hoặc
ở
Spinoza.
Các
học
thuyết
đó
về
thực
tại
đã
được
xem
là
không
thể
thực
hiện
một
cách
nghiêm
chỉnh
được.
Chúng
ta
sẽ
trở
lại
vấn
đề
này.
Mặt
khác,
trong
chữ
trí
tuệ,
có
một
khía
cạnh
khác.
Cái
mà
Ba
sẽ
gọi
là
"tinh
thần
Socrate".
Theo
Socrate
sự
minh
triết
là
kết
quả
của
khoa
học.
Theo
ông
không
hề
có
sự
minh
triết
hay
luân
lý
bản
năng.
Tất
cả
đều
đến
từ
kiến
thức.
Và
chính
là
từ
khoa
học
mới
có
ra
sự
minh
triết
và
luân
lý.
Những
triết
lý
cổ
đại
nghĩ
rằng
muốn
đến
sự
minh
triết
và
hạnh
phúc,
cái
mà
người
ta
gọi
là
"cái
tốt
chủ
thể".
Có
thể
hiểu
là
một
sự
cân
bằng
giữa
đạo
đức
đối
với
kẻ
khác
và
hạnh
phúc
của
chính
cá
nhân
mình,
người
ta
phải
nhờ
vào
kiến
thức
khoa
học.
Có
phải
ít
nhiều
đó
là
đặc
tính
của
Phật
giáo
vào
lúc
mà
con
khám
phá
ra
nó?
Khi
Thầy
con
nói
"trí
tuệ"
có
phải
là
nói
đến
sự
nhận
chân
bản
thể
của
vạn
vật,
cái
“trí
tuệ”
đó
Ba
dám
nói
là
nó
bao
gồm
cả
một
chương
trình
bao
la
đó.
Vì
nó
gồm
cả
sự
hiểu
biết
các
hiện
tượng
bên
ngoài,
của
chính
con,
và
cả
các
hiện
tượng
siêu
nhiên
nữa.
Mathieu:
Phật
giáo
gồm
cả
việc
học
hỏi
các
khoa
học
truyền
thống
như
y
học,
ngôn
ngữ,
văn
phạm,
thi
ca,
thiên
văn
học
(như
hiện
tượng
nhật
thực),
thủ
công
nghệ
và
nghệ
thuật.
Y
học
Tây
Tạng
đặt
nền
tảng
trên
cây
cỏ
và
khoáng
chất,
đòi
hỏi
nhiều
năm
theo
học
và
các
bác
sĩ
giải
phẫu
Tây
tạng
theo
lời
đồn
đãi,
có
thể
mổ
đục
thủy
tinh
thể
bằng
một
con
dao
mổ
bằng
vàng,
tuy
rằng
việc
đó
đã
chìm
vào
quên
lãng.
Nhưng
khoa
học
quan
trọng
hơn
tất
cả,
là
sự
nhận
chân
được
con
người
thật
của
mình,
nhận
chân
được
thực
tại
và
câu
hỏi
cốt
yếu
là
"Bản
chất
của
các
hiện
tượng,
của
tư
tưởng
là
gì?
Và
thực
tế
hơn
"Ðâu
là
chìa
khóa
của
hạnh
phúc
và
đau
khổ?
Ðau
khổ
từ
đâu
đến?
Vô
minh
là
gì?
Sự
giải
thoát
tâm
linh
diễn
tiến
ra
sao?
Và
thế
nào
là
một
con
người
hoàn
thiện?
Chính
sự
khám
phá
ra
những
điều
đó
người
ta
gọi
là
trí
tuệ.
Jean
Francois:
Ðộng
cơ
đầu
tiên
có
phải
là
để
thoát
ra
sự
đau
khổ?
Mathieu:
Sự
đau
khổ
là
kết
quả
của
vô
minh.
Vậy
thì
cần
phải
diệt
vô
minh.
Và
nguồn
gốc
của
vô
minh
là
"chấp
ngã"
và
cho
các
hiện
tượng
là
thật.
Làm
nhẹ
bớt
sự
đau
khổ
của
người
khác
là
một
bổn
phận,
nhưng
chưa
đủ.
Cần
phải
chữa
nguyên
nhân
gây
ra
đau
khổ.
Nhưng,
một
lần
nữa,
tất
cả
những
điều
đó
đều
chưa
rõ
ràng
nơi
con
và
con
tự
bảo:
"Không
có
lửa
thì
không
có
khói".
Khi
con
nhìn
thấy
Thầy
con,
vóc
dáng,
ăn
nói,
cách
hành
xử
của
ông
đã
làm
con
tin
tưởng
sâu
sắc
là
có
cái
gì
đó
rất
căn
bản,
và
con
cần
đào
sâu
để
tìm
hiểu.
Ơû
đó
có
một
nguồn
cảm
hứng,
một
sự
vững
tin
và
một
sự
hoàn
thiện
mà
con
muốn
thâm
nhập.
Theo
thời
gian,
con
đã
đi
Ấn
Ðộ
5
hay
6
lần
trước
khi
đến
ở
hẳn,
con
đã
nhận
ra
rằng
khi
con
ở
gần
Thầy
con,
con
dễ
dàng
quên
đi
viện
Pasteur,
đời
sống
của
con
ở
Châu
Âu
và
khi
con
ở
viện
Pasteur
thì
con
lại
mơ
tưởng
về
Hy
mã
lạp
sơn.
Vậy
là
con
quyết
định
và
không
bao
giờ
hối
tiếc:
Ở
lại
nơi
mà
con
hằng
mong
đến.
Con
đã
làm
xong
luận
án
và
giáo
sư
Jacob
đã
nghĩ
đến
việc
gởi
con
sang
Mỹ
để
con
tiếp
tục
nghiên
cứu
về
một
đề
tài
mới.
Cũng
như
những
nhà
nghiên
cứu
khác
thời
đó,
giáo
sư
đã
chuyển
sang
từ
việc
nghiên
cứu
vi
khuẩn
sang
việc
nghiên
cứu
các
tế
bào
động
vật,
vì
đó
là
một
môi
trường
nghiên
cứu
rộng
lớn
hơn
và
làm
phát
triển
vượt
bậc
ngành
sinh
vật
tế
bào.
Con
đã
tự
bảo
rằng
con
đã
chấm
dứt
một
giai
đoạn:
con
đã
công
bố
những
bài
viết
về
5
năm
nghiên
cứu,
con
đã
không
làm
hỏng
bất
cứ
sự
đầu
tư
nào
cho
con,
từ
phía
gia
đình
cũng
như
của
Thầy
Jacob
đã
nhận
con
vào
làm
việc
trong
phòng
thí
nghiệm
của
Thầy.
Dù
sao
cũng
là
khúc
quanh
trong
sự
nghiệp
nghiên
cứu
của
con.
Con
có
thể
chọn
một
con
đường
khác
mà
không
làm
đổ
vỡ
điều
gì,
cũng
không
làm
thất
vọng
những
người
đã
từng
giúp
con
đi
đến
học
vị
tiến
sĩ.
Con
có
thể
yên
tâm
thực
hiện
hoài
bão
của
mình.
Dẫu
sao
Thầy
con
Kangyour
Ringpotché
luôn
luôn
nói
với
con
là
cần
phải
hoàn
thành
những
công
cuộc
mà
con
đã
theo
đuổi.
Như
vậy
là
con
đã
không
hấp
tấp.
Con
đã
chờ
từ
năm
67
đến
72
trước
khi
đến
ở
Hy
Mã
Lạp
Sơn.
Ðúng
vào
lúc
ấy,
con
đã
báo
cho
giáo
sư
Jacob
và
Ba
về
quyết
định
đi
Hy
Mã
Lạp
Sơn
thay
vì
đến
Mỹ.
Con
đã
nhận
ra
rằng
đúng
là
điều
con
ao
ước
thực
hiện,
trong
khi
con
hãy
còn
trẻ,
còn
hơn
phải
hối
hận
sau
này
khi
con
đã
50
tuổi,
là
đã
không
chọn
con
đường
này.
Jean
Francois:
Nhưng
con
có
nghĩ
là
không
thể
dung
hòa
được
hai
điều
đó
(Khoa
học
và
Ðạo)
không?
Mathieu:
Không
có
sự
bất
dung
hợp
nào
giữa
khoa
học
và
đời
sống
tâm
linh,
nhưng
với
con
một
cái
quan
trọng
hơn
cái
kia.
Thực
ra
mà
nói
người
ta
không
thể
ngồi
giữa
hai
cái
ghế
cũng
như
không
thể
may
với
một
cây
kim
hai
mũi
được.
Con
không
có
ý
định
chia
cắt
thời
gian,
con
muốn
dành
hết
thì
giờ
cho
điều
mà
con
cho
là
cần
thiết.
Sau
này
con
mới
nhận
ra
rằng
sự
huấn
luyện
khoa
học
nơi
con
với
sự
chính
xác
của
nó,
dễ
dàng
dung
hợp
với
sự
nghiên
cứu
Phật
giáo
và
siêu
hình
học.
Hơn
nữa
với
con,
đời
sống
nội
tâm
thật
sự
là
một
khoa
học
của
tâm
trí
với
những
giả
thiết,
những
phương
pháp
và
kết
quả
của
nó.
Ðúng
là
phải
thật
sự
chuyển
hóa
chớ
không
phải
mơ
mộng
hay
đứng
ngây
người
ra
nhìn.
Và
trong
25
năm
sau
đó,
theo
như
con
hiểu
khoa
học
không
hề
ngăn
trở
con
trong
việc
đi
tìm
chân
lý.
Jean
Francois:
Như
vậy
là
ba
đã
hiểu
con
áp
dụng
khoa
học
với
sự
chính
xác
của
nó
vào
việc
nghiên
cứu
triết
lý,
và
lịch
sử
Phật
giáo.
Nhưng
việc
nghiên
cứu
về
sinh
vật
học
nguyên
tử
trong
vòng
30
năm
trở
lại
đây
đã
có
nhiều
phát
minh
lớn,
nhưng
con
đã
không
tham
dự
Mathieu:
Sinh
vật
học
dù
không
có
con
cũng
phát
triển
tốt.
Không
thiếu
gì
nghiên
cứu
sinh
trên
hành
tinh
này.
Vấn
đề
là
thiết
lập
một
hệ
thống
ưu
tiên
trong
đời
sống
của
con.
Con
có
cảm
giác
ngày
càng
lớn,
là
đã
không
tận
dụng
tiềm
năng
con
người
và
để
cho
cuộc
đời
con
mỗi
ngày
một
rạn
nứt
thêm.
Theo
con,
cái
khối
kiến
thức
khoa
học,
đã
trở
thành
một
sự
đóng
góp
quan
trọng
cho
những
nhu
cầu
nhỏ
bé.
Jean
Francois:
Những
gì
con
đã
làm
sau
đó
đã
giúp
con
tìm
hiểu
sâu
về
một
học
thuyết
đã
từng
có
mặt
nhiều
thế
kỷ
trước
kỷ
nguyên
chúng
ta,
nhưng
không
đem
lại
những
kiến
thức
mới,
khác
hẳn
nếu
con
tham
dự
vào
nghiên
cứu
sinh
vật
học
phân
tử
-
Ba
cũng
không
nói
rằng
tuyệt
đối
phải
có
những
phát
minh
khoa
học
để
thành
công
trong
đời
–
Ba
nói
rằng
ở
vào
thời
điểm
đó
luận
án
tiến
sĩ
của
con
là
một
sự
thành
tựu
và
cũng
là
một
sự
khởi
đầu
cho
những
cuộc
nghiên
cứu
quan
trọng
khác,
con
đã
có
trong
tay
những
gì
cần
thiết
để
tham
dự
vào
những
cuộc
phiêu
lưu
khoa
học
độc
đáo
nhất
của
nhân
loại,
điều
mà
những
phát
minh
gần
đây
của
ngành
sinh
vật
phân
tử
đã
chứng
minh.
Mathieu:
Ba
hãy
cẩn
thận,
vì
với
Phật
giáo
không
cần
làm
dậy
lên
đám
bụi
che
phủ
một
học
thuyết
xưa
vào
cổ
hủ.
Công
cuộc
tìm
kiếm
tâm
linh
là
việc
chuyển
hóa
tâm
thức
hoàn
toàn,
luôn
luôn
mới
và
sống
động.
Một
truyền
thống
siêu
nhiên
như
Phật
giáo
không
thể
già
cỗi
được
bởi
vì
nó
nhắm
vào
những
vấn
đề
thiết
thân
của
cuộc
sống-
theo
dòng
lịch
sử,
chính
những
lý
thuyết
khoa
học
phải
tự
nhiên
già
đi
và
luôn
luôn
đổi
mới.
Jean
Francois:
Ðúng
vậy,
chúng
luôn
luôn
đổi
mới
vì
một
lý
do
giản
dị:
Kiến
thức
con
người
luôn
luôn
tiến
bộ,
người
ta
quan
sát
những
sự
kiện
mới,
và
thực
nghiệm
chứng
minh
những
giả
thuyết
Mathieu:
Thật
ra
sinh
vật
học
và
khoa
vật
lý
đã
đem
đến
nhiều
kiến
thức
khác
nhau
về
nguồn
cội
đời
sống
và
về
sự
hình
thành
vũ
trụ.
Nhưng
những
kiến
thức
đó
có
làm
sáng
tỏ
được
các
cơ
chế
căn
bản
của
đau
khổ
và
hạnh
phúc
hay
không?
Ta
không
nên
để
mất
dấu
những
mục
đích
mà
ta
đã
dự
trù.
Ðúng
là
một
sự
tiến
bộ
không
phủ
nhận
được
khi
ta
hiểu
rõ
hình
dáng
và
kích
thước
chuẩn
xác
của
trái
đất,
nhưng
dù
nó
tròn
hay
phẳng
cũng
không
làm
thay
đổi
ý
nghĩa
cuộc
sống.
Dù
y
học
có
tiến
bộ
thế
nào
đi
nữa,
người
ta
chỉ
có
thể
tạm
thời
làm
nhẹ
đi
những
đau
khổ
luôn
luôn
trở
lại
và
sau
cùng
là
cái
chết.
Người
ta
có
thể
ngăn
được
một
sự
xung
đột,
một
cuộc
chiến
tranh
nhưng
những
cuộc
xung
đột
và
chiến
tranh
khác
lại
tái
tục
nếu
tâm
thức
con
người
không
thay
đổi.
Ngược
lại,
có
cách
nào
khám
phá
ra
được
một
sự
bình
an
nội
tại
không
dính
líu
gì
đến
sức
khỏe,
quyền
lực,
thành
công,
tiền
bạc
hay
những
dục
lạc
trần
gian.
Một
sự
bình
an
nội
tại
là
cội
nguồn
của
một
sự
bình
an
ngoại
giới.
Jean
Francois:
Ba
hiểu
điều
đó,
nhưng
ba
không
thấy
được
vì
sao
hai
điều
nêu
trên
không
thể
dung
hợp
được.
Khoa
học,
sinh
vật
học
nhất
là
sinh
vật
phân
tử
đem
lại
giải
pháp
cho
việc
chữa
trị
người
bịnh
và
như
vậy
là
làm
giảm
đi
sự
đau
khổ
của
con
người.
Và
sự
thỏa
mãn
tâm
linh
khi
khám
phá
ra
những
cơ
chế
căn
bản
của
đời
sống,
là
một
sự
thỏa
mãn
bất
vụ
lợi.
Con
có
dự
kiến
là
có
thể
phối
hợp
được
hai
khía
cạnh
đó
trong
công
việc
của
con
không?
Mathieu:
Phật
giáo
hoàn
toàn
không
chống
đối
khoa
học.
Nó
chỉ
xem
khoa
học
như
một
cái
nhìn
quan
trọng.
Do
đó
con
không
có
nhu
cầu
là
dành
hết
tâm
lực
cho
nó,
và
như
vậy
là
chia
chẻ
cuộc
đời
con.
Con
có
cảm
giác
như
con
chim
bị
nhốt
trong
lòng,
và
chỉ
có
một
ý
tưởng
là
con
muốn
tự
do.
Jean
Francois:
Con
có
còn
theo
dõi
khoa
học
không?
Mathieu:
Con
tiếp
tục
theo
dõi
những
khám
phá
về
sinh
vật
học
với
tất
cả
sự
chú
tâm
còn
hơn
là
khi
con
đang
dùng
thời
gian
để
dựng
nên
bản
đồ
di
truyền
nhiễm
sắc
thể
của
một
vi
khuẩn,
công
việc
mà
con
đã
dành
ra
5
năm
công
sức.
Nói
một
cách
tổng
thể,
kết
quả
của
những
cuộc
nghiên
cứu
của
hàng
ngàn
nghiên
cứu
sinh
trong
vòng
vài
chục
năm
thật
rất
hấp
dẫn.
Ðời
của
một
nhà
nghiên
cứu
khoa
học
là
tìm
hiểu
trong
nhiều
năm
các
yếu
tố
của
một
trò
chơi
nát
óc,
mà
khi
ráp
lại
cho
ra
một
hình
ảnh
rõ
ràng
của
một
hiện
tượng
vật
lý
hoặc
sinh
học.
Nhà
nghiên
cứu
đôi
khi
cũng
ngỡ
ngàng
khi
nhận
ra
rằng
những
cố
gắng
phi
thường
chỉ
đem
lại
những
kết
quả
không
đáng
kể.
Cũng
có
khi
có
một
khám
phá
quan
trọng,
ví
dụ
như
là
cấu
trúc
AND
đã
đem
lại
môt
sự
tưởng
thưởng
xứng
đáng
cho
những
cố
gắng
của
anh
ta.
Nhưng
đó
là
chuyện
hãn
hữu
thôi,
và
con
không
thể
so
sánh
lợi
ích
của
việc
nghiên
cứu
khoa
học
với
việc
nghiên
cứu
tâm
linh
luôn
đem
đến
một
niềm
vui
làm
cho
người
ta
có
cảm
tưởng
như
là
một
mũi
tên
đang
bắn
thẳng
mục
tiêu
–
Mỗi
giây
phút
đều
quí
báu
và
được
dùng
một
cách
thiện
xảo
nhất
Jean
Francois:
Sau
đó
thì
con
làm
gì?
Mathieu:
Con
không
rời
khỏi
Darjeeling
trong
bảy
năm.
Con
sống
bên
cạnh
Thầy
con
Kangyour
Ringpotche
cho
đến
khi
ông
chết
năm
1975,
sau
đó
con
tiếp
tục
tu
hành
trong
một
am
nhỏ
nằm
bên
trên
tu
viện.
Khi
ấy
con
đã
gặp
vị
thầy
thứ
hai
của
con
Dilgo
Khyentsé
Ringpotché
đến
tham
dự
lễ
tang
Kangyour
Ringpotche.
Con
cũng
để
ra
một
năm
ở
Delhi
để
sao
chép
và
in
ấn
lại
khoảng
50
bản
thảo
Tây
Tạng
rất
quí
hiếm.
Khi
mà
các
bạn
con
sắp
bắt
đầu
cuộc
nhập
thất
truyền
thống
ba
năm
ở
Dordogne,
con
đã
hỏi
Khyentsé
Ringpotché
là
con
có
nên
nhập
thất
với
bọn
họ
không?
Và
ông
đã
trả
lời:
"Ngày
nào
ta
còn
sống
hãy
cứ
theo
học
với
ta"
Và
như
thế
con
đã
sống
12
năm
bên
cạnh
ông,
nghe
ông
chỉ
dạy,
phụng
sự
ông
và
đi
theo
ông
trong
các
chuyến
du
hành.
Con
đã
trở
thành
nhà
sư
vào
năm
79.
Những
năm
sống
bên
cạnh
thầy
là
những
năm
ẩn
cư
và
học
hỏi
tuyệt
vời,
những
năm
con
không
thể
nào
quên
được
nhờ
đó
con
có
được
một
sự
tự
tin
mà
không
một
ai
hay
điều
gì
làm
lay
chuyển
được.
Jean
Francois:
Con
đã
từng
sống
ở
Bhoutan
vậy
con
có
biết
Tây
Tạng?
Mathieu:
Bhoutan
là
một
vương
quốc
núi
non
đã
thoát
khỏi
nạn
ngoại
xâm
từ
khi
Phật
giáo
xâm
nhập
vào
từ
thế
kỷ
thứ
8.
Văn
hóa
phật
giáo
đã
bùng
nổ
không
trở
ngại,
và
giá
trị
tinh
thần
của
nó
cũng
đã
ăn
sâu
vào
tinh
thần
dân
chúng.
Sau
khi
trốn
khỏi
Tây
Tạng,
Khyentsé
Ringpotché
trở
thành
vị
lãnh
đạo
Phật
giáo
được
sùng
mộ
nhất
ở
Bhoutan,
từ
Ðức
vua
cho
đến
anh
nông
dân.
Vậy
là
một
đặc
ân
cho
con
đựơc
sống
trong
xứ
sở
đó.
Con
cũng
có
dịp
may
được
theo
chân
Khyentsé
Ringpotché
về
lại
Tây
Tạng.
Bây
giờ
con
muốn
đảo
ngược
lại
câu
hỏi.
Ba
đã
bảo
con
diễn
tả
và
giải
thích
hành
động
của
con
có
lẽ
Ba
sẽ
còn
trở
lại
vấn
đề
này.
Vậy
thì
lộ
trình
của
chính
Ba
là
gì?
Tại
sao
Ba
muốn
có
cuộc
nói
chuyện
này?
Jean
Francois:
Dĩ
nhiên
là
Ba
tò
mò
về
hành
trạng
của
con
bởi
vì
nó
gồm
có
sự
đoạn
tuyệt
với
đời
sống,với
sự
học
hành,
với
trình
tự
văn
hóa
đã
vạch
sẵn
cho
con.
Lộ
trình
của
Ba
cổ
điển
hơn
nhiều,
dù
rằng
trong
nếp
sống
văn
hóa
của
Ba
so
với
thuở
đầu
đời,
Ba
cũng
từng
dứt
khoát
chối
bỏ
các
trào
lưu
thời
thượng
và
nổi
loạn
với
thứ
tư
tưởng
qui
ước
chung
quanh
mình.
Nhưng
dù
sao
Ba
cũng
còn
ở
trong
khuôn
khổ
của
nền
văn
hóa
của
riêng
Ba.
Mathieu:
Vậy
thì
do
đâu
ba
muốn
tranh
cãi
với
một
người
đại
diện
cho
một
nền
văn
hóa
khác
là
con
bây
giờ?
Jean
Francois:
Trước
hết
là
một
nền
văn
hóa
khác
biệt,
nhưng
cũng
là
một
nền
văn
hóa.
Những
nền
triết
lý
Viễn
đông
thuộc
về
gia
sản
vũ
trụ,
dù
người
ta
đã
than
phiền
rằng
nó
không
được
nghiên
cứu
đầy
đủ
về
phía
chúng
ta,
ngoại
trừ
những
nhà
chuyên
môn.
Nhân
khi
Ba
nghĩ
đến
động
cơ
lúc
Ba
19
tuổi
khi
Ba
đang
ở
đại
học,
Ba
đã
thiên
về
triết
lý
thay
vì
văn
chương
hay
lịch
sử
mà
Ba
cũng
rất
thích,
là
vì
triết
lý
có
thể
đem
lại
cho
Ba
chiếc
chìa
khóa
kiến
thức
bao
trùm
lên
tất
cả,
kể
cả
văn
chương,
lịch
sử
và
cả
khoa
học
nữa.
Kiến
thức
đó
đồng
thời
cũng
là
một
sự
minh
triết
nghĩa
là
một
nghệ
thuật
sống
dính
liền
với
đạo
đức
Mathieu:
Và
triết
lý
Tây
phương
đã
không
đem
lại
cho
ba
chiếc
chìa
khóa
đó
Jean
Francois:
Ba
sẽ
không
nói
thế.
Ba
chỉ
nói
rằng
có
vẻ
như
nó
đã
phản
bội
lại
sứ
mạng
của
nó
bắt
đầu
từ
thế
kỷ
thứ
19.
Ba
chỉ
đi
đến
kết
luận
đó
sau
nhiều
năm
đọc
các
bản
văn
và
để
ngoài
tai
những
thách
thức
của
phái
thủ
cựu.
Tình
cảm
sau
cùng
đã
khiến
ba
viết
quyển
sách
đầu
tiên
"Các
triết
gia,
vì
sao?"
ra
mắt
năm
59,
đã
thành
công,
và
có
tiếng
vang
làm
ngạc
nhiên
cả
Ba
nữa.
Tiếng
vang
ấy
không
phải
là
được
sự
tán
thành
cùng
khắp
vì
Ba
đã
bị
chát
tai
vì
những
lời
càu
nhàu
của
giới
triết
gia.
Nhưng
vì
tính
cách
rộng
rãi
của
những
sự
cãi
vã
đó
đã
buộc
Ba
phải
tóm
tắt
lại
và
trả
lời
những
kẻ
phản
đối
trong
quyển
sách
"AÂm
mưu
của
những
kẻ
cuồng
tín"
tiếp
theo
"Các
triết
gia,
vì
sao?"
Mathieu:
Nhưng
sau
đó
người
ta
đã
cho
ba
là
một
cây
viết
chính
trị.
Tại
sao
lại
có
sự
biến
hình
ấy?
Jean
Francois:
Không
phải
là
một
sự
biến
hình
vì
là
những
suy
nghĩ
về
chính
trị
cũng
là
một
nhánh
của
triết
lý.
Ba
không
kể
ra
đây
suốt
cuộc
đời
của
Ba
vì
Ba
vừa
cho
in
tiểu
sử
của
mình.
Không
những
lý
thuyết
chính
trị
luôn
luôn
là
thành
phần
của
triết
lý
mà
từ
thế
kỷ
18
và
nhất
là
thế
kỷ
19
nó
đã
là
trọng
tâm
của
đạo
đức.
Yù
kiến
chủ
đạo
của
"Thế
kỷ
ánh
sáng"
và
sau
đó
là
chủ
nghĩa
xã
hội
khoa
học
của
Marx-
Lenine,
là
sự
kết
hợp
giữa
hạnh
phúc
và
công
bằng
xã
hội
không
phải
đến
từ
một
sự
minh
triết
cá
nhân
mà
là
một
sự
tái
thiết
toàn
thể
xã
hội.
Và
để
thiết
lập
một
xã
hội
mới,
người
ta
phải
xóa
bỏ
hoàn
toàn
xã
hội
cũ.
Chính
là
vào
cuối
thế
kỷ
thứ
18
mà
ý
niệm
về
Cách
mạng
có
cái
nghĩa
thời
bây
giờ.
Sự
giải
phóng
cá
nhân
phải
phụ
thuộc
vào
giải
phóng
tập
thể.
Ba
nghĩ
rằng
tiếp
đây
chúng
ta
sẽ
thảo
luận
rộng
rãi
hơn
về
đề
tài
cốt
tủy
này.
Bây
giờ
Ba
chỉ
nói
rằng
khoảng
1965-
70,
Ba
đã
tưởng
phải
chứng
kiến
sự
sụp
đổ
không
cứu
vãn
được
của
cái
ảo
tưởng
đó
đã
khai
sinh
ra
những
nền
độc
tài
đã
tàn
phá
cả
thế
kỷ
20.
Năm
70,
quyển
sách
đầu
tiên
có
tính
cách
đại
chúng
(Ba
đã
xuất
bản
2
hay
3
quyển
trước
đó
nhưng
chỉ
nói
về
nước
Pháp).
Nó
đã
được
dịch
ra
15
thứ
tiếng,
và
Ba
hiện
đang
giữ
một
bản
dịch
bằng
tiếng
Madagascar
Mathieu:
Có
phải
kết
quả
của
những
quyển
sách
đó
đã
thúc
đẩy
Ba
làm
người
viết
và
xuất
bản
về
chính
trị
trong
báo
giới
và
đồng
thời
cũng
làm
Ba
xa
lánh
triết
lý?
Jean
Francois:
Nó
không
làm
Ba
xa
lìa
triết
lý.
Cũng
như
trong
"Không
phải
Marx,
không
phải
Jesus",
những
quyển
sách
sau
này
của
Ba
đặt
ra
một
vấn
đề
đã
ăn
sâu
vào
bản
chất
con
người
dù
rằng
Ba
đã
diễn
tả
nó
bằng
những
ví
dụ
thời
đại.
Trong
quyển
"Kiến
thức
vô
ích",
khởi
điểm
là
bí
mật
này:
"Vì
sao
mà
con
người,
không
phải
bây
giờ,
mà
từ
nghìn
xưa
đã
sẵn
sàng
bỏ
qua
mọi
hiểu
biết
mà
họ
có
được
để
tránh
xa
các
tai
họa,
để
rồi
tự
ý
lao
vào
các
cuộc
thất
bại,
đau
khổ
và
cái
chết".
Ðó
là
những
vấn
đề
triết
lý
nếu
Ba
không
quá
lời.
Nhưng
Ba
sẽ
không
giảng
cho
con
về
toàn
bộ
tác
phẩm
của
Ba.
Mathieu:
Và
những
cuốn
sách
đó
cũng
đã
thành
công
trên
trường
quốc
tế.
Jean
Francois:
Gần
như
giống
nhau,
dù
rằng
có
đôi
chút
khác
biệt
tùy
theo
quốc
gia.
Như
cuốn
"Kiến
Thức
vô
ích"
không
được
hoan
nghênh
ở
Mỹ
lại
được
bán
chạy
nhất
ở
tây
ban
Nha,
Ý,
Bồ
Ðào
Nha
và
Châu
Mỹ
La
Tinh
dĩ
nhiên
là
ở
Pháp.
Nhưng
hiện
tượng
thực
không
phải
ở
đó.
Nó
nằm
trong
bí
mật
này:
có
nhiều
độc
giả
không
nhất
thiết
là
anh
được
nhiều
người
hiểu,
cũng
như
ảnh
hưởng
đến
thực
tại,
dù
rằng
như
ba
chẳng
hạn,
có
cái
may
mắn
là
ngoài
sách
vở,
Ba
có
thể
thông
qua
báo
giới
trong
nước
cũng
như
nước
ngoài,
có
được
một
diễn
đàn
để
trình
bày
và
phổ
biến
tư
tưởng
của
mình
cho
một
công
chúng
rộng
rãi
hơn.
Mathieu:
Làm
sao
để
cắt
nghĩa
sự
bí
mật
đó?
Jean
Francois:
Nếu
ta
có
thể
cắt
nghĩa
được
nó,
thì
ta
đã
cứu
được
tinh
thần
đã
sa
vào
đó.
Vì
vậy
chúng
ta
cần
phải
trở
lại
"triết
lý
nguyên
thủy"
chỉ
nhắm
vào
sự
sáng
suốt,
sự
minh
triết,
nói
tóm
lại
là
trung
tâm
điểm
của
cuộc
nói
chuyện
giữa
chúng
ta.
---oOo---