4. PHẢN ỨNG CỦA TÂY PHƯƠNG
VỚI CÁC
HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG THUẦN LÝ
TRONG cảnh bế tắc của các cuộc cách mạng chính trị,
xã hội A? Châu. Trong cảnh sa đọa của giáo hội Đan Mạch. Dưới
sức đè nặng chĩu bởi tư tưởng hệ thống ngàn đời của nền
văn minh thuần lý Địa trung hải, và trực tiếp là sức khống chế
tư tưởng quá biện chứng bởi hệ thống Duy niệm của Hégel.
Kierkegaard (1813-1855) đã phát khởi tâm trạng nổi loạn, với thái
độ đầu tiên là chối bỏ và chống đối. Chối bỏ và chống đối
với tất cả những gì là sản phẩm của tư tưởng có hệ thống,
nhằm qui định cho nhân loại một ý niệm phổ biến về con người, về
vũ trụ và về cuộc sống.
Cần phải trút bỏ thái độ bàng quan bao biện đó
để tự thân nhập cuộc. Phải sống thực bằng chính sự thể nghiệm
của bản thân. Phải tự tìm lấy chân lý cho mình ngay giữa cuộc
mạo hiểm đầy rủi ro của giòng hiện sinh này. Nếu các hệ thống tư
tưởng thuần lý đã dùng lý trí làm phương tiện cho sự nhận
thức, để mặc cho những nhận thức đó những chiếc áo chủ quan
hoặc khách quan, rồi sâu kết tư tưởng con người vào một lối nhìn
lạnh lùng máy móc thì Kierkegaard lại dùng ngay chính cuộc sống tâm
tình của mình để nói lên những sự thật của tâm tư, của thân
phận con người trong giòng hiện sinh của chính mình. Tư tưởng
Kierkegaard là cuộc sống tâm tình của ông. Cuộc sống tâm tình đó
của Kierkegaard đã diễn biến dưới ba trạng thái: Trạng thái thứ
nhất là Hiếu dục, trạng thái thứ hai là Đạo nghĩa, trạng thái
thứ ba là Hiện sinh tuyệt đối.
Trạng thái Hiếu dục, khả năng đam mê khát vọng của
tình cảm con người thường bị các nền luân lý cổ ngăn chặn, các
tôn giáo răn cấm. Nhưng những ước lệ đó chỉ có tính cách bề
mặt của cuộc đời; còn chính cuộc sống nội tâm thì khát vọng
nhục dục vẫn mạnh. Một sức mạnh bị dồn nén lâu đời tất phải
bùng nổ. Kierkegaard là một hiện tượng bùng nổ. Sinh ra với bản
chất suy tư, sinh ra giữa một hoàn cảnh Duy thần giáo chế ngự từ
thực tế đến tâm linh, Kierkegaard hầu như không có tuổi thiếu nhi
nhởn nhơ cởi mở.
Mãi tới tuổi thanh niên khi bước chân vào cuộc
sống ở bậc đại học Kierkegaard mới bùng lên một sức sống đam
mê, sự đam mê mạnh nhất của thanh niên Kierkegaard là đam mê hiếu
dục. Chàng trầm mình trong một cuộc sống của Don Juan. Sức hiếu dục
căng nóng tới độ mọi thanh âm, màu sắc tác động đến với
chàng đều có thể làm chàng đam mê khoái lạc cả. Sau buổi
thưởng thức nhạc kịch Don Juan của Mozart. Chàng lao đầu chạy miết
giữa cuộc sống hiếu dục, bất chấp tất cả. Cuộc sống đó mang
đặc tính vượt chiếm, tuy chàng thường tự coi là hiến dâng. Nhưng
hiến dâng để mà vượt chiếm. Cuộc sống này là một cuộc sống
hưởng thụ về cảm giác và suy tư. Con người hoàn toàn buông trôi
theo hứng khởi đam mê. Trong thực tại khoảnh khắc, không có sự
can thiệp của vấn đề lựa chọn. Đây cũng có thể nói là trạng
thái hiện sinh thuần phác của Dương Chu, tận hưởng khoái lạc trong
khoảnh khắc hiện có, không từ chối, không lựa chọn. Nhưng hoàn
cảnh của Dương Chu vốn khác hoàn cảnh của Kierkegaard là: Dương Chu
dù sao cũng sống trong cảnh gần tự nhiên hơn Kierkegaard. Kierkegaard
sống trong một xã hội ý thức, sống giữa sự cạnh tranh ráo riết
của cuộc đời, nên ở trạng thái Hiếu dục này Kierkegaard mang đặc
tính vượt lấn tha nhân, trái với Dương Chu vốn chủ trương không
thiệt mình, không thiệt người. Dương Chu sống dật thân khoái lạc
với thiên nhiên. Kierkegaard sống đam mê khoái lạc với nhân loại.
Mà sống với nhân loại thì dù không lựa chọn cũng vẫn phải
sống trong sự lựa chọn của tha nhân. Dù từ chối luân lý thì
trong tâm trạng vốn sẵn có sự phân biệt của ý thức. Chính sự
phân biệt và sức chịu đựng của sinh lý có hạn đã làm cho con
người chán chường để rồi chấp nhận một thứ luân lý, chấp
nhận cuộc sống đạo nghĩa. Nếu sự đam mê cao độ thì sự chán
chường cũng tới cao độ.
Trạng thái đạo nghĩa là giai đoạn thứ hai trong cuộc
đời tâm tình của Kierkegaard, càng ngụp sâu trong bể khoái cảm bao
nhiêu thì tầm chán chường càng mau dâng tràn lên bấy nhiêu.
Kierkegaard chấm dứt cuộc đời đãng tử của mình bằng cuộc đính
hôn với nàng Régine Olsen. Ông nhất quyết lựa chọn một cuộc
đời trung tín và bổn phận. Trong giai đoạn này ông đã viết rất
nhiều về ái tình và bổn phận. Theo ông, ái tình và bổn phận
không phải là thù địch mà chính là bạn thân. Nhưng rồi ông không
lấy người mà mình yêu nữa. Ông đã băng mình lên để muốn hòa
vào trạng thái tuyệt đối hiện sinh. Với ông, thì giòng hiện sinh
của mỗi người đều phải chảy qua một bối cảnh bất trắc của
ngoại giới. Nên ở giai đoạn thứ hai này chủ quan hiện sinh đã
rời bỏ thái độ buông trôi, rồi tự so sánh và lựa chọn để
đồng hóa những trường hợp riêng tư thành ý niệm luân lý phổ
biến. Tâm trạng này ở Kierkegaard là tâm trạng vấp phải sức cản
trở của chán chường. Giây phút chán chường đó chính là giây
phút ý thức người phân biệt và chọn lựa. Nên ông nhận thấy
mỗi giòng hiện sinh đều mang một bản chất tội lỗi và, trong lúc
đó thì, con người bó buộc phải lựa chọn. Chính sự trói buộc
lựa chọn này đã phát sinh từ tâm lý kinh hãi và tuyệt vọng.
Kinh hãi vốn là sự thèm thuồng thứ mà mình ghê sợ, hoặc ghê
sợ thứ mà mình thèm thuồng. Tâm trạng trái ngược giằng xé đã
đưa đến trạng huống tuyệt vọng. Chính sự tuyệt vọng này có thể
mở lối cho con người tới được trạng thái tuyệt đối hiện sinh.
Trạng thái tuyệt đối hiện sinh, theo Kierkegaard, sự
tuyệt vọng phải là tâm trạng tuyệt đối, chối bỏ tất cả những
gì hạn định và tương đối. Cần phải trút bỏ mọi khát vọng hữu
hạn, phải vượt qua cảnh huống giả tạo mới bật ra được một
giòng sống vĩnh cửu tuyệt đối. Nên sự hiện sinh đích thực phải
nối nổi trạng thái hiện sinh tuyệt đối, trạng thái này bao hàm
đặc tính tự tại. Ở giai đoạn thứ ba này tư tưởng của
Kierkegaard mang nặng sắc thái tôn giáo siêu nhiên. Tuy ông không,
hoặc chưa quyết định thế nào là trạng thái tuyệt đối hiện sinh.
Nhưng nếu đem so sánh với tư tưởng Lão Trang ta thấy trạng thái
hiện sinh tuyệt đối ở đây là Đạo thể. Hoặc so sánh với đạo
Phật thì đây là trạng thái Chân như thường hằng. Muốn đạt tới
trạng thái này, phương pháp cần nhất bao giờ cũng là tự tại. Sau
khi tự tại rồi mới hòa đồng nổi với nguồn sống bao la vĩnh cửu
của vũ trụ. Trong mỗi giòng hiện sinh đều hàm chứa hai đặc tính
vô thường và vĩnh cửu. Khi con người tự tại tự đối để gạt
bỏ hết những khát vọng vô thường tương đối hữu hạn trong tâm
tư thì lúc đó sẽ thức giác nổi trạng thái vĩnh cửu tuyệt đối
vô hạn chính nơi mình. Vậy, sự tự tại tự đối mang đặc tính
siêu hạn, có thực ở cuộc sống vô thường tương đối hữu hạn,
và có khả năng vương lên giòng sống vĩnh cửu tuyệt đối vô
hạn. Do đó, đạo Phật đã lấy con người làm cơ sở chính cho sự
tu chứng. Chỉ có con người mới đủ sức trở thành Phật được
mà thôi. Còn mọi loài trong vũ trụ, kể cả các vị thần thánh cho
tới các loài côn trùng cũng không đủ yếu tố thành Phật, nếu
không sống ngay trong kiếp người. Kiếp người đây là một cuộc
hiện sinh đích thực của mỗi người. Chỉ có cuộc hiện sinh này
mới nối nổi vào giòng đại hiện sinh tuyệt đối của vũ trụ kia
thôi. Bởi thế sự biến thái của giòng tâm tư mỗi người, nếu
đi đến mức chót, bao giờ cũng gặp quan niệm giải thoát, tức là
quan niệm hòa tiểu ngã trong đại ngã, tức là vượt lên trên
trạng huỗng vô thường để đạt trạng thái Chân như vĩnh cửu.