Prof. Lily de Silva
Phramaha Witoon
Thacha (dịch Anh)
Cư sĩ Minh Thông (dịch Việt)
Ô nhiễm
môi sinh là điều đe dọa nghiêm trọng đối với sự sinh tồn của nhân loại
trên hành tinh này. Nếu chúng ta không có những biện pháp giải quyết cụ
thể và tức khắc thì hậu quả của vấn đề ô nhiễm môi sinh và sức tác động
của tia tử ngoại do tầng ozone bị bào mòn sẽ mang đến một thảm họa tàn phá
tương đương với sức tàn phá của chiến tranh nguyên tử, đó sẽ là điều không
thể nào tránh khỏi. Nếu đem so sánh thì tỷ số mà con người tự làm cho môi
trường sống của mình bị ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với khả năng con
người có thể thanh lọc giúp cho nước và không khí tinh sạch trở lại. Ngày
nay chúng ta hiểu được tai họa chúng ta đang đối diện, do đó chúng ta cần
phải nỗ lực nghiên cứu khả năng bảo quản môi sinh. Chúng ta hiện chưa tìm
ra được một giải pháp căn để cho vấn đề, chúng ta chỉ mới đang cố gắng lần
mò vào vấn đề rắc rối to lớn có qui mô toàn cầu này bằng những vá víu manh
mún có tính cách kỹ thuật.
Theo cách nhìn bằng giáo lý nhà
Phật, ô nhiễm môi sinh chỉ là sự bộc lộ ngoại vi của một thực tế ô nhiễm
luân lý nội thể đến mức độ khủng hoảng và báo động. Một số kinh điển Pali
như Kinh Khởi thế Nhân bổn (Agganna Sutta, Trường A hàm III, số 80), Kinh
Chuyển luân Thánh vương Sư Tử hống (Cakkhavatti-Sihanada Sutta, Trường A
hàm III 58) cùng một số kinh khác trong bộ Tăng nhứt A hàm
(Anguttaranikaya, I. 160; II. 75) cho chúng ta thấy tệ nạn sa sút đạo đức
tràn lan trong xã hội sẽ gây ra những sự thay đổi nghịch lý trong cơ thể
con người và môi trường sống. Kinh Khởi thế Nhân bổn (Agganna Sutta) nói
sự sa sút đạo đức sẽ kéo theo sự sút giảm về vẻ đẹp nhân cách và thực phẩm
ngoài thiên nhiên. Những hậu quả nghịch lý này chỉ là một phần hậu quả của
sự sa sút đạo đức. Tội ác cũng sẽ gia tăng trong xã hội, để giải quyết
những vấn nạn này, con người đã nỗ lực tổ chức những định chế xã hội thích
hợp hầu giúp cho đời sống dễ chịu đựng hơn, yên ổn hơn và thoải mái hơn.
Phật giáo tin rằng tất cả những
yếu tố như ý thức đạo đức, thân tâm con người, thế giới chung quanh như
cây cỏ và muôn thú cùng yếu tố xã hội đều quyện chặt vào nhau qua mạn lưới
nhân quả để tạo thành một hệ thống môi sinh có phản ứng và mẫn cảm vè
phương diện tâm lý. Từ thực tế đó đức Phật đã tóm tắt ngắn gọn trong bài
kệ:
‘Cittena niyyati loko cittena
parikissati
Cittassa ekadhammassa sabbeva
vasam anvaguti’
Cõi giới này do tâm dẫn dắt
Tâm lôi kéo cõi này lếch thếch
mọi nơi
Tâm là một thực thể mà mọi vật
đều bị sức mạnh của nó chi phối (Tương Ưng A hàm, I. 39).
Nếu chúng ta phóng dịch cụm từ
‘cittena niyyati loko’ thành ra là ‘cõi giới này vận hành nhờ tư tưởng con
người’, thì chúng ta có thể thấy rõ ràng song hành với chiều dài lịch sử
bộ mặt của trái đất đã bị tư tưởng và kiến thức của con người thay đổi đến
độ như thế nào. Vào thuở bình minh của nền văn minh nhân loại khi mà con
người còn săn bắn và hái trái để ăn thì thiên nhiên không hề bị quấy phá.
Cho đến thời kỳ canh tác ổn định thì chương trình dẫn thủy nhập điền được
phát triển và bộ mặt thiên nhiên ở một chừng mực nào đó đã bị thay đổi.
Cuộc cách mạng kỹ nghệ mang lại nhiều thay đỗi hơn nữa bằng những công
cuộc sản xuất đại quy mô và người ta triệt để khai thác tài nguyên thiên
nhiên sẳn có. Vào thế kỷ hai mươi, thế kỷ mà người ta vỗ ngực tự hào đã
sản sinh đến 90% khoa học gia trong lịch sử nhân loại thì cũng đã sản sinh
ra Kỷ nguyên Nguyên tử và Không gian.
Quả vậy chúng ta có thể thấy
được tư tưởng con người đã đem đến bao nhiêu là thay đổi to lớn đối với
thiên nhiên, to lớn đến độ mà khả năng tinh lọc, trẻ hóa và phục hồi của
thiên nhiên đã bị các hoạt động khai phá của con người cướp đi mất để sản
sinh ra sự ô nhiễm và nghèo nàn sinh thái. Giải thích những sự kiện này
theo cách nhìn Phật giáo chúng ta thấy nguyên nhân căn để gây ra những
khủng hoảng này chính là lòng tham lam sự xa hoa, tài sản và quyền lực. Bộ
óc con người phát triển không đồng bộ với trái tim và trách nhiệm đạo đức.
Về phương diện tri thức, con người hiện đại có thể là một anh chàng khổng
lồ, trong khi đó về phương diện cảm thức, con người hiện đại chỉ là một
chàng lùn bị khánh tận cùng kiện hết cả tâm hồn. Một nhà nghiên cứu khoa
học xã hội đã nhận xét rằng con người hiện đại có một chân bị cột vào
chiếc máy bay phản lực còn chân kia thì chân kia thì kẹt cứng vào chiếc xe
bò.
Vì vậy, những hiện thực cụ thể
và những ước vọng tương nghịch đã chia xé con người. Hơn nữa, tri thức con
người thì hạn hẹp, con người thiếu hẳn khả năng nhìn thấy viễn ảnh của
thái độ và hoạt động của mình, không thể nhìn ra hết được ảnh hưởng tích
cực và tiêu cực đối với sự an sinh của họ cũng như những hoạt động vật lý
không ngờ đến được của thiên nhiên.
Thuyết Thập nhị nhân duyên
(Paticcasamuppada) của đức Phật cũng đề cập đến một nguyên tắc giống như
vậy, đó là các yếu tố như tâm lý và vật lý, con người và thiên nhiên đều
có liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng lại độc lập với nhau. Con người nương
tựa vào thiên nhiên để sinh tồn, vì vậy người ta nói rằng: ‘Sabbe sata
aharatthitika’. Trên đường tìm kiếm thực phẩm và may mặc cùng cư ngụ và
thuốc men, con người đã thay đổi môi trường theo khả năng kỹ thuật của
mình. Thí dụ như con người thời hiện đại thì dùng phân hóa học, thuốc sát
trùng và thuốc diệt cỏ dại trong nông nghiệp để tăng thu hoạch. Nhưng
những hoạt động này lại tàn phá sự quân bình vi sinh trong thiên nhiên
khiến nảy sinh hàng loạt những phản ứng nghịch lý khác, những phản ứng này
đến lượt nó lại gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và an toàn cuộc sống.
Vã lại thực tế tương quan giữa
người với thiên nhiên được chỉ rõ trong những luận kinh về thuyết năm luật
vũ trụ (Panca niyama dhamma). Năm luật đó là: Luật Vật lý (Utuniyama),
Luật Sinh vật (Bijaniyama), Luật Tâm lý (Cittaniyama), Luật Đạo đức
(Kammaniyama) và Luật Nhân quả (Dhammaniyaama). Luật Nhân quả hoạt động
tàng ẩn bên trong và liên đới với bốn luật trước.
Do vậy tất cả các luật vũ trụ,
vật lý, sinh vật, tâm lý và đạo đức đều hỗ tương với nhau và con người
nhận diện bạn hay thù, hạnh phúc hay đau khổ tuỳ thuộc vào tính chất của
năng lượng đạo đức mà họ đã tạo tác. Nếu như năng lượng đạo đức thiện căn
được ban rải, người ấy sẽ thấy an lạc và đời sống sẽ tương đối hạnh phúc
cùng dễ chịu. Nếu năng lượng đạo đức bất thiện tràn lan, người ấy sẽ phải
đấu tranh nhiều trong xã hội và cuộc sống sẽ gặp ngày càng nhiều trắc trở.
Thế kỳ thứ năm thứ sáu trước
công nguyên có thể được xem là một kỷ nguyên vô cùng may mắn, năng lượng
từ thiện tuôn tràn mọi nơi trên trái đất nhờ những giảng dạy của các bậc
thầy tâm linh vĩ dại như đức Phật, Jina Mahavira, Zoroastra, Khổng Phu Tử
và Socrates. Thế kỷ thứ hai mươi dường như là một kỷ nguyên hoàn toàn
ngược hẳn. Ngày nay tội ác, khủng bố và chiến tranh ngự trị khắp nơi. Đói
kém và suy dinh dưỡng đang nuốt trửng nhiều quốc gia trong thế giới thứ
ba. Tại các quốc gia cường thịnh thì bệnh AIDS (liệt kháng) và những bệnh
nhà giàu khác đang lan tràn. Tình trạng này khiến chúng ta nhớ đến lời
khuyến cáo liên quan đến vận mạng nhân loại trong một thế giới băng hoại
đạo đức. Theo lời khuyến cáo này, vào thời điểm nhân loại bị tham sân si
khống chế người ta sẽ thấy nạn đói, bom, lửa và dịch bệnh luân phiên nhau
tàn phá (Trường A hàm III. 854). Tình trạng thế giới hiện thời cho thấy
rằng cả ba nhân tố suy đồi về mặt đạo đức ấy đang hiện diện còn loài người
thì đang bị ba gọng kềm trả đủa của nó do những nghiệp quả bất đạo đức của
chính họ gây ra.
Một điểm quan trọng khác có đề
cập đến trong kinh Khởi thế Nhân bổn (Agganna Sutta) rằng loài người là
một sinh vật có khuynh hướng bắt chước rất mạnh mẽ (ditthanugatim
apajjamana). Vì vậy những ý tưởng, cử chỉ hay hành động mới của một nhóm
nhỏ này có thể chẵng bao lâu sẽ trở thành những mẫu mực mới trong xã hội,
đặc biệt là khi những yếu tố này dẫn đến lạc thú và hấp dẫn nhưng lại ít
tốn kém. Nhờ những phương tiện thông tin khổng lồ và tuyên truyền thương
mãi, chủ nghĩa duy cảm, tính chất táo tợn, đói khát tài sản, đvị và quyền
lực đã và đang là những xu thế xã hội trong thế giới tân tiến ngày hôm
nay. Chúng ta nghĩ rằng khuynh hướng bắt chước này do được cả ý thức hệ
của nhân loại hỗ trợ (từ Pali gọi là pháp giới) không phải là nhân tố duy
nhất chịu trách nhiệm về những xu thế hiện nay ở mọi nơi trên thế giới. Do
đó chúng ta thường hay lý luận rằng bao quanh thạch quyển là sinh quyển
(biosphere) và khí quyển (atmosphere), còn khí quyển thì thẩm nhập tất cả
những thứ mà chúng ta gọi là tâm lý quyển (psychosphere). Chúng ta nên kết
hợp ý tưởng này lại như sau:
Kinh Sa môn quả (Samannaphala
sutta, Trường A hàm I.76) dạy rằng giống như sợi chỉ màu xuyên qua hạt
ngọc trong suốt, tâm quyện chặt với thân mà chỉ người đã đạt đến trình độ
tứ thiền mới có thể nhìn thấy, . Chúng ta cũng có thể phỏng đoán được rằng
tâm kết hợp với thể khí của thân vì nhịp thở của chúng ta thay đổi khi cảm
xúc thay đổi, thí dụ như chúng ta thở dài khi buồn bã, ngáp khi lười
biếng, gầm gừ khi giận dữ và rên rĩ khi đau đớn. Những thay đổi này có thể
được chấp nhận để làm bằng cớ chứng minh rằng tâm và thân có mắc xích với
nhau. Các nhà khoa học cũng biết lượng thán khí lúc thở ra sẽ gia tăng khi
chúng ta bị những cảm xúc tiêu cực chi phối. Điều này có thể là do hơi thở
đã thẩm ngấm những hoá chất độc hại trong dòng máu do các tuyến nội tiết
thảy vào khi tâm bị thay đổi do những cảm xúc tiêu cực như giận dữ hay
hoảng sợ. Khi thật nhiều người thải ra những chất độc ấy qua đường hô hấp,
khí quyển bị ô nhiễm một cách vi tế, chúng ta cũng biết được rằng con
người và cả cây cỏ đều rất mẫn cảm với loại ô nhiễm này. Người ta đã làm
thí nghiệm và thấy cây cỏ lớn rất nhanh chóng trong môi trường đầy an hoà
và thương yêu, trong khi đó thì cây cỏ sẽ trở nên tàn úa khi người ta cư
xử với chúng bằng những lời chữi mắng dù rằng cả hai nhóm đều được cung
cấp nước, phân bón, ánh sáng cùng săn sóc y hệt như nhau.
Theo các nhà khoa học, ô nhiễm
không khí vì lượng thán khí gia tăng là do người ta đốt nhiên liệu, về lâu
về dài sẽ làm trái đất nóng dần lên gây nên những hậu quả tàn khốc cho sự
an sinh của cả nhân loại. Ngày nay người ta thấy rằng khủng long bị tuyệt
chủng trên hành tinh này là do nạn thiếu oxy và nạn gia tăng thán khí
trong không khí. Tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay nghiêm trọng hơn
nhiều so với tình trạng ô nhiễm làm tuyệt giống những sinh vật khổng lồ vì
vào thời đại khủng long nhân loại chưa có máy móc thải ra thán khí. Đang
vào lúc những bộ máy cơ khí ngày càng gia tăng làm ô nhiễm khí quyển thì
hàng tỷ bộ máy người ghép thêm những độc tố tâm lý vào các hạt thán khí mà
họ thở ra. Do đó chúng ta có thể cả quyết được rằng ô nhiễm tâm quyển là
yếu tố nghiêm trọng của sự khủng hoảng môi sinh mà con người ngày nay phải
đối diện. Ô nhiễm vật lý do các nhà máy gây ra cùng sự khai thác bừa bãi
tài nguyên thiên nhiên là hậu quả của lòng tham lam xa xỉ, của cải và
quyền lực của con người. Do vậy chúng ta có thể kết luận được rằng ô nhiễm
môi trường, trên bình diện thực tế, chỉ là hình thái ngoại tại của sự ô
nhiễm đạo đức nội tại trong lòng con người hiện đại mà thôi.
Do sự thái độ đạo đức của con
người có quan hệ trực tiếp với khủng hoảng môi trường cho nên thiền định
nội quán (Vipassana meditation) giúp cho chúng ta một phương pháp rất thực
tế để tạo nên những thay đổi thiện căn ngõ hầu chúng ta có thể tìm thấy
hướng đi và mục đích trong cuộc sống, đồng thời cũng giúp chúng ta tái lập
sự quân bình sinh thái.
Theo cách nói của Erich Fromm
chúng ta có thể thấy rằng con người cần phải thay đổi thái độ của chính
mình, phải nên ‘là hình thái cuộc sống’ chứ không nên ‘có hình thái cuộc
sống’. Con người sống bằng kiểu ‘có hình thái cuộc sống’ lúc nào cũng cố
thoả mãn lòng tham bằng cách rút rỉa thiên nhiên càng nhiều càng tốt, do
đó sẽ dẫn đến tình trạng khai phá bừa bãi để nảy sinh cơn bệnh ô nhiễm và
thiếu hụt. Trong khi đó, con người sống bằng kiểu ‘là hình thái cuộc sống’
trái lại đã sử dụng tài nguyên thiên nhiên chỉ để thỏa mãn nhu cầu của
mình và điều này đã dẫn đến công cuộc bảo tồn và gìn giữ thiên nhiên. Điều
thú vị mà người ta nhận thấy là trong kho tàng ngôn ngữ Ấn độ ngày xưa của
tiếng Sanskrit và Pali, người ta không thấy những từ có gốc từ đồng từ
‘có’ (= sở hữu). Ý tưởng có phải được diễn tả hơi vòng vo một chút. Trong
tiếng Pali nếu người ta muốn nói ‘Tôi có con trai và tài sản’ thì người ta
phải nói thế này ‘Putta me atthi dhanam atthi’, nghĩa đen là ‘đối với tôi,
có con trai, có tài sản’. Do vậy tư tưởng ‘là hình thái cuộc sống’ đã ăn
sâu tận tâm hồn của nền văn hóa Ấn độ cổ xưa dù rằng ngôn ngữ của họ thiếu
hẳn động từ ‘có’ (= sở hữu).
Thiền nội quán dạy con người
cách sống đời đơn giản để thòa mãn những nhu cầu của mình. Appicchata, khả
năng thỏa mãn tối thiểu được rèn luyện có hệ thống là một đức tính có giá
trị lớn. Nếu đức tính này được cả loài người cùng nhau rèn luyện, cả loài
người cùng chịu bỏ qua một bên tất cả thói quen tiêu thụ hiện tại, thì nạn
khủng hoảng sinh thái sẽ giảm thiểu rất nhiều. Tất cả những căn bệnh trầm
kha do nạn phá rừng với qui mô lớn như đất màu mỡ bị bào mòn, đất chùi,
thời tiết thay đổi bất thường, hạn hán, v.v... tất cả đều có liên quan căn
để với chủ nghĩa tiêu thụ. Nếu con người chẳng muốn chịu đổi lấy đời sống
đơn giản thì một giải pháp hiệu quả cho những vấn nạn đang đe dọa đời sống
hiện nay sẽ không thể nào có thể đạt đến được.
Lòng từ là một phần của cuộc
đời thiền định. Một người thực hiện lòng từ sẽ tự biết tiết chế không khai
phá và tiêu thụ bừa bãi, tình cảm này phát xuất từ lòng thương đối với các
thế hệ tương lai cũng như lòng thương đối với các tài nguyên thiên nhiên
không thể tái tạo lại được, những tài nguyên mà hiện đang ngày càng giảm
dần do nhu cầu của kiểu sống tiêu thụ ngày nay. Thực hiện lòng từ, con
người cũng sẽ có lòng lân mẫn đối với những chủng loại sống khác hiện đang
bị đe dọa tuyệt chủng. Chúng ta cần nhớ rằng sự đa dạng sinh thái là một
yếu tố có giá trị cực kỳ quan trọng để tạo nên một hệ thống sinh thái quân
bình tươi khoẻ.
Thiền định nội quán cũng tẩy
sạch những uế nhiễm tâm lý trong lòng người. Thiên nhiên có thể điều trị
được những uế nhiễm sinh học do con người gây ra, nhưng thiên nhiên không
thể giúp hay điều trị được ô nhiễm tâm lý của con người. Do vậy sự lan
tràn tội ác, giết chóc và chiến tranh truyền nhiễm trong xã hội, những căn
bệnh do ô nhiễm đe dọa đời sống nhân loại, nạn tàn phá thiên nhiên với quy
mô lớn làm nghiêm trọng thêm sự mất quân bình và ô nhiễm sinh thái.
Chúng ta nên nhớ đến lời dạy
của đức Phật: ‘cittena niyyati loko’, cõi giới này vận hành nhờ tâm của
con người. Vậy thì bao lâu mà tâm con người còn do những ý định thiện lành
về phương diện đạo đức tác động thì con người còn có thể có được một cuộc
sống hạnh phúc và thiên nhiên còn dành phần ưu ái. Thoảng như những căn rễ
của ác ma phát khởi, con người sẽ gánh lấy những khổ đau như hai câu kệ
đầu trong kinh Pháp cú có nói đến (*). Ngày nay người ta có thể thấy rằng
ác ma đang rộng phá đến độ thiên nhiên đã và đang bị tác động và bị xem
như kẽ thù. Khủng hoảng môi trường nên được xem như hậu quả của khủng
hoảng đạo đức. Con người phải nên rèn luyện thái độ và kiểu sống thiện
lành về phương diện đạo đức để có thể thay đổi ngày càng tốt hơn và điều
này phải nên được chấp nhận như một mệnh lệnh để sống còn.
Phramaha Witoon Thacha chuyển ngữ
tiếng Anh.
Cư sĩ Minh Thông chuyển ngữ tiếng Việt, mùa Phật thành đạo năm 2001.
_____________________
(*) Chú thích:
Phẩm Song yếu
Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ ý tạo
Nếu với ý ô nhiễm
Nói lên hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như xe, chân vật kéo
Ý dẫn đàu các pháp
Ý làm chủ ý tạo
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng, không rời hình.
Kinh Pháp Cú số 01 & 02